1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA LÀO TRONG NHỮNG NĂM TỚI TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

110 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 3,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi tính cấp thiết của vấn đề và bởi một thực tế là các mặt hàng XK chủ lực ngày càng đóng góp một phần to lớn cho sự phát triển của đất nước Lào, tôi đã chọn đề tài “Đẩy mạnh xuất khẩu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực của Lào trong những năm tới tầm nhìn đến năm 2030

Ngành: Kinh tế học Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 83.10.106

Họ và tên học viên: HONGPHACHANE LATTANA Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN VĂN HỒNG

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả, kết luận nêu trong luận văn là trung thực, có tính khoa học và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

HONGPHACHANE LATTANA

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, Ban giám hiệu, thư viện,

bộ phận quản lý trực tiếp và gián tiếp của nhà trường đã luôn tạo mọi điều kiện, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm bổ ích giúp tác giả có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế quốc tế tại trường Đại học Ngoại thương Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Hồng, người thầy đã gợi mở những ý tưởng đầu tiên của luận văn và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn đúng với mục tiêu đề ra Cuối cùng, tác giả trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ của cơ quan quản

lý trực tiếp và các đồng nghiệp nước CHDCND Lào; gia đình và tất cả bạn bè

đã luôn động viên, cổ vũ tác giả cố gắng hoàn thành hai năm học tập và nghiên cứu tại Việt Nam Những tình cảm quý báu của thầy cô, bạn bè và nhân dân Việt Nam đối với tác giả nói riêng, lưu học sinh Lào và nhân dân các bộ tộc Lào nói chung là những ấn tượng mà tác giả không bao giờ quên

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

HONGPHACHANE LATTANA

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG, HÌNH vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC 6

1.1 Một số vấn đề lý luận về hàng xuất khẩu chủ lực và đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực 6

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hàng xuất khẩu chủ lực 6

1.1.2 Sự cần thiết đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 7

1.1.3 Một số tiêu chí đánh giá việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực 10

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực 14

1.2 Kinh nghiệm của một số nước về đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực và bài học kinh nghiệm cho Lào 19

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực 19

1.2.2 Một số bài học cho Lào trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực 26

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 29

2.1 Thực trạng xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực của Lào 29

2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực 29

2.1.2 Thị trường xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực chính của Lào 51

2.1.3 Phương thức xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực 57

2.1.4 Hiệu quả xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực chủ lực 58

Trang 6

2.2 Thực trạng hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực của Lào

59

2.2.1 Cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư, mở rộng sản xuất hàng hóa 60

2.2.2 Chính sách mặt hàng xuất khẩu chủ lực 61

2.2.3 Chính sách phát triển thị trường xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực 63

2.2.4 Chính sách tín dụng xuất khẩu 65

2.2.5 Chính sách, biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu 66

2.3 Đánh giá hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực của Lào 68 2.3.1 Những thành tựu đạt được 68

2.3.2 Những mặt hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 70

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA LÀO TRONG NHỮNG NĂM TỚI TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 75

3.1 Phương hướng đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực Đảng và Nhà nước Lào trong những năm tới tầm nhìn đến năm 2030 75

3.1.1 Cơ sở định hướng 75

3.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Lào về đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực trong những năm tới tầm nhìn đến năm 2030 77

3.1.3 Định hướng phát triển xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực trong những năm tới tầm nhìn đến năm 2030 79

3.1.4 Mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực trong những năm tới tầm nhìn đến năm 2030 80

3.2 Các giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong những năm tới tầm nhìn đến năm 2030 81

3.2.1 Các giải pháp của Nhà nước Lào nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực trong những năm tới tầm nhìn đến năm 2030 82

3.2.2 Các giải pháp của doanh nghiệp nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực trong những năm tới tầm nhìn đến năm 2030 94

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô kim ngạch XK một số mặt hàng XK chủ lực của Lào giai đoạn

2008 đến 2018 37Bảng 2.2 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK cà phê từ 2008 – 2018 39Bảng 2.3 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK rau quả từ 2008 – 2018 40Bảng 2.4 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK gạo từ 2008 – 2018 41Bảng 2.5 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK cao su từ 2012-2018 43Bảng 2.6 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK điện năng từ 2008 – 2018 45Bảng 2.7 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK khoáng sản từ 2008 – 2018 46Bảng 2.8 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK hàng dệt may từ 2008 –

2018 48Bảng 2.9 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK gỗ và sản phẩm gỗ từ 2008 – 2018 49Bảng 2.10 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK linh kiện điện tử từ 2010 – 2018 50Bảng 2.11 Cơ cấu thị trường XK hàng hóa chủ yếu của Lào từ 2010-2016 52Bảng 2.12 Kim ngạch XK một số mặt hàng XK chủ lực của Lào sang ASEAN từ

2008 - 2016 53Bảng 2.13 Top các mặt hàng thực phẩm Lào XK sang EU từ 2014 – 2018 55

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Quy mô XK hàng hóa và hàng XK chủ lực giai đoạn 2008 – 2018 29Hình 2.2 Sự thay đổi tỷ trọng kim ngạch XK các mặt hàng XK chủ lực giai đoạn

2008 - 2018 38Hình 2.3 Diện tích sản xuất và sản lượng gạo của Lào qua các năm 41Hình 2.4 Một số đập thủy điện ở Lào 44Hình 2.5 Cơ cấu thị trường XK chính của Lào phân theo quốc gia 2016 - 2018 53

Trang 10

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, luận văn đã nghiên cứu và phát triển

đề tài một cách toàn diện, sâu sắc hơn Việc nghiên cứu đề tài luận văn đã đạt được những kết quả sau:

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về hàng XK chủ lực, đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực; sự cần thiết phải đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt đối với các nước còn kém phát triển như Lào Đồng thời chỉ

ra được một số tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực các nhân tố tác động đến việc đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực

- Luận văn đã phân tích được kinh nghiệm đẩy mạnh XK hàng hóa của một số nước có điều kiện tương đồng với Lào như Thái Lan, Trung Quốc, và Việt Nam, qua

đó rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm tham khảo, vận dụng trong quá trình đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực ở CHDCND Lào

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, cũng như tình hình kinh tế thế giới và chính sách phát triển XK của Lào trong thời gian sắp tới, Luận văn đề xuất các quan điểm, định hướng, mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất và XK hàng XK chủ lực của Lào đến năm 2025, tầm nhìn 2030 Những giải pháp đề xuất trên là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Lào vì vậy nó có tính khả thi khi vận dụng nhằm đẩy mạnh XK ở nước CHDCND Lào trong giai đoạn sắp tới

- Kết quả nghiên cứu này có giá trị bổ sung vào những nghiên cứu về phát triển thương mại, phát triển ngoại thương của CHDCND Lào trong thời gian qua

Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy kinh tế quốc tế, tài liệu tham khảo cho hoạt động thực tiễn của các cơ quan, những người đang tham gia công tác trong ngành ngoại thương của hai nước

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 40 năm giành độc lập, CHDCND Lào đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế trong những năm gần đây duy trì tốc độ tăng trưởng

từ 6 - 7%, lạm phát ở mức thấp, khoảng 2,1%, thu nhập bình quân đầu người năm

2018 đạt 2.599 USD, vượt chỉ tiêu đề ra Hiện nay, Lào đang đồng thời triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

5 năm lần thứ VIII với mục tiêu đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2024, trở thành nước công nghiệp vào năm 2030, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế Để đạt được các mục tiêu đề ra, Nhà nước Lào đã xây dựng và thực hiện các chiến lược thương mại, trước hết là chiến lược hướng mạnh về XK, nhờ

đó, XK hàng hóa của Lào trong thời gian qua đã đạt những kết quả quan trọng, kim ngạch XK ngày một tăng, trở thành một công cụ hữu dụng nhất nhằm hội nhập và tận dụng những cơ hội trong quá trình hội nhập để tăng trưởng và phát triển kinh tế Xuất khẩu hàng hóa phát triển như là một đầu tàu kéo theo sự phát triển của tất cả các lĩnh vực, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, và làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại

Tuy nhiên, trong những năm qua, hoạt động XK hàng hóa của Lào chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế, tài nguyên thiên nhiên và nhân lực Đồng thời, những biến động của nền kinh tế toàn cầu đã và đang gây ra không ít khó khăn cho ngành

XK của Lào, đòi hỏi phải có giải pháp để nâng cao kim ngạch và hiệu quả XK, nhằm khai thác tốt hơn những lợi thế so sánh của đất nước cũng như tăng cường sự đóng góp của thương mại vào việc phát triển kinh tế trong thời gian tới Hơn nữa, có một thực tế là các mặt hàng XK chủ lực của Lào hầu hết là các mặt hàng nông sản, hàng

có giá trị thấp Trong khi đó các nền kinh tế lớn đều trung tập trung vào sản xuất các mặt hàng có hàm lượng giá trị gia tăng cao làm cho xu hướng giá cả cánh kéo ngày càng loãng ra Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để hoạt động XK đem lại hiệu quả cao nhất Bên cạnh việc tiếp tục duy trì các mặt hàng XK truyền thống, phải tận dụng những lợi thế sẵn có phát triển những ngành hàng mới, ngành hàng công nghiệp có giá trị cao góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng CNH, HĐH

Bởi tính cấp thiết của vấn đề và bởi một thực tế là các mặt hàng XK chủ lực ngày càng đóng góp một phần to lớn cho sự phát triển của đất nước Lào, tôi đã chọn

đề tài “Đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực của Lào trong những năm

tới tầm nhìn đến năm 2030” để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế quốc tế

của mình

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ vai trò của XK hàng hóa đối với nền kinh tế quốc dân, chủ đề XK hàng hóa và hàng XK chủ lực được hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng như Lào

và Việt Nam quan tâm nghiên cứu Có thể nêu lên một số đề tài tiêu biểu sau đây:

Tại Việt Nam, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu đẩy

mạnh XK các mặt hàng XK chủ lực luôn được nhiều tác giả đã đầu tư nghiên cứu Trong đó, trước hết phải đề cập đến các công trình nghiên cứu các vấn đề chung về

XK như: “Giáo trình kinh tế thương mại” do Đặng Đình Hào, Hoàng Đức Thân (chủ biên) 2003; cuốn sách "Phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh tăng trưởng XK của

Việt Nam trong điều kiện hiện nay" của Võ Văn Đức 2004; cuốn sách “Nâng cao khả năng XK một số mặt hàng chủ lực mới của Việt Nam” của Bộ Công Thương 2016;

Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Bộ “Đẩy mạnh XK một số mặt hàng chủ lực của Việt

Nam sau khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ” do Trần Nguyên Chất (chủ nhiệm) 2012;…

Các công trình nghiên cứu một số mặt hàng chủ lực cụ thể như: cuốn sách “Tác động

của hội nhập kinh tế quốc tế đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ một số nông sản ở Việt Nam: qua nghiên cứu chè, cà phê, điều”, Nxb Lý luận chính trị 2006; Đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Bộ "Nghiên cứu những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy lợi thế

nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển thị trường XK nông sản trong thời gian tới: cà phê, gạo, cao su, chè, điều" do Nguyễn Đình Long (chủ nhiệm) 2011; Luận

án tiến sĩ “Sức cạnh tranh của hàng nông sản XK chủ lực Việt Nam trong điều kiện

tự do hoá thương mại” của Lê Hữu Thành 2009… Nhìn chung, công trình này đã

nghiên cứu và chỉ ra được các vấn đề cơ bản về định hướng và chính sách phát triển

XK các mặt hàng XK chủ lực của Việt Nam, là những tài liệu tham khảo quan trọng khi nghiên cứu về kinh nghiệm của Việt Nam về đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực và rút ra bài học cho CHDCND Lào

Tại Lào, nhiều năm trở lại đây đã có nhiều đề tài, dự án của các Bộ, ngành, Viện

nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu nhằm xây dựng chiến lược phát triển ngành thương mại, hoạch định các chương trình mục tiêu phát triển ngành thương mại cho

các giai đoạn 2011- 2015, 2016-2020 và đến năm 2030, như: các Đề tài “Tổng quan

chiến lược XK quốc gia”, “Chiến lược phát triển công nghiệp chế biến và thương mại của CHDCND Lào giai đoạn 2011-2020” của Bộ Công nghiệp và Thương mại Lào

2010; Đề tài “Chiến lược phát triển ngành cà phê của nước CHDCND Lào” của Văn phòng thư ký Uỷ viên quốc gia 2012; Đề tài “Tăng cường hiệu quả sản xuất nông sản

của nước CHDCND Lào” của Bộ Nông - Lâm nghiệp 2013… Cùng với đó, chủ đề

đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực cũng được đề cập trong một số công trình tiêu biểu

như: Giáo trình Ngoại Thương của Khoa Luật và Hành Chính - Đại học Quốc gia

Trang 13

Lào 2008; các Luận án tiến sĩ như Đề tài ““Giải pháp thúc đẩy XK các mặt hàng

nông sản của Lào giai đoạn 2010-2015” của Vathsana Lathtanaphanh 2010; Đề tài

“Chính sách XK các mặt hàng chiến lược của nước CHDCND Lào” của Khamphet Vongdala 2012; Đề tài “Đẩy mạnh XK hàng hóa ở nước CHDCND Lào trong quá

trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Bounvixay Kongpany 2013; Đề tài “Chiến lược marketing XK hàng nông sản chủ lực của nước CHDCND Lào đến năm 2020” của

Thatsanadeuan Ekhamkeo 2016; Đề tài “Phát triển XK nông sản của nước CHDCND

Lào trong điều kiện hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN” của Vidavong

Heuangmisouk 2018;… Nhìn chung, các công trình trên đây đã nghiên cứu về XK hàng XK chủ lực ở các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu về XK hàng hóa chung hoặc đi vào nghiên cứu một số nhóm mặt hàng đơn

lẻ (chủ yếu là nông sản), v.v… Đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, cập nhật về vấn đề đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực ở nước CHDCND Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chính vì vậy, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, để đạt được các mục tiêu đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ VIII, Chiến lược công nghiệp và thương mại tổng thể của Lào từ năm 2016 – 2025, tầm nhìn 2030, cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu, nhằm đưa ra được những luận giải về mặt lý luận, phân tích làm rõ thực trạng tình hình XK hàng XK chủ lực của Lào, trên cơ sở đó đề xuất được những giải pháp

cơ bản, có tính khả thi nhằm đẩy mạnh XK hàng hóa CHDCND Lào trong thời gian sắp tới, tầm nhìn đến năm 2030

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

* Mục tiêu nghiên cứu đề tài này là:

- Tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về hàng XK chủ lực, một số tiêu chí chính đánh giá việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng XK chủ lực, các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu hàng XK chủ lực ở nước CHDCND Lào trong thời gian qua

- Đánh giá thực trạng và tìm ra những khó khăn, hạn chế còn tồn tại trong hoạt động xuất khẩu hàng XK chủ lực của Lào trong thời gian qua để đề xuất các các quan điểm và kiến nghị các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng XK chủ lực ở nước CHDCND Lào trong thời gian sắp tới, tầm nhìn đến năm 2030

* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về hàng XK chủ lực, sự cần thiết phải đẩy mạnh

XK hàng XK chủ lực, một số tiêu chí chính đánh giá việc đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực, và, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động XK hàng XK chủ lực

Trang 14

- Phân tích thực trạng hoạt động đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực của Lào giai đoạn 2008-2018, chỉ ra những thành tựu đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó

- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực

ở CHDCND Lào trong những năm sắp tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu nhóm hàng XK chủ lực của Lào

* Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: hơn 10 năm trở lại đây (từ năm 2008 - 2018), trong đó tập trung phân tích giai đoạn từ năm 2013 đến nay khi Lào chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), là bước ngoặt để từ đó thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển mạnh hơn so với thời gian trước Các giải pháp đề xuất trong luận văn được định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn 2030

- Phạm vi giới hạn nội dung: tập trung phân tích một số mặt hàng XK chủ lực hiện nay của Lào như nhóm nông sản chủ lực (cà phê, gạo, rau quả, cao su), điện năng, khoáng sản, gỗ và các sản phẩm gỗ, dệt may, linh kiện điện tử

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

* Cơ sở lý luận:

Luận văn vận dụng lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng NDCM Lào về kinh tế để nhìn nhận thực trạng XK hàng hóa của Lào một cách tổng thể trong các mối quan hệ và tác động khăng khít đối với nhau

* Phương pháp nghiên cứu đề tài:

Để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, Luận văn sử dụng đa dạng các phương pháp nghiên cứu khoa học Trong đó: Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu là phương pháp quan trọng, xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài, được sử dụng để tập hợp, hệ thống lại cơ sở lý luận, các thông tin, tư liệu về XK hàng XK chủ lực của Lào Phương pháp phân tích thống kê (phân tích chỉ số, phương pháp phân tích động thái…) sử dụng trong việc phân tích hiện trạng, thực trạng làm cơ sở dự báo xu hướng phát triển ngành XK của Lào Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp chuyên gia để tìm hiểu một số vấn đề trong quá trình đánh giá thực trạng và dự báo xu hướng phát triển của XK hàng hóa của Lào Việc kết hợp các phương pháp này sẽ đem đến cái nhìn chân thực, cụ thể về vấn đề vừa đảm bảo tính khái quát

Trang 15

6 Những đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, luận văn đã nghiên cứu và phát triển

đề tài một cách toàn diện, sâu sắc hơn Những kết quả nghiên cứu của luận văn này đưa tới những đóng góp mới sau:

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về hàng XK chủ lực và đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực; làm nổi bật được vai trò và tầm quan trọng của XK hàng XK chủ lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời chỉ ra được các nhân tố tác động đến việc đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực ở CHDCND Lào

- Phân tích được kinh nghiệm đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực của một số nước

có điều kiện tương đồng với Lào, qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm tham khảo, vận dụng trong quá trình đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực của Lào

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, luận văn đã đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển thị trường XK của thế giới và Lào trong thời gian sắp tới, từ đó đề xuất các quan điểm, mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh sản xuất và XK hàng XK chủ lực ở Lào đến năm 2025, tầm nhìn 2030 Những giải pháp được đề xuất phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của CHDCND Lào vì vậy nó có tính khả thi khi vận dụng nhằm đẩy mạnh XK ở Lào giai đoạn sắp tới

- Có giá trị bổ sung vào những nghiên cứu về phát triển thương mại, phát triển ngoại thương của CHDCND Lào trong thời gian qua

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy kinh tế quốc tế, tài liệu tham khảo cho hoạt động thực tiễn của các cơ quan, những người đang tham gia công tác trong ngành ngoại thương không chỉ của Lào mà còn cả đối với giới nghiên cứu Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết Cụ thể:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực

Chương 2 Thực trạng hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong thời gian qua

Chương 3 Các giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực của Lào giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC

1.1 Một số vấn đề lý luận về hàng xuất khẩu chủ lực và đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hàng xuất khẩu chủ lực

Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động tất nhiên xảy ra khi phân công lao động xã hội đạt được một trình độ nhất định Xuất khẩu hàng hóa, hiểu một cách đơn giản nhất,

là hoạt động đưa hàng hóa ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hóa khác có giá trị tương đương (Nguyễn Thị Đường 2012, tr.11)

Theo quy ước của Liên hợp quốc và WTO thì hàng hoá XK là những sản phẩm hàng hoá hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất, gia công và các khu chế xuất với mục đích để tiêu thụ tại thị trường nước ngoài (thị trường XK)

và đi qua hải quan (làm thủ tục thông quan) Hàng tạm nhập tái xuất cũng được coi

là hàng hoá XK Tuy nhiên, loại trừ hàng hóa quá cảnh, đối với loại hàng này được xem xét là không thuộc diện của khái niệm hàng hoá XK (Phoxay Sitthisonh 2011, tr.18) Hướng tới thị trường nước ngoài, hàng hoá XK có những điểm khác biệt so với hàng hoá tiêu dùng ở trong nước Những mặt hàng được XK phải phù hợp với nhu cầu tiêu dùng ở nước nhập khẩu; chất lượng của hàng hoá cũng phải đáp ứng được các thông số về tiêu dùng, kỹ thuật, môi trường và đạt được tính cạnh tranh cao

ở nước nhập khẩu Ví dụ: để có thể XK mặt hàng rau quả vào thị trường EU, ngoài vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm dịch, các sản phẩm phải đạt chuẩn HACCP hay GlobalGAP

Trong quản lý hàng hóa XNK, các quốc gia thường phân chia hàng hóa XK thành các loại: hàng XK chủ lực, hàng XK quan trọng và hàng XK thứ yếu Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất trên phạm vi quốc tế về từng loại hàng hóa này, mỗi quốc gia lại có một cách khác nhau định nghĩa về các loại mặt hàng này Đối với hàng XK chủ lực, nhìn chung, người ta quan niệm rằng:

Hàng chủ lực là loại hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch XK quốc gia do có thị trường nước ngoài và điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi, đạt hiệu quả cao”

(Bùi Xuân Lưu 200, tr.232) Hay nói cách khác, hàng XK chủ lực là những hàng hóa

có điều kiện để sản xuất trong nước có hiệu quả kinh tế cao hơn so với những hàng hóa khác; có thị trường tiêu thụ rộng rãi, ổn định, vững chắc (trong một thời gian tương đối dài); giá trị XK chiếm tỷ trọng cao, mang tính chất quyết định đối với tổng kim ngạch của một quốc gia

Trang 17

Trên cơ sở khái niệm này, có thể thấy, một mặt hàng XK chủ lực cần phải có 3 yếu tố/đặc điểm cơ bản sau:

- Có lượng kim ngạch lớn và mang tính chất quyết định đối với tổng kim ngạch

XK của quốc gia (Bùi Xuân Lưu 200, tr.233) Đây là tiêu chí quan trọng đầu tiên để xác định một mặt hàng được coi là hàng XK chủ lực là tỷ trọng giá trị XK của mặt hàng trong tổng kim ngạch XK Tuy nhiên, tùy từng quốc gia và tại những thời điểm khác nhau, tỷ trọng cụ thể để coi một mặt hàng là mặt hàng XK chủ lực được đưa ra khác nhau Một số nhà nghiên cứu cho rằng tỷ trọng của mặt hàng được coi là mặt hàng XK chủ lực khi nó chiếm ít nhất 25% kim ngạch XK của quốc gia (Khamphet Vongdala 2012, tr.24) Theo các chuyên gia kinh tế tại Viện Quản lý XK công nghệ, Trường Đại học Berkeley- Hoa Kỳ, thì không thể đưa ra một tỷ trọng cụ thể trong khái niệm hàng XK chủ lực, mà việc nhìn nhận một mặt hàng XK chủ lực căn cứ vào

lượng USD lớn (“Large USD volume”) trong tổng kim ngạch XK Ở Việt Nam, đầu

thập kỷ 90, người ta đã cho rằng việc xác định này không dựa theo tỷ trọng mà lại căn cứ vào giá trị tuyệt đối và một mặt hàng ít ra là phải đạt 100 triệu USD mới trở thành một mặt hàng XK chủ lực

- Có thị trường ổn định, luôn cạnh tranh được trên thị trường đó trong một thời gian tương đối dài Điều này thể hiện thông qua các khách hàng quen thuộc lớn, có nhu cầu mua lâu dài, ổn định Đồng thời, đây cũng là mặt hàng có khả năng lôi cuốn thêm các khách hàng tiềm năng khác

- Có nguồn lực để tổ chức sản xuất và sản xuất với chi phí thấp để thu được lợi trong buôn bán Điều này có nghĩa là các mặt hàng này có khả năng đáp ứng trong nước là khá lâu dài (trên 5 – 10 năm); nguồn nhiên liệu phục vụ cho sản xuất lâu dài

và ổn định; có công nghệ sản xuất đặc thù (mà các đối thủ cạnh tranh khó có thể loại bỏ); có một đội ngũ lao động mang tính chuyên biệt phục vụ (mang tính bí quyết Know - how)

Một mặt hàng muốn trở thành hàng XK chủ lực phải trải qua quá trình lâu dài thâm nhập vào thị trường nước ngoài, qua những cuộc cọ sát cạnh tranh mãnh liệt, kéo theo đó là việc tổ chức sản xuất trong nước mở rộng trên quy mô lớn, chất lượng phù hợp với đòi hỏi của người tiêu dùng trên các thị trường Nếu đứng vững và liên tục được phát triển thì nó sẽ trở thành hàng XK chủ lực của một quốc gia Tuy nhiên,

vị trí của mặt hàng XK chủ lực không phải là vĩnh viễn Một mặt hàng ở thời điểm này có thể được coi là hàng XK chủ lực, nhưng ở thời điểm khác thì không Hoặc nó chỉ chiếm thị phần ở một số thị trường nhất định chứ không phải tất cả các thị trường

1.1.2 Sự cần thiết đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 18

Khi quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa và quốc tế hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế vận động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới hiện nay Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế mở và xu hướng nhất thể hoá thị trường thế giới hiện nay thì ngoại thương, mà trước hết là XK có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên, hoạt động XK của một quốc gia có phát triển được hay không phụ thuộc rất nhiều vào cơ cấu mặt hàng XK của quốc gia đó, cũng giống như một doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì sản phẩm của doanh nghiệp đó phải phù hợp nhu cầu thị trường và có sức cạnh tranh cao Hoạt động XK của một nước muốn phát triển được đòi hỏi nước đó phải có mặt hàng XK hợp lý? Một cơ cấu hàng

XK hợp lý phải cho phép đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất trên cơ sở vận dụng tối đa lợi thế so sánh của đất nước, đảm bảo sự phát triển ổn định, lâu dài cho nền kinh tế Đặc biệt, trong cơ cấu mặt hàng XK này có nhóm mặt hàng XK chủ lực đóng vai trò quyết định, đại diện cho toàn bộ cơ cấu mặt hàng XK và thể hiện được tiềm năng, sức mạnh của một quốc gia Do vậy, trong quá trình phát triển ngoại thương, các quốc gia đều phải thực hiện đẩy mạnh XK hàng hóa, trước hết là hàng XK chủ lực

Đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực chính là quá trình thúc đẩy về mọi mặt từ lượng đến chất, bao gồm sự gia tăng về quy mô sản lượng và doanh thu XK cũng như sự biến đổi về chất lượng sản phẩm, cơ cấu XK theo hướng tối ưu nhằm nâng cao chất lượng

và hiệu quả XK các mặt hàng XK chủ lực trong một thời kỳ nhất định

Hiện nay, các nước trên thế giới nói chung đang tiến hành song song hai chiến lược đó là đa dạng hoá mặt hàng XK và xây dựng, đẩy mạnh XK một số mặt hàng

XK chủ lực Đa dạng hoá mặt hàng XK để phát huy mọi nguồn lực thúc đẩy phát triển XK, tránh rủi ro đột biến về thay đổi nhu cầu thị trường Còn việc xây dựng, đẩy mạnh XK một số mặt hàng XK chủ lực nhằm tập trung tạo ra nhóm mặt hàng có vai trò động lực thúc đẩy toàn bộ nền XK phát triển nhanh và hiệu quả nhất Như vậy, việc tập trung, đẩy mạnh XK hàng hóa chủ có ý nghĩa lớn đối với nhiều mặt của nền kinh tế đất nước, được thể hiện qua một số điểm sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh XK các mặt hàng XK chủ lực góp phần làm tăng nhanh kim ngạch XK, góp phần làm tăng ngân sách Mặt hàng XK chủ lực là mặt hàng có kim

ngạch XK mang tính chất quyết định đối với kim ngạch XK của quốc gia Thông thường, mặt hàng XK chủ lực chiếm 5- 10% tổng kim ngạch XK quốc gia, có mặt hàng thậm chí chiếm hơn 20% tổng kim ngạch XK, ví dụ mặt hàng khoáng sản chiếm 26,4%, điện năng chiếm đến 26,17% tổng kim ngạch XK của Lào năm 2018 Do vậy,

Trang 19

nếu tập trung nguồn lực ưu tiên phát triển một số mặt hàng XK chủ lực thì đây sẽ là động lực để thúc đẩy XK phát triển tăng nhanh kim ngạch XK, đóng góp ngoại tệ cho ngân sách nhà nước rất lớn, giải quyết nhu cầu nhập khẩu hàng hoá, thiết bị phục vụ sản xuất tiêu dùng nói riêng, góp phần thanh toán dần nợ nước ngoài

Thứ hai, đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực là cơ sở để giữ vững và ổn định thị trường XNK Trong nền kinh tế đối ngoại, các mặt hàng XK chủ lực có thể coi là

“con át chủ bài”, mang tính chất quyết định đối với tổng kim ngạch XK, ảnh hưởng

quyết định đến toàn bộ XK nói chung Vì vậy, các quốc gia thường đưa ra những chiến lược, định hướng sản xuất và XK, đầu tư khoa học kỹ thuật để phát triển ngành hàng trong nước, nâng cao chất lượng, mẫu mã, chủng loại mặt hàng, nhờ thế

mà mặt hàng XK chủ lực của một quốc gia có thể thâm nhập và khẳng định vị trí của mình tại thị trường nước ngoài, hay nói cách khác, nó góp phần giữ vững thị trường

XK Hơn nữa, sự củng cố vị trí của mặt hàng XK ở thị trường nước ngoài sẽ tạo nên

uy tín quốc gia trên thị trường đó, kéo theo hệ quả tích cực là sự XK của các mặt hàng khác sang thị trường nước ngoài đó Như vậy, việc XK các mặt hàng XK chủ lực không chỉ giữ vững thị trường cho mặt hàng đó mà còn góp phần mở rộng thị trường

đó Tuy nhiên, để mở rộng quy mô sản xuất thì điều kiện đầu tiên chính là nguồn vốn Đối với các nước đang phát triển như Lào hiện nay luôn trong tình trạng thiếu vốn đầu tư Vì vậy, việc tập trung xây dựng các mặt hàng XK chủ lực sẽ giúp các quốc gia có được nguồn ngoại tệ lớn tập trung xây dựng được một số ngành có quy mô sản xuất lớn, trước hết là các ngành sản xuất hàng XK chủ lực và phục vụ hoạt động XK, tiến tới xây dựng một nền sản xuất hàng hóa lớn

Hơn nữa, để xây dựng được nhóm hàng XK chủ lực đòi hỏi các quốc gia phải không ngừng nâng cao hiệu quả XK không chỉ thông qua mở rộng quy mô sản xuất,

ổn định, mở rộng thị trường XK mà còn qua việc tăng dần hàng lượng chế biến của sản phẩm Tăng hàm lượng chế biến của hàng hóa XK tạo điều kiện để khai thác hiệu quả các tiềm năng trong nước Để có thể làm được điều này đòi hỏi hỏi phải có sự

Trang 20

đầu tư cho sản xuất, nâng cao trình độ chế biến (máy móc, khoa học công nghệ, trình

độ lao động) Điều này có nghĩa là thông qua việc xây dựng củng cố phát triển nhóm hàng XK chủ lực đã góp phần chuyển dịch dần cơ cấu sản xuất nói riêng và cơ cấu toàn bộ nền kinh tế nói chung theo hướng CNH, HĐH

Thứ tư, đẩy mạnh XK các mặt hàng XK chủ lực còn tạo cơ sở vật chất để mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật với nước ngoài Bởi lẽ, trong

tổng thể các quan hệ kinh tế đối ngoại, hoạt động XK nói chung, XK các mặt hàng

XK chủ lực nói riêng có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ kinh tế này phát triển Ngược lại, chính các quan hệ kinh

tế đối ngoại này lại tạo tiền đề cho việc mở rộng XK (Đoàn Thị Hồng Vân 2015, tr.20) Xuất khẩu tạo điều kiện vật chất không những cho hoạt động ngoại thương,

mà còn cho việc tạo lập các mặt cân đối khác của nền kinh tế quốc dân như cho việc thanh toán trả nợ, cho hoạt động tín dụng, cho việc ổn định của sức mua của đồng tiền trong nước, thực hiện chính sách ngoại giao chủ động và tích cực

Thứ năm, đẩy mạnh XK các mặt hàng XK chủ lực góp phần thúc đẩy phân công lao động trong nước, mở rộng và làm phong phú thị trường nội địa Đẩy mạnh XK

các mặt hàng XK chủ lực tốt sẽ tác động trực tiếp đến sản xuất, làm cho cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành nghề mới ra đời, đòi hỏi lao động được sử dụng nhiều hơn, năng suất lao động cao hơn Từ đó, thúc đẩy quá trình phân công lao động trong nước theo hướng CNH, HĐH, đây là thực tế đã diễn ra tại Lào trong hơn 30 năm đổi mới Hơn nữa, sự phát triển quy mô sản xuất sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, với mức thu nhập không thấp, từ đó, góp phần cải thiện đời sống của người dân, sẽ làm cho hoạt động thương mại trong nước sôi động hơn và làm phong phú thị trường nội địa hơn Bên cạnh đó, nguồn thu ngoại tệ từ XK cũng tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

Thứ sáu, đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực góp phần nâng cao trình độ công nghệ của quốc gia Bởi lẽ, trong cuộc cạnh tranh thị phần XK, để mở rộng XK, các quốc

gia phải áp dụng nhanh chóng và đổi mới thường xuyên công nghệ để nâng cao chất lượng hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm Thông qua XK nhóm hàng XK chủ lực, thu được ngoại tệ mà tạo khả năng trong việc nhập khẩu các công nghệ thích hợp và công nghệ tiên tiến Hơn nữa, việc mở rộng XK đòi hỏi phải cho phép mở rộng đầu tư nước ngoài, thông qua đó mà việc đổi mới công nghệ diễn ra với một tốc độ cao hơn

1.1.3 Một số tiêu chí đánh giá việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực

1.1.3.1 Cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư, mở rộng sản xuất hàng hóa

Trang 21

Để đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực, một trong những nhân tố tiên quyết là cần xây dựng hành lang pháp lý đủ rộng, đủ vững chắc để các hoạt động thu hút vốn đầu tư, mở rộng sản xuất hàng hóa trong nước, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo cơ hội cho việc đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu nói chung và xuất khẩu hàng chủ lực nói riêng

Đứng ở góc độ tiêu chí này, chính sách thu hút vốn đầu tư, mở rộng sản xuất thể hiện trên những nội dung cụ thể như:

- Hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách tạo điều kiện để thu hút vốn đầu tư

và ở rộng sản xuất, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đã cam kết, góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, để thu hút nguồn lực của các thành phần kinh tế, cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển

- Chính sách phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả các loại thị trường (bất động sản, vốn, dịch vụ, lao động, khoa học công nghệ) , làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình mở rộng sản xuất

- Cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa điện tử, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục đầu tư, xử lý kịp thời vướng mắc trong vấn đề cấp phép điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư

- Tập trung các nguồn lực để đầu tư nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, cảng biển… nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình tiến hành hoạt động đầu tư vào trong nước

- Cần đầu tư phát triển nguồn nhân lự chất lượng cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các doanh nghiệp Đồng thời, tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm đảm bảo sự công bằng cho các doanh nghiệp trong nước và giữ vững mối quan hệ thân thiện với các nước đầu tư Đặc biệt, cần tạo được một hành lang pháp lý thống nhất, đảm bảo việc quản lý có hiệu quả đối với mọi thành phần doanh nghiệp

1.1.3.2 Chính sách mặt hàng xuất khẩu chủ lực

Trong chính sách xuất khẩu nói chung, phát triển sản xuất các mặt hàng chủ lực

để đưa các sản phẩm thế mạnh trong nước ra nước ngoài là một hướng đi của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Lào Một mặt, việc tập trung nguồn lực để phát triển sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực (đặc biệt trong điều kiện nguồn lực còn khan hiếm, hạn chế) sẽ giúp nền sản xuất trong nước tiết kiệm được nguồn lực

mà vẫn phát huy được thế mạnh nội lực của mình Mặt khác, chính sách mặt hàng xuất khẩu chủ lực cũng giúp cho nền sản xuất trong nước có điều kiện thuận lợi để làm ra những sản phẩm có chất lượng, có ưu thế trên thị trường quốc tế, mang lại nguồn lợi ích ở phương diện quốc gia Và điều này cũng tạo nền tảng vật chất để đẩy mạnh chính sách xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của quốc gia

Trang 22

Đứng ở góc độ tiêu chí này, chính sách mặt hàng xuất khẩu chủ lực thể hiện trên những nội dung cụ thể như:

- Tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư kinh doanh, khơi dậy các nguồn lực phục

vụ phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực

- Thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo nguồn hàng chủ lực có chất lượng cho xuất khẩu và đáp ứng tiêu chí xuất xứ để được hưởng ưu đãi

- Tăng cường tận dụng ưu đãi thông qua công tác chứng nhận xuất xứ cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực

- Vượt qua các rào cản kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu của nước sở tại, đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm và quy định mới về bảo vệ môi trường

- Đa dạng hoá cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực mang tính đặc trưng của quốc gia, có giá trị và sức cạnh tranh cao

1.1.3.3 Chính sách phát triển thị trường xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực

Đi cùng chính sách sản xuất, chính sách phát triển thị trường đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực cũng vô cùng quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng này trong thực tiễn Những chính sách phát triển thị trường xuất khẩu là hành lang an toàn để các doanh nghiệp trong nước thực hiện kết nối và trao đổi với doanh nghiệp nước ngoài, gia tăng giá trị xuất khẩu nói chung và kinh tế nói riêng Nhà nước - với vai trò là người lái thuyền - sẽ định hướng trong việc tìm tòi và phát triển thị trường xuất khẩu phù hợp với mỗi loại hình mặt hàng chủ lực Bên cạnh đó, chính sách phát triển thị trường xuất khẩu hàng chủ lực có thông thoáng thì mới mang lại cơ hội rộng mở cho việc xuất khẩu, từ đó tạo nền tảng để đẩy mạnh xuất khẩu hàng chủ lực của mỗi quốc gia

Đứng ở góc độ tiêu chí này, chính sách phát triển thị trường xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực thể hiện trên những nội dung cụ thể như:

- Đàm phán mở cửa thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, phổ biến yêu cầu về chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm của các loại thị trường khác nhau

- Thúc đẩy phát triển lĩnh vực dịch vụ logistics phục vụ cho xuất khẩu, nhằm hình thành các trung tâm logistics ở nước ngoài làm đầu cầu, tập kết và phân phối hàng hóa chủ lực đến các thị trường quốc tế

- Nghiên cứu đổi mới toàn diện công tác xúc tiến thương mại theo hướng chú trọng các chương trình xúc tiến trung và dài hạn, hướng vào một mặt hàng, một thị trường cho tới khi đạt kết quả cụ thể

- Nghiên cứu thị trường, xúc tiến xuất khẩu, quảng bá thương hiệu và thực hiện tốt dịch vụ khách hàng

Trang 23

1.1.3.4 Chính sách tín dụng xuất khẩu

Chính sách tín dụng xuất khẩu được coi là phương tiện, nhiên liệu để có thể đẩy con tàu xuất khẩu mặt hàng chủ lực đi đến mục tiêu Một hệ thống chính sách tín dụng xuất khẩu hoàn thiện sẽ tạo cơ sở để các doanh nghiệp có nhu cầu được tiếp cận nguồn vốn cần thiết và phù hợp, được hưởng mức lãi suất ưu đãi trên nhiều khía cạnh,

để từ đó đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực

Đứng ở góc độ tiêu chí này, chính sách tín dụng xuất khẩu thể hiện trên những nội dung cụ thể như:

- Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn trên cơ sở nguyên tắc xã hội hóa, huy động nguồn lực từ nhiều thành phần kinh tế trong xã hội

- Định hướng chiến lược tài trợ, khuyến khích chuyển từ cho vay thương vụ có tính chất riêng lẻ, thụ động sang cho vay theo dự án khép kín chu trình lưu thông hàng hóa từ sản xuất đến tiêu thụ

- Đa dạng hóa các hình thức tín dụng xuất khẩu, tạo ra nhiều sự lựa chọn cho doanh nghiệp có nhu cầu

- Bình ổn lãi suất cho vay xuất khẩu Các tổ chức tín dụng chủ động cân đối nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vay vốn thuộc các lĩnh vực này; giảm lãi suất huy động, tạo cơ sở giảm lãi suất cho vay, điều hành tỷ giá linh hoạt, tạo điều kiện cho xuất khẩu

1.1.3.5 Chính sách, biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu là một trong những công cụ được Nhà nước sử dụng để tạo đà, tạo nội lực cho các doanh nghiệp trong việc sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Vì thế, chính sách này còn có thể được coi là sự kết hợp hài hòa nội dung của nhiều chính sách nói trên, trong đó nhấn mạnh

sự tập trung đến đối tượng là doanh nghiệp xuất khẩu, tạo những điều kiện phù hợp

và cần thiết để phát triển và đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu

Đứng ở góc độ tiêu chí này, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu thể hiện trên những nội dung cụ thể như:

- Chính sách hỗ trợ sản xuất: Tạo cơ chế quản lý thông thoáng; đơn giản hóa thủ tục hành chính; bình ổn giá nguyên nhiên liệu đầu vào; đảm bảo tình hình chính trị, an ninh ổn định…

- Chính sách hỗ trợ thị trường tiêu thụ: kết nối thị trường mục tiêu phù hợp; tạo quan hệ ngoại giao tốt đẹp để mở đường cho các doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện các quan hệ kinh tế; phổ biến các yêu cầu về chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm của các loại thị trường khác nhau; nghiên cứu thị trường, xúc tiến xuất khẩu, quảng bá thương hiệu

Trang 24

- Chính sách hỗ trợ vốn: Đảm bảo để doanh nghiệp xuất khẩu có khả năng tiếp cận nguồn vốn phù hợp; đa dạng hóa các hình thức tín dụng xuất khẩu; hỗ trợ và bình

ổn lãi suất cho vay xuất khểu

- Chính sách hỗ trợ bằng các hình thức khác: Xây dựng danh mục sản phẩm xuất khẩu chủ lực gắn liền với thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp xuất khẩu; tăng cường công tác thông tin giúp định hướng sản xuất phục vụ xuất khẩu…

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực

1.1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất hàng xuất khẩu chủ lực

Thứ nhất, các nhân tố về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên tạo ra những thuận lợi hay khó khăn nhất định cho sản xuất và XK hàng XK chủ lực

- Vị trí địa lý ảnh hưởng đến hoạt động XK trên các mặt như: khoảng cách không gian liên hệ với khách hàng mà doanh nghiệp có khả năng chinh phục, sự thuận lợi trong vận chuyển và chi phí vận chuyển, khoảng cách không gian với các nguồn cung cấp hàng hóa, lao động và nguyên liệu, địa điểm thuận lợi cho hoạt động giao dịch thương mại Ví dụ, đối với Lào, là nước có đường biên giới chung với 5 nước láng giềng: Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia; không có cảng biển, nhưng là một nước có sông suối nhiều và phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ

lãnh thổ, trong đó sông Mê Kông - một dòng sông quốc tế lớn vào “hàng thứ 7 của

thế giới”- là một dòng chính chảy suốt từ Bắc đến Nam Lào Với vị trí như vậy khiến

Lào có nhiều điều kiện thuận lợi để giao lưu, buôn bán với nước ngoài, thúc đẩy ngoại thương phát triển

- Địa hình, nguồn ngước, khí hậu: Địa hình là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế

và ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, khu vực miền núi có địa hình chia cắt gây khó khăn trong vận chuyển hàng hóa, kinh doanh thương mại, đầu tư phát triển hạ tầng thương mại tốn kém Nguồn nước ngoài tạo diện tích mặt nước phục vụ cho nuôi trồng thủy sản tạo mặt hàng trao đổi, nguồn nước giúp đáp ứng nhu cầu cho các ngành kinh tế Khí hậu tác động đến cơ cấu các mặt hàng trao đổi trên thị trường Ở những khu vực khí hậu thời tiết thuận lợi sẽ tạo sự thuận lợi cho các hoạt động sản xuất vật chất trực tiếp từ đó tạo ra khối lượng hàng hóa lớn và ngược lại

Ví dụ, địa hình ở Lào khá đặc biệt, núi cao tập trung ở miền Bắc và miền Đông, núi thấp dần khi xuống phía những đồng bằng dọc sông Mê Kông Mạng lưới sông suối của Lào khá lớn và phân bố tương đối đồng đều, mang nhiều đặc điểm của sông suối vùng núi, lắm thác, nhiều ghềnh, mặt khác lại là điều kiện thuận lợi quan trọng

để xây dựng các công trình thuỷ điện và đây cũng là một mặt hàng XK chiến lược của Lào Lào nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới Bắc bán cầu, nhưng do tác động

từ địa hình nên Lào trong một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô; lượng

Trang 25

mưa trung bình khoảng 1600 - 1800 mm/năm và nhiệt độ trung bình từ 220C đến

điều kiện cho Lào phát triển ngành nông nghiệp của Lào với với các loại cây công nghiệp, rau củ quả Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp nói chung, chịu sự tác động rất lớn của các yếu tố tự nhiên như: thời tiết, thiên tai, lũ lụt, do đó, Nhà nước cùng các doanh nghiệp Lào cần nắm bắt được tính bất ổn về thời tiết để hạn chế những rủi ro, tổn thất do thiên nhiên mang lại, nâng cao hiệu quả XK nông sản

- Nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản phong phú đa dạng là cơ sở tạo ra nguồn hàng phong phú phục vụ nhu cầu tiêu dùng, đồng thời là nguyên liệu cho các ngành sản xuất có liên quan Ví dụ, Lào có tiềm năng rất lớn về việc tài nguyên khoáng sản, rừng, cây công nghiệp Đây là tiền đề cơ bản cho các ngành công nghiệp, thu hút đầu tư tạo ra môi trường thuận tiện cho giao lưu trao đổi mua bán hàng hóa (Nguyễn Thị Giang 2015, tr.12)

Thứ hai, các nhân tố chính trị, kinh tế - xã hội

- Tình hình chính trị và pháp luật của chính quốc gia XK: Lào được biết đến là

một đất nước có tình hình chính trị ổn định, an ninh và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, đã tạo ra cơ hội, môi trường thuận lợi cho các nhà sản xuất và nhà XK Nhưng

hệ thống quản lý của Lào hiện nay vẫn bị coi là một trong những trở ngại đối với các doanh nghiệp XK hàng hóa

- Cơ sở hạ tầng kinh tế sẽ cho biết mức độ hiện đại, mức độ tiên tiến và khả

năng đáp ứng yêu cầu kinh doanh thương mại trong hiện tại cũng như tương lai của một quốc gia Trong đó, quy mô nền kinh tế và kim ngạch XK, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, có mối quan hệ cùng chiều và chặt chẽ với nhau (Ngô Thị Mỹ

2016, tr.35) Với nền kinh tế lấy XK làm động lực phát triển như Lào thì kim ngạch

XK và GDP có quan hệ chặt chẽ với nhau Khi tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong lãnh thổ một quốc gia tăng lên sẽ đồng nghĩa với lượng cung hàng tăng lên

và cơ hội XK hàng hóa sẽ nhiều hơn Cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động XK như hệ thống giao thông (đặc biệt là cảng biển), hệ thống ngân hàng, hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng hàng hoá cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến XK Một cơ sở hạ tầng tốt, phát triển sẽ giúp cho hoạt động XK hàng hóa diễn ra thuận lợi và dễ dàng hơn

Ví dụ, Lào là một nước nằm sâu trong nội địa, giữa bán đảo Đông Dương, có điểm xuất phát rất thấp, cơ sở hạ tầng, giao thông còn yếu kém, là nước nghèo, thị trường nhỏ bé, tỷ suất hàng hóa XK và sức mua còn thấp Trong thời gian gần đây, cơ sở hạ tầng kinh tế của Lào cũng đã được củng cố và phát triển về mặt giao thông vận tải, viễn thông, hệ thống thủy lợi, sân bay, tàu hỏa… đã hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp đối với sự phát triển XK của Lào trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Trang 26

- Dân cư và nguồn lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất, từ

đó ảnh hưởng đến kim ngạch XK của một quốc gia Nhìn từ góc độ nguồn lao động, với một nước có đông sân số trong độ tuổi lao động như Lào, thì khi dân số tăng, quy

mô nguồn lao động tăng góp phần tăng khả năng sản xuất và tăng lượng hàng XK Điều này sẽ tạo nên sức ép cạnh tranh và thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước cần phải cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm góp phần làm lượng cung hàng tăng lên và do đó XK sẽ có điều kiện phát triển Tuy nhiên, ở góc độ tiêu dùng, dân số tăng nhanh cũng sẽ khiến quy mô thị trường tiêu dùng lớn hơn, ảnh hưởng đến việc bán hàng ra thị trường quốc tế, làm giảm tính năng động của các doanh nghiệp trong nước dẫn đến kìm hãm sự phát triển của hoạt động

XK

Thứ ba, chính sách của nhà nước cho phát triển hàng XK chủ lực Trong quá

trình đổi mới cơ chế quản lý, Nhà nước Lào đã chủ động vận dụng có hiệu quả hơn các công cụ pháp luật, kế hoạch định hướng, chính sách và các công cụ đòn bẩy khác Trong đó, việc đổi mới các chính sách về giá cả, thuế, đầu tư, lưu thông, XNK cũng như việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật mới có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy hoạt động thương mại nói chung, sản xuất hàng hóa XK nói riêng phát triển với tốc độ ổn định và bền vững Có thể kể đến một số chính sách, chiến lược hỗ trợ, thúc đẩy sản xuất hàng hóa XK đó là: chiến lược XK là kim chỉ nam chỉ dẫn mọi hoạt động XK; chính sách, biện pháp quản lý hàng XK là nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến quy mô và cơ cấu mặt hàng XK; chính sách đầu tư, và khuyến khích hoạt động đầu tư trong nước tạo thuận lợi cho quá trình tạo ra các sản phẩm XK có giá trị hơn Bên cạnh đó, những ưu đãi về chính sách hỗ trợ đầu tư, sản xuất trong nước cũng tạo cơ sở để để thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài cùng đầu tư phát triển mặt hàng XK nói riêng, và các mặt hàng tiêu dùng trong nước nói chung Chính sách đẩy mạnh hợp tác quốc tế là điều kiện để Lào tìm kiếm đối tác, mở rộng, phát triển thị trường XK hàng hóa của Lào trong tương lai

1.1.4.2 Các nhân tố thuộc về thị trường hàng hóa xuất khẩu

Hoạt động XK là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác Vì thế XK cũng phụ thuộc nhiều vào những nhân tố thuộc về quốc gia nhập khẩu – thị trường hàng hóa XK, đó là:

Thứ nhất, trình độ phát triển kinh tế của nước nhập khẩu Quy mô nền kinh tế

nước nhập khẩu có ảnh hưởng lớn đến kim ngạch thương mại giữa hai quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế rất khó để khẳng định rõ ràng được tác động của quy mô nền kinh

tế nước nhập khẩu với kim ngạch XK là tác động cùng chiều hay ngược chiều Nhưng một điều có thể thấy khi GDP của nước nhập khẩu lớn sẽ cho thấy nhu cầu mua sắm

Trang 27

và nhập khẩu hàng hóa của nước đó tăng lên Tuy nhiên, khi GDP của một quốc gia tăng cho thấy khả năng sản xuất của quốc gia đó tăng theo, kéo theo đó là sự cạnh tranh của sản phẩm ngoài nước với sản phẩm trong nước sẽ càng gay gắt

Thứ hai, dân cư (quy mô dân số, cơ cấu tuổi và giới tính, tốc độ gia tăng dân

số, sức mua) và văn hóa (phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng ) nước nhập khẩu

có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thương mại nói chung và XNK nói riêng

- Tương tự như nghiên cứu với dân số nước XK, khi quy mô dân số tăng sẽ kéo theo cầu hàng hóa tăng lên, sẽ khiến kim ngạch XK của đối tác tăng Tuy vậy, dân số tăng cũng khiến quy mô lao động trong nước tăng làm tăng khả năng sản xuất dẫn tới tăng quy mô và kết quả sản xuất Khi đó, sản xuất trong nước cũng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước dẫn đến kim ngạch nhập khẩu hàng hóa giảm, khiến cho kim ngạch XK của quốc gia đối tác giảm

- Khi thu nhập tăng lên, nguồn tài chính dồi dào hơn, người tiêu dùng của người nhập khẩu sẽ tiêu dùng nhiều hơn Kéo theo đó, hoạt động XK của nước XK sẽ có cơ hội tăng lên Ngược lại, khi kinh tế quốc gia nhập khẩu gặp khó khăn sẽ khiến sản lượng cũng như giá trị XK của quốc gia XK giảm

- Các yếu tố văn hóa xã hội khác như phong tục tập quán, trình độ dân trí, thị hiếu, lối sống cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động phát triển và mở rộng phát triển

XK Nền văn hóa tạo nên cách sống của một cộng đồng, do vậy, điều này sẽ quyết định tới cách thức tiêu dùng, thứ tự ưu tiên cho nhu cầu muốn được thỏa mãn và cách thức thỏa mãn nhu cầu của con người sống trong cộng đồng ấy Các sản phẩm được bán trên thị trường càng phù hợp với sở thích và thị hiếu bao nhiêu thì càng được ưa chuộng bấy nhiêu, qua đó sức mua sẽ tăng lên thúc đẩy thương mại sản phẩm phát triển hơn

Thứ ba, mức độ cạnh tranh của thị trường nước nhập khẩu Một thị trường nhập

khẩu tiềm năng luôn là đích đến của các nước XK, vì vậy mà những thị trường này thường có môi trường cạnh tranh khốc liệt Hiểu rõ những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân doanh nghiệp và của đối thủ cạnh tranh, sẽ giúp doanh nghiệp XK có chiến lược cạnh tranh hiệu quả, đồng thời ứng phó kịp thời với những biến động của thị trường

Thứ tư, cơ chế, chính sách của các nước nhập khẩu để điều tiết việc nhập khẩu

Một mặt hàng nhập khẩu vào một quốc gia thường bị điều chỉnh bởi các quy định như: luật kiểm soát ngoại hối và ngoại thương, luật và quy định liên quan đến hàng cấm, luật và quy định liên quan đến kiểm dịch của Chính phủ, các thủ tục hải quan, các quy định về thuế, luật về trách nhiệm sản phẩm… Nếu quốc gia nhập khẩu có một hệ thống luật thông thoáng đối với các nhà XK, các rào cản thương mại như

Trang 28

chính sách thuế và các công cụ phi thuế quan không quá khắt khe, thì sẽ tạo điều kiện cho mặt hàng của nước XK dễ dàng thâm nhập vào thị trường nhập khẩu Ngược lại,

sẽ tạo nên áp lực hạn chế hoạt động XK của quốc gia XK

1.1.4.3 Các nhân tố khác

Thứ nhất, các nhân tố về khoa học công nghệ Sự phát triển mạnh mẽ và ứng

dụng rộng khắp của khoa học công nghệ 4.0 trong sản xuất và đặc biệt là công nghệ thông tin, nhiều ngành khoa học công nghệ tiên tiến mới đã thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề nói chung và các đơn vị kinh doanh các mặt hàng XK nói riêng Đối với lĩnh vực XK, việc sử dụng các yếu tố khoa học kỹ thuật tiên tiến như điện thoại, điện tín, fax, internet, sẽ giúp các đơn vị kinh doanh giảm được đáng kể chi phí đi lại và chi phí giao dịch Sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng được áp dụng đối với các ngành như vận tải, bảo quản hàng hóa, nghiệp vụ ngân hàng, tác động trực tiếp đến việc thúc đẩy hoạt động XK

Thứ hai, lợi thế cạnh tranh trong XK hàng XK chủ lực, bao gồm lợi thế cạnh tranh tự nhiên và lợi thế cạnh tranh tự tạo Trong đó, lợi thế cạnh tranh tự nhiên có

từ các nguồn lực sẵn có như đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lao động và nguồn vốn, các cơ hội thị trường mở ra cũng có khả năng tạo ra những lợi thế mới (Vidavong Heuangmisouk 2018, tr.58) Lợi thế cạnh tranh tự tạo được hình thành từ chính sách đầu tư của chính phủ và doanh nghiệp thông qua chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành Việc các quốc gia có thể tận dụng và phát huy tốt những lợi thế cạnh tranh (tự nhiên và tự tạo) của mình sẽ giúp các quốc gia đó nâng cao được khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đồng thời đây là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến mở rộng thị trường tiêu thụ qua đó góp phần mở rộng quy mô kim ngạch XK hàng hóa nói chung và hàng XK chủ lực nói riêng của một quốc gia

Thứ ba, các nhân tố về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Trong điều

kiện thế giới hiện nay, hầu như tất cả các nền kinh tế của thế giới có khả năng thiết

nhiều liên minh kinh tế ở mức độ khác nhau được hình thành và nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương được ký kết, giảm bớt rào cản thuế quan giữa các nước tham gia, giảm giá cả và thúc đẩy hoạt động thương mại giữa các nước trong khu vực và trên thế giới Điều này đã tạo cơ hội cho Lào mở rộng thị trường XK, cũng như tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, hội nhập

kinh tế quốc tế cũng tức là hội nhập vào “sân chơi chung” mà ở đó, hàng XK chủ lực

của Lào gặp sự cạnh tranh khốc liệt với các nước, mà nếu không có chiến lược đúng

đắn, các doanh nghiệp Lào còn có nguy cơ bị thua ngay trên “sân nhà”

Trang 29

1.2 Kinh nghiệm của một số nước về đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực và bài học kinh nghiệm cho Lào

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực

1.2.1.1 Thái Lan

Thái Lan là một trong những cường quốc kinh tế khu vực Đông Nam Á Kim ngạch XK năm 2018 của Thái Lan đạt mức 252,866 tỷ USD, tăng 6,7% so với năm trước, thị trường XK chính của Thái Lan bao gồm Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Á, Australia, Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam Thái Lan là một nước đã làm rất tốt việc đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực Trong những năm gần đây, Chính phủ Thái Lan đã thể hiện quyết tâm trong việc hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân để thực hiện các chiến lược phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện cho hàng hóa từ Thái Lan xâm nhập vào những thị trường mới Trong đó:

Thứ nhất, tích cực đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại, phát triển thị trường XK Với vai trò là nước XK hàng hóa hàng đầu thế giới, Thái Lan rất tích cực

tham gia vào đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại, đặc biệt là Hiệp định Nông nghiệp (AoA) tại Vòng đàm phán Urugoay có lợi với Thái Lan Ngay sau vòng đàm phán này, năm 1996 một nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển Thái Lan ước tính rằng Thái Lan đã thu được một khoản lợi tức ròng lớn đạt khoảng 482 triệu USD do tăng trưởng kim ngạch hoạt động XK hàng hóa

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu XK hàng XK chủ lực theo hướng đẩy mạnh các sản phẩm có giá trị cao Thái Lan đã và đang cố gắng để thay đổi cơ cấu XK theo hướng

XK hàng hoá có hàm lượng chất xám cao, như: ô tô, xe máy, hàng điện tử điện lạnh, cũng như các sản phẩm hóa học v.v trở thành những sản phẩm chủ lực với kim ngạch XK năm 2018 đạt: Máy móc thiết bị (bao gồm cả máy tính): 49,2 tỷ USD (chiếm 17,2% tổng kim ngạch XK); Máy móc, thiết bị điện: 35 tỷ USD (chiếm 14%); Phương tiện vận tải: 30,4 tỷ USD (12,2%); Nhựa và các sản phẩm nhựa: 14,5 tỷ USD (5,8%); %); Đá quý, kim loại quý: 11,9 tỷ USD (4,8%); Nhiên liệu khoáng (bao gồm dầu): 10,6 tỷ USD (4,2%); Hóa chất hữu cơ: 6,1 tỷ USD (2,5%) (Daniel Workman

2019, tr.1) Hiện tại, nông nghiệp chỉ còn chiếm chưa đến 10% trong GDP, song với nền nông nghiệp khá hoàn chỉnh với sự đa dạng hóa và chuyên môn hóa nhiều loại vật nuôi, cây trồng ở mỗi vùng, miền trong cả nước và hướng vào XK cũng giúp Thái Lan trở thành một trong những nước XK nông sản lớn nhất thế giới với kim ngạch

XK năm 2018: Cao su và các mặt hàng cao su: 15,5 tỷ USD (6,2% tổng kim ngạch XK); Thịt/hải sản chế biến: 6,6 tỷ USD (2,6%); Ngũ cốc: 5,7 tỷ USD (2,3%) (Daniel Workman 2019, tr.1)

Trang 30

Thứ ba, chính sách thúc đẩy, hỗ trợ mạnh cho hoạt động XK Chính phủ Thái

Lan đã thực hiện chính sách ưu tiên XK dựa trên nguồn vốn, công nghệ của nước ngoài và nguồn nhân lực rẻ trong nước; lấy XK và dịch vụ làm đầu tàu cho tăng trưởng kinh tế; chuyển từ chính sách khai hoang, phục hóa đến đa dạng hóa cây trồng vật nuôi phục vụ cho XK Chính sách lựa chọn sản phẩm XK chủ lực, chính sách khuyến khích sản xuất hàng XK chủ lực, đặc biệt là hàng OTOP Thailand (One Tambon one product - Một huyện một sản phẩm) và lựa chọn thị trường XK chủ lực

đã được sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm tận dụng những ưu thế về tài nguyên, nhân lực và vị trí địa lý, đồng thời phân một cách tối ưu các nguồn lực quốc gia Cùng với đó, Thái Lan cũng thành lập các hiệp hội để nghiên cứu các biện pháp sản xuất mặt hàng XK chọn giống cây trồng, tăng năng xuất, tăng chất lượng, giảm giá vận tải hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thu thập tình hình và số liệu về thị trường, loại hàng hóa, giá cả, khuyến khích các nhà đầu tư tăng cường XK

Chính phủ Thái Lan đã đưa ra các biện pháp xúc tiến XK hữu hiệu đó là kế hoạch cắt giảm và miễn thuế đối với nguyên liệu thô, miễn và giảm thuế nhập khẩu, thuế kinh doanh đối với các thiết bị máy móc Cùng với đó, trong tiến trình thực hiện từng bước tự do hoá thương mại hàng hóa, Thái Lan coi trọng trợ cấp trong nước, đặc

biệt là trợ cấp theo “hộp xanh lơ” theo qui định của AoA, mức trợ cấp đối với hoạt

động XK hàng hóa này có xu hướng tăng lên theo cách năm Đây là một biện pháp hiệu quả mà chính phủ Thái Lan áp dụng để tăng sức cạnh tranh hàng hóa XK của mình trên thị trường quốc tế

Thêm vào đó, Chính phủ Thái Lan còn dành một khoản ngân sách lớn để phục

vụ cho hoạt động quảng bá sản phẩm XK ra nước ngoài, hỗ trợ công tác thông tin thị trường, tiếp thị, xây dựng chợ hàng hóa tại các thị trường tiêu thụ lớn Trên cơ sở đó

đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc quảng bá hình ảnh đất nước Thái Lan nói chung,

và hàng hóa XK của Thái Lan tới các quốc gia trên thế giới

Thứ tư, kinh nghiệm về XK tại chỗ Thái Lan là nước có lượng khách du lịch

lớn, các nhà kinh doanh nông sản đã tận dụng lợi thế này để XK tại chỗ với kim ngạch đáng kể Hàng năm, Thái Lan đón khoảng 15 triệu khách du lịch, mỗi khách bình quân mua 5 USD sản phẩm nông sản, chủ yếu là trái cây thì doanh số cũng đạt khoảng

75 triệu USD Đây cũng là một hình thức tiếp thị có hiệu quả

Thứ năm, kết hợp công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại Trong những

năm qua, Thái Lan đã thực hiện “đẩy mạnh công nghệ ứng dụng những công nghệ và

kỹ thuật hiện đại đồng thời kết kinh nghiệm truyền thống để ổn định sản lượng” (Thủ

tướng Thái Lan Sarayud Chulanont 2007, tr.1) Nhờ đó, nhiều sản phẩm được tạo ra

Trang 31

với số lượng lớn, và đi kèm với đó là chất lượng sản phẩm ngày càng được cải tiến, nâng cao Điều này là một thuận lợi vô cùng to lớn không chỉ tạo cơ sở nền tảng cho tăng tiêu dùng trong nước, mà là một yếu tố quan trọng hỗ trợ và phát triển thị trường

XK hàng hóa

1.2.1.2 Trung Quốc

Từ năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa cải cách thị trường, trải qua 4 thập kỷ, đã đưa đất nước đứng vào nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới với khối lượng dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới Năm 2018, tổng kim ngạch XNK đạt mức kỷ lục, cơ cấu thương mại không ngừng được nâng cấp, XK tăng trưởng 7,1% và xuất siêu 2.330,3 tỷ CNY (tương đương 343,32 tỷ USD) Tạo công ăn việc làm cho 13,61 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp khoảng 4,9%, giảm 0,1% so năm 2017 (Hữu Hưng 2019, tr.1) Hiện, Trung Quốc được coi như một công xưởng của thế giới, tại đây không chỉ sản xuất ra các mặt hàng dân dụng giá rẻ mà đang tiến dần vào các sản phẩm công nghệ cao Có thể nói Trung Quốc đã rất thành công trong việc đưa ra các giải pháp thúc đẩy hoạt động XK hàng XK chủ lực Cụ thể là:

Thứ nhất, Chính phủ Trung Quốc xác định tập trung XK nhóm hàng XK chủ lực

là hàng công nghiệp Trung Quốc đã thực hiện Công nghiệp hóa theo hướng XK, là

một chiến lược công nghiệp hóa phát triển khu vực sản xuất hàng XK làm động lực chủ yếu kéo phát triển toàn ngành kinh tế Trung Quốc ưu tiên phát triển các đặc khu kinh tế Sau đó phát triển thành các khu trung tâm thương mại lớn, có các cơ sở gia công XK tiên tiến, những khu sinh hoạt có chất lượng cao với đẩy đủ tiện nghi phục

vụ, những trung tâm thông tin quốc tế lớn Trung Quốc còn ưu tiên mở cửa các thành phố ven biển Các thành phố ven biển là các khu vực mở cửa về kinh tế kỹ thuật, trở thành những cầu cảng lớn giúp Trung Quốc hướng ra thị trường Thái Bình Dương, Tây Âu và Bắc Hoa kỳ Kết quả đạt được được thể hiện qua kim ngạch XK các mặt hàng này năm 2018 như sau: Máy móc, thiết bị điện: 664,4 tỷ USD (chiếm 26,6% tổng kim ngạch XK); Máy móc điện tử bao gồm máy tính: 430 tỷ USD (17,2%); Đồ nội thất: 96,4 tỷ USD (3,9%); Nhựa và các sản phẩm nhựa: 80,1 tỷ USD (3,2%); Phương tiện vận tải: 75,1 tỷ USD (3%); Quần áo đan hoặc móc, phụ kiện: 73,5 tỷ USD (2,9%); Quần áo, phụ kiện (không đan hoặc móc): 71,4 tỷ USD (2,9%); Thiết

bị quang học, kỹ thuật, y tế: 71,4 tỷ USD (2,9%); Các mặt hàng bằng sắt hoặc thép: 65,6 tỷ USD (2,6%); Hóa chất hữu cơ: 59,8 tỷ USD (2,4%) (Daniel Workman 2019, tr.1)

Thứ hai, Chính phủ Trung Quốc đã sớm xây dựng và thực hiện các chính sách thị trường, chính sách mặt hàng ưu tiên XK, hệ thống chính sách hỗ trợ hoạt động

XK hàng XK chủ lực, có thể kể đến:

Trang 32

- Chính sách thúc đẩy thương mại, mở rộng thị trường giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới Một trong các biện pháp mà chính phủ Trung Quốc sử dụng là luôn

tích cực tổ chức các chuyến thăm cấp cao tới các quốc gia để thiết lập, phát triển và duy trì mối quan hệ ngoại giao kinh tế với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Trên cơ sở các chuyến thăm cấp lãnh đạo, các bên có thể ra các sáng kiến hợp tác mới, khai thông bế tắc trong phát triển quan hệ thương mại và là cơ hội để các doanh nghiệp tháp tùng các đoàn cao cấp tìm kiếm cơ hội thị trường và đối tác kinh doanh Trung Quốc cũng sử dụng các cuộc họp thượng đỉnh và các cuộc gặp mặt chính thức

để tiếp cận với các doanh nhân hàng đầu trên thế giới Thông qua chính cuộc họp thượng đỉnh và thương mại này, các doanh nghiệp XK Trung Quốc đã thiết lập được quan hệ bạn hàng với các doanh nghiệp phân phối tại các thị trường Các cơ quan chức năng Trung Quốc như Bộ Thương mại, Bộ Ngoại giao, các hiệp hội và trung tâm xúc tiến thương mại đã tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng tại các thị trường XK thường xuyên, tổ chức các cuộc hội chợ triển nhằm giới thiệu thành tựu phát triển kinh tế, giới thiệu, quảng bá sản phẩm nhằm thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp toàn thế giới Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng của Trung Quốc cũng luôn mở các diễn đàn cho các doanh nghiệp thiết lập mối quan hệ kinh doanh, thương mại với các đối tác kinh doanh quốc tế, từ đó giúp doanh nghiệp đa dạng hóa hàng XK

và nâng cao tính cạnh tranh trên trường quốc tế

- Chính sách chuyển dịch cơ cấu sản phẩm chủ lực, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng XK chủ lực Trung Quốc đề ra kế hoạch lấy khoa học kỹ thuật

phát triển mậu dịch Cơ cấu hàng hóa được chia thành 3 giai đoạn Giai đoạn 1: sẽ lấy

XK hàng công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động làm trọng tâm thay thế dần XK những sản phẩm thô, sơ cấp, nông nghiệp Giai đoạn 2: lấy XK sản phẩm công nghiệp làm thành phẩm sơ cấp và công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động Giai đoạn 3: sẽ

XK sản phẩm kỹ thuật cao, đòi hỏi tri thức và công nghệ tiên tiến Đồng thời, từ năm

2007, khi nhiều mặt hàng của Trung Quốc gặp vấn đề chất lượng ở nhiều mức độ khác nhau tại các thị trường nước ngoài, Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng 8 nhiệm

vụ và 20 mục tiêu cụ thể cho việc nâng cao chất lượng, giá cả, và mẫu mã hàng hóa,

áp dụng nhiều biện pháp kiểm tra gắt gao cơ sở sản xuất hàng thực phẩm XK, kể cả thắt chặt thủ tục cấp phép, toàn bộ hàng thực phẩm XK đều phải có chứng nhận kiểm dịch Điều này đã và đang giúp Trung Quốc tạo ra các sản phẩm đảm bảo chất lượng,

và dần chinh phục và mở rộng thị trường XK chủ lực của quốc gia mình

- Chính sách hỗ trợ hoạt động XK hàng XK chủ lực: áp dụng chế độ thoái thu

thuế giá trị gia tăng đã nộp (áp dụng giá trị gia tăng đầu ra bằng 0% cho hàng XK) Các ngân hàng thương mại Trung Quốc đã cấp các khoản vay ngắn hạn cho các doanh

Trang 33

nghiệp XK được hưởng mức lãi suất ưu đãi, với lãi suất hiện chỉ ở mức 4 - 5%/năm Với lãi suất thấp, lượng hàng hóa Trung Quốc XK ngày càng tăng Các doanh nghiệp nước ngoài chỉ cần mua hàng, nguyên vật liệu của Trung Quốc thì được hỗ trợ lãi suất 0% cho 30% giá trị đơn hàng Ngoài ra, các ngân hàng thương mại Trung Quốc cũng hỗ trợ cho vay vốn xây dựng với lãi suất chỉ từ 1 - 2% để khuyến khích doanh nghiệp XK đầu tư xây dựng nhà máy, công xưởng Những điều kiện đó đã giúp doanh nghiệp Trung Quốc có thể sản xuất ra những sản phẩm số lượng lớn với chi phí rẻ nhất Đồng thời, Trung Quốc cũng thực hiện phá giá đồng nhân dân tệ, cho phép tỷ giá đồng nhân dân tệ được định giá thấp hơn giá trị thực tế của nó, thực chất là chính sách trợ giá cho người tiêu dùng nước ngoài mua hàng Trung Quốc, hàng hóa Trung Quốc được bán với giá rẻ, làm cho sức cạnh tranh của hàng hóa tăng lên Thêm vào

đó trong thời gian qua, Trung Quốc đã sớm xây dựng được “chính sách Châu Phi”

để hỗ trợ các doanh nghiệp XK trong nước tìm hiểu, và sớm chinh phục thị trường Châu Phi vốn đã bị bỏ quên nhiều năm nay của nhiều quốc gia XK Điều này đang tạo những cơ sở quan trọng cho việc phát triển, mở rộng thêm các thị trường mới cho doanh nghiệp XK Trung Quốc

Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc còn tiến hành đổi mới bộ máy tổ chức ngoại

thương cho ngày càng gọn nhẹ, giảm bớt sự rườm rà trong thủ tục hành chính, giúp hoạt động XK thuận lợi

1.2.1.3 Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có hoạt động thương mại hàng hóa phát triển những năm đổi mới Năm 2018, trị giá XK hàng hóa của Việt Nam đạt 243,48 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2017 (Tổng Cục Hải quan Việt Nam 2018, tr.1), có 29 mặt hàng đạt kim ngạch XK trên 1 tỷ USD, trong đó 9 mặt hàng đạt trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD Để đạt được kết quả này, Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách, chiến lược, biện pháp đẩy mạnh XK hàng XK chủ lực Một số kinh nghiệm của Việt Nam mà Lào có thể nghiên cứu học tập như:

Thứ nhất, xác định và thực thi chiến lược XK hàng hóa theo hướng ưu tiên những sản phẩm có giá trị tăng cao Hiện nay, kim ngạch XK nhóm hàng XK chủ

lực của Việt Nam bao gồm: 1/ Điện thoại các loại và linh kiện: 49,08 tỷ USD; 2/Hàng dệt may: 30,49 tỷ USD; 3/ Máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện: 29,32 tỷ USD; 4/ Nhóm hàng nông sản: 40,02 tỷ USD; 5/ Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: 16,55 tỷ USD; 6/ Giày dép: 16,24 tỷ USD; 7/ Hàng thủy sản: 8,8 tỷ USD; 8/

Gỗ và sản phẩm gỗ: 8,91 tỷ USD; 9/ Phương tiện vận tải và phụ tùng: 7,96 tỷ USD; 10/ Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện: 5,24 tỷ USD Như vậy, nếu như đầu những năm 2000, cơ cấu XK hàng XK chủ lực của Việt Nam chủ yếu là hàng gia công và

Trang 34

nguyên liệu thô như Lào Thì hiện nay, Việt Nam đang tái cấu trúc lại nền kinh tế ưu tiên phát triển các ngành có trình độ công nghệ cao, thân thiện môi trường, phát triển sản xuất những sản phẩm có hàm lượng khoa học cao, tiêu hao ít năng lượng, giá trị sản phẩm lớn, góp phần làm tăng nhanh kim ngạch XK hàng hóa Đây là bài học mà Lào đang học tập trong bối cảnh ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới

Thứ hai, mở rộng thị trường thông qua các hiệp định thương mại với mục tiêu giảm mức thuế và loại bỏ các rào cản thương mại và trợ giá Việt Nam cũng rà soát,

sửa đổi, hoàn thiện, đảm bảo sự tương thích giữa chính sách thương mại và chính sách khuyến khích XK, các hỗ trợ trong nước và chính sách thương mại phải luôn được giữ vững và bổ sung củng cố cho nhau, hỗ trợ cho trách nhiệm quốc tế hiện có

mà Việt Nam đã cam kết và cùng lúc có thể giúp Việt Nam mở rộng phạm vi trao đổi thương mại, thúc đẩy XK Nhờ đó mà hàng hóa của Việt Nam đã có mặt ở trên 220 nước và vùng lãnh thổ Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết và đang thực thi 10 FTA

đa phương và song phương, đây là sân chơi lớn cho hàng hóa XK của Việt Nam và

là tiền đề quan trọng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất toàn cầu; nâng cao giá trị XK Xuất khẩu sang thị trường các nước có FTA đều ghi nhận tốc độ tăng cao trong năm 2017: ASEAN tăng 24,2%, đạt 21,68 tỷ USD; Trung Quốc tăng 61,5%, đạt 35,46 tỷ USD; Nhật Bản tăng 14,8%, đạt 16,8 tỷ USD; Hàn Quốc tăng 30%, đạt 14,8 tỷ USD; Australia tăng 15,1%, đạt 3,3 tỷ USD; Chile

Thứ ba, Việt Nam cũng đã xác định chính xác thị trường mục tiêu cho hàng hóa

XK chủ lực của quốc gia Hiện nay thị trường XK chính của Việt Nam vẫn là các

nước Châu Á Thái Bình Dương, chiếm trên 50% Tuy vậy, với chính sách chuyển dịch cơ cấu thị trường hướng vào những thị trường mục tiêu thị trường lớn, Việt Nam

đã thực thi nhiều chính sách, đã xúc tiến mở rộng thị trường và hiện nay các thị trường chủ yếu của Việt Nam là EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc Đối với nhóm hàng công nghiệp, năm 2017, thị trường Hoa Kỳ chiếm 20,6% XK nhóm hàng công nghiệp (35,8 tỷ USD), thị trường EU chiếm 17,6%; tổng cộng 3 thị trường khu vực Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) chiếm gần 30% (Cục XNK, Bộ Công

điều chỉnh thị trường sang khu vực Trung Đông, châu Phi ít bị tác động của khủng hoảng kinh tế Việc chuyển hướng thị trường XK, tránh lệ thuộc vào một thị trường trong XK hàng hóa khi có sự biến động cũng là kinh nghiệm tốt cho Lào cần học tập

Thứ tư, Việt Nam thực hiện chính sách chủ động nguyên liệu cho nguồn hàng

XK thông qua việc thực hiện chính sách thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, góp

Trang 35

phần tạo ra năng lực sản xuất mới phục vụ nhu cầu trong nước và phục vụ cho XK Vốn thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong năm 2018 ước đạt 19,1 tỷ USD (tăng 9,1% so với năm 2017) Vai trò của doanh nghiệp FDI đối với lĩnh vực XK ngày càng quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến XK chủ lực hiện nay như điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử

và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng Bên cạnh đó, bằng việc đầu tư cho các nhà máy sản xuất nguyên liệu, đến nay, tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm XK dần được cải thiện Ví dụ, ngành dệt may năm 2000 tỷ lệ nội địa hoá mới khoảng 15-17% thì đến năm 2017, tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may đã đạt trên 50%, không những phần nào chủ động được nguồn nguyên liệu trong nước, ngành dệt may còn XK được nguyên phụ liệu (xơ, sợi dệt các loại có kim ngạch XK tăng 22,7%) Đối với điện thoại, tỷ lệ nội địa hóa cũng đang được cải thiện, với trên 200 nhà cung cấp là doanh nghiệp Việt Nam Điều này đã góp phần nâng cao lợi thế so sánh của Việt Nam trên thị trường quốc tế

Thứ năm, Việt Nam đã thực hiện các chính sách khuyến khích XK bằng cách sử

dụng cơ chế tỉ giá để quản lý XK của các doanh nghiệp như quản lý ngoại hối, phá giá đồng nội tệ làm gia tăng XK do doanh nghiệp có lời do chênh lệch tỉ giá khi nhập khẩu Thực hiện trợ cấp XK bằng cách giành ưu đãi về mặt tài chính cho nhà XK thông qua các biện pháp hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp Cùng với đó, Việt Nam không chỉ thực hiện tín dụng XK mà còn bảo đảm tín dụng XK bằng việc lập Quỹ Bảo hiểm

XK, nhằm gánh vác những tổn thất, chia sẻ bớt rủi ro trong kinh doanh với nhà kinh doanh XK

Cùng với đó, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt

động XK với sự ra đời của Luật quản lý Ngoại thương năm 2017, quy định các biện pháp quản lý ngoại thương, phát triển hoạt động ngoại thương, giải quyết tranh chấp Đồng thời, thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa đối với 183 thủ tục hành chính, cắt giảm 675 điều kiện đầu tư, kinh doanh, kiến tạo môi trường kinh doanh, đầu tư thuận lợi, thông thoáng, minh bạch cho người dân và doanh nghiệp Theo Báo cáo xếp hạng Doing Business 2019 của WB, môi trường kinh doanh năm 2018 của Việt Nam xếp hạng thứ 69/190 nền kinh tế với 66,77 điểm trên thang 100; chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam xếp thứ 77/140 về năng lực cạnh tranh toàn cầu Tinh thần đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội, với 131.275 doanh nghiệp doanh nghiệp thành lập mới năm 2018 với số vốn đăng ký

là 1.478.101 tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,1% về số vốn đăng

ký (Cục Quản lý kinh doanh - Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam 2018, tr.1) Nhờ đó,

Trang 36

nguồn hàng cho XK tăng trưởng mạnh mẽ, giúp XK tăng trưởng ở cả ba khu vực là công nghiệp, nông nghiệp và nhiên liệu, khoáng sản

1.2.2 Một số bài học cho Lào trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực

Thông qua nghiên cứu các bài học kinh nghiệm của các gia trên về thúc đẩy hoạt động XK hàng hóa, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Lào như sau:

Thứ nhất, Chính phủ Lào cần sớm định hình một hệ thống văn bản pháp quy

đầy đủ và chi tiết để quy hoạch và xác định mặt hàng XK chủ lực và phải xây dựng các ưu tiên đầu tư, phát triển và có chính sách ưu đãi Tiếp đó, các chính sách thị trường, chính sách mặt hàng, hệ thống hỗ trợ doanh nghiệp như hình thức tín dụng

XK, hỗ trợ thông tin thị trường, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển, và mở rộng thị trường mới để tạo lập cơ sở hoạt động cho các doanh nghiệp XK hàng XK chủ lực ra thị trường quốc tế

Thứ hai, kinh nghiệm lựa chọn các mặt hàng XK chủ lực Nhà nước thông qua

nghiên cứu thị trường nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế của các viện nghiên cứu và các cơ quan quản lý mà lựa chọn, định hướng sản xuất và XK các sản phẩm

XK chiến lược phù hợp với nguồn lực trong giai đoạn phát triển và bối cảnh quốc tế, đồng thời xây dựng hệ thống chính sách, biện pháp phục vụ việc phát triển sản phẩm chủ lực Lào là một nước kém phát triển nên lựa chọn ngành chủ đạo có ưu thế của mình để sản xuất hàng XK đúng với tiềm năng của đất nước

Hơn nữa, các nước trên đều thực hiện chiến lược “đa dạng hoá” hàng XK chủ

lực góp phần khắc phục hiện tượng phát triển lệch lạc và bất lợi trong lĩnh vực XK của các nước đang phát triển Theo kinh nghiệm, mỗi nước nên tập trung phát triển

từ 5-10 mặt hàng XK chủ lực, vừa cho phép khắc phục tình trạng thị trường bất lợi cho mặt hàng này hay mặt hàng kia, vừa mở ra những khả năng tập trung phát triển quy mô lớn và có chiều sâu, kịp thời nắm bắt thời cơ của thị trường thế giới Lào cũng thường có số lượng mặt hàng XK chủ lực như vậy, nhưng chủ yếu là sản phẩm gia công và nguyên liệu thô, dựa trên thế mạnh về nguồn lao động rẻ, tài nguyên thiên nhiên của đất nước Điều này đang làm tài nguyên quốc gia dần cạn kiệt, và cũng đã không còn phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay Do vậy, Lào cần học tập các nước, thực hiện quy hoạch lại, cơ cấu XK theo hướng tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng sản phẩm thô và sơ chế, và tiến tới tạo thêm các mặt hàng XK chủ lực mới, tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu và tinh trong hàng XK, và ưu tiên phát triển các ngành có trình độ công nghệ cao, thân thiện môi trường, phát triển sản xuất những sản phẩm có hàm lượng khoa

Trang 37

học cao, tiêu hao ít năng lượng, giá trị sản phẩm lớn, góp phần làm tăng nhanh kim ngạch XK hàng hóa

Thứ ba, kinh nghiệm về phát triển thị trường Thực tiễn các quốc gia trên cho

thấy, việc tiếp cận tốt hơn các thị trường nước ngoài đòi hỏi một hiệp định thương mại tích cực đối với việc giảm mức thuế và loại bỏ các rào cản thương mại và trợ giá Đảm bảo sự tương thích giữa chính sách thương mại và chính sách khuyến khích XK, các hỗ trợ trong nước và chính sách thương mại phải luôn được giữ vững và bổ sung củng cố cho nhau để tăng cường được tính cạnh tranh cho các nhà sản xuất của mình

Do vậy, Lào cần tập trung khai thác tốt các FTA đã hoàn thành đàm phán, ký kết và

đi vào có hiệu lực; mặt khác, tính toán lại chiến lược đàm phán các FTA tiếp theo để bảo đảm lợi ích cao hơn cho đất nước trong bối cảnh mới Song song với đó, tăng cường năng lực và hoạt động của các cơ quan ngoại giao, thương vụ, đội ngũ cán bộ

để dự báo và xử lý các trường hợp biến cố đối với thị trường XK Chính phủ và các cơ quan ban ngành của Lào nên thường xuyên tổ chức các chuyến thăm cấp cao tới các quốc gia trên thế giới, tổ chức nhiều các hội chợ triển lãm quốc tế quảng bá hình ảnh đất nước, con người và hàng hóa Lào dễ tiếp cận nhất đối với người tiêu dùng nước sở tại nói riêng và các doanh nghiệp quốc tế nói chung

Thứ tư, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, cần coi chất lượng hàng hóa là tiêu chí hàng đầu để chinh phục các thị trường XK

Ngoài yếu tố về giá cả, mẫu mã, chất lượng hàng hóa là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó sẽ là nền tảng vững chắc nhất để các bạn hàng tiếp tục ký kết các hợp đồng

XK tiếp theo Hơn nữa, muốn thâm nhập vào bất kỳ thị trường nào, điều cốt lõi là Lào phải xây dựng, và sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nước XK, đồng thời giá cả và chất lượng phải hợp lý Đây là bài học đặc biệt quan trọng từ các doanh nghiệp các nước mà các doanh nghiệp Lào có thể học hỏi được Ngoài ra, các doanh nghiệp Lào cũng có thể học tập từ doanh nghiệp Việt Nam, Trung Quốc trong việc năng động, sáng tạo, nắm bắt được yếu tố tôn giáo, văn hóa của thị trường mà mình hướng tới để tạo cho sản phẩm có độ hấp dẫn khác biệt so với các sản phẩm cạnh tranh của các nước khác

Thứ năm, Chính phủ Lào cần có các chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho các doanh

nghiệp XK hàng XK chủ lực như các hỗ trợ về thuế, ưu đãi, hỗ trợ về thông tin thị trường, và nhiều các hình thức hỗ trợ khác cho các doanh nghiệp XK hàng XK chủ lực Trong đó, cần ưu tiên nhập khẩu công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn, nhập khẩu bằng sáng chế phát minh để ứng dụng, tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và phối hợp nghiên cứu triển khai Xây dựng trung tâm công nghệ cao thu hút đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia để từng bước rút ngắn khoảng

Trang 38

cách về công nghệ với các nước trong khu vực Phát triển thị trường khoa học, công nghệ nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận và tăng tính thanh khoản các nguồn vốn đầu tư cho R&D, đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ Thực hiện cơ chế khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển khoa học, công nghệ để tăng cường sức cạnh tranh sản xuất hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới

Kết luận Chương 1

Trên cơ sở mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, Chương 1 Luận văn đã triển khai nghiên cứu về những vấn đề lý luận về XK hàng XK chủ lực, đặc biệt là vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến XK hàng hóa để đánh giá hiệu quả XK hàng hóa ở Lào Việc nghiên cứu cho thấy, trong điều kiện của Lào hiện nay, hướng mạnh về XK hàng

XK chủ lực là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế và thực hiện CNH, HĐH, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển của Lào so với thế

mạnh về sản xuất và XK như Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc để rút ra những bài học chủ yếu cho Lào Những nội dung nghiên cứu trong Chương 1 này sẽ là nền tảng cho việc tìm hiểu và làm rõ thực trạng hoạt động XK hàng XK chủ lực của Lào trong thời gian qua Chương 2 dưới đây

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ

NHÂN DÂN LÀO

2.1 Thực trạng xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực của Lào

2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng xuất khẩu chủ lực

Trên cơ sở những thành tựu đạt được sau hơn 40 năm giành độc lập, CHDCND Lào đang thực hiện mục tiêu đưa đất nước thoát khỏi danh sách các nước kém phát triển nhất vào năm 2024, tiến tới một nước công nghiệp vào năm 2030, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế từ năm 2025 đạt 9%/năm, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế và tiếp tục có nhiều đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới Để đạt được các mục tiêu đề ra, Bộ Công nghiệp và Thương mại đã xây dựng và triển khai một loạt các chiến lược thương mại như chiến lược mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hoá trong nước gắn liền với sự tăng sức mua của nhân dân; chiến lược XK; chiến lược thương mại với các nước láng giềng Nhờ vậy, hoạt động XK của Lào tăng lên nhanh, trung bình tăng lên 7%/năm Quy mô XK của Lào ngày càng được mở rộng, từ 1.370,459 triệu USD năm 2008 lên 5.410 triệu USD năm 2018 Hai tháng đầu năm 2019, kim ngạch XK là 325 triệu USD (Cục Hải quan - Bộ Tài chính Lào 2019, tr.1) Tính đến năm 2017, Lào đang đứng vị trí thứ 121 trên thế giới về XK (The Central Intelligence Agency 2018, tr.1), thị trường XK của Lào đã được mở rộng đến hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ Quy

mô XK tăng trưởng, số lượng các doanh nghiệp, nhà máy tăng nhanh, thu hút nhiều lao động, góp phần vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương, làm ổn định tình hình xã hội

Hình 2.1 Quy mô XK hàng hóa và hàng XK chủ lực giai đoạn 2008 – 2018

Nguồn: Cục XNK, Bộ Công nghiệp và Thương mại Lào 2019

Trang 40

Cùng với quá trình mở cửa phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, với những lợi thế vốn có, cơ cấu mặt hàng XK của Lào đã có sự thay đổi, ngày càng phong phú Xuất phát từ một nước nông nghiệp, nhóm nông sản là một trong những mặt hàng XK chủ lực của Lào trong những năm qua Tuy nhiên, cùng với quá trình

mở cửa phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, cơ cấu mặt hàng XK của Lào

đã có sự thay đổi, tỉ lệ thu nhập từ việc XK hàng nông lâm nghiệp và hàng thuỷ sản

có xu hướng giảm đi, ngược lại tỉ lệ thu nhập từ việc XK các hàng công nghiệp nhẹ, hàng thủ công mỹ nghệ lại tăng lên rất đáng kể Đặc biệt là loại hàng may mặc, điện, khoáng sản Hiện nay, CHDCND Lào đang XK chủ yếu một số hàng hoá như: điện, khoáng sản (vàng), hàng may mặc, đường, linh kiện điện tử (phụ kiện máy camera và video), các sản phẩm nông nghiệp như gạo, cà phê, cao su, nông sản chế biến từ ngũ cốc và hoa quả, các sản phẩm từ gỗ

Mặc dù có những biến đổi nhất định về thị trường và các rào cản thương mại sau khi Lào chính thức gia nhập WTO năm 2013 và các Hiệp định thương mại song phương và đa phương, song nhờ điều chỉnh kịp thời, nhiều mặt hàng XK chủ lực đã đạt kim ngạch XK cao, chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch XK của Lào, trung bình giai đoạn 2008 – 2018 các nhóm hàng XK chủ lực chiếm tới hơn 3/4 tổng kim ngạch

XK hàng hóa của Lào Quy mô và tỷ trọng kim ngạch XK một số mặt hàng XK chủ lực của Lào giai đoạn 2008 đến 2018 được thể hiện dưới bảng sau:

Ngày đăng: 24/02/2020, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w