TÓM TẮT LUẬN VĂN Với mục tiêu nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường: Thực
trạng và giải pháp ở Việt Nam
Ngành: Kinh tế quốc tế Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 8310106
Họ và tên: Phạm Trường Long Người hướng dẫn: TS Lý Hoàng Phú
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi
trường: Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam” là đề tài nghiên cứu độc lập của riêng
tôi, được đưa ra dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá các số liệu tại Việt Nam Các số liệu là trung thực và chưa được công bố tại các công trình nghiên cứu
có nội dung tương đồng nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2019
Tác giả
Phạm Trường Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc lòng biết ơn chân thành đến các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Ngoại thương, Phòng Đào tạo và Khoa Sau đại học của trường cùng tập thể các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Lý Hoàng Phú, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2019
Tác giả
Phạm Trường Long
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ vi
TÓM TẮT LUẬN VĂN vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP LIÊN QUAN TỚI MÔI TRƯỜNG 13
1.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 13
1.1.1 Khái niệm 13
1.1.2 Đặc điểm 20
1.1.3 Nội dung 23
1.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến môi trường 30
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến môi trường 30
1.2.2 Nội dung của trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp liên quan tới môi trường 32
1.2.3 Vai trò của trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp liên quan tới môi trường 33
1.3 Một số kinh nghiệm trên thế giới về thực thi các nội dung về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường 39
1.3.1 Tại Mỹ 39
1.3.2 Tại Đức 42
1.3.3 Tại Trung Quốc 42
1.3.4 Tại Thái Lan 43
Kết luận chương 1 44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP LIÊN QUAN TỚI MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 46
2.1 Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam 46
2.1.1 Lịch sử triển khai trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam 46
2.1.2 Cơ sở pháp lý hiện hành cho việc thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam 48
Trang 62.2 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi
trường ở Việt Nam 63
2.2.1 Thực trạng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp về lập và thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường 63
2.2.2 Thực trạng trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường 66
2.2.3 Thực trạng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp về khắc phục sự cố môi trường 68
2.3 Đánh giá thực trạng trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam 71
2.3.1 Kết quả đạt được 71
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 73
Kết luận chương 2 78
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP LIÊN QUAN TỚI MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 79
3.1 Cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam 79
3.1.1 Cơ hội 79
3.1.2 Thách thức 87
3.2 Một số quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước có liên quan đến trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp về môi trường ở Việt Nam hiện nay 89
3.2.1 Liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 90
3.2.2 Liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với môi trường 92
3.3 Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến môi trường 101
3.3.1 Các kiến nghị với nhà nước 101
3.3.2 Các giải pháp cho doanh nghiệp 103
3.3.3 Các giải pháp cho người tiêu dùng 107
Kết luận chương 3 109
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 7
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
10 FDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
14 TNXH của DN Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trang 8Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong đặc điểm TNXH của DN 20
Sơ đồ 1.2: Nội dung các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 24
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Với mục tiêu nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện hoạt động này, tác giả đã chọn đề tài “Trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp liên quan tới môi trường: Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình Trong luận văn tác giả thực hiện nghiên cứu các nội dung sau:
Một là, nghiên cứu khái niệm, đặc điểm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan tới môi trường; Nội dung, vai trò của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường; kinh nghiệm thực thi
ở trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở một số nước
Hai là, nghiên cứu thực trạng cơ sở pháp lý cho việc thực hiện trách nhiệm xã
hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam; Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở Việt Nam; Đánh giá những thành công và hạn chế của việc thực hiện trách nhiễm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Ba là, nghiên cứu cơ hội và thách thức đối với thực hiện trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam; Một số quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam hiện nay; đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong tương lai
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp là trụ cột nền kinh tế, hơn bao giờ hết doanh nghiệp đang có những cơ hội và trách nhiệm chứng tỏ vị thế của mình như một thiết chế kinh tế, một thực thể, một chủ thể quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội,
sự tăng trưởng của đất nước, số lượng việc làm tương đối lớn, tham gia giải quyết những vấn đề của xã hội, đem lại sự thịnh vượng cho xã hội Tuy nhiên, những hành vi kinh doanh thiếu trách nhiệm của doanh nghiệp gây ra những hậu quả như: nguy cơ kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng kinh tế, các quyền lợi của người lao động không được bảo đảm, gian lận kinh doanh, hàng giả, hàng nhái ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng Những hậu quả này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội, môi trường sống của thế hệ sau
mà chúng ta không thể không kiểm soát
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế như hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam phải tìm những hướng đi có tính chiến lược và phát triển bền vững Doanh nghiệp Việt Nam buộc phải đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về quan hệ lao động, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh an toàn lao động và bảo vệ môi trường Những tiêu chuẩn TNXH đó, nếu doanh nghiệp không thực hiện, các đối tác, khách hàng sẽ tẩy chay Hơn nữa, trong quá trình hội nhập kinh tế, các hàng rào thuế quan được bãi bỏ thay vào đó là những hàng rào phi thuế quan như hàng rào kỹ thuật, an ninh con người.Chúng được lập ra nhằm bảo hộ cho hàng hóa nội địa Doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải thực hiện hàng rào đó nếu muốn xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế Vấn đề thực thi TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn
đề môi trường nói riêng là việc rất mới đối với doanh nghiệp Việt Nam, song đây là
xu hướng tất yếu khi Việt Nam bước vào quá trình hội nhập và phát triển kinh tế thị trường Việc thực thi TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng sẽ là một trong những giải pháp giúp các doanh nghiệp Việt Nam thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo dựng uy tín, thiện cảm với đối tác và tạo
ra những sản phẩm có tính cạnh tranh để vươn tới thị trường khu vực và thế giới Các doanh nghiệp Việt Nam chủ động thực hiện TNXH của DN nói chung và
Trang 11TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng sẽ góp phần tạo ra sản phẩm với thương hiệu Việt vươn ra thị trường quốc tế
Mặc dù là quốc gia đi sau trong việc tiếp cận vấn đề TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng nhưng Việt Nam cần hiểu đúng và cập nhật để hội nhập với các tiêu chuẩn về TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng của thế giới, từ đó thực hiện tốt TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng ngay
từ đầu Vì vậy, nghiên cứu TNXH của DN với vấn đề môi trường cấp thiết cả về mặt
lý luận và thực tiễn để doanh nghiệp Việt Nam nhận thức đúng bản chất và thúc đẩy việc thực hiện TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng Việc thực hiện TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng ở Việt Nam đã đạt những kết quả, có hạn chế gì; những cơ hội và thách thức đối với việc
thực hiện TNXH của DN với vấ n đề môi trường ở Việt Nam ra sao; những định
hướng nào cho doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả việc thực hiện TNXH của
DN với vấn đề môi trường trong thời gian tới Trả lời cho những câu hỏi trên có ý nghĩa thực tiễn đối với xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp và phát triền kinh tế của Việt Nam Phát triển kinh tế làm sao phải vừa đạt tốc
độ tăng trưởng bền vững, vừa phải bảo vệ được các lợi ích công cộng và mục tiêu xã hội, môi trường sinh thái
Xuất phát từ vấn đề đó, tác giả đã chọn đề tài “Trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp liên quan tới môi trường: Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từ lâu đã là đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố và
có giá trị thực tiễn cao, dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu:
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Học thuyết về giá trị dành cho các cổ đông (shareholder value theory): Đây
là một học thuyết của Milton Friedman, một nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm
Trang 121970 được đề cập trong công trình “The Social Responsibility of Business is to increase its Profits” (Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gia tăng lợi nhuận), (Milton Friedman, 1970) Trong học thuyết này, Friedman cho rằng, ngoài trách nhiệm pháp lý, TNXH của DN chỉ có thể thực hiện bằng các quyết định nhằm nâng cao khả năng sinh lời cho các cổ đông - những người có quyền sở hữu đối với doanh nghiệp Doanh nghiệp thực hiện những mục tiêu mang tính xã hội là nhằm tạo ra lợi nhuận Nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất hàng hóa và dịch vụ một cách
có lợi nhuận Khi làm việc này, doanh nghiệp đã góp phần phát triển xã hội và như vậy được coi là có TNXH Lập luận của Friedman dựa trên 3 luận điểm sau:
Thứ nhất, người quản lý doanh nghiệp (thành viên Hội đồng quản trị hoặc
Ban giám đốc) là những người đại diện cho chủ sở hữu/cổ đông đứng ra quản lý doanh nghiệp; được bầu ra hoặc được thuê để dẫn dắt doanh nghiệp theo cách mà cổ đông muốn, đa phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt, đồng thời tuân thủ các quy tắc xã hội, về cơ bản, vốn đã được thể hiện trong luật Đó là bản chất vì lợi nhuận (for profit) của doanh nghiệp Nếu nhà quản lý doanh nghiệp hành động một cách “trách nhiệm” bằng việc cắt giảm giá thành sản phẩm của doanh nghiệp để ngăn chặn lạm phát hoặc chi thêm tiền để giảm ô nhiễm môi trường hoặc tuyển dụng người tàn tật làm việc thì điều đó đồng nghĩa với việc tiêu tiền của cổ đông vào những lợi ích của xã hội và cũng có nghĩa làm tăng chi phí kinh doanh Nếu những hoạt động mang tính TNXH làm giảm lợi nhuận và cổ tức thì cổ đông sẽ là người chịu thiệt Nếu giá cả tăng do các hoạt động xã hội đó thì doanh nghiệp sẽ mất khách hàng Nếu khách hàng không chấp nhận giá cao và việc kinh doanh giảm sút thì công việc kinh doanh có thể sẽ không tồn tại và trong trường hợp này thì tất
cả những người có liên quan đến doanh nghiệp sẽ gánh chịu rủi ro Hơn thế nữa,
Friedman cho rằng, khi nhà quản lý doanh nghiệp chuyên nghiệp theo đuổi bất kỳ điều gì ngoài lợi nhuận thì họ đang tự coi mình là những nhà hoạch định chính sách không được ủng hộ Ông đặt ra câu hỏi liệu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thành thạo trong việc ra quyết định xã hội không Những vị đại diện về chính trị được bầu
ra là để đưa ra các quyết định, chính sách Vậy nên, theo Friedman, TNXH duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Luận điểm của Friedman là một “cái
Trang 13phao” giúp các doanh nghiệp biện minh cho hành động không thực hiện TNXH nếu doanh nghiệp chưa thấy cần thiết
Thứ hai, doanh nghiệp vốn là một chủ thể có tư cách pháp nhân, nhưng là
một chủ thể “vô tri, vô giác” do con người tạo ra Do đó, doanh nghiệp không thể tự nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức, vốn chỉ có con người mới có Bởi vì, chỉ
có từng cá nhân con người mới có lương tâm để nhận thức sự việc đúng hay sai
Thứ ba, TNXH thuộc lĩnh vực của nhà nước, là chủ thể cung cấp các dịch vụ
công, vì lợi ích công cộng, phi lợi nhuận Chỉ có nhà nước mới có đủ thông tin để quyết định đúng đắn trong việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả Trách nhiệm của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công nghệ (bởi vì doanh nghiệp là chủ thể vì lợi nhuận duy nhất trong xã hội) đem lại lợi nhuận, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động Trách nhiệm chính của doanh nghiệp là đóng góp thuế và trách nhiệm của nhà nước là làm sao dùng tiền thuế đó hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng Nếu doanh nghiệp cũng thực hiện TNXH thì sẽ có sự trùng lặp
và doanh nghiệp sẽ trở thành người vừa đóng thuế, vừa quyết định việc chi tiêu khoản thuế đó ra sao
Như vậy, học thuyết của Friedman chỉ xem xét TNXH của DN trong mối quan hệ duy nhất: doanh nghiệp - cổ đông, điều này có nghĩa là, những mối quan hệ khác thuộc môi trường bên trong và môi trường bên ngoài doanh nghiệp sẽ bị bỏ qua hay doanh nghiệp không quan tâm đến Doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông, trong khuôn khổ luật chơi của thị trường là cạnh tranh trung thực và công bằng Lợi ích xã hội được đảm bảo một cách tốt nhất gián tiếp thông qua hoạt động kinh tế, cụ thể là việc thu lợi nhuận
và phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp trong phạm vi giới hạn pháp luật kinh doanh cho phép Nếu chỉ nhìn nhận doanh nghiệp hoạt động duy nhất vì lợi nhuận
và việc bù đắp chi phí cho xã hội, cũng như trả tiền cho các dịch vụ công mà doanh nghiệp hưởng lợi đã được thực hiên thông qua khoản thuế mà doanh nghiệp đã
đóng, thì chỉ ngay một vấn đề như ô nhiễm môi trường do doanh nghiệp gây ra, có
thể còn lớn hơn nhiều lần lợi ích nó mang lại cho xã hội từ tiền thuế của mình Với
Trang 14vai trò là một chủ thể trong xã hội, ngay từ đầu doanh nghiệp đã đóng vai trò của một “công dân” trong xã hội với tất cả quyền và nghĩa vụ thích hợp phải có
Học thuyết về sự phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên (Resource Dependence Theory) (Pfeffer and Salancik, 1978) cho rằng: Chủ thể của một tổ chức phụ thuộc
vào môi trường mà nó đang hoạt động Sự tồn tại lâu dài của tổ chức phụ thuộc vào khả năng của nó trong việc quản lý nhu cầu của các nhóm khác nhau, đặc biệt là những nhóm có các nguồn tài nguyên mang tính chất quyết định đối với sự tồn tại của tổ chức Theo học thuyết này, các doanh nghiệp cần phải nhận được sự đồng thuận từ nơi nó đang hoạt động, nhất là sự đồng thuận từ nhóm cung ứng cho doanh nghiệp những nguồn tài nguyên chủ chốt Tiêu chí để đánh giá doanh nghiệp không chỉ liên quan đến tính hiệu quả và khả năng sinh lời của nội bộ doanh nghiệp mà còn là những tiêu chí của những chủ thể bên ngoài quy định cho doanh nghiệp Ví
dụ, doanh nghiệp muốn hiện diện tại một địa phương nào đó để khai thác nguồn tài nguyên tại chỗ, phục vụ cho hoạt động của mình thì họ cần phải có chính sách về nguồn nhân lực tại chỗ, phải xây dựng cơ sở hạ tầng như: đường, trường học, tạm y
tế theo yêu cầu của nhà chức trách địa phương Doanh nghiệp thực hiện TNXH là
để đáp lại sức ép cũng như mong đợi của các tác nhân cung ứng các nguồn tài nguyên phục vụ cho sự tồn tại của doanh nghiệp
Học thuyết về các bên liên quan (stakeholder theory): Tác giả R Edward
Freeman trình bày học thuyết này trong tác phẩm: "Strategic Management: A Stakeholder Approach" (Quản trị chiến lược: Một cách tiếp cận từ các bên liên quan) (R Edward Freeman, 1984) Sau học thuyết của M Friedman, cùng với sự xuất hiện của nhiều trào lưu xã hội, TNXH của DN ngày càng mang tính xã hội hơn Ví dụ, những yếu tố tác động đến môi trường sinh thái do các hoạt động khai thác, chế biến và sản xuất công nghiệp gây ra, cũng như các vấn đề xã hội khác như bảo vệ quyền bình đẳng giới, chống phân biệt đối xử, ô nhiễm môi trường… đã được đề cập Các tác giả thuộc trào lưu này kêu gọi doanh nghiệp giải quyết những lo lắng, quan ngại, những yêu cầu cũng như những yêu sách được đưa ra bởi những cá nhân, nhóm xã hội, cho dù những yêu cầu và đòi hỏi đó lớn hay nhỏ, quan trọng hay không quan trọng, miễn là chúng chính đáng Nói về học thuyết các bên liên quan, E
Trang 15Freeman cho rằng, TNXH của DN không chỉ được xem xét trong mối tương quan giữa doanh nghiệp và cổ đông mà phải được mở rộng sang nhiều mối quan hệ khác Ở đây, doanh nghiệp đóng vai trò làm trung tâm trong tổng thể các mối quan hệ với các đối tác, những bên có liên quan, có tác động hoặc chịu tác động bởi các hoạt động cũng như quá trình ra quyết định của doanh nghiệp Quan điểm của thuyết này cho rằng:
Xã hội là một khái niệm trừu tượng, không cụ thể Điều đó làm cho TNXH cũng trở nên mơ hồ, thiếu thực tế Chắc chắn rằng không ai có thể làm hài lòng tất cả mọi đối tượng trong xã hội; cũng không nhất thiết phải tìm hiểu và thỏa mãn hết mong muốn của mọi đối tượng xã hội khác nhau, kể cả những người không hề có bất kỳ ràng buộc hay cảm thấy có ràng buộc với hoạt động của doanh nghiệp Chỉ những người có liên quan là những đối tượng có lợi ích bị ràng buộc với hoạt động của doanh nghiệp và thực sự quan tâm đến việc bảo vệ lợi ích của họ Họ chính là người đại diện cho toàn thể xã hội trong hoạt động của doanh nghiệp Thuật ngữ các bên liên quan xuất hiện trong hướng tiếp cận chiến lược của doanh nghiệp cũng như trong phân tích mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường mà ở đó doanh nghiệp ra quyết định và tiến hành các hoạt động kinh doanh Theo học thuyết này, quá trình quản trị chiến lược của doanh nghiệp phải xem xét và tính đến những lợi ích, những quan ngại, đòi hỏi của những cá nhân, nhóm xã hội trong môi trường kinh doanh Bất cứ cá nhân hay tổ chức nào có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi hoạt động của doanh nghiệp đều được coi là các bên có liên quan Như vậy, khách thể của TNXH của DN theo cách hiểu của Freeman khá rộng, sẽ có thể tác động lên hoạt động của doanh nghiệp hoặc ngược lại chịu sự tác động từ những hoạt động
đó Nó bao gồm các bên liên quan sơ cấp (là những người, nhóm người có quan hệ hợp đồng trực tiếp với doanh nghiệp: người lao động, người tiêu dùng, nhà cung cấp, cổ đông, các tổ chức tài chính, tín dụng) và các bên liên quan thứ cấp (là những người, nhóm người có quan hệ hợp đồng trực tiếp với doanh nghiệp: các cộng đồng địa phương, các hội hay các tổ chức phi chính phủ…) Doanh nghiệp, khi thực thi TNXH phải xác định một cách đầy đủ những người, nhóm người được coi là các bên liên quan, để từ đó, quan tâm và thỏa mãn những lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ Thực tế cho thấy, việc xác định những bên liên quan của doanh nghiệp sẽ
Trang 16phụ thuộc rất nhiều vào vị thế mà doanh nghiệp đó nắm giữ cũng như vào xã hội mà
ở đó doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình
Thực tế, nếu giả định rằng, lợi ích của các bên liên quan hội tụ với nhau thì tổng lợi ích của các bên liên quan đó cũng không thể tương xứng với lợi ích của xã hội Về mặt quốc gia, nhà nước là chủ thể có vai trò bảo vệ lợi ích chung, nhưng ở tầm quốc tế, quyền lực này thuộc về ai là câu hỏi khó có thể trả lời được bằng lý thuyết của các bên liên quan vì họ cho rằng, vai trò đó được trao cho các doanh
nghiệp đa quốc gia
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Lê Thanh Hà (2009), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt
Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà
Nội Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra bản chất của TNXH của DN, sự cần thiết phải thực hiện TNXH của DN trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đặc trưng của một số bộ quy tắc phổ biến và mức độ tương thích của chúng với pháp luật Việt Nam cũng như chỉ ra điều kiện áp dụng TNXH ở Việt Nam hiện nay Thông qua trình bày một số vấn đề có tính cơ sở lý luận và thực tiễn về TNXH của DN nêu trên, tác giả Lê Thanh Hà đã phân tích, đánh giá việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp ở Việt Nam qua khảo sát 15 doanh nghiệp của 5 ngành kinh tế điển hình và đề xuất các giải pháp thúc đẩy việc thực hiện TNXH của DN tại các doanh nghiệp nói chung Theo tác giả, nếu đặt vấn đề thực thi TNXH của DN chỉ trong điều kiện Việt Nam bắt đầu gia nhập WTO thì chưa đầy đủ Những luận cứ mang tính thực tiễn ở Việt Nam của công trình này giúp tác giả tham khảo để giải quyết nhiệm vụ đặt ra trong chương 2 là đánh giá những thành công và hạn chế trong thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
ở Việt Nam
Nguyễn Đình Tài và cộng sự (2009), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ương, thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ Tăng cường TNXH của DN đối với người
tiêu dùng và đối với môi trường ở Việt Nam vì sự phát triển bền vững Đề tài trên đã
triển khai giải quyết bốn nhiệm vụ chính: Làm rõ cơ sở lý luận, ý nghĩa và vai trò
Trang 17của TNXH của DN đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và đất nước; tìm hiểu và rút ra các bài học về thực hiện TNXH của DN đối với người tiêu dùng
và đối với môi trường ở một số nước; phân tích, đánh giá khái quát thực trạng TNXH của DN đối với lĩnh vực tiêu dùng và trách nhiệm môi trường ở Việt Nam;
đề xuất các giải pháp tăng cường TNXH đối với người tiêu dùng và môi trường nhằm đạt tới mục tiêu phát triển bền vững, hài hòa của nền kinh tế và của chính bản thân doanh nghiệp Kết quả nghiên của đề tài này giúp tác giả luận văn tham khảo
về tiếp cận nội dung TNXH đối với người tiêu dùng và môi trường trong những năm gần đây Đồng thời, những dữ liệu và kết quả đánh giá thực trạng TNXH của
DN đối với hai lĩnh vực trên cũng là tư liệu để tác giả tham khảo nghiên cứu thực trạng thực hiện TNXH của DN liên quan đến môi trường ở Việt Nam hiện nay
Trường Đại học Ngoại thương (2009), cho ra mắt kỷ yếu hội thảo “Trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp và phát triển bền vững” Qua những bài viết trong
hội thảo cho thấy, hiện nay TNXH của DN luôn được gắn liền với phát triển bền vững Các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì không thể thờ ơ với lợi ích cộng đồng, môi trường, người tiêu dùng, người lao động Tập hợp 31 báo cáo của
36 nhà khoa học trong và ngoài trường Đại học Ngoại thương tham gia hội thảo đều bàn luận quanh chủ đề: phải thực hiện TNXH của DN như thế nào để gắn với phát triển bền vững ở Việt Nam, nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam đối với TNXH của DN và sự cần thiết của nó trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung
Viện Khoa học xã hội Việt Nam, năm 2012, đã phối hợp tổ chức tọa đàm
khoa học có chủ đề Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động và đối
với cộng đồng Người lao động, cộng đồng luôn là những đối tượng quan trọng
mà doanh nghiệp cần phải có TNXH Các tham luận tại tọa đàm đã chỉ rõ: TNXH của DN đối với người lao động ở Việt Nam được thể hiện ở hoạt động cụ thể như đào tạo nghề, giải quyết việc làm, đảm bảo điều kiện lao động, chế độ và các khoản phúc lợi… TNXH của DN đối với cộng đồng được thể hiện thông qua hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng, công trình công cộng nơi doanh nghiệp đứng chân, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ các đối tượng thuộc nhóm người dễ bị tổn thương Những số
Trang 18liệu cụ thể có trong các tham luận của toạ đàm này về hoạt động thực thi TNXH của
DN Việt Nam là cơ sở dữ liệu có ý nghĩa để tác giả tiếp cận phân tích, đánh giá khi trình bày chương 2 về thực trạng thực thi TNXH của DN ở Việt Nam
Hoàng Thị Hoa (2016),“TNXH của DN trong điều kiện kinh tế thị trường ở
Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ đại học Kinh tế Quốc dân Nghiên cứu TNXH
của DN là cam kết của doanh nghiệp nhằm mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp
cũng như các đối tác và đối tượng chịu sự tác động của doanh nghiệp theo chuẩn mực đạo đức và pháp luật Sau khi phân tích thực trạng thực hiện TNXH của DN Việt Nam trong điều kiện kiến trúc thượng tầng (KTTT) tác giả đưa 4 phương hướng: nâng cao nhận thức về vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy thực hiện TNXH của DN; thực hiện TNXH phải đồng hành với sự phát triển kinh tế; thúc đẩy việc thực hiện TNXH của DN phù hợp với chuỗi giá trị toàn cầu; gắn việc thay đổi nhận thức về TNXH với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Lê Tuấn Bách (2015),“Cách thức để nhà nước điều tiết hiệu quả trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp” luận văn thạc sĩ đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đã
chỉ ra TNXH là trách nhiệm bắt buộc và trách nhiệm tự thân và khẳng định nhà nước có vai trò rất lớn trong việc điều tiết TNXH của DN một cách phù hợp cần phải dựa trên mối tương quan giữa lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích xã hội
Trên cơ sở tiếp cận một số học thuyết, bài nghiên cứu nêu trên, tác giả có thêm những luận cứ để nhìn nhận TNXH của DN dưới góc nhìn triết học Mục đích kinh tế luôn đóng vai trò quyết định, vì nếu doanh nghiệp không có lợi nhuận thì khó có thể thực hiện được TNXH Nhưng hoạt động TNXH của DN không chỉ bao gồm các hoạt động kinh tế bởi nó luôn đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với sự vận động của xã hội, chịu sự tác động của xã hội Cho nên doanh nghiệp quan tâm đến những vấn đề xã hội chính là thể hiện trách nhiệm đến môi trường hoạt động rộng lớn của mình
Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu riêng về TNXH của doanh nghiệp đối với vấn đề môi trường ở Việt Nam Vì vậy, đề tài nghiên cứu của tác giả có tính mới và ứng dụng thực tiễn
Trang 193 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Thứ nhất, luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về TNXH của DN với vấn đề môi trường qua khái niệm, đặc điểm, nội dung và vai trò của TNXH của DN và TNXH của DN với môi trường; Nghiên cứu những kinh nghiệm thực thi của một số quốc gia trên thế giới về TNXH của DN với môi trường
- Thứ hai, từ các nội dung của TNXH của DN với môi trường luận văn phân tích thực trạng TNXH của DN liên quan tới môi trường ở Việt Nam Tác giả bắt đầu
từ cơ sở pháp lý cho việc thực hiện TNXH của DN với môi trường ở ViệtNam, tiếp đến là thực trạng về lập và thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường của Việt Nam, thực trạng về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và về khắc phục sự cố môi trường ở Việt Nam Tác giá luận văn cũng phân tích những thành công và những hạn chế trong việc thực hiện TNXH của DN với môi trường ở Việt Nam
- Thứ ba, sau khi nghiên cứu về thành công và hạn chế trong việc thực hiện TNXH của DN với môi trường ở Việt Nam luận văn phân tích những cơ hội, thách thức đối và đưa ra kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện TNXH của DN với môi trường ở Việt Nam tầm nhìn đến năm 2030
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường từ đó làm rõ các nội dung cơ bản trong việc thực hiện trách nhiệm
xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam Từ đó làm rõ những kết quả đạt được cũng như những hạn chế và tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế đó
- Đưa ra những kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam, trong bối cảnh có những cơ hội và thách thức mới của doanh nghiệp ở Việt Nam và tuân theo định
Trang 20hướng của Đảng và Nhà nước trong việc thực thi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
TNXH của DN với vấn đề môi trường ở Việt Nam hiện nay Tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng, phân tích, đưa ra những kiến nghị và giải pháp về ba nội dung chính của TXNH của doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam: nội dung thứ nhất là lập và thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường; nội dung thứ hai
là lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; nội dung thứ ba là khắc phục sự cố môi trường
và xu hướng tất yếu của nó Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đối tượng khoảng mười năm trở lại đây Năm 2006 cũng là năm đánh dấu sự gia nhập WTO của Việt Nam, khởi nguồn của trào lưu thực hiện TNXH của DN nói chung và TNXH của
DN với vấn đề môi trường nói riêng) Tuy nhiên các kiến nghị và giải pháp đưa ra trong luận văn có tầm nhìn đến năm 2030
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở phân tích tài liệu trong và
ngoài nước về vấn đề TNXH của DN với vấn đề môi trường, tác giả tổng hợp các kết quả nghiên cứu đó, đưa ra quan điểm, nhận định của tác giả về vấn đề TNXH
Trang 21của DN với vấn đề môi trường ở Việt Nam trên bình diện lý luận và thực tiễn Các tài liệu thứ cấp đó đã giúp tác giả có những dữ liệu minh chứng cho luận điểm dưới góc độ triết học của mình
Phương pháp quan sát: Tác giả luận văn quan sát những động thái của một
số doanh nghiệp trong việc thực hiện TNXH của DN với vấn đề môi trường; cách thức quản lý, xử phạt của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp vi phạm TNXH của DN với vấn đề môi trường; phản ứng của dư luận xã hội đối với hành vi của doanh nghiệp không có TNXH của DN với vấn đề môi trường
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, tóm tắt luận văn, danh mục bảng biểu đồ, sơ đồ, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH
NGHIỆP LIÊN QUAN TỚI MÔI TRƯỜNG 1.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm
Hiện nay có quan điểm phổ biến cho rằng: TNXH DN dùng để chỉ các hoạt động mang tính từ thiện, nhân đạo đơn thuần Quan niệm này chưa đầy đủ và thiếu chính xác, vì những lí do sau: thứ nhất, nó chỉ đề cập đến một loại hoạt động hướng ngoại của doanh nghiệp Nhưng trên thực tế, khi thực hiện TNXH của mình, doanh nghiệp không chỉ hướng ra bên ngoài mà còn hướng đến lợi ích cho chính bản thân
họ thông qua các hoạt hướng đến nâng cao quyền lợi của người lao động, nâng cao năng suất lao động; thứ hai, khi thực hiện các hoạt động nhân đạo, từ thiện doanh nghiệp thường dùng công cụ truyền thông để quảng cáo cho hình ảnh và thương hiệu của họ, các hoạt động này nằm trong kế hoạch marketing của chính doanh nghiệp
TNXH đòi hỏi khả năng nhìn thấy trước và nhận về mình những hậu quả của hành vi Theo Đỗ Hoài Nam: “TNXH là sự ý thức của mọi chủ thể về nghĩa vụ, bổn
phận của mình đối với xã hội, với cộng đồng và với người khác; được biểu hiện thông qua nhận thức và hành động cụ thể trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên Về thực chất, TNXH được hình thành từ quyền và nghĩa
vụ của cá nhân đối với xã hội cũng như của xã hội đối với cá nhân” (Đỗ Hoài Nam, 2011) Cách hiểu trên đã đề cập đến sự nhận thức về bổn phận của chủ thể đối với
xã hội trong mối liên hệ với các chủ thể khác theo lợi ích, nhưng chưa thấy nhận thức và hành động thực thi TNXH là một quá trình Quá trình ấy có những chiều hướng phát triển khác nhau, có khi đối lập nhau
TNXH của DN là một vấn đề được nghiên cứu và phát triển ở các nước phát triển trong một thời gian khá dài Tuy nhiên, về mặt học thuật, khái niệm này đòi hỏi cần có nhiều nghiên cứu, trao đổi, tranh luận để đi đến thống nhất về nội hàm cụ thể
trên cơ sở xem xét TNXH như là một hiện tượng xã hội Từ đó mới có thể khái quát
được phạm vi nội dung TNXH mà doanh nghiệp không thể không thực hiện Năm
1953, Howard R Bowen là người đầu tiên đưa ra khái niệm TNXH của DN trong
công bố Social Responsibility of the businessman (TNXH của giới kinh doanh):
Trang 23“Nghĩa vụ của doanh nghiệp để theo đuổi những chính sách, thực hiện những quyết định, hoặc có chuỗi những hành động được mong đợi phù hợp với mục tiêu và các giá trị của xã hội của chúng ta” (Howard R Bowen, 1953) Do đó, Bowen được coi là
“người khai sinh” khái niệm TNXH của DN Mặt khác, quan niệm này cũng phù hợp với những đặc trưng xã hội, văn hóa và thiết chế của Mỹ Theo đó, cá nhân là trung tâm của tất cả mọi thứ, trách nhiệm chủ yếu thuộc về cá nhân Một cách tổng quát, có
thể tóm tắt quan niệm ở Mỹ về TNXH của DN qua công thức “lợi nhuận trước, bác ái
sau” Khái niệm TNXH của DN mà Bowen xây dựng, thực chất nhấn mạnh đến
trách nhiệm sửa chữa những sai lầm của doanh nghiệp hơn là trách nhiệm dự báo và
có ý thức phòng tránh những thiệt hại có thể xảy ra do tác động và ảnh hưởng của doanh nghiệp tới xã hội
Trong hai công trình của mình: A three-Dimensional Conceptual Model of
Corporate Performmance (Mô hình cấu trúc khái niệm ba khía cạnh của hoạt động
doanh nghiệp) (1979) và Corporate social Responsibility: Evoluation of a definitional
Construct (TNXH của DN: Đánh giá qua cấu trúc định nghĩa) (1991) tác giả Archie
B Caroll, Giáo sư Đại học Georgia hiểu TNXH của DN bao gồm sự mong đợi của xã
hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định Ông đã đưa ra mô hình kim tự tháp TNXH bao gồm 4 lớp: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tự nguyện
Hình vẽ 1.1: Mô hình kim tự tháp
(Nguồn: Archie B Caroll, 1991)
Trang 24Trách nhiệm kinh tế (economic Responsibilities) là sản xuất cho xã hội các
sản phẩm và dịch vụ có giá trị xã hội cao và nhờ đó mà doanh nghiệp có thể hoàn trả các tổ chức tín dụng và các cổ đông Trách nhiệm kinh tế thể hiện qua hiệu quả
và tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ
động cơ tìm kiếm lợi nhuận Trách nhiệm pháp lý (legal Responsibilities) là trách
nhiệm tuân thủ các đạo luật của Nhà nước Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các
quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh
tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá
trị mà xã hội mong đợi ở họ Trách nhiệm đạo đức (ethical Responsibilities) là tuân
thủ những niềm tin và chuẩn mực hành vi được thừa nhận rộng rãi trong xã hội Đó
là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được “mã hóa” vào văn
bản luật Trách nhiệm tự nguyện (discretionary Responsibilities) hay trách nhiệm
nhân văn (philanthropic Responsibilities) là các nghĩa vụ đơn thuần tự nguyện được
doanh nghiệp thực hiện như quyên góp ủng hộ người kém may mắn trong xã hội, đóng góp cho dự án cộng đồng… Caroll sắp xếp trách nhiệm này theo thứ tự ưu tiên Một doanh nghiệp trước hết phải tạo ra lợi nhuận để hoàn thành trách nhiệm kinh tế của mình đối với cổ đông Để tiếp tục tồn tại, doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật, do đó phải hoàn thành các trách nhiệm pháp lý Khi thỏa mãn hai trách nhiệm cơ bản, doanh nghiệp phải tìm cách hoàn thành trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tự nguyện Trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tự nguyện của doanh nghiệp đều không chịu sự ràng buộc pháp lý, song điểm khác biệt giữa hai loại trách nhiệm này là mức độ đáp ứng các chuẩn mực xã hội mong đợi
Caroll là người đầu tiên chia TNXH của DN thành các lớp khác nhau làm cho khái niệm TNXH của DN vượt ra khỏi phạm vi kinh tế vươn tới phạm vi đạo đức Tuy nhiên, trong khái niệm của mình, ông không đề cập quá trình nhận thức của doanh nghiệp về TNXH của DN và mục tiêu TNXH của DN hướng tới lợi ích
xã hội như thế nào Bên cạnh đó, ông cũng chưa đề cập trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của con người
Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) cho rằng, TNXH của DN là
sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững, không chỉ là trách nhiệm
Trang 25của doanh nghiệp trong việc đảm bảo thu nhập cho các cổ đông, lương cho người lao động, sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng mà còn là trách nhiệm đối với các giá trị của xã hội và của môi trường (OECD, 2009)
So với các khái niệm trước đó, quan niệm này về TNXH của DN đã có nội hàm phong phú hơn: Bảo đảm lợi ích kinh tế cho cổ đông, người lao động và trách nhiệm đối với giá trị của xã hội, của môi trường Tuy vậy, khái niệm này chưa được xem xét trong mối quan hệ của doanh nghiệp như là một thiết chế kinh tế, như là một chủ thể xã hội có bổn phận và nghĩa vụ tương ứng các vị thế đó của chính mình
Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài Kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội,
quan niệm rằng: “Ý thức về TNXH trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại giúp cho người ta thấy rằng, thị trường thế giới rộng lớn, đầy tiềm năng trên phạm vi toàn cầu là môi trường vô cùng thuận lợi để kiếm tìm lợi nhuận không chỉ cho riêng mình mà còn cho cả quê hương, đất nước và cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của
xã hội,v.v… Bởi vậy, chỉ những ai biết tôn trọng khách hàng, biết tôn trọng đạo lý
và biết giữ lấy chữ tín làm đầu mới có hy vọng thành đạt trên cả thương trường trong nước lẫn quốc tế Ý thức về TNXH sẽ giúp người sản xuất, kinh doanh tự điều chỉnh các hoạt động sao cho phù hợp với những đòi hỏi của chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực đạo đức để hướng tới cái lợi, cái thiện, cái đẹp Cái lợi chính đáng sẽ càng sinh sôi, nảy nở và được củng cố thêm trên cơ sở cái thiện nhân nghĩa và cái đẹp Trong ý thức và trong sự thực hành thực tiễn trách nhiệm này sẽ không có được sự thống nhất giữa những gì khuyên ta nên làm và những gì ta có bổn phận phải làm” (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2009)
Các nghiên cứu về TNXH của DN làm cho quan niệm về nó được mở rộng phù hợp với điều kiện thực tiễn Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn có nhiều tranh luận liên quan đến quan niệm này TNXH của DN được hiểu như thế nào cho đúng vẫn đang là một câu hỏi chưa có lời giải đáp thống nhất Trên cơ sở phân tích, kế thừa những quan điểm về TNXH của DN của các tác giả, xuất phát từ phân tích khái niệm trách nhiệm và TNXH, tác giả cho rằng:
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là phạm trù phản ánh sự nhận thức và hành động vì mục tiêu lợi ích, giá trị xã hội của một chủ thể doanh nghiệp theo bổn phận là một thành viên xã hội
Trang 26Với khái niệm TNXH của DN như trên, tác giả muốn khẳng định:
TNXH của DN là một hiện tượng xã hội, luôn gắn với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp (TNXH của DN là thuộc tính vận động, phương thức tồn tại của doanh nghiệp): phạm trù này xuất hiện trong đời sống thực tiễn và trở thành cái tất
yếu khách quan đối với sự phát triển của doanh nghiệp Nó xuất phát từ sự phát
triển của chính doanh nghiệp và xã hội vì thế nó vừa là động lực, vừa là mục tiêu
hoạt động của doanh nghiệp theo xu hướng góp phần cải tạo thực tiễn xã hội TNXH được lồng ghép vào chiến lược của doanh nghiệp và trở thành điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tồn tại và phát triển Tính tất yếu khách quan ấy có ý nghĩa phương pháp luận định hướng cho bản thân chủ thể doanh nghiệp, cho chủ thể quản
lý xã hội (Nhà nước) và các chủ thể khác trong xã hội có thái độ và hành động đúng để thúc đẩy TNXH của DN vì sự phát triển của xã hội nói chung Quá trình
ấy là quá trình tự nhiên, tất yếu của hiện thực xã hội Không có doanh nghiệp vận động mà lại không có TNXH và ngược lại không có TNXH của DN lại đứng ngoài
sự vận động nội tại của chính nó Ngay từ khi xã hội loài người biết tổ chức sản xuất ở các hình thức làm ăn sơ khai nhất, TNXH đã hình thành Khi nền kinh tế từng bước đạt tới trình độ sản xuất công nghiệp, thì các doanh nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển xã hội, nhất là khi tri thức khoa học được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất Quá trình vận động của TNXH của DN không tách rời sự ra đời và trưởng thành của doanh nghiệp Vấn đề là doanh nghiệp thực hiện TNXH ở mức độ quy
mô, chất lượng ra sao và mức độ quy mô, chất lượng này phản ánh mức độ phát triển và chỗ đứng của doanh nghiệp trong xã hội đến đâu Như vậy, TNXH vừa là
một trong những thuộc tính vận động, vừa là một trong những phương thức tồn tại
của doanh nghiệp Nếu chỉ quan niệm rằng, có một loại hoạt động mang tính TNXH tồn tại bên cạnh những hoạt động khác của doanh nghiệp là chưa hiểu đúng bản chất hiện tượng này vì như thế nó sẽ được coi là hoạt động “đi kèm”, “song hành” với hoạt động mang tính đặc thù của doanh nghiệp là hoạt động kinh doanh Thuộc tính TNXH này tồn tại ở tất cả các hoạt động của doanh nghiệp: từ hoạt động bảo vệ lợi ích của cổ đông, hoạt động thu mua nguyên vật liệu, hoạt động sản xuất, hoạt động kinh doanh, hoạt động đối với người lao động, khách hàng, hoạt động xã hội vì cộng đồng, hoạt động với môi trường…
Trang 27TNXH của DN là phạm trù phản ánh quá trình nhận thức và hành động của chủ thể doanh nghiệp: TNXH là kết quả của quá trình nhận thức có xu thế phát
triển theo sự phát triển của xã hội, của thời đại TNXH của DN phản ánh khả năng nhận thức và năng lực hành động thực hiện bổn phận, nghĩa vụ của các chủ thể doanh nghiệp trước xã hội, cũng như thái độ dám chịu trách nhiệm về những hành
động của mình và cam kết thực hiện các bổn phận của mình đối với xã hội Chiều
hướng vận động của quá trình thực hiện TNXH của DN tùy thuộc vào khả năng,
năng lực nhận thức và hành động đáp ứng lợi ích, giá trị xã hội Doanh nghiệp có nhận thức và thái độ tích cực sẽ tạo ra chiều hướng tích cực, ngược lại là tạo ra chiều hướng tiêu cực Chỉ có chiều hướng tích cực mới thúc đẩy doanh nghiệp và xã hội phát triển Vì thế, TNXH của DN đòi hỏi chủ thể doanh nghiệp cần có nhận thức vượt ra khỏi những quy định về nghĩa vụ tất yếu tối thiểu của mình để vươn tới những nghĩa vụ không thuộc trách nhiệm bắt buộc, nhưng đang cần doanh nghiệp tham gia với tư cách một chủ thể xã hội để góp phần làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Trách nhiệm đó không phải do mỗi cá nhân, mỗi tổ chức tùy tiện đặt ra,
mà do sự tồn tại, phát triển của bản thân doanh nghiệp và xã hội quy định TNXH
của DN thể hiện sự nhận thức và hành động của doanh nghiệp đối với các bên liên
quan (bao gồm cả xã hội) trong việc giải quyết các vấn đề của chính mình và các
vấn đề của xã hội trên cơ sở quan hệ nhân quả, quan hệ giữa sự “hưởng thụ” và sự
“đáp lại” Sự ứng xử của doanh nghiệp phải mang tính xuyên suốt quá trình hình
thành và phát triển của doanh nghiệp chứ không phải mang tính nhất thời ở một giai đoạn nhất định Sự ứng xử đó thể hiện thông qua việc nhận thức đầy đủ về bổn phận, nghĩa vụ của mình với tư cách người cung ứng sản phẩm đối với người tiêu dùng, với xã hội và thực hiện những bổn phận đó một cách nghiêm túc chủ động, tự giác, theo hướng tích cực như: sử dụng nguyên vật liệu không có hại đến môi trường, không sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ làm nguy hại sức khỏe người tiêu dùng, các sản phẩm làm ra trong điều kiện lao động không bị bóc lột, nhân phẩm của người lao động được tôn trọng, quá trình sản xuất không hủy hoại môi trường, tạo ra sự phát triển chung cho cả xã hội
TNXH của DN là tổng hợp các bổn phận, nghĩa vụ và và sự tuân thủ các bổn phận, nghĩa vụ trên nhiều khía cạnh khác nhau của chủ thể doanh nghiệp vì các
Trang 28mục tiêu xã hội, lợi ích xã hội: những bổn phận, nghĩa vụ đó gắn với những chuẩn
mực nhất định về kinh tế, môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi của người lao động,… Những bổn phận này nảy sinh trước hết trong sự vận động nội tại của bản thân doanh nghiệp và tiếp đó là trong mối quan hệ với xã hội, có thể
do xã hội quy định hay cũng có thể là do chủ thể doanh nghiệp tự đặt ra Vì vậy,
TNXH của DN là trách nhiệm tự thân của doanh nghiệp chứ không chỉ là trách
nhiệm muốn thì thực hiện, không muốn thì thôi Cốt lõi của mỗi doanh nghiệp tự nhận thức và quyết định về hành vi thực hiện TNXH của mình để doanh nghiệp có được lợi ích trong kinh doanh, hướng tới lơi ích xã hội chứ không chỉ là sự ép buộc
từ bên ngoài Tuy nhiên, trong những giai đoạn nhất định nếu chủ thể doanh nghiệp chưa nhận thức được hoặc cố tình vi phạm các trách nhiệm của mình thì chủ thể quản lý xã hội - nhà nước phải có chế tài bắt buộc, cộng đồng xã hội phải có sức ép buộc doanh nghiệp phải thực hiện Điều này cho thấy, yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện TNXH nằm ở sự tự nhận thức và sự chủ động của chủ thể doanh nghiệp chứ không phải trông chờ vào sự tác động từ bên ngoài Hành vi
ra vẻ có trách nhiệm mỗi khi có sự tác động từ bên ngoài chỉ là hành vi có tính đối phó và nhiều khi là sự đánh bóng tên tuổi
TNXH của DN là cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, làm cân bằng, hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội của một doanh nghiệp: hiệu quả sản xuất, kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải
là sự thống nhất giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp là quan trọng và có ý nghĩa quyết định, nhưng hiệu quả xã hội cũng cần được thực hiện và quan tâm đúng mực Xét về một khía cạnh nào đó, hiệu quả kinh tế có thể tính toán, đo lường bằng các số liệu cụ thể qua so sánh giữa các chỉ tiêu kết quả kinh doanh (chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận) với các chi phí mà doanh
nghiệp bỏ ra để đạt được kết quả đó Nhưng hiệu quả xã hội cũng là các chỉ tiêu
phản ánh mối quan hệ so sánh giữa chi phí mà doanh nghiệp lấy từ xã hội với kết quả đạt được từ chi phí đó Nhưng kết quả xã hội trong kinh doanh của doanh nghiệp thì khó có thể tính toán, đo lường bằng các con số cụ thể vì nó có tính trừu tượng, được thể hiện ở nhiều yếu tố xã hội khác nhau Chính tính thống nhất giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội là cơ sở để đánh giá TNXH của DN đối với xã
Trang 29LỢI ÍCH
Động lực thực hiện
TNXH CỦA DN
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Theo sơ đồ 1.1, TNXH của DN có năm đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, TNXH của DN luôn đặt trong quan hệ lợi ích: lợi ích là nguồn gốc
của quá trình vận động của TNXH của DN, là động lực thúc đẩy chủ thể hành động TNXH TNXH của DN là hành động đem lại lợi ích chính của chủ thể doanh nghiệp
và lợi ích xã hội vì nó hướng tới mục tiêu xã hội, giá trị xã hội Mỗi chủ thể có những đặc điểm tâm sinh lý, hoàn cảnh khác nhau, nhu cầu khác nhau và do đó, có lợi ích riêng khác nhau Việc coi trọng nhận thức và ý thức giải quyết một cách thỏa đáng, hợp lý quan hệ lợi ích (trước hết là lợi ích kinh tế giữa các chủ thể) không chỉ tạo nên động lực thúc đẩy các chủ thể trong quá trình thực hiện lợi ích của mình, mà còn làm gia tăng tinh thần TNXH của các chủ thể Nói tới lợi ích xã hội là phải hướng tới hoạt động vì phát triển của con người, vì sự phát triển, tiến bộ của xã hội
Có những hành động không liên quan đến lợi ích bản thân chủ thể, nhưng có ích cho
xã hội, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội thì chủ thể vẫn thực hiện Trong khi thỏa mãn các lợi ích của mình, chủ thể cũng đồng thời thỏa mãn lợi ích của cộng đồng, xã hội Lợi ích và giá trị xã hội là yếu tố nền tảng để doanh nghiệp xác định TNXH của mình Tính xã hội trong TNXH phải được hiểu ở giá trị xã hội do hành
Trang 30động thực thi trách nhiệm mang lại Ví dụ, doanh nghiệp bảo đảm điều kiện và thu nhập từ lao động tốt, cung cấp sản phẩm chất lượng cho người tiêu dùng, biết bảo
vệ môi trường sống… là hàm chứa giá trị xã hội Mỗi cá nhân, tổ chức muốn đạt lợi ích của mình, cách tốt nhất là phải tuân thủ và bảo vệ lợi ích cộng đồng hay nói cách khác, phải có TNXH Nếu lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đối lập hay loại trừ lợi
ích của tập thể, lợi ích xã hội thì sự tồn tại của các chủ thể ấy chẳng khác gì một loại
lực cản trở phát triển và sớm muộn cũng sẽ tiêu vong
Hơn nữa, doanh nghiệp thực hiện TNXH là cách thức giải quyết quan hệ
giữa các lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích xã hội, lợi ích môi trường Trong
quá trình tồn tại và phát triển doanh nghiệp không thể chỉ quan tâm đến lợi ích kinh
tế thuần túy, mà vô tình hay hữu ý lãng quên tính xã hội ngay trong các lợi ích kinh
tế của doanh nghiệp Ngay giá trị xã hội của lợi ích kinh tế của doanh nghiệp đã có quan hệ giá trị với xã hội bên ngoài, vì sự vận động của doanh nghiệp không thể tách rời sự vận động của xã hội Chỉ trên cơ sở giá trị xã hội ấy, doanh nghiệp mới
có thể vươn rộng hơn về quy mô, giá trị TNXH theo vị thế của một chủ thể xã hội Tiếp cận này cũng chỉ ra rằng, sự thực hiện TNXH luôn diễn ra trong mâu thuẫn lợi ích Vì vậy, thực hiện TNXH đến đâu để hài hòa các lợi ích là tùy thuộc vào nhận thức, năng lực và ý thức hành động của từng doanh nghiệp cụ thể
Thứ hai, TNXH của DN mang tính lịch sử cụ thể: thời đại khác nhau, nội
dung, hình thức, quy mô TNXH của DN khác nhau Trong thời kỳ phong kiến, chính trị là công việc của triều đình, nhà vua, còn đại đa số người dân không thể có ý kiến
gì về việc ban hành chính sách cai trị, mà chỉ có bổn phận thực thi Vì thế, người dân
bị hạn chế về chủ động nhận thức và ý thức hành động TNXH, trừ trường hợp khi đất nước bị nạn ngoại xâm thì bổn phận người dân yêu nước mới được thể hiện ở nhiều hình thức trách nhiệm với Tổ quốc Thời đại ngày nay, người dân đã và đang làm chủ bản thân, làm chủ đất nước nên nhận thức và ý thức hành động TNXH ngày một mang tính chủ động hơn, người dân có thái độ tự nguyện tự giác đáp ứng
nhiều yêu cầu, đòi hỏi của xã hội nhằm góp phần đảm bảo cho xã hội duy trì sự ổn
định, phát triển Bản thân tính tự giác và tự nguyện của TNXH lại đậm nét tính thời đại hôm nay Xã hội càng văn minh, tiến bộ thì tính tự giác, tự nguyện càng cao Đồng thời, tính tự giác, tự nguyện cao thì xã hội mới càng văn minh, tiến bộ
Trang 31Thứ ba, quy mô thực hiện TNXH của DN phụ thuộc quy mô của doanh nghiệp: tập đoàn đa quốc gia thể hiện TNXH khác với các DN vừa và nhỏ Tất
nhiên, vấn đề là quy mô TNXH ấy tác động đến xã hội ở mức độ nào (nhiều hay ít), theo chiều hướng nào (tốt hay xấu) Ở Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò không nhỏ trên phương diện góp phần tạo ra nhiều việc làm cho xã hội Ở những giai đoạn phát triển khác nhau, quy mô thực hiện TNXH của DN cũng khác nhau Có thể thời điểm này doanh nghiệp tập trung vào trách nhiệm với người lao động, ở giai đoạn khác doanh nghiệp tập trung vào giải quyết vấn đề môi trường Nếu doanh nghiệp nào có thể thực hiện đồng thời cùng một lúc các trách nhiệm đó thì cần phải được phát huy và tôn vinh
Thứ tư, TNXH của DN gắn với phát triển bền vững: toàn cầu hóa đặt ra
những thách thức về sử dụng các nguồn lực, trong đó, vấn đề cộng đồng xã hội bình đẳng, cùng thụ hưởng lợi ích Tham gia vào quá trình phát triển bền vững, TNXH của DN có vị trí như là một thành tố tất yếu, một động lực khả thi Phát triển bền vững là nhằm mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của toàn thể nhân loại (vật chất và tinh thần), đồng thời bảo tồn những điều kiện tái sản xuất của tự nhiên (sự quan tâm về sinh thái) với những mối quan hệ xã hội, công bằng để đảm bảo sự hòa thuận và sự
cố kết xã hội (những mong đợi về mặt xã hội) Các doanh nghiệp thực hiện TNXH
là đã tự giác tiếp thu các nguyên tắc của sự phát triển bền vững và cố gắng đưa chúng vào trong các chiến lược của mình Những khoản chi phí liên quan đến TNXH là khoản đầu tư mang tính dài hạn, được thực hiện trước, trong và sau khi làm ra sản phẩm chứ không phải là một khoản đóng góp mang tính nhân đạo, từ thiện của doanh nghiệp được trích ra từ lợi nhuận doanh nghiệp sau khi đã bán sản phẩm Tháng 8 năm 2015, Liên hợp quốc đã thông qua 17 mục tiêu toàn cầu về phát triển bền vững giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2030 trong đó có mục tiêu liên quan đến TNXH của DN như: đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh và nâng cao phúc lợi cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi; đảm bảo việc tiếp cận năng lượng với giá cả hợp
lý, tin cậy, bền vững và hiện đại cho tất cả mọi người; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, rộng mở và bền vững, việc làm đầy đủ, năng suất và công việc tốt cho tất
cả mọi người; xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa rộng
Trang 32mở và bền vững, khuyến khích đổi mới; đảm bảo các mô hình tiêu dùng và sản xuất bền vững; có biện pháp khẩn cấp để chống lại biến đổi khí hậu và các tác động của nó; bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và các nguồn tài nguyên biển cho phát triển bền vững; bảo vệ, tái tạo và khuyến khích sử dụng bền vững các hệ sinh thái trên cạn, quản lý tài nguyên rừng bền vững, chống sa mạc hóa, chống xói mòn đất và mất đa dạng sinh học; thúc đẩy xã hội hòa bình và rộng mở cho phát triển bền vững, mang công bằng đến với tất cả mọi người và xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm và rộng mở ở tất cả các cấp; đẩy mạnh cách thức thực hiện
và đem lại sức sống mới cho quan hệ đối tác toàn cầu để phát triển bền vững
Thứ năm, hình thức thể hiện của TNXH của DN đa dạng và phong phú: hình
thức có thể thể hiện qua các tiêu chí đánh giá khác nhau nhằm thực hiện các nghĩa vụ
và sự tuân thủ các cam kết của doanh nghiệp Các tiêu chí này nhằm cụ thể hóa các
chuẩn mực nhất định Các tiêu chí mang tính chuẩn mực này có thể được doanh
nghiệp tự đặt ra hoặc do nhà nước hoặc xã hội quy định đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ nhất định Nó có thể được thể hiện thông qua văn bản riêng biệt hoặc lồng ghép vào các văn bản quản lý của doanh nghiệp Các chuẩn mực đó có thể là: đảm bảo quyền con người; đảm bảo thực hiện tốt các tiêu chuẩn về lao động và môi trường được quy định bởi các Công ước quốc tế và pháp luật của các nước sở tại (thường phải tốt hơn luật); đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên (doanh nghiệp, người lao động, khách hàng, người tiêu dùng, cộng đồng, xã hội); tuân thủ pháp luật các nước sở tại; thực hiện công khai, minh bạch trong thông tin; chống tham nhũng; chống ma túy; thực hiện, kiểm tra, giám sát và công khai thông tin; đảm bảo quan hệ lao động lành mạnh; đảm bảo hệ thống quản lý tốt và hiệu quả
1.1.3 Nội dung
TNXH của DN về môi trường là một nội dung trong nhiều nội dung của TNXH của DN, để thấy rõ các nội dung của TXNH của DN về môi trường, trước hết tác giả phân tích nội dung của TNXH của doanh nghiệp
Trang 33Sơ đồ 1.2: Nội dung các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với vị thế là một thiết chế
kinh tế: dưới góc độ thiết chế kinh tế, TNXH của DN bao gồm: trách nhiệm đóng
góp vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước (trách nhiệm đóng thuế đầy đủ, đóng góp vào sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, tạo việc làm cho xã hội, trách nhiệm phòng chống tham nhũng); trách nhiệm với người lao động nhằm nâng cao chất lượng môi trường lao động và chất lượng sống của người lao động; trách nhiệm với người tiêu dùng (không sản xuất, kinh doanh hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng ảnh hưởng đến người tiêu dùng)
cho xã hội
TN với cộng đồng
xã hội
Phòng chống tham nhũng
THIẾT CHẾ KINH TẾ
TNXH CỦA DN THIẾT CHẾ KINH TẾ
Trang 34Thứ nhất, trách nhiệm đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước: các doanh nghiệp phát huy tốt vai trò làm hạt nhân nòng cốt của mình trong việc đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân được coi như đã thực hiện TNXH của mình Những thành tựu của doanh nghiệp sẽ đóng góp chung vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trong đó mỗi doanh nghiệp chính là những phần tử hạt nhân
+ Trách nhiệm đóng thuế, đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội: doanh nghiệp là chủ thể tạo ra của cải cho xã hội đáp ứng yêu cầu không ngừng tăng lên
và tốt hơn về vật chất và văn hoá của mọi người; góp phần quyết định sức mạnh kinh tế của đất nước; tạo ra nguồn thu nhập cho Nhà nước thông qua việc đóng thuế Như vậy, có thể nói, đóng thuế là trách nhiệm đầu tiên, tối thiểu nhất mà doanh nghiệp cần thực hiện với tư cách là một chủ thể trụ cột tạo ra sự tăng trưởng của nền kinh tế Trách nhiệm này thể hiện qua các hành động cụ thể như định kỳ đóng các loại thuế theo đúng quy định của pháp luật; có chế độ báo cáo minh bạch, trung thực; có chế độ kiểm toán rõ ràng… Tăng trưởng kinh tế là sự biến đổi nền kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng quy mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở
sự tăng lên của sản lượng hàng năm do nền kinh tế tạo ra Đại lượng đo lường sự tăng trưởng kinh tế là: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc dân thuần túy (NNP), thu nhập quốc dân (NI), thu nhập quốc dân sử dụng (NDI) Tổng sản phẩm quốc nội – GDP là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp và cơ bản của nền kinh tế mỗi quốc gia Đó là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ mới được tạo ra trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Vì thế GDP là chỉ tiêu vĩ mô được quan tâm bậc nhất đối với một nền kinh tế và với quốc gia Doanh nghiệp là lực lượng chính đóng góp vào GDP quốc gia Nếu doanh nghiệp thịnh vượng sẽ làm tăng sản phẩm quốc nội và tăng phúc lợi cho toàn xã hội Với vai trò là một thiết chế kinh tế, TNXH của DN chính là bằng các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình hàng năm làm cho tốc
độ tăng trưởng GDP của quốc gia tăng lên
+ Trách nhiệm tạo ra nhiều việc làm cho xã hội: việc làm luôn là vấn đề quan tâm của một quốc gia, là sự sống còn đối với người lao động Việc làm không đúng
Trang 35nhu cầu hoặc không đúng với khả năng của người lao động đều không tạo ra giá trị
cho người lao động Người lao động nếu thất nghiệp sẽ ảnh hưởng không chỉ đến cuộc sống của bản thân họ mà còn đến gia đình họ, trở thành vấn nạn của xã hội Tỷ
lệ tội phạm và tệ nạn xã hội sẽ luôn gia tăng nhanh chóng cùng tỷ lệ thất nghiệp Có hai chủ thể chính tham gia giải quyết việc làm cho người lao động trên thị trường lao động là Nhà nước và doanh nghiệp Sự gia tăng nhanh chóng của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân đã tạo ra nhiều việc làm cho xã hội, góp phần đẩy lùi nạn thất nghiệp và phát triển nguồn nhân lực quốc gia Lao động thất nghiệp tăng tỷ lệ thuận với số doanh nghiệp giải thể, ngưng hoạt động
+ Trách nhiệm phòng chống tham nhũng: để thực hiện hoạt động sản xuất và kinh doanh trung thực, công bằng, công khai, doanh nghiệp cần có cam kết không hối lộ hoặc cho phép người khác thay mặt mình thực hiện hành vi nhận hối lộ để có được lợi thế kinh doanh (không hối lộ cho cá nhân, tập thể liên quan, không nhận hối lộ từ các đại lý, quản lý việc thanh toán hoa hồng) Thiết lập quy trình nhằm phòng tránh các khoản hối lộ trực tiếp, gián tiếp Ngay cả trong những trường hợp khó khăn cũng không thực hiện nguyên tắc trên Thường xuyên cập nhật quy trình
và rà soát các hoạt động để phòng tránh hoạt động hối lộ Truyền thông cho nhân viên và các đối tác về những nguyên tắc đã đề ra Việc đào tạo và truyền thông cho nhân viên và đối tác nhằm phòng ngừa hoạt động hối lộ có thể xảy ra trong quá trình kinh doanh, ảnh hưởng uy tín của doanh nghiệp Công khai minh bạch trong
quản lý các hồ sơ sản xuất, kinh doanh để giải quyết những tình huống liên quan
đến hối lộ
Thứ hai, trách nhiệm đối với người lao động: hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp về thực chất là khai thác và đáp ứng nhu cầu của con người Trong nền kinh tế thị trường, sự phát triển của doanh nghiệp suy cho cùng là do người lao động và khách hàng tạo ra Sự thành bại của doanh nghiệp nói riêng và tổ chức nói chung hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ người lao động Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp này cạnh tranh với doanh nghiệp khác không chỉ ở vốn đầu tư, ở công nghệ hiện đại mà còn ở chất lượng của người lao động Chính sách đãi ngộ, điều kiện
và môi trường làm việc thuận lợi, có văn hóa, có cơ hội nghề nghiệp phát triển tạo ra
Trang 36“sức hút” người lao động giỏi về doanh nghiệp Người lao động gắn bó, yêu thích công việc của mình phần lớn là do điều kiện, môi trường làm việc, chế độ tiền lương, tiền thưởng, chế độ phúc lợi hợp lý Doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu này đồng nghĩa với việc tạo ra đội ngũ người lao động trung thành và phấn đấu hết mình, đồng hành cùng doanh nghiệp Doanh nghiệp thực hiện TNXH sẽ tạo điều kiện cho người lao động phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần do họ được đảm bảo các chế độ, quyền lợi lao động, điều kiện, môi trường lao động Các nội dung chính trong TNXH của DN đối với người lao động bao gồm: trách nhiệm với nâng cao chất lượng môi trường sống của người lao động và trách nhiệm nâng cao chất lượng môi trường lao động
+ Trách nhiệm nâng cao chất lượng môi trường sống của người lao động: Trách nhiệm về chế độ tiền lương, tiền thưởng, các chế độ phúc lợi (BHXH, BHTN, BHYT…), các chế độ khác cho người lao động (hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể): Trong trách nhiệm này, ngoài việc doanh nghiệp cần có lộ trình, chiến lược đãi ngộ rõ ràng với tập thể, từng cá nhân người lao động theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp phải có quy định, quy chế rõ ràng cho lĩnh vực này, công khai cho tập thể người lao động được biết Doanh nghiệp phải trích phần trăm
từ các chế độ này để đóng đầy đủ và đúng hạn cho các cơ quan chức năng theo luật định Người lao động phải được hưởng quyền lợi chính đáng mà doanh nghiệp đã cam kết thực hiện
Trách nhiệm đối với về vấn đề lao động cưỡng bức, việc sử dụng lao động trẻ
em, lao động khuyết tật…: khi đề cập đến vấn đề lao động cưỡng bức, phần lớn các tiêu chuẩn TNXH của DN đều yêu cầu doanh nghiệp phải đảm bảo không sử dụng lao động cưỡng bức như sử dụng tù nhân, ràng buộc người lao động để trừ nợ; bắt người lao động đặt cọc nộp giấy tờ cam kết mới được làm việc Trong các Bộ Quy tắc ứng xử CoC về TNXH đều nhấn mạnh đến những quy định về lao động trẻ em Doanh nghiệp cam kết không được thuê mướn lao động trẻ em hoặc ủng hộ việc sử dụng lao động trẻ em trừ những trường hợp được pháp luật cho phép Với lao động
vị thành niên, doanh nghiệp cũng phải có những biện pháp sử dụng thích hợp Doanh nghiệp không được sử dụng lao động vị thành niên làm việc ở nơi, ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, không an toàn hoặc có hại cho thể chất, tinh
Trang 37thần của trẻ Doanh nghiệp phải thiết lập, viết thành văn bản đảm bảo duy trì và thông tin một cách hiệu quả đến các bên liên quan về chính sách và thủ tục đối với vấn đề lao động trẻ em
Trách nhiệm đào tạo và phát triển người lao động: Doanh nghiệp cần nhận thức được rằng, người lao động là tài sản, nguồn vốn cần được đầu tư và phát triển nhằm tạo sự tồn tại bền vững của doanh nghiệp Kỹ năng của người lao động không chỉ hình thành bằng sự nỗ lực của bản thân người lao động mà còn bởi sự định hướng, đào tạo, phát triển của doanh nghiệp với tư cách là đơn vị sử dụng lao động Nhu cầu được đào tạo về chuyên môn, kiến thức, kỹ năng, thái độ là một nhu cầu cần được doanh nghiệp đáp ứng để người lao động có thể hoàn thành công việc ngày một hiệu quả hơn, đem lại giá trị cho doanh nghiệp nhiều hơn
Trách nhiệm thành lập và đảm bảo hoạt động của tổ chức độc lập đại diện cho quyền lợi của người lao động: Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động được thành lập theo pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước; quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh - kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Ví dụ theo pháp luật Việt Nam, chậm nhất 6 tháng kể từ ngày thành lập và đi vào hoạt động, công đoàn cấp trên phải thành lập tổ chức công đoàn cơ sở để đại diện, bảo vệ quyền lợi của người lao động
+ Trách nhiệm nâng cao chất lượng môi trường lao động: trách nhiệm này liên quan đến việc đảm bảo các điều kiện làm việc, an toàn sức khỏe nghề nghiệp,
an toàn vệ sinh lao động Cụ thể, doanh nghiệp phải cung cấp những điều kiện, trang thiết bị làm việc theo tiêu chuẩn mà pháp luật quy định Doanh nghiệp cần phổ biến kiến thức ngành và các nguy hiểm có thể xảy ra cho người lao động, phải đảm bảo môi trường làm việc an toàn, lành mạnh, vệ sinh để phòng ngừa những tai nạn và thương tích có hại đến sức khỏe của người lao động Doanh nghiệp cần hướng dẫn cán bộ, công nhân viên về an toàn lao động trong sản xuất, có những biện pháp và hệ thống quản lý thích hợp nhằm đảm bảo an toàn cho cán bộ công nhân viên
Trang 38Thứ ba, trách nhiệm với người tiêu dùng:
+ Tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng: người tiêu dùng được hiểu là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch
vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt và sản xuất của cá nhân, gia đình, tổ chức Doanh nghiệp là chủ thể tạo ra của cải, vật chất cho xã hội đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên và tốt hơn về vật chất và văn hóa của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội TNXH của DN là trên cơ sở nguồn lực đầu vào, sản xuất hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nhằm phát triển thị trường hàng hóa góp phần tạo ra sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Trách nhiệm này cụ thể bao gồm: Tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phong phú có tiêu chuẩn về chất lượng nhất định, an toàn với người tiêu dùng Các thông số trên hàng hóa luôn đúng với chất lượng của nó Tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đều chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất ra nó không có TNXH; Các thông tin về quảng cáo sản phẩm phải đảm bảo
độ chính xác cao Cho phép cạnh tranh trong việc sản xuất và phân phối sản phẩm nhưng cạnh tranh phải lành mạnh, công bằng; áp dụng khoa học công nghệ mới để tạo ra sản phẩm Việc thành lập bộ phận nghiên cứu và triển khai là rất cần thiết để tạo ra sự đa dạng của các sản phẩm trên thị trường; Xây dựng sản phẩm có thương hiệu quốc gia và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu…
+ Trách nhiệm sản phẩm: là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng Nó dựa trên nguyên tắc là các nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm, từ cung cấp nguyên vật liệu sản xuất, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, người phân phối sản phẩm, phải đảm bảo an toàn sản phẩm khi đưa vào lưu thông và họ phải chịu trách nhiệm trước bất kỳ thiệt hại nào gây ra cho người tiêu dùng do sản phẩm không đảm bảo mức độ an toàn hợp lý Tuy nhiên, trong nền kinh
tế hàng hóa, khi người sản xuất không đồng thời đóng vai trò là người bán, trực tiếp thực hiện việc bán hàng cho người sử dụng, xuất hiện những khâu trung gian thực hiện hoạt động thương mại sẽ rất khó khăn cho người tiêu dùng xác định chủ thể phải bồi thường Trách nhiệm này ở mỗi quốc gia quy định khác nhau
- Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể
xã hội: Trách nhiệm bảo vệ môi trường là một yếu tố không thể thiếu cấu thành
Trang 39TNXH của DN Doanh nghiệp và môi trường luôn có mối quan hệ với nhau, vì doanh nghiệp sử dụng nhiều nguồn lực tài nguyên thiên nhiên đồng thời xả thải vào môi trường lớn nhất Thực thể doanh nghiệp đang hoạt động trong môi trường và sử dụng các nguyên vật liệu thô, năng lượng và nước Trong quá trình đó, hoạt động của doanh nghiệp có thể tạo ra khí thải và chất thải Tình trạng khai khác khoáng sản bừa bãi làm cho tài nguyên quốc gia kiệt quệ; việc khai thác rừng bất chấp trách nhiệm bảo vệ nguồn nước gây lũ lụt hạ lưu, hạn hán đầu nguồn; hiện tượng xả khí thải, nước thải chưa xử lý ra môi trường của các doanh nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, hủy diệt môi trường sống Con người sớm hay muộn sẽ bị
tự nhiên “trả thù”, “hủy diệt”, mà nguyên nhân do con người là thủ phạm đích thực gây ra, phá hoại sự toàn vẹn của hệ sinh thái, đe dọa cuộc sống của chính con người
Vì thế, suy cho cùng, TNXH của DN với môi trường là trách nhiệm với chính doanh nghiệp Những hành vi coi thường thiên nhiên, coi thường pháp luật, thiếu đạo đức trong thực thi TNXH nói trên, có nguyên nhân là do các chủ thể đã đặt lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm lên trên lợi ích quốc gia và nhân loại Vì vậy, doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ các trạng thái trước và sau quá trình sản xuất kinh doanh Tất cả các nguyên liệu thô đều có nguồn gốc nhất định nên nó phải được kiểm soát, những sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra có thể gây hại tới con người và môi trường khi chúng được sử dụng hoặc vứt bỏ, do vậy doanh nghiệp phải tính toán kỹ trước khi áp dụng sản xuất Những tác động đến môi trường, ngay cả tác động mang tính tiềm ẩn mà doanh nghiệp không hề biết, thì doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm
1.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến môi trường
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến môi trường
UNESCO đã đưa ra định nghĩa về môi trường như sau: “môi trường được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người" (Tuyên ngôn của USNESCO, 1981) Việc thực hiện trách nhiệm xã hội với
Trang 40môi trường sẽ giúp các doanh nghiệp phát triển bền vững, thông qua các hoạt động như tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm, tái chế chất thải, tiết kiệm tài nguyên… Trong lĩnh vực môi trường, doanh nghiệp phải có trách nhiệm với các tác động tới môi trường và cuộc sống cộng đồng, thông qua các hành
vi kiểm soát ô nhiễm và xử lý, tái chế chất thải, tiết kiệm tài nguyên Đặc biệt, nếu doanh nghiệp tuân thủ pháp luật môi trường, sẽ đạt được nhiều lợi ích thiết thực
Vì vậy, có thể hiểu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến môi
trường là phạm trù phản ánh sự nhận thức và hành động vì mục tiêu lợi ích, giá trị
xã hội liên quan đến môi trường của một chủ thể doanh nghiệp theo bổn phận là một thành viên xã hội
Ngoài những đặc điểm chung của TNXH của DN, TNXH của DN liên quan tới môi trường có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, việc thực hiện TNXH liên quan tới môi trường được điều chỉnh
bằng Luật pháp về môi trường của các quốc gia; những quy tắc, chuẩn mực, quy định chung, cam kết chung trên phạm vi quốc tế Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ có những quy định, chuẩn mực riêng để bảo vệ môi trường, để điều chỉnh hành vi, trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường; Trong phạm vi khu vực, quốc tế các
tổ chức sẽ có đưa ra những quy tắc, chuẩn mực riêng về môi trường, nghĩa vụ bảo
vệ môi trường, phát triển bền vững cho các doanh nghiệp của các nước thành viên khi hoạt động
Thứ hai, TNXH của DN liên quan tới môi trường phụ thuộc vào lĩnh vực
họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các hoạt động của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, công nghiệp chế biến sẽ có nguy cơ lớn ảnh hưởng xấu đến môi trường; các hoạt động trong ngành nông nghiệp, ngành dịch vụ có ít tiềm ẩn hơn gây hại cho môi trường Vì vậy, trách nhiệm xã hội với môi trường của doanh nghiệp trong các ngành nghề hoạt động khác nhau có nhiều điểm khác nhau
Thứ ba, TNXH của DN liên quan tới môi trường phụ thuộc vào địa điểm hoạt
động của doanh nghiệp Với những thuộc tính khác nhau của địa điểm hoạt động như: