Bên cạnh việc gia tăngsản xuất, phát triển ngành chăn nuôi, bảo vệ môi trường cũng tiến hành songsong nhằm đảm bảo và nâng cao phát triển bền vững toàn tỉnh.Vì vậy, với mục tiêu nâng cao
Trang 1Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người.Chăn nuôi lợn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, chẳng hạn nhưchế biến thịt xông khói hay thịt hộp, giò nạc, giò mỡ, thịt heo xay và các món ăntruyền thống khác Chăn nuôi lợn tạo ra nguồn nguyên liệu cho y học trong côngnghệ sinh học y học, lợn đã được nhân bản gen (cloning) để phục vụ cho mụcđích nâng cao sức khỏe cho con người Chăn nuôi lợn không chỉ là nguồn cungcấp thực phẩm chủ yếu cho tiêu dùng trong nước, mà sản phẩm thịt lợn còn lànguồn thực phẩm xuất khẩu đem lại giá trị cao Đối với nhiều vùng nông thôn,đặc biệt là trong xu thế phát triển nền nông nghiệp hữu cơ sinh thái, chăn nuôilợn còn góp phần tạo ra nguồn phân bón hữu cơ quan trọng cho sự phát triển củangành trồng trọt, góp phần cải tạo đất, cải tạo môi trường sinh sống cho các visinh vật đất.
Cùng với sự phát triển ngành chăn nuôi lợn nước ta và hiệu quả kinh tế cao, ởnhiều tỉnh, thành chăn nuôi lợn nhiều chăn nuôi lợn đã dịch chuyển sang hướng
Trang 2tập trung công nghiệp, trang trại lớn và hộ chuyên nghiệp đặc biệt là tiên phongcho quy mô chăn nuôi tập trung này là tỉnh Nam Định Bên cạnh việc gia tăngsản xuất, phát triển ngành chăn nuôi, bảo vệ môi trường cũng tiến hành songsong nhằm đảm bảo và nâng cao phát triển bền vững toàn tỉnh.
Vì vậy, với mục tiêu nâng cao phát triển bền vững toàn tỉnh, nhiệm vụ đặt ra: “thực trạng công tác bảo vệ môi trường tại các trang trại chăn nuôi lợn tập trungtrên địa bàn tỉnh nam định”
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1Quy mô, vị trí tỉnh Nam Định.
Nằm ở trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng; tỉnh Nam Định có tiềmnăng, lợi thế rất lớn chưa được khai thác hết cho đầu tư phát triển sản xuất, kinhdoanh, đặc biệt là: Lợi thế về nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, được đào tạo cơ bản,
có chất lượng cao Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông mới được đầu tư kháđồng bộ, giúp rút ngắn khoảng cách và thời gian đi đến thủ đô Hà Nội cũng nhưcảng biển cửa ngõ quốc tế Hải Phòng chỉ còn khoảng 1 giờ đồng hồ Hạ tầngđiện lực có công suất nằm trong Top dẫn đầu cả nước, luôn sẵn sàng đáp ứng tốtcho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Vùng kinh tế biển củatỉnh rất giàu tiềm năng về phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ và
hạ tầng đô thị Tỉnh luôn đảm bảo an ninh, an toàn cho các nhà đầu tư trong vàngoài nước Nam Định nằm ở phía Nam vùng đồng bằng sông Hồng, ở tọa độ19o54’ đến 20o40’ vĩ độ Bắc và từ 105o55’ đến 106o45’ kinh độ Đông NamĐịnh tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh
Hà Nam ở phía Tây Bắc, giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía Đông
Theo báo cáo của các địa phương, toàn tỉnh có 2763 trang trại và gia trạichăn nuôi lợn Chăn nuôi gia cầm có 456 trang trại, gia trại với quy mô nuôi hơn1,15 triệu con/năm; chăn nuôi trâu bò có 55 trang trại, gia trại Tuy nhiên chănnuôi nhỏ theo phương thức tận dụng trong nông hộ còn chiếm tỷ trọng lớn (có95.8% số trâu bò, 80.89% đàn lợn và 71.5% tổng đàn gia cầm được chăn nuôitheo quy mô hộ)
Trong 26515 trang trại nuôi lợn thì có : 195632 hộ nuôi từ 1 đến 9 con ,
6325 hộ nuôi từ 10 đến 29 con , 546 hộ nuôi từ 30 đến 99 con , 75 hộ nuôi từ
100 đến 299 con , 38 hộ nuôi từ 300 con trở nên Các hộ có quy mô lớn nuôi từ
1000 con trở nên thì có 132 hộ, tỷ trọng so với cả nước 0,7 %
Trang 4Trên đàn lợn, hiện nay chủ yếu là các giống lợn ngoại, lợn lai (lai giữa lợnngoại với lợn nội với tỷ lệ máu ngoại 1/2, 3/4, 7/8), trong đó lợn ngoại chiếmkhoảng 32%, lợn lai chiếm 66,5% Rất nhiều giống gia cầm lông màu bản địa đãđược khôi phục, phát triển mạnh mẽ nhờ năng suất, chất lượng vượt trội.
Những năm qua, phương thức chăn nuôi đã có sự chuyển biến tích cực từchăn nuôi nhỏ lẻ, tận dụng trong khu dân cư sang chăn nuôi gia trại, trang trạitập trung, công nghiệp, sản xuất theo hướng hàng hoá Toàn tỉnh hiện có 139trang trại chăn nuôi, trong đó có 56 trang trại chăn nuôi gia cầm, 83 trang trạichăn nuôi lợn
Trên địa bàn tỉnh đã có 50 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm theohướng ứng dụng công nghệ cao như công nghệ chuồng lồng, chuồng kín với hệthống làm mát, máng ăn, máng uống, vệ sinh tự động, trong đó có 1 cơ sở chănnuôi đã thực hiện tự động hóa toàn bộ quá trình sản xuất; 4 cơ sở chăn nuôi đãứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đàn giống
Chăn nuôi Bắc Ninh cũng hình thành một số mô hình liên doanh, liên kếttrong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi như: Hợp tác xã, câu lạc bộ, chănnuôi gia công Hiện trên địa bàn tỉnh có 11 HTX dịch vụ chăn nuôi và câu lạc bộchăn nuôi; 18 trang trại chăn nuôi gia công cho các doanh nghiệp
Hiện trên địa bàn tỉnh Nam Định hầu hết các trang trại chăn nuôi gia súc,gia cầm đều đã áp dụng công nghệ chuồng kín, máng ăn và nước uống tự động,trong đó có 1 cơ sở chăn nuôi đã thực hiện tự động hóa toàn bộ quá trình sảnxuất, các cơ sở chăn nuôi đã ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đàngiống
1.2 Khái lược tình hình chăn nuôi tại tỉnh Nam Định.
Nam Định là tỉnh thuộc duyên hải Bắc Bộ, đa số nông dân thu nhập chủ yếudựa vào sản xuất nông nghiệp và thủy sản Những năm gần đây, chăn nuôi của
Trang 5Nam Định có tốc độ phát triển khá nhanh Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn năm 2017, hàng năm địa phương sản xuất khoảng 140nghìn tấn thịt các loại Với tổng đàn lợn khoảng 783.491 con; gia cầm khoảng7,3 triệu con; trâu, bò khoảng 39.634 con, chất thải của gia súc, gia cầm khoảngtrên 1,5 triệu tấn/năm Phần lớn chất thải được sử dụng làm phân bón hữu cơ,một phần làm thức ăn cho cá, một phần được xử lý bằng bể biogas.
Hình 1: Trang trại chăn nuôi lợn đạt chuẩn VIETGAP
Trong những năm qua, chăn nuôi ở Nam Định đạt nhiều kết quả quan trọng,góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân Tuy nhiên, chăn nuôi tạitỉnh chủ yếu phân tán trong khu dân cư, các trang trại chăn nuôi quy mô nhỏphát triển tự phát, chưa có qui hoạch đồng bộ, xây dựng ngay trong vườn nhà,trong thôn xóm, đặc biệt là người chăn nuôi chưa nhận thức đúng và chưa quantâm đến xử lý chất thải chăn nuôi, bảo vệ môi trường tự nhiên Mặc dù, trongnhững năm gần đây, có nhiều dự án đầu tư cho lĩnh vực môi trường trong chănnuôi như dự án khí sinh học do Hà Lan tài trợ, chương trình mục tiêu Quốc gia
về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhưng tình trạng ô nhiễm môitrường trong chăn nuôi vẫn còn là những vấn đề cần được quan tâm Kết quảkhảo sát, đánh giá hiện trạng quản lý môi trường tại Nam Định sẽ là cơ sở đềxuất những giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi
Trang 6hộ gia đình và trang trại nhỏ tại đây Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đánh giá:Hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại các trang trại chăn nuôi lợn tập trungtrên địa bàn tỉnh Nam Định
1.3 Khái lược công tác bảo vệ môi trường trong chăn nuôi tại tỉnh Nam Định
Trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Nam Định, lĩnh vực chănnuôi chiếm gần 40% Các đối tượng chính tham gia vào ngành chăn nuôi củatỉnh là trâu, bò, gia cầm, lợn Trong hoạt động chăn nuôi, trên địa bàn tỉnh NamĐịnh có khoảng 138 trang trại, gia trại chăn nuôi lợn, trâu, bò gia cầm, theo sốliệu thống kê, hiện nay lượng rác thải phát sinh trong toàn tỉnh ước tính khoảng
880 tấn/ngày, trong đó thành phố Nam Định là 220 tấn/ngày và 9 huyện còn lại
là 660 tấn/ngày trong đó 02 cơ sở có Báo cáo đánh giá tác động môi trường/đề
án bảo vệ môi trường chi tiết, và là trang trại chăn nuôi đã hoàn thành xử lý ônhiễm môi trường triệt để và được cấp giấy chứng nhận VietGAHP là trang trạichăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm của ông Nguyễn Văn Công, xã Hải Xuân(Hải Hậu) với quy mô 21 nghìn con và trang trại nuôi lợn của ông Nguyễn VănThọ, Thị trấn Rạng Đông (Nghĩa Hưng); 16 cơ sở có Cam kết bảo vệ môitrường, đề án bảo vệ môi trường đơn giản và 07 cơ sở chưa có hồ sơ về môitrường
Đối với lượng chất thải chăn nuôi được sử dụng làm phân bón, việc xử lýchất thải có sự khác nhau theo quy mô chăn nuôi Với quy mô chăn nuôi trangtrại thì việc xử lý chất thải chăn nuôi được coi trọng hơn, còn tại các hộ chănnuôi nhỏ lẻ gắn liền với sản xuất nông nghiệp thì chất thải chăn nuôi chủ yếuđược vận chuyển trực tiếp từ chuồng nuôi ra ngoài đồng bón cho cây trồng, làmthức ăn cho cá Ngoài ra, chất thải chăn nuôi được xử lý bằng các biện pháp chủyếu như công nghệ khí sinh học (biogas), ủ phân compost, làm thức ăn cho thủysản, làm phân bón trực tiếp cho cây trồng,…
Trang 7Để phát triển chăn nuôi bền vững, hiệu quả, thân thiện với môi trường, SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đã tham mưu giúp UBND tỉnh chỉ đạocác ngành, các địa phương triển khai thực hiện nhiều giải pháp như: xây dựngquy hoạch chăn nuôi; áp dụng biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, thực hànhchăn nuôi tốt VietGAP; sử dụng các chế phẩm sinh học trong việc xử lý chất thảikhử mùi hôi chuồng trại và xây dựng bể biogas, vừa đảm bảo vệ sinh môitrường, vừa cung cấp chất đốt phục vụ sinh hoạt Qua triển khai thực hiện, đếnnay đã có nhiều hộ chăn nuôi trang trại, gia trại có biện pháp xử lý chất thải nhưxây bể biogas (khoảng 10.000 bể), hố ủ phân, áp dụng biện pháp chăn nuôi antoàn sinh học… nên đã giảm thiểu đáng kể ô nhiễm môi trường, nhất là khu vựcnông thôn.
Điểm đáng chú ý, trong quy hoạch vùng chăn nuôi gia súc gia cầm, toàntỉnh đã quy hoạch được 139 vùng chăn nuôi tập trung tại các xã thuần nông, nhưhuyện Hải Hậu 28 xã, huyện Giao Thủy 19 xã, huyện Ý Yên 20 xã,… Một sốvùng có trang trại hạt nhân làm đầu mối liên kết với doanh nghiệp, sản xuất,cung ứng con giống, bao tiêu sản phẩm cho các trang trại và gia trại trong xã vàđang từng bước gắn với truy xuất nguồn gốc sản phẩm Hiện, hầu hết các xã đã
có quy hoạch nông nghiệp, trong đó có quy hoạch phát triển chăn nuôi trang trạitập trung ngoài khu dân cư Việc đưa chăn nuôi tập trung ra khu riêng tạo điềukiện thuận lợi cho việc xử lý môi trường; hạn chế phát sinh dịch bệnh, bảo đảmhiệu quả chăn nuôi và bảo vệ môi trường sống cho cộng đồng dân cư
Với bối cảnh Nam Định là 1 trong 10 tỉnh tham gia Dự án Hỗ trợ nôngnghiệp các bon thấp giai đoạn 2013 - 2018, địa phương đã hỗ trợ người chănnuôi xây dựng được khoảng 2.000 công trình khí sinh học quy mô nhỏ Trong
đó, đã lồng ghép việc quản lý toàn diện chất thải chăn nuôi và bảo vệ môi trườngvới nội dung hướng dẫn vận hành công trình khí sinh học cho hơn 2.000 chủ
Trang 8trang trại, gia trại chăn nuôi, góp phần quan trọng trong việc nâng cao ý thức củangười dân về bảo vệ môi trường.
Để đạt được kết quả trên, địa phương đã đẩy mạnh các hoạt động khuyếnnông, khuyến ngư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân và ápdụng những mô hình mới thân thiện với môi trường Sản xuất theo quy trình antoàn trong chăn nuôi là hướng đang được ngành nông nghiệp khuyến khích ápdụng rộng rãi (mô hình chăn nuôi gia súc gia cầm theo hướng an toàn sinh học,VietGAP,…) Đây là những mô hình chăn nuôi bền vững, bảo vệ môi trường vàmang lại hiệu quả cao cho người sản xuất
Tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn nông dân sử dụng các chếphẩm sinh học, hạn chế dùng hóa chất hoặc thuốc kháng sinh trong chăn nuôi.Hướng dẫn người dân thu gom, xử lý hợp vệ sinh đối với các loại chất thải chănnuôi nhằm giảm ô nhiễm môi trường Đã xây dựng quy hoạch các điểm giết mổgia súc gia cầm tập trung đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Đẩy mạnhcông tác thanh tra, kiểm tra, xử lý kịp thời những vi phạm trong việc thực hiệncác quy định của pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thức ăn chăn nuôi
Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường trong chăn nuôi ở một số địaphương trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức Tình trạng phát triển chănnuôi thiếu quy hoạch dẫn tới ô nhiễm môi trường xảy ra ở một số nơi Quyhoạch vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung ở một số xã, thị trấn còn bấtcập, thiếu hệ thống thu gom và xử lý chất thải Chưa làm tốt việc thu gom, xử lýrác thải ở nông thôn Những tồn tại nêu trên đã gây ra ô nhiễm môi trường đất,nước, không khí, ảnh hưởng xấu tới phát triển kinh tế - xã hội và sức khỏe cộngđồng
Chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm khoảng 70% (trên 70.000 hộ) số hộ chănnuôi toàn tỉnh, do vậy các cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ chủ yếu vẫn nằm trong khu dân
cư và hệ thống xử lý chất thải còn khá thô sơ, điều này dẫn đến tình trạng ô
Trang 9nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của vật nuôi và con người Cáctrang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn hầu hết có hệ thống xử lý chất thải vớicác loại công nghệ khác nhau, nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để Việc ban hànhcác văn bản quy định và hướng dẫn bảo vệ môi trường trong chăn nuôi còn hạnchế, đồng thời công tác triển khai, giám sát, thanh kiểm tra và đánh giá môitrường chưa được quan tâm đúng mức…
Nhìn chung, trong những năm qua, các ngành chức năng đã tăng cườngcông tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệmôi trường trong lĩnh vực chăn nuôi, góp phần tích cực bảo vệ sản xuất, chấnchỉnh những sai sót, vi phạm trong công tác bảo vệ môi trường Để đẩy mạnhphát triển chăn nuôi gắn với bảo vệ môi trường trong thời gian tới, địa phương
đã xác định tiếp tục hoàn thiện các quy hoạch nông nghiệp, nông thôn gắn vớiviệc bảo vệ môi trường Phát triển sản xuất nông nghiệp và ngành nghề theo cácquy hoạch đã được phê duyệt
Tăng cường áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới trongchăn nuôi để hạn chế, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo ra các sản phẩm sạch,chất lượng cao và giảm phát thải các khí độc gây ô nhiễm môi trường Có cácgiải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn Từngbước xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn Phát huyvai trò chủ thể của cộng đồng dân cư cùng với tăng cường các biện pháp quản lý
và chế tài xử phạt nhằm hạn chế hoạt động gây ô nhiễm môi trường nông thôn
Xây dựng quy chế hương ước làng xã đối với công tác bảo vệ môi trường
Áp dụng các biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi; tăng cường tuyên truyền,giáo dục ý thức bảo vệ môi trường Quy hoạch và di chuyển trang trại chăn nuôi,các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư Xây dựng cơ chếchính sách khuyến khích các tổ chức cá nhân làm tốt công tác bảo vệ môi trườngnông nghiệp gắn với triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới
Trang 11CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các biện pháp quản lý, bảo vệ môi trường trong chăn nuôi gia súc, giacầm qui mô trang trại tại tỉnh Nam Định
- Địa điểm nghiên cứu: Khảo sát hiện trạng quản lý, công tác bảo vệ môitrường trong chăn nuôi tại các trang trại chăn nuôi tập trung, tỉnh Nam Định
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Lập mẫu phiếu điều tra xác định các thông tin điều tra, điều tra 40 trangtrại chăn nuôi tập trung trên địa bàn tỉnh Nam Định
Tổ chức các nhóm khảo sát thu thập tài liệu tại cấp tỉnh, huyện, xã
- Khảo sát cấp tỉnh: Thu thập tài liệu, thông tin về chủ trương, định hướng,các chính sách về quản lý môi trường chăn nuôi tại các cơ quan: Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Khuyến nông,Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn
- Khảo sát cấp huyện: Chọn 1 huyện có chăn nuôi phát triển và tình trạng
ô nhiễm môi trường đang ngày gia tăng để thu thập các tài liệu về hiện trạngquản lý môi trường trong chăn nuôi, các loại hình chăn nuôi Thu thập thông tintại phòng khuyến nông, phòng kinh tế (Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn)
- Khảo sát cấp xã: Chọn một xã đại diện cho huyện để thu thập các tài liệu
về tình hình ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi, phỏng vấn cộng đồng để đánhgiá nhận thức và khả năng tham gia của cộng đồng trong quản lý môi trườngchăn nuôi
2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin
Trang 12Thu thập số liệu có sẵn từ sách báo, tạp chí khoa học, các đề tài nghiêncứu có liên quan Các thông tin sau khi thu thập, được xử lý bằng phần mềmExcel và tổng hợp bằng phương pháp phân tổ thống kê.
Trang 13III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả điều tra hiện trạng chăn nuôi lợn tập trung
3.1.1 Loại hình chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Nam Định
Chăn nuôi lợn là một trong những thế mạnh của tỉnh, luôn ở vị trí số mộttrong sản xuất nông nghiệp về quy mô, giá trị và sản lượng Trong đó sản lượngthịt lợn hơi luôn chiếm 80-85% tổng sản lượng thịt hơi các loại Hiện tại trên địabàn toàn tỉnh Nam Định có 3 loại hình chăn nuôi chủ yếu được phân loại: quy
mô hộ gia đình, trang trại quy mô vừa và lớn, và chăn nuôi nhỏ lẻ
81.87%
18.13%
0.00%
LOẠI HÌNH CHĂN NUÔI
Quy mô hộ gia đình Trang trại quy mô vừa và lớn Chăn nuôi lẻ
Hình 2 Loại hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Nam ĐịnhQua điều tra và khảo sát loại hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Nam Định chothấy, loại hình chăn nuôi theo quy mô trang trại vừa và lớn chiếm ưu thế hơn(82%) do tình hình giá cả thức ăn, con giống liên tục tăng cao, giá sản phẩm đầu
ra nhiều thời điểm xuống quá thấp, đã ảnh hưởng lớn đến phát triển đàn lợn củatỉnh Phát triển chăn nuôi lợn theo hướng hàng hóa, mang tính bền vững là vấn
đề cấp thiết trong thực hiện đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của tỉnh Ápdụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ vào chăn nuôi, đưa con
Trang 14giống chất lượng cao, thức ăn công nghiệp… vào sản xuất nên đã giảm thời giannuôi, tăng số lứa/năm, do vậy sản lượng thịt luôn luôn tăng qua các năm pháttriển nền kinh tế chung toàn tỉnh.
3.1.2 Mức độ xử lý chất thải chăn nuôi ở Nam Định
Khi ngành chăn nuôi của tỉnh phát triển mạnh theo xu hướng trang trại,gia trại, vấn nạn ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi ngày càng phức tạpảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của người dân khu vực quanh trang trại, gâykhó khăn trong quản lý của các cấp chính quyền địa phương Nhằm xử lý triệt đểchất thải chăn nuôi, tỉnh Nam Định đang hỗ trợ các trang trại trong tỉnh thựchiện các mô hình khắc phục nhằm thúc đẩy bảo vệ môi trường
Khối lượng (tấn/năm) Tỷ lệ được xử lý (%)
Nước thải gia súc 7.3 trieu m3/nam 70%
Bảng 1 Mức độ xử lý chất thải chăn nuôi ở Nam ĐịnhĐối với phân gia súc: Xử lý bằng biogas chiếm 23,3%, Ủ phân khô:16,5%; sử dụng phân tươi trong nông nghiệp do các thương lái thu mua: 12%,không xử lý thải vào môi trường: 48,3 %
Đối với nước thải gia súc: Xử lý bằng biogas chiếm 61,1%; trong NamĐịnh, có 1 hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi tập trung công suất 300 m3 /ngàyđêm, mức đầu tư lên tới 7 tỷ đồng cho các trang trại với quy mô vừa và lớn,chưa xử lý chiếm 39,9%
3.2 Thực trạng công tác bảo vệ môi trường tại các trang trại lợn chăn nuôi tập trung
3.2.1 Thực trạng môi trường nước thải tại các trang trại lợn chăn nuôi tập trung
Trang 15Có 30/40 trang trại lợn có hệ thống xử lý nước thải sơ cấp, trong đó chỉ có07/30 trang trại có hệ thống xử lý kết hợp hóa học và vi sinh hoặc bổ sung thêmbiện pháp xử lý bổ sung ngoài hầm biogas và hồ sinh Hệ thống bể lắng gồm 4ngăn, đặt trước bể bi-ô-ga, mỗi ngăn bố trí ống hút dích dắc ở tầng giữa, có chấtlượng nước thải đạt quy chuẩn cho phép tại cột B, QCVN 62-MT:2016/BTNMTquy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi Nước thải từ bể tắm trongchuồng chảy vào các bể lắng qua ống hút, phần chất thải được tách giữ lại quacác bể nên khi đến bể bi-ô-ga nước rất trong.
Các trang trại chăn nuôi gia súc tập trung sử dụng các công trình xử lýnước thải chủ yếu gồm: bể lắng, hầm biogas, hồ sinh học Nước thải sau bể lắngmột số trang trại chăn nuôi dùng để tưới cho cây trồng trong đó có hoa màu.Nước sau biogas xả ra ao nuôi cá, mương thoát nước
- Khối lượng nước thải phát sinh:
Có 29 trang trại có lượng nước thải phát sinh dưới 20 m3/ngày.đêm, 04trang trại có lượng nước thải phát sinh từ 20 - 30 m3 và có 07 trang trại có lượngnước thải phát sinh trên 50 m3/ngày.đêm
- Kết quả quan trắc môi trường nước thải:
Thông số
40:2011/ BTNMT
T0 (0C) 30,35 29-32 30,35 28,2-32,6
COD (mg/L) 3684,23 860-4.590 789,23 391-1792 150N-NH+4 (mg/L) 307,00 100- 780 289,38 100-250 40
SS (mg/L) 2159,50 520-9520 1394,43 360-3280 100