1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung chương trình nhãn sinh thái trên thế giới - Kinh nghiệm và Giải pháp cho Việt Nam

108 179 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, nhãn sinh thái còn chưa có những thể hiện rõ ràng về mặt hiệu quả, nhãn sinh thái cũng cần sự minh bạch giữa các chương trình độc lập của các quốc gia, và việc sử dụng nguyên tắ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH NHÃN SINH THÁI TRÊN THẾ GIỚI -

KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

LÊ KIỀU NGUYÊN

Hà Nội - năm 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH NHÃN SINH THÁI TRÊN THẾ GIỚI -

KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM

Ngành: Kinh tế học Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 83.10.106

Họ và tên học viên: Lê Kiều Nguyên Người hướng dẫn: TS Nguyễn Bình Dương

Hà Nội - năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ - đề tài “Nội dung chương trình nhãn sinh thái trên thế giới - Kinh nghiệm và Giải pháp cho Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Bình Dương Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Các kết luận, phương pháp được đưa ra trong Luận văn hoàn toàn bởi chính tác giả Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên

Lê Kiều Nguyên

Trang 4

Tiếp theo, tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Ngoại Thương, Khoa Sau Đại Học, và các thầy cô, giảng viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình tham gia học tập khóa học Thạc sĩ Kinh tế Quốc tế niên khóa 2017-2019

Xin trân trọng cảm ơn Hội đồng đã dành thời gian cho tôi được bảo vệ nghiên cứu của mình Tuy có nhiều cố gắng nhưng tôi khó có thể tránh khỏi những thiếu sót trong tác phẩm luận văn Tôi kính mong Hội đồng có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để tác phẩm của tôi được hoàn thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!

Học viên

Lê Kiều Nguyên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH NHÃN SINH THÁI 7 1.1 Sự ra đời của chương trình nhãn sinh thái trên thế giới 7

1.1.1 Khái niệm về nhãn sinh thái 7

1.1.2 Tính tất yếu của sự ra đời nhãn sinh thái 9

1.1.3 Mục đích của việc sử dụng nhãn sinh thái 11

1.1.4 Phân loại nhãn sinh thái theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 16

1.2 Chương trình nhãn sinh thái 19

1.2.1 Khái niệm và nội dung của chương trình nhãn sinh thái 19

1.2.2 Sự cần thiết của chương trình nhãn sinh thái 25

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chương trình nhãn sinh thái 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 30

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH NHÃN SINH THÁI TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 31

2.1 Chương trình nhãn sinh thái của EU - EU Ecolabel 31

2.1.1 Lịch sử ra đời và quá trình phát triển của nhãn EU Ecolabel 31

2.1.2 Nội dung chương trình nhãn EU Ecolabel 34

2.1.3 Thành tựu đạt được của chương nhãn sinh thái EU Ecolabel 42

2.1.4 Một số hạn chế của chương nhãn sinh thái EU Ecolabel 46

2.2 Chương trình nhãn sinh thái của Thái Lan - Green Label 47

2.2.1 Lịch sử ra đời và quá trình phát triển của nhãn Green Label 47

Trang 6

2.2.2 Nội dung chương trình nhãn Green Label 49

2.2.3 Thành tựu đạt được của chương trình nhãn sinh thái Green Label Thailand 54

2.2.4 Một số hạn chế của chương trình nhãn sinh thái Green Label Thailand 57

2.3 Bài học kinh nghiệm cho Viêt Nam 58

2.3.1 Bài học kinh nghiệm cho quá trình xây dựng chương trình nhãn sinh thái 58

2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho quá trình vận hành chương trình nhãn sinh thái 60

TIỂU KẾT CHƯƠNG II 62

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ VẬN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH NHÃN SINH THÁI CHO VIỆT NAM 63

3.1 Thực trạng chương trình nhãn sinh thái ở Việt Nam hiện nay 63

3.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng và vận hành các chương trình nhãn sinh thái 78

3.3 Đề xuất giải pháp xây dựng và vận hành chương trình nhãn sinh thái ở Việt Nam 83

3.3.1 Nhóm giải pháp xây dựng chương trình 83

3.3.2 Nhóm giải pháp vận hành chương 87

TIỂU KẾT CHƯƠNG III 92

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH TIÊU CHÍ VÀ NHÓM SẢN PHẨM HIỆN HÀNH CỦA CHƯƠNG TRÌNH NHÃN XANH VIỆT NAM viii

PHỤ LỤC 2: THỰC TRẠNG CÁC SẢN PHẨM THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH NHÃN XANH VIỆT NAM ix

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DCs Developing countries Các nước đang và kém phát

triển

EUEB European Union Ecolabelling

Doanh nghiệp vừa và nhỏ

TEI Thailand Environment Institute Viện Môi trường Thái Lan

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ

Bảng 1.1: Đặc điểm cơ bản của ba kiểu nhãn môi trường theo phân loại của

ISO 14000 18

Bảng 2.1: Tiêu chuẩn độc tính đối với sinh vật dưới nước và khả năng phân hủy sinh học cho mỹ phẩm vệ sinh cá nhân theo EU Ecolabel 38

Bảng 2.2: Bảng phí chương trình EU Ecolabel ở Ý, ở Madrid và La Rioja của Tây Ban Nha năm 2018 41

Hình 1.1: Nội dung của chương trình nhãn sinh thái 21

Hình 2.1: Hình ảnh nhãn sinh thái EU Ecolabel 32

Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức chương trình EU Ecolabel 35

Hình 2.3: Quy trình đăng ký và cấp giấy chứng nhận EU Ecolabel 40

Hình 2.4: Số lượng sản phẩm được cấp nhãn EU Ecolabel từ 2010 đến 2018 45

Hình 2.5: Biểu tượng chương trình nhãn Green Label Thái Lan 48

Hình 2.6: Quy trình lựa chọn sản phẩm nghiên cứu - chương trình Green label Thái Lan 50

Hình 2.7: Số lượng sản phẩm được cấp nhãn Green Label Thái Lan năm 2016-2017 55

Hình 3.1: Chỉ số bụi tại một số địa điểm tại Việt Nam giai đoạn 2001-2004 63 Hình 3.2: Biểu tượng chương trình Nhãn xanh Việt Nam 64

Hình 3.3: Biểu tượng chương trình nhãn năng lượng Việt Nam 69

Hình 3.4: Biểu tượng chương trình nhãn du lịch Việt Nam 70

Hình 3.5: Biểu tượng nhãn Cánh Buồm Xanh của Quảng Ninh 71

Trang 9

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Luận văn với đề tài “Nội dung chương trình nhãn sinh thái trên thế giới - Kinh nghiệm và Giải pháp cho Việt Nam” phân tích nội dung của chương trình nhãn sinh thái của một số khu vực - quốc gia trên thế giới Cụ thể hơn, luận văn phân tích nội dung chương trình nhãn sinh thái EU Ecolabel của EU và nội dung chương trình nhãn sinh thái Green Label Thailand của Thái Lan Phân tích nội dung bao gồm các thông tin về chương trình nhãn sinh thái, cũng như các thành tựu của các chương trình nhãn sinh thái, đi kèm với đó là những hạn chế của các chương trình này

Từ đó, tác giả rút ra những kinh nghiệm cho việc triển khai nội dung chương trình nhãn sinh thái tại Việt Nam Đồng thời, tác giả tiến hành phân tích ưu khuyết điểm của các chương trình nhãn sinh thái đang thực hiện tại Việt Nam để đưa ra giải pháp cải thiện nội dung chương trình nhãn sinh thái Bằng việc thực hiện các giải pháp này, chương trình nhãn sinh thái của Việt Nam sẽ có thể được phát triển thành công như hai chương trình EU Ecolabel và Green Label Thailand

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bắt đầu từ những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, các vấn đề về hiểm họa môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của loài người Không còn quốc gia nào trên thế giới đứng ngoài sự ảnh hưởng bởi những biến đổi môi trường môi trường sau một thời gian dài phát triển nền kinh tế công nghiệp Để quản lý và bảo vệ môi trường, bên cạnh các công cụ như pháp luật, truyền thông, nhiều quốc gia đã sử dụng các công cụ kinh tế mang tính mềm dẻo hơn Một trong số các công cụ được các quốc gia sử dụng phổ biến là công cụ nhãn sinh thái Chương trình ban đầu được đưa ra nhằm khuyến khích cộng đồng hành động vì môi trường thông qua việc thúc đẩy người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường Từ đó thúc đẩy các nhà sản xuất cải tiến sản phẩm và kỹ thuật sản xuất đem lại lợi ích môi trường nhiều hơn

Tuy nhiên, do sự chênh lệch về trình độ phát triển khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên thế giới, các chương trình nhãn sinh thái của mỗi quốc gia sẽ có những quy định và tiêu chuẩn khác nhau Dưới sức ép của toàn cầu hóa, khi thuế quan được yêu cầu xóa bỏ trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhãn sinh thái lại trở thành một công cụ để các quốc gia xây dựng rào cản đối với hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là theo chiều nhập khẩu từ nước có trình độ khoa học kỹ thuật thấp, sang nước có trình

độ khoa học kỹ thuật cao hơn Từ đó, nhãn sinh thái trở thành một lợi thế cạnh tranh cho nước xuất khẩu và công cụ quản lý hiệu quả của nước nhập khẩu, đồng thời không vi phạm các quy định về tự do thương mại của các tổ chức thương mại quốc

tế

Tại Việt Nam, nhãn sinh thái đang là một trong những vấn đề có tính thời sự cao vì nó liên quan đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ở thị trường của các nước phát triển như Bắc Mỹ, Nhật Bản, người tiêu dùng cũng như các nhà nhập khẩu đòi hỏi các sản phẩm hàng hóa không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm ISO 9000 mà còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường theo ISO 14000 EU – một trong những thị

Trang 11

trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam đã yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành đăng ký nhãn sinh thái đối với hàng nhập khẩu Trong bối cảnh hàng loạt các hiệp định tự do thương mại song phương và đa phương đi vào hiệu lực, việc chuẩn bị để hàng xuất khẩu của Việt Nam có thể vượt qua các rào cản kỹ thuật như chương trình nhãn sinh thái của các quốc gia nhập khẩu trở nên vô cùng cần thiết Nhận thức được tầm quan trọng của chương trình nhãn sinh thái trong công tác bảo vệ môi trường và chiến lược xuất khẩu, ngày 25 tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành chỉ thị 36/CT-TW về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước” Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và các cơ quan quản lý liên tục đưa ra các chương trình nhãn sinh thái áp dụng cho các sản phẩm và dịch vụ trong nước như: Nhãn năng lượng, Nhãn Xanh Việt Nam, Nhãn Du lịch, … Tuy nhiên, việc thực hiện các chương trình nhãn sinh thái ở Việt Nam còn chưa thực sự hiệu quả và tồn tại những hạn chế nhất định

Trong tình hình đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nội dung chương trình nhãn sinh thái trên thế giới - Kinh nghiệm và Giải pháp cho Việt Nam” nhằm mục đích phân tích sự thiết lập và vận hành của một số chương trình nhãn sinh thái trên thế giới, đồng thời phân tích sự thiết lập và vận hành của các chương trình nhãn sinh thái tại Việt Nam hiện nay Từ đó, tác giả đưa ra những đề nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các chương trình nhãn sinh thái theo bài học kinh nghiệm từ các chương trình được nghiên cứu Việc lựa chọn nghiên cứu hai chương trình nhãn sinh thái từ EU – nơi có trình độ phát triển khoa học kỹ thật thuộc nhóm dẫn đầu trên thế giới, và từ Thái Lan – quốc gia có sự tương đồng trong trình độ khoa học – kinh tế với Viêt Nam, sẽ giúp cho các bài học kinh nghiệm và giải pháp được đưa ra mang tính phù hợp và đúng đắn Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có thể dựa trên các bài học kinh nghiệm này để có thể tiến hành chương trình nhãn sinh thái một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn khi sử dụng lợi thế học tập của chương trình đi sau

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 12

Chương trình nhãn sinh thái được tiến hành nghiên cứu từ khoảng thời gian thế kỷ thứ XX với bằng chứng là sự ra đời và phát triển của chương trình nhãn sinh thái đầu tiên - nhãn sinh thái Thiên thần xanh của Đức năm 1978 Sang đầu thế kỷ XXI, các công trình nghiên cứu trên thế giới chủ yếu tập trung phân tích mối quan

hệ giữa nhãn sinh thái và thương mại quốc tế, cũng như hiệu quả của nhãn sinh thái như:

+ Eco-labelling, Environment, and International Trade, Kenzo Abe, Keisaku

Higashida, and Jota Ishikawa (2000): Nghiên cứu của các tác giả Nhật Bản về chương trình nhãn sinh thái trong mối tương quan về hiệu quả môi trường và sự ảnh hưởng đến thương mại quốc tế Trong nghiên cứu, tác giả thảo luận về tính hiệu quả của các chương trình dán nhãn sinh thái và tác động của chúng đối với các vấn đề thương mại quốc tế Theo đó, nhãn sinh thái còn chưa có những thể hiện rõ ràng về mặt hiệu quả, nhãn sinh thái cũng cần sự minh bạch giữa các chương trình độc lập của các quốc gia, và việc sử dụng nguyên tắc vòng đời sản phẩm trong chương trình nhãn sinh thái có thể gây ảnh hưởng đến thương mại quốc tế do quá trình sản xuất – tiêu dùng có thể không gói gọn trong biên giới quốc gia

+ The EU Ecolabel - less hazardous chemicals in everyday consumer product,

Marie Pierre Locret and Charlotte de Roo (2004): Nghiên cứu nhóm tác giả đến từ BEUC, nhằm so sánh chương trình nhãn sinh thái EU Ecolabel và luật pháp hiện hành của EU tại thời điểm đó về mức độ bảo vệ sức khỏe và môi trường mà chúng cung cấp liên quan đến hóa chất Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiêu chí nhãn sinh thái cung cấp trợ giúp trong sự lựa chọn của người tiêu dùng đối với các hóa chất ít nguy hiểm hơn

Trong nước, một số công trình nghiên cứu đã góp phần giải thích cơ sở khoa học cho chương trình cấp nhãn sinh thái, cũng như phân tích một số chương trình nhãn sinh thái tiêu biểu như:

+ Nghiên cứu giải pháp áp dụng hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 và nhãn sinh thái, nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu chè và cà phê Việt Nam,

Nguyễn Thị Mão (2002): tác giả đã tiến hành phân tích hệ thống các tiêu chuẩn

Trang 13

trong bộ ISO 14001 về vấn đề quản lý môi trường; đồng thời xây dựng các biện pháp áp dụng cho sản phẩm chè và cà phê của Việt Nam có thể tiếp cận được với các chương trình nhãn sinh thái quốc tế tại thời điểm nghiên cứu

+ Cơ sở khoa học của việc xây dựng và quản lý chương trình cấp nhãn môi trường cho một số mặt hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng nội địa trong điều kiên hội nhập kinh tế, Nguyễn Hữu Khải (2004): nghiên cứu là một đề tài cấp Bộ đã tiến

hành xây dựng cơ sở khoa học cho việc xây dựng và quản lý chương trình cấp nhãn môi trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Điểm mới của nghiên cứu là sự

mở rộng của tác giả trong đối tượng áp dụng từ hàng hóa xuất khẩu đến hàng hóa tiêu thụ nội địa Thông qua nghiên cứu, tác giả khẳng định rằng việc xây dựng các chương trình cấp nhãn môi trường của Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc tế là hoàn toàn khả thi

+ Xây dựng mô hình và chương trình quản lý nhãn sinh thái của EU đối với

một số hàng hóa xuất khẩu - Kinh nghiệm và giải pháp thực hiện ở Việt Nam, Triệu

Thị Hải Hiền (2004): luận văn thạc sĩ kinh tế tại Đại học Ngoại Thương, được hướng dẫn bởi PGS.TS Nguyễn Hữu Khải, đã tiến hành nghiên cứu chương trình nhãn sinh thái của EU, từ đó khái quát lên mô hình xây dựng một chương trình nhãn sinh thái Qua đó, tác giả xây dựng các giải pháp cho việc xây dựng chương trình nhãn sinh thái tại Việt Nam

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu tập trung nghiên cứu hiệu quả của các nhãn sinh thái tại các quốc gia phát triển như EU, hoặc nghiên cứu đến mối quan hệ giữa nhãn sinh thái và thương mại quốc tế trong yêu cầu toàn cầu hóa Các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu phân tích và nghiên cứu các giải pháp định hướng cho mảng xuất khẩu, và lấy chương trình nhãn sinh thái của quốc gia phát triển làm kim chỉ nam để nghiên cứu Nghiên cứu của tác giả lần này kế thừa các lý thuyết từ mô hình chương trình nhãn sinh thái của PGS.TS Nguyễn Hữu Khải và ThS Triệu Thị Hải Hiền Tuy nhiên, tác giả phát triển nội dung phân tích chương trình nhãn sinh thái tại EU và Thái Lan – lựa chọn nhiều đối tượng phân tích và lựa chọn đối tượng phân tích tương đồng với Việt Nam Từ đó rút ra những bài học kình nghiệm phù hợp Về mặt giải pháp, tác giả tiến hành phân tích nội dung của

Trang 14

các chương trình nhãn sinh thái tại Việt Nam hiện nay, để có thể đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp từ những bài học kinh nghiệm của các chương trình nhãn sinh thái

đi trước

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu nội dung chương trình nhãn sinh thái EU Ecolabel tại EU và Green Label tại Thái Lan nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm

Từ đó, tác giả so sánh với thực tế thực hiện chương trình nhãn sinh thái tại Việt Nam hiện nay, và đưa ra giảp pháp cho nội dung chương trình nhãn sinh thái tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn

Trong phạm vi luận văn, để thực hiện được mục đích nghiên cứu, tác giả đề ra các nhiệm vụ bao gồm:

+ Đưa ra lý luận về nội dung chương trình nhãn sinh thái;

+ Phân tích nội dung của chương trình nhãn sinh thái EU Ecolabel và Green Label Thailand và thực tế thực hiện;

+ Phân tích nội dung của các chương trình nhãn sinh thái tại Việt Nam và thực

tế thực hiện;

+ Đưa ra một số bài học kinh nghiệm cũng như giải pháp cho nội dung các chương trình nhãn sinh thái của Việt Nam hiện nay và trong tương lai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: Nội dung chương trình nhãn sinh thái EU Ecolabel,

Green Label Thailand, nhãn sinh thái tại Việt Nam

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tác giả nghiên cứu dựa trên các phương pháp:

+ Phân tích, tổng hợp các tài liệu tiếng Việt và ngoại ngữ về nội dung và thành tựu của hai chương trình nhãn sinh thái: EU Ecolabel và Green Label Thailand; + Suy luận hạn chế của nội dung các chương trình nhãn sinh thái dựa vào các loại trừ và thực tiễn ứng dụng;

+ So sánh, đối chiếu các bài học kinh nghiệm của EU và Thái Lan vào thực tế thực hiện tại Việt Nam để tiến hành đưa ra các giải pháp

6 Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết chính được sử dụng trong luận văn là định nghĩa của chương trình nhãn sinh thái theo tổ chức đo lường quốc tế ISO đưa ra Theo đó, các khái niệm, định nghĩa liên quan đến nội dung chương trình nhãn sinh thái được tác giả xây dựng Đồng thời, tác giả tiến hành phân tích các đối tượng là nội dung của các chương trình nhãn sinh thái (EU, Thái Lan, Việt Nam) theo cơ sở nguyên tắc áp dụng và phân loại của ISO Đề tài được tiếp cận theo hướng đi từ những nội dung thực tế của EU Ecolabel và Green Label Thailand, sau đó tiến hành so sánh đối chiếu để thấy điểm cần tiếp thu cho Việt Nam

7 Kết cấu luận văn

Nội dung chính của luận văn nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về chương trình nhãn sinh thái;

Chương 2: Phân tích nội dung chương trình nhãn sinh thái trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam;

Chương 3: Giải pháp xây dựng và vận hành chương trình nhãn sinh thái cho Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH NHÃN SINH THÁI 1.1 Sự ra đời của chương trình nhãn sinh thái trên thế giới

1.1.1 Khái niệm về nhãn sinh thái

Nhãn sinh thái là một thuật ngữ không mới đối với những người nghiên cứu kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế môi trường Tuy nhiên, xét về định nghĩa chính xác nhãn sinh thái là gì, hiện tại vẫn chưa có lý thuyết nào được xây dựng để đưa ra định nghĩa chính xác và thống nhất cho thuật ngữ này

Nhãn sinh thái là một từ ghép gồm hai từ đơn là “nhãn” và “sinh thái” “Nhãn” trong cụm từ này biểu thị về nhãn mác, dấu hiệu, có thể là ký tự hoặc hình ảnh, được sử dụng để phân biệt vật này với vật khác “Sinh thái” có từ gốc trong tiếng

Hy Lạp là “oikos” mang hai ý nghĩa Với nghĩa hẹp, đây là từ để chỉ địa điểm là nhà

ở, nơi cư trú, nơi sinh sống Với nghĩa rộng hơn, đây là từ dùng để chỉ sự tồn tại sự sống nói chung Tuy nhiên, một trong những đặc trưng cơ bản nhất của sự sống là qua trình trao đổi chất thường xuyên giữa cá thể sống và môi trường xung quanh, do

đó, trong nghiên cứu có thể hiểu “sinh thái” theo nghĩa rộng là mối quan hệ giữa cơ thể sống và môi trường xung quanh (Phạm Văn Boong, 2002) Thông qua việc ghép hai khái niệm về “nhãn” và “sinh thái”, “nhãn sinh thái” về mặt khái niệm là một dấu hiệu chỉ ra sự khác biệt về ý nghĩ môi trường giữa vật được gắn nhãn và vật không được gắn nhãn Hay nói cách khác, nhãn sinh thái là công cụ để người tiêu dùng có thể nhận biết mức độ môi trường của sản phẩm mình đang sử dụng

Với nội dung như vậy, nhãn sinh thái có rất nhiều từ đồng nghĩa như nhãn xanh, nhãn môi trường Tác giả tiến hành phân tích một số khái niệm để thấy sự thống nhất về khái niệm nhãn sinh thái

Khái niệm đầu tiên là khái niệm “nhãn môi trường - Environmental Performance Labels” của tổ chức Tiêu chuẩn Đo lường Quốc tế ISO Nhãn môi trường được ISO 14000 định nghĩa là sự khẳng định, biểu thị thuộc tính môi trường của sản phẩm, dịch vụ Chúng được thể hiện dưới hình thức ký tự hoặc đồ họa Chúng có thể được chứng nhận bởi bên thứ ba độc lập hoặc do chính nhà sản xuất hoặc

Trang 17

nhà cung cấp dịch vụ đưa ra Do vậy, nhãn môi trường của ISO 14000 sẽ được chia ra làm nhiều phân loại khác nhau và sẽ được phân tích cụ thể trong phần kế tiếp

Một định nghĩa khác của nhãn sinh thái đến từ Ngân hàng Thế giới Ngân hàng Thế giới sử dụng thuật ngữ “nhãn sinh thái- Ecolabels” với ý nghĩa là nhãn cung cấp thông tin về các tác động môi trường liên quan đến việc sản xuất, sử dụng sản phẩm Nhãn môi trường thường được áp dụng môt cách tự nguyện nhưng cũng

có thể là bắt buộc trong những trường hợp nhất định (Ahmed Kulsum, 2012) Như vậy, điểm khác biệt chủ yếu giữa định nghĩa của ISO 14000 và Ngân hàng Thế giới

là việc đưa nhãn sinh thái vào áp dụng theo chế độ nào ISO 14000 chỉ đưa ra nhãn sinh thái như một chương trình tự nguyện của cả chính phủ, người sản xuất - cung cấp dịch vụ, người tiêu dùng Đối với Ngân hàng Thế giới, nhãn sinh thái còn có thể được áp dụng một cách bắt buộc như một công cụ chính sách đảm bảo phát triển bền vững Nhãn năng lượng cho sản phẩm ô tô ở Ấn Độ là một trong những nhãn sinh thái mang tính bắt buộc theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới

Khái niệm nhãn sinh thái khác mà chúng ta cần phân tích thêm là khái niệm về nhãn sinh thái của GEN - Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (Global Ecolabelling Network) Theo GEN, về cơ bản, một nhãn sinh thái là một nhãn hiệu trong đó xác định ưu tiên môi trường một cách tổng thể của một sản phẩm hay dịch vụ trong một nhóm sản phẩm xác định dựa trên những chỉ tiêu trong toàn bộ chu kỳ cuộc sống của nó Nhãn sinh thái, theo GEN, mang tính chất tự nguyện, và phải được trao bởi một bên thứ ba độc lập cho các sản phẩm đáp ứng tiêu chí môi trường được thành lập bởi tổ chức đó Do vậy, nhãn sinh thái của GEN được coi như là một loại nhãn thuộc nhóm Nhãn môi trường kiểu I trong ISO 14000 GEN xác định rõ ràng rằng nhãn sinh thái chỉ chứng nhận cho sản phẩm và đề cập cụ thể đến việc cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về chất lượng môi trường tương đối của sản phẩm đó chứ không phải là một chứng nhận cho nhà sản xuất Điều này có nghĩa là một sản phẩm - dịch vụ của nhà sản xuất - cung cấp dịch vụ được chứng nhận nhãn sinh thái

sẽ không thể hiện cho việc toàn bộ các sản phẩm - dịch vụ của nhà sản xuất - cung cấp dịch vụ đó đều được chứng nhận nhãn sinh thái

Trang 18

Sau khi phân tích các định nghĩa của ISO 14000, của Ngân hàng Thế giới, và của GEN, tác giả nhận định định nghĩa về nhãn môi trường của ISO 14000 là định nghĩa tổng quát nhất đối với nội dung của nhãn sinh thái Các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và GEN mang tính bổ sung và làm chi tiết cho một số khía cạnh của nhãn sinh thái Do vậy, trong luận văn này, nhãn sinh thái sẽ được sử dụng theo khái niệm như sau: Nhãn sinh thái là tổ hợp ký tự hoặc đồ họa biểu thị thuộc tính môi trường của sản phầm hay dịch vụ mang nhãn Thuộc tính môi trường ở đây chỉ hiệu ứng tích cực đến môi trường trong quá trình sản xuất và tiêu dùng hàng hóa gắn nhãn so với những hàng hóa không gắn nhãn

1.1.2 Tính tất yếu của sự ra đời nhãn sinh thái

Từ việc phân tích khái niệm nhãn sinh thái ở phần trên, chúng ta đều hiểu rằng nhãn sinh thái có thể do nhà sản xuất tự công bố hay được các tổ chức khác tiến hành chứng nhận Như vậy, lý do từ đâu mà nhà sản xuất có động cơ để tiến hành các chứng nhận đó? Theo quy luật cung cầu, khi cầu các sản phẩm có ý nghĩa sinh thái nảy sinh và lớn mạnh, khiến cho nguồn cung có cơ hội phát triển Từ đó thúc đẩy các nhà sản xuất nâng cao ý thức sinh thái trong việc cung cấp các sản phẩm của mình Vậy cầu này xuất phát từ đâu thì đó chính là cơ sở cho việc ra đời của các chứng nhận sinh thái hay có thể coi là nhãn sinh thái

Cầu các sản phẩm sinh thái dựa trên sự hình thành ý thức sinh thái trong tiêu dùng mà trong đó y thức sinh thái được hình thành từ ba nguyên lý của triết học Mác – Lênin (Triệu Thị Hải Hiền, 2004) Sau quá trình công nghiệp hóa, khủng hoảng sinh thái đã trở thành một trong những nguy cơ nặng nề đe dọa đến cuộc sống của con người và sự tồn tại của xã hội Các nguyên lý cơ bản trong triết học Mác - Lênin bao gồm nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, nguyên lý

về quy định giữa trình độ phát triển xã hội đối với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, nguyên lý về vai trò chủ thể tích cực của con người trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là ba căn cứ hình thành nên

ý thức sinh thái của con người hiện tại Nguyên lý về tính thống nhất chỉ ra sự thống nhất vật chất giữa con người, tự nhiên và xã hội Ba thành tố này liên lạc chặt chẽ, thống nhất với nhau và tác động lẫn nhau Nguyên lý về trình độ phát triển chỉ ra

Trang 19

rằng phát triển càng cao, con người càng đề cao những mối quan tâm liên quan đến

tự nhiên, đến môi trường Điều này diễn ra khi các nhu cầu phần con của con người được thỏa mãn, con người sẽ suy nghĩ đến những vấn đề phần người như các tác động con người đã gây ra cho môi trường xung quanh Nguyên lý thứ ba về vai trò của con người chỉ ra rằng con người có thể có vai trò thay đổi tích cựu hoặc tiêu cực trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Thông qua ba nguyên lý, triết học Mác - Lênin chỉ ra việc phát triển của con người sẽ dẫn đến sự nhận thức, đồng thời sinh ra những hành động có tác động tích cực đến môi trường được gọi là ý thức sinh thái

Vì ý thức sinh thái, con người sẽ phải sản xuất khác đi Các tiến bộ khoa học công nghệ ra đời góp phần tạo thuận lợi cho sự sản xuất khác đi đó Khoa học cung cấp cho con người những tri thức cần thiết về sinh thái, về những ảnh hưởng đã đang và sẽ xảy ra khi con người loại trừ yếu tố môi trường ra khỏi sản xuất và tiêu dùng Khoa học cũng đồng thời là công cụ để tuyên truyền, giáo dục con người nhận ra những thiệt hại môi trường và đồng thời cung cấp công cụ để có thể thay đổi hành vi, nhằm sản xuất và tiêu dùng sinh thái hơn Khoa học công nghệ được coi là thành phần nuôi dưỡng cho ý thức sinh thái của con người phát triển và được truyền bá rộng rãi hơn, cũng như là nhân tố để hiện thực hóa ý thức sinh thái thành các hành động cụ thể

Khi ý thức sinh thái phát triển đủ mạnh, nhu cầu về các sản phẩm phù hợp ý thức sinh thái xuất hiện, chất lượng môi trường trở thành một hàng hóa mà người tiêu dùng sẵn sàng chi trả, người tiêu dùng sẽ cần một dấu hiệu để xác nhận về hàm lượng môi trường của từng sản phẩm Từ nhu cầu đó, nhãn sinh thái được ra đời Tiền thân của nhãn sinh thái chỉ là những tuyên bố đơn phương của nhà sản xuất về việc sản phẩm phù hợp với ý thức sinh thái của cộng đồng tiêu dùng Nhu cầu xác nhận những tuyên bố này này sinh khi quá nhiều tuyên bố chủ quan được đưa ra Người tiêu dùng cần những xác nhận khách quan về chất lượng sản phẩm, nhãn sinh thái của các chứng nhận thứ ba giành được sự tin tưởng và ủng hộ hơn từ cộng đồng Bắt đầu từ những nhãn sinh thái đầu tiên vào năm 1978 tại Đức, sau đó là sự

ra đời mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu GEN - Global Ecolabelling Network đã

Trang 20

được hình thành vào năm 1994 với 27 thành viên chính thức hiện tại, cũng hàng trăm nhãn sinh thái của các quốc gia nằm ngoài mạng lưới, nhãn sinh thái đã trở thành một trong những tiêu chí sản xuất và tiêu dùng bền vững của cộng đồng

1.1.3 Mục đích của việc sử dụng nhãn sinh thái

Bất kỳ một nhãn sinh thái nào được xây dựng đều tập trung hướng đến ba mục đích cơ bản bao gồm: bảo vệ môi trường, khuyến khích sự đổi mới trong tư duy và hoạt động sản xuất, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề môi trường

Nội dung cụ thể của mục đích thứ nhất - bảo vệ môi trường bao gồm:

+ Khuyến khích việc quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên tái tạo để đảm bảo tính sẵn sàng của tài nguyên cho các thế hệ tương lai Thông qua các tiêu chuẩn của nhãn sinh thái, các sản phẩm được gắn nhãn sẽ thể hiện một sự hợp lý trong việc sử dụng nguồn tài nguyên trong sản xuất, ngay cả khi nó là tài nguyên tái tạo được Dù

là tài nguyên tái tạo, trái đất và con người cũng sẽ phải mất thời gian để chờ chúng

có thể được tái tạo sẵn sàng sử dụng Việc hợp lý này nằm trong sử dụng nguồn tài nguyên tái tạo với chu trình hợp lý, đảm bảo không gian và thời gian cho việc tái tạo lại các tài nguyên thay vì sử dụng hết trong một lần và không cân nhắc đến dài hạn Điều này giúp cho các quốc gia có thể duy trì nguồn tài nguyên có hạn cho các thế hệ tương lai, cũng như giảm thiểu tối đa tác động khi khai thác quá mức nguồn tài nguyên

+ Thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên không tái tạo, bao gồm cả nhiên liệu hóa thạch Khi bị giới hạn về nguồn lực, con người sẽ có xu hướng sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất Mục tiêu tránh thất thoát, lãng phí sẽ được đặt ra cho mọi nhu cầu sử dụng trong cả quá trình sản xuất lẫn tiêu dùng Bằng sức ép đó, sự hiệu quả trong sử dụng nguồn lực sẽ được nâng cao dần dần Qua trình sản xuất sẽ luôn nhận được sức ép để cải tiến không ngừng với mục tiêu tạo ra nhiều của cải nhất có thể trong giới hạn cho phép

+ Tạo điều kiện giảm, tái sử dụng và tái chế các chất thải công nghiệp, chất thải thương mại và tiêu dùng Ngoài việc tạo sức ép trong việc sử dụng các nguyên

Trang 21

liệu đầu vào, nhãn sinh thái còn giúp bảo vệ môi trường trong việc giảm thiểu lượng thải ra môi trường Sau khi con người tiêu dùng bất cứ một hàng hóa nào, luôn luôn tồn tại một lượng thải nhất định ra môi trường Việc giảm thải được đưa ra trong trường hợp này có thể là giảm thải tuyệt đối hoặc giảm thải tương đối Giảm thải tuyệt đối là việc giảm thực tế về khối lượng phát thải, dẫn đến giảm lượng thải mà môi trường phải tiếp nhận Hãy coi môi trường như một chiếc hộp, và con người sinh sống trong đó, lượng thải phát ra sẽ chiếm mất không gian trong chiếc hộp Do vậy, giảm về mặt số lượng chất thải khiến con người tồn tại được lâu hơn Việc giảm thải gián tiếp được xem xét như việc tái sử dụng chất thải vào quá trình sản xuất hay tiêu dùng Lượng thải sẽ được chia làm hai phần, một phần là nguyên liệu cho quá trình tiếp theo, phần còn lại là lượng cần xử lý Từ đó, lượng thải mà môi trường phải tiếp nhận giảm đi và môi trường được bảo vệ

Mục đích lớn thứ hai của nhãn sinh thái là khuyến khích sự đổi mới trong tư duy và hoạt động sản xuất Bắt đầu từ sự thay đổi trong tư duy của các nhà tư bản

về việc tối đa hóa lợi nhuận Trước đây, lợi nhuận được tối đa khi sản xuất càng nhiều sản phẩm, bán được càng nhiều sản phẩm, sử dụng những nguyên liệu, công

cụ rẻ nhất có thể Mục tiêu lợi nhuận tối đa bất chấp thể hiện trong giai đoạn thế kỷ 18-19 đã khiến cho con người nhận những bài học nặng nề trong thế kỷ 20-21 Biến đổi khí hậu, sự xuất hiện của những căn bệnh nghề nghiệp, các thảm họa thiên nhiên như bão, lũ, … là những hệ quả mà loài người không thể kiểm soát được

Ngày nay, khi các nhà tư bản nhận thấy được nhu cầu sử dụng các sản phẩm

có chứng nhận sinh thái, để có thể giữ được khách hàng, họ buộc phải tiến hành thay đổi tư duy theo hướng sinh thái hơn Từ việc sử dụng nguyên liệu sinh thái, đến công nghệ sản xuất, cùng nguồn lực về con người, sự thay đổi trong tư duy để trở nên sinh thái hơn được thể hiện một các rõ ràng Các nguyên liệu đầu vào không còn được lựa chọn theo duy nhất một tiêu chí giá cả mà đã được cân nhắc theo tập hợp tiêu chí như phương thức khai thác, chất lượng môi trường, hay thậm chí là cả lượng thải sau khi sử dụng Công nghệ sản xuất được các nhà tư bản đầu tư phát triển liên tục và mạnh mẽ Nhu cầu một công nghệ sản xuất tiên tiến giúp sản phẩm đạt các tiêu chí khắt khe của các nhãn sinh thái khiến các nhà phát triển phải làm

Trang 22

việc không ngừng nghỉ Các nhà tư bản ngày nay sẵn sàng sử dụng những công nghệ tiên tiến nhất để chứng minh sản phẩm làm ra là thân thiện với môi trường Việc sử dụng lao động đã trở nên nhân văn hơn khi các quy định về thời gian làm việc, bảo hộ lao động, … được các công đoàn tư vấn cho các cơ quan chứng nhận nhãn sinh thái Nhãn sinh thái, thông qua việc cấp chứng nhận cho các sản phẩm phù hợp, giúp các doanh nghiệp có thể thiết lập hoặc củng cố một phân khúc thị trường đồng thời xây dựng hình ảnh tích cực của công ty trong mắt người tiêu dùng, qua đó nhận lấy một lợi thế cạnh tranh của người dẫn đầu Sự cạnh tranh lẫn nhau của các nhà sản xuất, sẽ khiến lợi thế này không chỉ được duy trì mà luôn được nâng cao hơn nữa trong cuộc đua thị trường

Mục đích lớn thứ ba của nhãn sinh thái là để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề môi trường Bằng việc cụ thể hóa các tiêu chí liên quan đến môi trường trong các bộ tiêu chí cấp nhãn, nhãn sinh thái cũng có thể sử dụng nhằm phục vụ nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề môi trường và tác động đến sự lựa chọn của họ Việc tác động ở đây không thể hiện sự hiểu biết của những người tiêu dùng đối với bộ tiêu chí do nhãn sinh thái đưa ra Nó được thể hiện thông qua việc nhãn sinh thái là một tư vấn viên cho người tiêu dùng khi tiến hành công việc lựa chọn sản phẩm Khi người tiêu dùng đứng trước nhiều lựa chọn, một sự tư vấn như vậy sẽ mang tính chất vừa giáo dục, vừa thuyết phục người tiêu dùng quan tâm hơn đến vấn đề môi trường cũng như tiêu dùng thông thái

Ở một số nước phát triển, nơi người tiêu dùng có một mức độ nhận thức tương đối về nhãn sinh thái, một nhãn sinh thái cung cấp những thông tin đáng tin cậy về tác động môi trường của sản phẩm trên thị trường có thể là tất cả những gì cần thiết

để thúc đẩy việc lựa chọn sản phẩm sản phẩm đó trong tiêu dùng Ở các quốc gia còn lại, nơi mà nhận thức của người tiêu dùng về nhãn sinh thái chưa phải là cao, nhãn sinh thái có thể được sử dụng như một gợi ý để thúc đẩy các hành động tiêu dùng có lợi cho môi trường Ngoài việc nâng cao ý thức của người tiêu dùng ngay trong thời điểm lựa chọn tiêu dùng, nhãn sinh thái còn là một kênh truyền thông riêng biệt, tiến hành các hoạt động hội nghị, hội thảo tiêu dùng, phát hành các ấn phẩm tuyên truyền, cung cấp thông tin cho người tiêu dùng trong quá trình tiền mua

Trang 23

sắm Tới thời điểm nhu cầu phát sinh, người tiêu dùng đã có một cơ sở hành động theo mục đích môi trường Việc nâng cao ý thức như vậy là vô cùng quan trọng vì đây là cơ sở để các sản phẩm gắn nhãn sinh thái có lợi thế cạnh tranh so với các sản phẩm khác, khiến các nhà sản xuất sẵn sàng tham gia chương trình

Một mục đích khác của nhãn sinh thái, không nằm trong ba mục đích cơ bản,

mà phát sinh trong thực tiễn thực hiện là mục đích về chính sách Nhãn sinh thái có thể trở thành công cụ của chính phủ trong việc điều hành hoạt động sản xuất cũng như hoạt động tiêu dùng Trong hoạt động sản xuất, việc cấp giấy chứng nhận nhãn sinh thái có thể giúp đạt được các mục tiêu môi trường tương tự với việc ban hành các quy định pháp luật Việc tham gia vào các chương trình nhãn sinh thái sẽ xây dựng mối quan hệ hợp tác giữa nhà sản xuất và chính phủ nhiều hơn là sự bắt buộc theo pháp luật Trong quá trình xây dựng pháp luật và trong qua trình xây dựng nhãn sinh thái, sự tham gia góp ý của những nhà sản xuất là hoàn toàn khác nhau Đối với pháp luật, dù nhà sản xuất có đóng góp ý kiến, thì quyền quyết đinh vẫn sẽ nằm trong tay của những nhà lập pháp Đối với chương trình nhãn sinh thái, đề nghị của các nhà sản xuất sẽ được xem xét kỹ lưỡng hơn khi việc xây dựng tiêu chí được căn cứ trên thực tế sản xuất và trình độ phát triển Qua đó, nhãn sinh thái giúp tăng cường đối thoại và lòng tin giữa các nhà sản xuất và chính phủ Hai bên sẽ có sự tương tác để tiến hành hoàn thiện chương trình cấp nhãn Mặt khác, việc thực hiện chứng nhận nhãn sinh thái thường tốn ít chi phí hành chính, ít thời gian thực hiện hơn cho doanh nghiệp cũng như chính phủ so với việc ban hành và thi hành luật Do vậy, nhãn sinh thái được coi là một công cụ mềm để chính phủ thực hiện mục tiêu môi trường của mình

Đối với quan hệ chính phủ và người tiêu dùng, nhãn sinh thái được coi là một công cụ chính sách theo nhu cầu Dựa theo hành vi mua hàng của người tiêu dùng,

sự lựa chọn nhiều hơn các sản phẩm gắn nhãn sinh thái thể hiện suy nghĩ và mối quan tâm của cộng đồng cũng như nỗ lực của họ trong vấn đề môi trường Việc công nhận của chính phủ giúp cho người tiêu dùng cảm nhận được sự đề cao và tin tưởng vào hành vi đó của họ bởi các nhà hoạch định chính sách Mặt khác, nhãn sinh thái cũng là công cụ để chính phủ tiến hành các công tác tuyên truyền và giáo

Trang 24

dục cho người tiêu dùng Thông thường, xu hướng tâm lý của con người sẽ không thích những sự ép buộc mang tính pháp luật Thay vào đó, họ sẽ thích sự thấu hiểu,

sẻ chia mang tính khuyến nghị nhiều hơn, đặc biệt là trong bối cảnh đề cao tính cá nhân khi cuộc sống ngày càng phát triển như hiện này Một sự khuyến khích bằng nhãn sinh thái sẽ có hiệu quả hơn khi người tiêu dùng tiến hành các lựa chọn

Trong mục đích chính sách, nhãn sinh thái cũng có thể coi là một công cụ để chính phủ bảo vệ nền kinh tế đối nội, nâng cao vị thế đối ngoại Khi người tiêu dùng trong nước đã quen thuộc và tin tưởng vào nhãn sinh thái của quốc gia, bất kỳ hàng hóa ngoại quốc nào muốn thâm nhập thị trường sẽ cần phải tham gia chương trình nếu muốn đạt được lòng tin của người tiêu dùng Đối với các quốc gia có nền khoa học - kinh tế phát triển, các tiêu chí nhãn sinh thái là một rào cản không nhỏ đối với các hàng hóa nước ngoài Thậm chí, đối với chương trình nhãn sinh thái mang tính bắt buộc từ chính phủ, các doanh nghiệp nước ngoài có thể không đáp ứng được do tính khác biệt từ trình độ sản xuất Nhãn sinh thái cùng có thể được quốc gia sử dụng với mục đích tăng cường vị thế đối ngoại, đặc biệt là nhãn sinh thái của các quốc gia phát triển Vị thế đối ngoại ở đây được thể hiện bởi sự tin tưởng của các quốc gia kém phát triển hơn vào sự xác nhận của những nhãn sinh thái đến từ quốc gia phát triển Từ đó, nâng cao giá trị cũng như tiếng nói của các quốc gia này trong việc trao đổi song phương tại các giao dịch quốc tế

Sự vận hành và phát triển của các nhãn sinh thái trên thế giới đang thực hiện ngày một hiệu quả các mục đích cơ bản mà nó đề ra, cũng như thực hiện thành công mục đích nảy sinh về mặt chính sách Tuy nhiên, nhãn sinh thái hiện nay vẫn có một

số hạn chế đã được chính các nhà phát triển nhãn nhận ra những vẫn chưa thể khắc phục Đầu tiên là việc có quá nhiều nhãn sinh thái của quá nhiều tổ chức, quốc gia khiến cho các doanh nghiệp dường như rơi vào một ma trận khó khăn Hiện nay, ngay cả với các thành viên trong Mạng lưới nhãn sinh thái quốc tế GEN cũng chưa thể đạt được các thỏa thuận công nhận triệt để nhãn sinh thái lẫn nhau Mỗi một sự thâm nhập thị trường mới, nhà nhập khẩu sẽ phải đăng ký chứng nhận nhãn sinh thái của địa phương nhập khẩu để đạt được công nhận tương tự như hàng trong nước Điều này dẫn đến sự tốn kém rất lớn về mặt chi phí cũng như công tác quản

Trang 25

lý của doanh nghiệp Đây cũng chính là lý do khiến nhãn sinh thái bị xem xét như một rào cản thương mại về khoa học công nghệ trong thương mại quốc tế, tuy nhiên cũng đồng thời được xem là một cách thực hiện mục đích chính sách

Một hạn chế khác là về việc thiết lập và tạo dựng nên bộ tiêu chí phù hợp cho việc cấp nhãn sinh thái cho sản phẩm, yêu cầu về trình độ khoa học công nghệ cũng như tài chính là tương đối lớn Điều đó dẫn đến việc sẽ có những quốc gia không thể xây dựng nhãn sinh thái cho riêng mình Dĩ nhiên, điều này tập trung chủ yếu ở các nước đang và kém phát triển Sự hạn chế đó cũng đồng nghĩa với việc cập nhật

và tái xây dựng lại một bộ tiêu chí khác cho cùng đối tượng sau một thời gian sử dụng hợp lý của bộ tiêu chí cũ là bài toán khó khăn cho các nhãn sinh thái Nguyên nhân của yêu cầu cải tiến bắt buộc là do sự phát triển không ngừng nghỉ của khoa học công nghệ Một tiêu chuẩn có thể là tiên tiến và phù hợp trong giai đoạn này, nhưng sẽ trở thành lạc hậu và cũ kỹ trong thời gian có thể rất ngắn kể từ khi được ban hành Quá trình thay đổi này yêu cầu sự theo dõi sát sao cũng như nắm bắt toàn diện tốc độ phát triển của mọi lĩnh vực khoa học đời sống, điều mà không phải quốc gia hay tổ chức nào cũng có khả năng thực hiện

Mặc dù nhãn sinh thái vẫn còn những tồn tại, tuy nhiên xu hướng sử dụng nhãn sinh thái vẫn không vì thế mà bị hạn chế Dựa vào việc thực hiện tốt những mục đích của mình, nhãn sinh thái vẫn chứng minh được ưu thế tuyệt vời của nó trong việc đảm bảo sự phát triển kinh tế bên vững với môi trường của loài người

1.1.4 Phân loại nhãn sinh thái theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000

ISO 14000 là một bộ tiêu chuẩn được ISO - tổ chức Tiêu chuẩn đo lường quốc

tế ban hành trong lĩnh vực kinh tế môi trường Bộ tiêu chuẩn này thể hiện các chỉ tiêu và các khái niệm liên quan đến quản lý môi trường nhằm hỗ trợ cho các tổ chức thực hiện giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến môi trường, tuân thủ đúng pháp luật, quy định và chính sách môi trường do các quốc gia đặt ra Thông thường, các quốc gia

sẽ dây dựng tiêu chuẩn của quốc gia mình dựa trên bộ tiêu chuẩn của ISO Do vậy, tiêu chuẩn của ISO có thể được coi là tiêu chuẩn cơ bản, được sự công nhận của cả chính phủ, phía sản xuất và phía tiêu dùng Quy định về phân loại các nhãn môi

Trang 26

trường nằm trong phân nhóm ISO/TC 207/SC 3 - Nhãn và tuyên bố môi trường của

bộ ISO 14000 (ISO, 2019) Theo đó, phân nhóm này gồm 6 bộ tiêu chuẩn, đưa ra các nguyên tắc chung và 3 khái niệm cụ thể cho nhãn môi trường

ISO 14024:2018 đưa ra khái niệm “Nhãn môi trường kiểu I”: là nhãn sinh thái

do một bên độc lập vẫn hành, theo nguyên tắc tự nguyện, dựa trên việc xem xét tiêu chí môi trường trong toàn bộ vòng đời sản phẩm, và sự chứng nhận được thực hiện thông qua việc trao giấy phép cho phép sử dụng nhãn sinh thái của bên độc lập đó trên các sản phẩm của bên đăng ký Sản phẩm được nhãn sinh thái kiểu I chấp nhận

có thể bất kỳ hàng hóa hoặc dịch vụ nào Tuy nhiên, sản phẩm buộc phải có các tác động đến môi trường, bất kể có lợi toàn bộ hoặc một phần kết quả từ một khía cạnh trong vòng đời sản phẩm

ISO 14021:2016 đưa ra khái niệm “Nhãn môi trường kiểu II” : là các cam kết môi trường tự công bố Đối tượng tự công bố ở đây có thể là bất kỳ ai, từ nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối đến bất kỳ ai có thể hưởng lợi từ tuyên bố môi trường của sản phẩm Những đối tượng này có quyền đưa ra những tuyên bố môi trường cho sản phẩm của mình mà không phải thông qua sự chứng minh, kiểm nghiệm của một bên thứ ba bất kỳ Do vậy, nhược điểm lớn nhất của nhãn môi trường loại II là tính chủ quan, dễ gây sự thiếu trung thực và đậm tính chất quảng cáo của nhà sản xuất

ISO 14025:2006 đưa ra khái niệm “Nhãn môi trường kiểu III” : là chương trình tự nguyện cung cấp dữ liệu về môi trường được định lượng của một sản phẩm, theo các tiêu chí, thông số được thiết lập sẵn bởi một bên thứ ba có trình độ và đánh giá trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm Những đánh giá về sản phẩm có thể được đưa ra bởi bên thứ ba này - bên thứ ba sở hữu hệ thống tiêu chí, thông số kiểm định

- nhưng cũng có thể được đưa ra bởi một bên thứ ba hoàn toàn khác, mặc dù một bên thứ ba đó không phải là người xây dựng nên các tiêu chí Nhãn môi trường loại III do vậy chủ yếu được sử dụng trong giao tiếp giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, nhưng không được sử dụng trong giao tiếp giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng Nguyên nhân là loại nhãn này chưa đảm bảo được tính khách quan tuyệt đối cho các xác nhận hay tuyên bố của người xác nhận

Trang 27

Những đặc điểm cơ bản của ba kiểu nhãn môi trường theo phân loại của ISO

14000 được tóm tắt trong bảng sau:

Bảng 1.1: Đặc điểm cơ bản của ba kiểu nhãn môi trường theo phân loại của

ISO 14000

Đặc điểm Nhãn môi trường

Kiểu I

Nhãn môi trường Kiểu II

Nhãn môi trường Kiểu III

Hệ thống tiêu chí Phức hợp Đơn giản Phức hợp

Chi phí kiểm tra Có, rất cao Không Có, không cao

Cơ sở phân chia Đánh giá của bên

Tác động của vòng đời sản phẩm

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp theo https://www.iso.org)

Theo các đặc điểm trên, nhãn môi trường kiểu I là kiểu nhãn mang tính khách quan cũng như có độ tin tưởng cao nhất trong cả ba loại nhãn Tuy nhiên, đây cũng

là kiểu nhãn gây tốn nhiều chi phí phất trong việc đánh giá và cấp nhãn Nhãn môi trường kiểu II là kiểu nhãn đơn giản và ít tốn chi phí nhất, những đồng thời cũng là kiểu nhãn ít có tính khách quan hay sự tin tưởng nhất Nhãn môi trường kiểu III là

sự trung hòa giữa hai kiểu nhãn môi trường I và II Tuy nhiên, loại nhãn này lại không được ưa chuộng vì mặc dù tốn chi phí kiểm tra và đánh giá sản phẩm nhưng

sự xác nhận của bên thứ ba không phải là người thiết lập tiêu chí khiến cho độ tin tưởng của nhãn bị giảm đi

Một nội dung khác trong bộ ISO 14000 có đề cập đến là các nguyên tắc khi áp dụng các nhãn sinh thái theo định nghĩa của ISO, được thể hiện trong ISO

Trang 28

14020:2000 Theo đó, các chương trình nhãn sinh thái cần phải dựa trên các nguyên tắc tự nguyện, nguyên tắc chính xác, nguyên tắc minh bạch và nguyên tắc giám sát định kỳ Nguyên tắc tự nguyện chỉ ra rằng việc tham gia vào các chương trình nhãn sinh thái của các đối tượng cần phải là tự nguyện, không bắt buộc Đây là lựa chọn của họ khi thể hiện sự quan tâm môi trường của chính họ Nguyên tắc chính xác được thể hiện trong sự yêu cầu quá trình xây dựng các bộ tiêu chí phải được xây dựng chính xác dựa trên những nghiên cứu khoa học cụ thể Những tuyên bố của nhãn sinh thái phải có thể được xác minh, hợp lý và trung thực Nguyên tắc minh bạch thể hiện sự công khai về mặt thông tin cũng như sự tham gia của nhiều thành phần trong quá trình xây dựng các nhãn sinh thái Đi kèm với đó là yêu cầu về việc truyền đạt các thông tin của nhãn cần được phổ biến rộng rãi, tránh tình trạng thông tin không minh bạch Cuối cùng, nguyên tắc giám sát định kỳ thể hiện sự cập nhật, cải tiến trong các tiêu chí cấp nhãn Khoa học luôn phát triển theo hướng tiến bộ hơn và nhãn sinh thái cũng sẽ phải có những sự thay đổi theo hướng phù hợp với trình độ sản xuất Thêm vào đó, nhãn sinh thái cũng phải tiến hành kiểm tra thường xuyên đối với những đơn vị đang sử dụng nhãn của mình Việc thanh kiểm tra này giúp phát hiện và giải quyết kịp thời các sai phạm của đơn vị sử dụng nhãn, đảm bảo uy tín của nhãn trong quá trình vận hành Dựa trên các nguyên tắc của ISO 14020:2000, nếu nhãn sinh theo được xây dựng theo phân loại của ISO, hay nhãn xác định mình thuộc loại nhãn ISO nào thì sẽ phải tuân thủ theo các nguyên tắc đó

Sự phân loại của ISO mang tính tương đối và tính phổ biến được cộng đồng quốc tế chấp nhận Trên thực tế, có rất nhiều loại nhãn sinh thái trên thế giới không nằm trong cách phân loại của ISO, đặc biệt là các loại nhãn mang tính chất bắt buộc theo yêu cầu quốc gia Tuy nhiên, xét về mặt bản chất, ba nguyên tắc còn lại của nhãn sinh thái vẫn được các nhãn này tuân thủ, chỉ có duy nhất nguyên tắc về sự tự nguyên tham gia là khác biệt

1.2 Chương trình nhãn sinh thái

1.2.1 Khái niệm và nội dung của chương trình nhãn sinh thái

1.2.1.1 Khái niệm của chương trình nhãn sinh thái

Cụm từ “Chương trình nhãn sinh thái” được sử dụng là một cụm từ ghép gồm hai phần “chương trình” và “nhãn sinh thái” Thuật ngữ “nhãn sinh thái” đã được

Trang 29

định nghĩa trong phần phân tích phía trên Cụm từ “chương trình” là tổ hợp của những công việc để xây dựng, đạt được, cũng như duy trì mục tiêu đặt ra Ghép ý nghĩa của “chương trình” và “nhãn sinh thái”, tác giả đưa ra khái niệm “chương trình nhãn sinh thái” được sử dụng trong luận văn này như sau: là tổ hợp các công việc cần được thực hiện để xây dựng và vận hành việc chứng nhận tổ hợp ký tự hoặc đồ họa biểu thị thuộc tính môi trường của sản phầm hay dịch vụ Hay nói một cách ngắn gọn hơn, chương trình nhãn sinh thái là tổ hợp của hai quá trình xây dựng

và vận hành nhãn sinh thái, giúp nhãn sinh thái có thể thực hiện được sứ mệnh của mình trong việc biểu thị tính môi trường của sản phẩm và dịch vụ mang nhãn Khái niệm “chương trình nhãn sinh thái” sẽ chỉ được dùng trong những phân tích nhãn sinh thái do bên khách quan chứng nhận Đối với nhãn sinh thái tự chứng nhận, do bản chất của việc tự chứng nhận là do chủ sản phẩm thực hiện, do vậy việc thực hiện riêng một chương trình nhãn sinh thái của đối tượng này thường không cần thiết Trong phần tiếp theo của luận văn, tác giả sẽ phân tích chương trình nhãn sinh thái với tư cách là chương trình của một tổ chức độc lập với chủ sản phẩm/dịch vụ

1.2.1.2 Nội dung của chương trình nhãn sinh thái

Theo định nghĩa được sử dụng, tác giả chia một chương trình nhãn sinh thái thành hai nội dung chính, bao gồm xây dựng nhãn và vận hành nhãn Mục đích của chương trình là đạt được mục tiêu nhãn đặt ra theo khái niệm nhãn đó định nghĩa

Ví dụ, nhãn sinh thái về năng lượng sẽ hoạt động với mục tiêu xác nhận những sản phẩm sử dụng ít năng lượng Từ đó, toàn bộ các công việc liên quan đến xây dựng

và vận hành nhãn sẽ xoay quanh trục nội dung chính là tiết kiệm năng lượng Lý thuyết được tác giả xây dựng từ việc tiến hành bổ sung và phân chia mô hình quản

lý nhãn sinh thái gồm 7 bước (Triệu Thị Hải Hiền, 2004)

Hai giai đoạn xây dựng và vận hành trong chương trình nhãn sinh thái được thực hiện liên kết với nhau không tách tời Đầu tiên, nhãn sinh thái được cụ thể hóa thông qua giai đoạn xây dựng, và được đi vào thực tiễn thị trường thông qua giai đoạn vận hành Tại thời điểm nhãn vận hành, việc xây dựng vẫn luôn tiếp tục dựa trên nguyên tắc chính xác và giám sát của nhãn do việc thay đổi của khoa học và công nghệ là luôn diễn ra Tác giả sẽ tiến hành phân tích cụ thể các nội dung của

Trang 30

từng công việc trong nội dung của chương trình nhãn sinh thái để xây dựng khung phân tích cho các phần tiếp theo

Hình 1.1: Nội dung của chương trình nhãn sinh thái

(Nguồn: Tác giả tự xây dựng)

Công việc chính đầu tiên trong quá trình xây dựng nhãn sinh thái là thực hiện yêu cầu xây dựng cơ cấu tổ chức của nhãn Đây chính là công việc nhằm thành lập được cơ quản quản lý trực tiếp của chương trình sinh thái, đồng thời thiết lập được những cơ sở pháp lý, quy tắc hoạt động của tổ chức Sự xây dựng này thể hiện chủ thể tối cao chịu trách nhiệm về uy tín của nhãn đó là nhà nước hay tổ chức nào, góp phần không nhỏ vào vị thế của nhãn khi được ra đời Yêu cầu có một tổ chức chuyên biệt để điều hành và quản lý hoạt động của nhãn sinh thái là việc làm cốt lõi đầu tiên không chỉ của chương trình nhãn sinh thái mà bất cứ chương trình nào cũng phải có Sau khi tổ chức được thành lập, họ cần phải xây dựng các nguyên tắc hoạt động, xây dựng kế hoạch hoạt động, và đưa ra các tiến trình thực thi nhằm đạt được mục tiêu đề ra Các hoạt động tiếp theo của tổ chức sẽ được thực hiện tuân theo những cơ bản này Dĩ nhiên, mọi điều chỉnh và cân đối những nội dung cơ bản nêu trên đều có thể diễn ra trong quá trình hoạt động để đảm bảo mục đích đặt ra

Sau khi tổ chức thành công cơ quan phụ trách thực hiện chương trình nhãn sinh thái, công việc tiếp theo mà cơ quan này tiến hành thực hiện sẽ là việc nghiên

Trang 31

cứu lựa chọn những sản phẩm mà nhãn sẽ chứng nhận Lấy ví dụ, nhãn sinh thái có mục tiêu chứng nhận cho những sản phẩm về tiết kiệm năng lượng sẽ lựa chọn các sản phẩm tiêu thụ năng lượng trên thị trường để tiến hành nghiên cứu tính khả thi của việc xây dựng cơ chế cấp nhãn Sự lựa chọn này có thể được đưa ra độc lập căn

cứ trên tình hình thị trường trong nước, theo khả năng khoa học công nghệ của quốc gia, hay cũng có thể được tham khảo từ những chương trình nhãn sinh thái khác đã được xây dựng thành công Việc lựa chọn nhóm sản phẩm cũng cần phải có tính hợp lý Nhóm sản phẩm phải có quy mô vừa đủ để không quá rộng, khó xây dựng tiêu chí; hoặc không quá hẹp, tốn quá nhiều chi phí cho việc xây dựng tiêu chí cho những sản phẩm tương tự Nhóm sản phẩm cũng phải là những đối tượng gây ra những tác động môi trường trong vòng đời của mình, đặc biệt là cần có sự xuất hiện của những người tiêu dùng cuối cùng trong vòng đời đó Đối với các sản phẩm trung gian, cần hạn chế cấp nhãn sinh thái do việc nghiên cứu vòng đời của những sản phẩm này là không rõ ràng, liên đới đến những sản phẩm khác Mặt khác, do công việc xây dựng bộ tiêu chí sau khi lựa chọn được nhóm sản phẩm là tốn thời gian và chi phí nên tổ chức quản lý cũng không nên chọn quá nhiều nhóm sản phẩm

để xây dựng tiêu chí trong một thời gian ngắn Việc lựa chọn cũng cần được lên kế hoạch cụ thể và xác định theo thời gian để đảm bảo tính hiệu quả của bộ tiêu chí sẽ được xây dựng cho sản phẩm

Giai đoạn cuối cùng trong qua trình xây dựng nhãn sinh thái là công việc xây dựng bộ tiêu chí cấp nhãn cho nhóm sản phẩm được lựa chọn ở bước trên Bộ tiêu chí cấp nhãn sinh thái cần phải được xây dựng trên cơ sở khoa học hợp lý, có sự phối hợp của nhiều bên liên quan Các bên liên quan là những đơn vị có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng trực tiếp từ quyết định cấp nhãn cho sản phẩm Họ gồm có các viện nghiên cứu - người đưa ra các tiêu chí, tổ chức quản lý nhãn sinh thái - người

sử dụng các tiêu chí để xét duyệt, các nhà sản xuất - người phải tuân theo các tiêu chí đó cho sản phẩm của mình, người tiêu dùng - người bỏ tiền để tiêu dùng sản phẩm, và một số bên khác như nhà nước, các nhãn sinh thái quốc tế tham khảo Nhằm đảm bảo sự minh bạch và tính khả thi, những bộ tiêu chí cần được công khai lấy ý kiến trước khi tiến hành chính thức công bố và áp dụng Việc lấy ý kiến cũng

Trang 32

phải dựa trên nguyên tắc công khai, tự nguyện và đa dạng đối tượng Thông thường, khoảng hai lần công khai lấy ý kiến sửa đổi là đủ cho việc thành lập một bộ tiêu chí hợp lý - ví dụ từ chương trình nhãn sinh thái Singapore

Sau khi bộ tiêu chí được chính thức đưa vào sử dụng, nội dung phân tích sẽ chuyển sang giai đoạn vận hành của chương trình nhãn sinh thái Công việc đầu tiên

là tiến hành thông báo công khai về bộ tiêu chí cũng như tiến hành các công việc tư vấn Toàn bộ các quyết định được đưa ra cần phải được công bố công khai thông qua các công cụ giao tiếp của chương trình, cũng như các công báo Tiêu chí thông báo là thông báo trên nhiều công cụ nhất có thể, để bộ tiêu chí có thể được phổ biến đến toàn bộ các đối tượng trên thị trường Một số công cụ thông tin đại chúng được

sử dụng nhiều như trang thông tin chính thức của chương trình, trang thông tin của

cơ quan nhà nước chủ quản về môi trường, các phương tiện truyền thông khác Trên thực tế, chương trình có thể không đưa toàn bộ các tiêu chí lên đăng tải trên các phương tiện truyền thông ngoài trang thông tin chính thức của chương trình mà chỉ cần có thông báo chính thức về việc ban hành bộ tiêu chí là được Tuy nhiên, nếu áp dụng truyền thông bằng những tin ngắn gọn như vậy, cần tạo điều kiện cho mọi đối tượng tiếp xúc dễ dàng với bộ tiêu chí như áp dụng chế độ tải xuống miễn phí, hoặc

có công tác tư vấn trực tiếp và cụ thể Nhiệm vụ của tổ chức quản lý trong giai đoạn này là tiến hành phổ biến về sự ban hành và chính thức áp dụng của bộ tiêu chí đến càng nhiều cá thể càng tốt, qua đó làm tăng độ nhận diện của các đối tượng trên thị trường về chương trình nhãn sinh thái Công việc tư vấn cũng cần được thể hiện song song trong giai đoạn này Sự tư vấn được thể hiện xuyên suốt trong giai đoạn xây dựng chương trình Từ việc đa phương hóa trong cơ cấu tổ chức, công khai nghiên cứu nhóm sản phẩm, đến việc xây dựng bộ tiêu chí Trong phần vận hành,

sự tư vấn còn được thể hiện thêm ở khía cạnh tư vấn thực hiện chương trình cho các đối tương có nhu cầu đăng ký nhãn sinh thái Bất kỳ một chương trình mới hay một sản phẩm, tiêu chí mới, ngay cả khi đã được xây dựng xong, vẫn sẽ là mới lạ cho phần đông những thành phần trên thị trường Hàng loạt các thắc mắc sẽ nảy sinh, và

đó là nơi sự tư vấn của chương trình thể hiện sự thân thiện cũng như vai trò của mình trong việc thu hút sự quan tâm của công chúng

Trang 33

Hoạt động lớn tiếp theo trong quá trình vận hành nhãn sinh thái và việc thực hiện các công việc liên quan đến việc đăng ký và cấp nhãn Để có thể thực hiện công việc này một cách suôn sẻ, quy trình cấp nhãn và các yêu cầu liên quan cũng

sẽ cần được phổ biến rộng rãi thông qua công việc công bố phía trước Sau khi nhận được các hồ sơ đăng ký cấp chứng nhận nhãn sinh thái theo đúng quy tắc, thủ tục yêu cầu của chương trình, tổ chức quản lý nhãn sinh thái sẽ tiến hành xem xét và cấp chứng nhận nhãn sinh thái cho sản phẩm đăng ký Việc cấp nhãn hay không cần phải dựa trên những phản biện khoa học chặt chẽ từ bộ hồ sơ của sản phẩm tham chiếu chính xác đến bộ tiêu chí đã được nhãn sinh thái xây dựng Chương trình không nên và không được phép cấp nhãn cho những sản phẩm chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, kể cả trong giai đoạn đầu của chương trình, khi chương trình cần phải thu hút sự chú ý của dư luận Nguyên nhân là sự cấp nhãn không hợp lý sẽ phá hủy

uy tín của cả chương trình cho dù có được xây dựng tốt đến đâu đi chăng nữa Giấy chứng nhận của chương trình nhãn sinh thái được sử dụng dưới nhiều loại Chúng

có thể là hợp đồng thỏa thuận nhằm trao quyền sử dụng hình ảnh của nhãn lên sản phẩm/dịch vụ, hoặc cũng có thể chỉ đơn thuần là giấy chứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn nhãn sinh thái mà thôi

Công việc tiếp theo cần phân tích trong giai đoạn vận hành nhãn sinh thái là vấn đề về hiệu lực và sự bảo vệ cho sản phẩm được cấp nhãn Việc cấp chứng nhận cho sản phẩm chưa phải là bước kết thúc cho qua trình vận hành nhãn sinh thái Mọi chương trình nhãn sinh thái đều cần phải có quá trình quản lý và kiểm tra sau khi cấp nhãn Tổ chức quản lý có nhiệm vụ theo dõi việc sử dụng chứng nhận nhãn sinh thái của sản phẩm trong truyền thông và sản xuất, cũng như theo dõi phản hồi của người tiêu dùng Các ý kiến đóng góp về sản phẩm đã được cấp nhãn cần phải được xem xét cụ thể và nghiêm túc để đảm bảo cho uy tín của chương trình Trong trường hợp doanh nghiệp hay sản phẩm vi phạm những nguyên tắc, quy định của tổ chức trong quá trình hoạt động sau khi cấp nhãn, chương trình cần đưa ra các biện pháp điều chỉnh cũng như nhắc nhở việc thực hiện của những đối tượng này Chứng nhận sinh thái hoàn toàn có thể bị thu hồi nếu vi phạm của sản phẩm mang tính gian dối

và ảnh hưởng nặng tới uy tín của chương trình Bên cạnh đó, chương trình nhãn

Trang 34

sinh thái cũng cần có những hành động thiết thực và cụ thể đảm bảo quyền lợi của các đối tượng đã được cấp nhãn Việc đảm bảo này được thực hiện thông qua việc gìn giữ uy tín của chương trình, cũng như đấu tranh chống các hoạt động vi phạm

sử dụng trái phép các chứng nhận của chương trình nhãn sinh thái của các đối tượng khác Một chứng nhận nhãn sinh thái thường có thời hạn ngắn, tối đa chỉ khoảng 5 năm Thời hạn ngắn như vậy là do tốc độ thay đổi của công nghệ và khoa học khiến cho bộ tiêu chí cấp nhãn cũng sẽ có những thay đổi thường xuyên Mặt khác, thời hạn hiệu lực ngắn hạn của nhãn sinh thái cũng là một phương thức tạo động lực cho doanh nghiệp sở hữu sản phẩm tiến hành cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng và đổi mới sản phẩm

1.2.2 Sự cần thiết của chương trình nhãn sinh thái

1.2.2.1 Chương trình nhãn sinh thái là định hướng và công cụ cho việc phát triển của nhãn sinh thái

Để nhãn sinh thái có thể thực hiện được các mục tiêu đặt ra, chúng cần có một

kế hoạch hành động cụ thể thông qua chương trình nhãn sinh thái Chương trình nhãn sinh thái sẽ là định hướng và công cụ để phát triển nhãn Đầu tiên, chương trình đóng vai trò xây dựng khái niệm, định nghĩa, tổ chức cho bản thân nhãn Như

đã phân tích trong phần khái niệm, nhãn sinh thái chỉ là một dấu hiệu để phân biệt các sản phẩm theo tiêu chí môi trường Để đưa nhãn sinh thái ra cộng đồng, người triển khai sẽ cần phải định nghĩa được nhãn sinh thái đó là để xác nhận gì, do ai chứng nhận, cũng như có uy tín như thế nào Đó chính là nhiệm vụ mà chương trình nhãn sinh thái sẽ phải thực hiện

Trong một cách hiểu khác, nhãn sinh thái là một ý niệm, và chương trình nhãn sinh thái là sự triển khai cụ thể của ý niệm đó Chương trình là sự cụ thể hóa các nội dung, cũng như cung cấp các phương tiện để nhãn sinh thái có thể đến với nhà sản xuất và người tiêu dùng Mặt khác, chương trình cũng đảm bảo để nhãn sinh thái được sử dụng đúng với ý nghĩa mà nó được tạo nên Chương trình nhãn sinh thái cũng là một quá trình mang tính dài hạn Qua đó, chương trình theo dõi sự phản hồi của cộng đồng về các sản phẩm gắn nhãn, về tác động và hiệu quả của nhãn, để có

Trang 35

thể đưa ra những quyết định phù hợp trong từng thời điểm Việc tiến hành đánh giá hiệu quả theo từng giai đoạn, theo các tiêu chí được đưa ra theo từng công việc trong chương trình sẽ giúp người làm nhãn kiểm soát được chất lượng và uy tín của sản phẩm nhãn

Một trách nhiệm nữa mà chương trình nhãn sinh thái phụ trách trong việc định hướng nhãn sinh thái đi đúng với trách nhiệm và nghĩa vụ chính là tính kế thừa Nhãn sinh thái không chỉ là sản phẩm của một cá nhân hay một nghiên cứu nào Nó

là sản phẩm của tập thể những cán bộ làm việc trong chương trình nhãn đó Việc thành lập chương trình lưu giữ toàn bộ những nội dung, cũng như các hoạt động xây dựng, vận hành nhãn sẽ giúp triển khai công việc đến các nhân lực mới cũng như giúp việc thực hiện trở nên thuận lợi và chặt chẽ hơn

1.2.2.2 Chương trình nhãn sinh thái là xu hướng tất yếu trong việc hợp tác thương mại của các quốc gia

Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra ngày một mạnh mẽ, việc gỡ bỏ các rào cản thương mại được thực hiện ngày một mạnh mẽ trong giao dịch thương mại quốc

tế, các điều kiện về môi trường của sản phẩm trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trong việc đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững Việc xóa bỏ các hàng rào khiến cho khối lượng hàng hóa được lưu thông qua biên giới phát triển một cách mạnh mẽ Sự quan ngại của các quốc gia về chất lượng của hàng hóa đối với môi trường nơi người tiêu dùng sử dụng và thải những hàng hóa đó cũng trở thành mối suy nghĩ của các chính phủ Một chương trình nhãn sinh thái thành công tại quốc gia sản xuất

có thể phần nào làm hài lòng quốc gia tiêu dùng khi đảm bảo sự an toàn cho họ Đi cùng với sự mở cửa về kinh tế là sự phát triển của khoa học công nghệ cũng như đời sống người dân Khoa học công nghệ giúp sản phẩm ngày một hiện đại, và cung cấp nhiều lựa chọn hàng hóa hơn Sự nâng cao về mặt dân trí giúp cho mối quan tâm của người tiêu dùng chuyển dần từ giá cả thấp sang sản phẩm an toàn Chương trình nhãn sinh thái sẽ phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dân trọng việc lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường

Trang 36

Chương trình nhãn sinh thái còn có thể được sử dụng thay thế cho những rào cản phi thương mại trong ngoại thương quốc tế Vấn đề kinh tế môi trường là mối quan tâm chung của các quốc gia trên thế giới Do vậy, nếu có một chương trình nhãn sinh thái phù hợp với một nhóm các quốc gia, có thể giúp thống nhất các tiêu chuẩn môi trường giữa họ, khi đó các rào cản phi thương mại theo tiêu chí môi trường sẽ được cắt giảm Chương trình nhãn sinh thái ở đây sẽ giúp cho các quốc gia có thể cắt bỏ được việc phải ban hành những quy tắc pháp luật về tiêu chuẩn môi trường cho hàng hóa nhập khẩu, từ đó tránh được nhận định về rào cản thương mại, tăng cường hoạt động kinh doanh giữa các bên

1.2.2.3 Chương trình nhãn sinh thái là công cụ sử dụng trong việc nâng cao ý thức tiêu dùng của cộng đồng

Bằng việc hiện thực hóa các nội dung của nhãn sinh thái trong chương trình thực hiện, Chính phủ có thêm một công cụ để nâng cao ý thức cộng đồng trong vấn

đề tiêu dùng Chương trình nhãn sinh thái có bộ máy quản lý riêng, độc lập, nhưng trên hết, nó vẫn chịu sự quản lý của những cơ quan nhà nước chủ quản Do vậy, chính phủ hoàn toàn có thể tận dụng chương trình nhãn sinh thái trong hoạt động giáo dục và tuyên truyền Hơn ai hết, chính những người làm chương trình là những người mong muốn cộng đồng tiếp nhận sự hiện diện của nhãn, cũng như ủng hộ cho

uy tín của nhãn Trên thực tế, nếu nhãn sinh thái không làm người tiêu dùng phát sinh sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng, thì sẽ không có căn cứ để thu hút các doanh nghiệp tham gia chương trình Các nhà sản xuất là những đối tượng chỉ hành động theo các phản ứng của thị trường Do vậy, tạo ra nguồn cầu lớn về các sản phẩm gắn nhãn sinh thái sẽ thu hút được sự quan tâm của họ và giúp nhãn sinh thái trở nên uy tín và có tiếng nói hơn

Chương trình nhãn sinh thái, bằng những công cụ và nỗ lực của riêng họ, sẽ hành động thu hút sự chú ý, quan tâm của cộng đồng, từ đó nâng cao ý thức của cộng đồng về việc sử dụng những sản phẩm an toàn hơn đối với môi trường Quá trình vận động cộng đồng này cần nhiều thời gian và tâm huyết của những nhân lực tham gia vào chương trình Họ sẽ tập trung và cùng phấn đấu để đưa sản phẩm nhãn sinh thái của mình được công nhận và trở nên thành công Chính phủ có thể sử dụng

Trang 37

toàn bộ chương trình nhãn sinh thái để phụ trách vấn đề giáo dục này Sự hợp tác giữa chính phủ và chương trình nhãn sinh thái là sự hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai phía Về phía chính phủ, chương trình giúp tiết kiệm nhân lực, chi phí trong việc xây dựng những quy phạm về kinh tế môi trường, cũng như việc tiến hành phổ biến thông tin Về phía chương trình, sự công nhận của chính phủ là bước đầu tiên tạo dựng uy tín cho nhãn sinh thái Tiếp sau đó, sự ủng hộ của chính phủ giúp chương trình trở thành chính thống Và, do bản thân của chương trình vẫn giữ một phần độc lập, không phải là một cơ quan hoàn toàn do chính phủ quản lý, nên sự tin tưởng về tính khách quan của các đối tượng khác trong cộng đồng sẽ cao hơn, đặc biệt là khi xuất hiện các yếu tố nước ngoài

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chương trình nhãn sinh thái

là tiền đề cũng như sự ủng hộ không nhỏ cho các chương trình nhãn sinh thái duy trì

và phát triển Nhận định được đưa ra trong việc phân tích này là mối quan tâm của chính phủ về kinh tế môi trường sẽ tạo động lực cho chương trình nhãn sinh thái của quốc gia đó ra đời, cũng như đi vào hoạt động thực tế

Trang 38

1.2.3.2 Trình độ khoa học và công nghệ của quốc gia nơi thực hiện chương trình

Các tiêu chuẩn trong việc xây dựng bộ tiêu chí của chương trình nhãn sinh thái

là khác nhau giữa các chương trình cũng như giữa các quốc gia Theo đó, một quốc gia có trình độ khoa học kỹ thuật phát triển hơn sẽ có những tiêu chuẩn khắt khe hơn trong bộ tiêu chí của mình Mặc dù nền tảng chung của các tiêu chí trong chương trình nhãn sinh thái là bộ tiêu chuẩn cho các sản phẩm theo ISO 14000, các chương trình đều có sự thay đổi, điều chỉnh để phù hợp với trình độ của các nhà sản xuất tại quốc gia mình

Sự khác biệt này năm trong năng lực kiểm định, điều tra và theo dõi của mỗi quốc gia là khác nhau Chúng ta không thể yêu cầu tất cả các quốc gia phải áp dụng chung tiêu chuẩn khi điểm xuất phát của mỗi bên là khác nhau Như vậy, bản thân trình độ của quốc gia nơi chương trình nhãn sinh thái được sinh ra cũng có ảnh hướng đến nội dung của nhãn sinh thái đó

1.2.3.3 Trình độ dân trí và đời sống của quốc gia nơi thực hiện chương trình

Chương trình nhãn sinh thái hoàn toàn không phải là chương trình miễn phí

Để có thể tham gia chương trình, các nhà sản xuất sẽ phải chi trả các chi phí để tiến hành kiểm định, cũng như các chi phí tham gia nhãn Những chi phí này sẽ được tính vào giá thành sản xuất và khiến giá bán cho sản phẩm gắn nhãn sinh thái trở nên cao hơn so với các sản phẩm không tham gia gắn nhãn

Mối quan hệ giữa thu nhập, trình độ người tiêu dùng ảnh hưởng thuận chiều đến thành công của chương trình nhãn sinh thái Trên thực tế, chương trình nhãn sinh thái chỉ phổ biến ở các quốc gia phát triển Tại các quốc gia đang phát triển, phần lớn đều chưa có nhiều thành tựu trong chương trình này Ở đó, vấn đề nhãn sinh thái chỉ đơn thuần là mối quan tâm của các doanh nghiệp khi tiến hành xuất khẩu vào các thị trường mà người tiêu dùng phổ biến lựa chọn sự tin tưởng vào chương trình như EU, Nhật Bản, Singapore, …

Trang 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Chương I được tác giả xây dựng với mục đích đưa ra những lý luận liên quan đến nhãn sinh thái và nội dung chương trình nhãn sinh thái, đã trình bày các nội dụng cơ bản sau:

Phần một đưa ra những khái niệm cơ bản về nhãn sinh thái, phân tích tính tất yếu của sự ra đời nhãn sinh thái trong thực tiễn kinh tế thế giới Đồng thời xem xét mục đích của việc sử dụng nhãn sinh thái một cách chính thức và không chính thức Phân tích việc phân loại các nhãn sinh thái dựa trên các nguyên tắc và tiêu chuẩn của ISO 14000

Phần hai xây dựng nên hệ thống khung lý luận để phân tích nội dung chương trình nhãn sinh thái gồm hai phần xây dựng và vận hành Tiến hành nghiên cứu sự cần thiết phải có chương trình nhãn sinh thái, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chương trình nhãn sinh thái là gì

Qua việc xây dựng hệ thống lý luận tại Chương I, các bước phân tích nội dung chương trình nhãn sinh thái tại Chương II sẽ được thực hiện đầy đủ, hợp lý, và có tính thuyết phục

Trang 40

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH NHÃN SINH THÁI TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Trên thế giới hiện có rất nhiều chương trình nhãn sinh thái được xây dựng và vận hành thành công Chúng đến từ những quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển Một số nhãn sinh thái tiêu biểu như các nhãn sinh thái của EU, của Nhật Bản, của Singapore, của Thái Lan, … Trong phạm vi luận văn, tác giả nghiên cứu hai chương trình nhãn sinh thái đến từ cả hai nhóm nước này: đại diện cho nhóm chương trình nhãn sinh thái của các nước phát triển là chương trình nhãn sinh thái EU Ecolabel; đại diện cho nhóm chương trình nhãn sinh thái của các quốc gia đang phát triển là chương trình nhãn sinh thái của Thái Lan Green label Nhãn sinh thái EU Ecolabel là một trong những nhãn có quy mô sử dụng lớn nhất khi đó

là nhãn được Nghị viện và Hội đồng châu Âu thiết lập để sử dụng cho toàn bộ khối liên minh Đây cũng là một trong những chương trình nhãn sinh thái thành công nhất khi thu hút số lượng sản phẩm đăng ký tham gia chương trình lên đến hơn 70 nghìn Chương trình nhãn sinh thái Green label của Thái Lan là chương trình của một quốc gia có trình độ phát triển không quá khác biệt so với Việt Nam Hơn nữa, hai quốc gia nằm trong cùng khối ASEAN, và có những tương đồng trong tình hình kinh tế, dân trí,… Do vậy việc phân tích bài học kinh nghiệm của chương trình nhãn sinh thái Thái Lan sẽ có tác dụng khi đối chiếu và so sánh với chương trình nhãn sinh thái của Việt Nam

2.1 Chương trình nhãn sinh thái của EU - EU Ecolabel

2.1.1 Lịch sử ra đời và quá trình phát triển của nhãn EU Ecolabel

Tháng 12/1991, Hội đồng Bộ trưởng môi trường của EU đã thông qua Chương trình cấp nhãn sinh thái EU (gọi tắt là Chương trình) theo Quyết định số 880/92 ngày 23/3/1992, hiệu lực vào tháng 10/1992 nhằm mục đích thúc đẩy việc thiết kế, sản xuất, bán và sử dụng sản phẩm/dịch vụ xanh, giảm nhẹ tác động đến môi trường trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm (từ lúc sử dụng nguyên, nhiên liệu sản xuất đến lúc loại bỏ sản phẩm), cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về sản phẩm xanh Chương trình đầu tiên có sự tham gia của 18 nước trong đó 15 nước là thành

Ngày đăng: 24/02/2020, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w