Các khoản viện trợ quốc tế thường được thực hiện thông qua các văn kiệnchính thức được ký kết giữa các bên chính phủ với chính phủ hoặc các tổ chứcquốc tế và các khoản trợ giúp nhân đạo,
Trang 1Chương 6 VIỆN TRỢ, VAY VÀ NỢ QUỐC TẾ
(Trước đây, viện trợ quốc tế được hiểu gồm có viện trợ quốc tế không hoàn lại vàviện trợ quốc tế có hoàn lại Tuy vậy, viện trợ quốc tế có hoàn lại thực chất là vayquốc tế, vay ưu đãi, nên từ đây trở đi xin được thống nhất, viện trợ quốc tế chỉ gồmviện trợ quốc tế không hoàn lại)
Các khoản viện trợ quốc tế thường được thực hiện thông qua các văn kiệnchính thức được ký kết giữa các bên (chính phủ với chính phủ hoặc các tổ chứcquốc tế) và các khoản trợ giúp nhân đạo, cứu trợ khẩn cấp… nhằm khắc phục hậuquả của thiên tai, địch họa… từ các tổ chức và cá nhân quốc tế
Viện trợ quốc tế chỉ chiếm một tỷ lệ không lớn, khoảng 10- 15% trong tổngvốn tài trợ quốc tế nói chung Tuy vậy, chúng mang ý nghĩa tích cực và quan trọngbởi ở các mục đích sử dụng
Có một số tiêu chí để phân loại viện trợ quốc tế
- Theo mục đích viện trợ, có 3 loại chủ yếu là viện trợ nhân đạo, viện trợ quân
sự và viện trợ ODA
+ Viện trợ nhân đạo Đây là những khoản viện trợ chủ yếu mang tính cứu trợ
đột xuất để ứng phó với hậu quả của các thiên tai, địch họa Những khoản giúp đỡnày cực kỳ quan trọng vì đây là khoản tiền hoặc hàng hóa đến vào thời điểm cácquốc gia đang gặp khó khăn lớn không thể vượt qua, hoặc nếu tự mình vượt qua thìrất lâu Vì vậy, việc nhận được các khoản cứu trợ nhân đạo này sẽ giúp việc khôiphục kinh tế - xã hội ở các quốc gia đó nhanh chóng hơn
+ Viện trợ quân sự Nhiều ý kiến cho rằng viện trợ quân sự không phải là tài
trợ mang tính chất kinh tế nên không cần quản lý Nhưng thực sự, tất cả các quốcgia trên thế giới đều cần quân đội, cần tòa án,…để duy trì an ninh, trật tự xã hội,phát triển đất nước,…nên Chính phủ phải trích từ NSNN để xây dựng lực lượng đó.Nếu như có viện trợ quân sự thì NSNN đã tiết kiệm được một khoản tiền nhất định
để sử dụng cho đầu tư phát triển nền kinh tế Vì vậy, viện trợ quân sự cũng có thểcoi là một khoản cấu thành gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội
+ Viện trợ ODA Đây là những khoản viện trợ thường được đi kèm với các
khoản cho vay ưu đãi của các chính phủ và tổ chức quốc tế liên chính phủ cho chính
Trang 2phủ các quốc gia để hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội Thông thường trong các dự ánODA có từ 8 – 15% Viện trợ không hoàn lại, số còn lại là cho vay ưu đãi.
- Theo hình thức biểu hiện, gồm viện trợ hiện vật (hàng hóa) và viện trợ bằng
tiền
+ Viện trợ bằng hàng hóa Là những khoản viện trợ được biểu hiện dưới dạng
vật chất, như máy móc, trang thiết bị, thuốc chữa bệnh
+ Viện trợ bằng tiền Là những khoản viện trợ được thực hiện bằng những
lượng tiền nhất định để thực hiện các mục đích viện trợ khác nhau Đây là hình thứcviện trợ phổ biến nhất
Ngoài ra, còn có viện trợ bằng tri thức, như cử chuyên gia, cố vấn… đến đểđào tạo, huấn luyện, phổ biến kiến thức, truyền bá kinh nghiệm… Tuy vậy, trangtrải các chi phí này được tính trong viện trợ, nên thực chất đây chính là viện trợbằng tiền
- Theo chủ thể viện trợ, có biện trợ của chính phủ, của tổ chức quốc tế liên
chính phủ và của tổ chức quốc tế phi chính phủ
+ Viện trợ của chính phủ Đó là phần viện trợ được thực hiện trực tiếp từ chính
phủ nước ngoài Viện trợ này bao gồm các loại nói trên, song trong đó nhiều hơn cả
là viện trợ quân sự và viện trợ ODA
+ Viện trợ của các tổ chức quốc tế liên chính phủ Đây là các khoản viện trợ
của các tổ chức quốc tế quan trọng, như của Liên hợp quốc, EU… Chúng chủ yếu làviện trợ ODA
+ Viện trợ của các tổ chức quốc tế phi chính phủ Là những khoản viện trợ
được thực hiện bởi các tổ chức quốc tế phi chính phủ, như viện trợ của Hội Chữthập đỏ quốc tế, Tổ chức Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Tổ chức hòa bình xanh (GreenPeace)… Nói chung những khoản viện trợ này chủ yếu mang tính chất viện trợnhân đạo
6.1.2 Vay quốc tế của quốc gia
6.1.2.1 Khái niệm về vay quốc tế
Đứng trên phạm vi quốc gia, nếu S là tiết kiệm, I là đầu tư, thì khi I >S, tức làtổng giá trị đầu tư lớn tổng giá trị tiết kiệm của quốc gia, chứng tỏ quốc gia đó đãnhận được tài trợ quốc tế Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng, khoản đầu tư này phảilớn hơn tiết kiệm trong một thời gian dài
Vì có các quốc gia trong một năm tài khóa, có tổng giá trị đầu tư lớn hơn sovới tổng tiết kiệm nhưng việc bù đắp phần chênh lệch này không lấy từ nguồn lựcbên ngoài mà huy động nguồn từ chính nguồn tiết kiệm của quốc gia được tích lũynhững năm trước đó
Trong niên giám thống kê Singapore từ 1965 – 1967 cho thấy, tổng giá trị đầu
tư lớn hơn nhiều so với tổng các khoản tiết kiệm quốc gia (có năm lên tới 180%).Tuy nhiên trong thời gian này, quốc gia đã không hề nhận được một khoản tài trợ
Trang 3nước ngoài nào Điều này được giải thích là, do số tiết kiệm từ nhiều năm trướcđược đưa ra sử dụng để đầu tư Vì vậy, khi xác định một quốc gia có nhận được tàitrợ quốc tế cho đầu tư phát triển hay không qua chỉ số đầu tư và tiết kiệm quốc giathì phải xem xét trong dài hạn.
Các khoản tài trợ quốc tế bao gồm đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, vay vàviện trợ quốc tế Đối tượng nhận tài trợ quốc tế có thể là các doanh nghiệp, cáctrung gian tài chính, các tổ chức đoàn thể xã hội, các cá nhân và một đối tượng quantrọng là Chính phủ
Trên phương diện quốc gia, việc các luồng vốn quốc tế, trong đó chủ yếu làcác khoản vốn vay chảy vào một quốc gia có thể giúp thúc đẩy phát triển kinh tế bởi
vì nó cho phép quốc gia đó đồng thời đầu tư và tiêu dùng nhiÒu hơn mức sảnxuÊt hiện hành cña quèc gia Quốc gia cung cấp vốn cũng có lợi bởi vì nó cókhả năng thu được lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận phổ biến ở trong nước Theo
cách nhìn của Bahram Nowzad, "Các khoản vay quốc tế có thể giúp tăng cường tính hiệu quả của quá trình phân bổ các nguồn vốn trên phạm vi toàn cầu và đóng một vai trò quan trọng phát triển kinh tế Quá trình chu chuyển các luồng vốn quốc
tế cho phép nguồn vốn tiết kiệm được đầu tư vào các dự án mang lại lợi nhuận cao Đối với các quốc gia không có khả năng huy động đủ nguồn tiết kiệm trong nước để đầu tư, các luồng vốn nước ngoài sẽ cung cấp tài trợ cho các dự án đầu tư mà không thể được tài trợ từ nguồn trong nước" (Nguồn: Ngân hàng thế giới)
Vay quốc tế (có tài liệu gọi là vay nước ngoài – Foreign Loans) là các khoảnvay ngắn hạn, trung hoặc dài hạn (có hoặc không phải trả lãi) do chính phủ hoặc cácdoanh nghiệp có tư cách pháp nhân (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài),các thể nhân của một quốc gia vay của tổ chức tài chính quốc tế, của các chính phủ,các tổ chức tài chính – tín dụng hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài
Các chủ thể của bên đi vay của một quốc gia rất đa dạng Để tạo điều kiệncho hoạt động quản lý và đề ra các chính sách quản lý thích hợp, hầu hết các quốcgia xem xét hoạt động vay và quản lý nợ theo tính chất sở hữu của chủ thể vay Cáckhoản vay nợ của Chính phủ, của các cấp chính quyền, của các doanh nghiệp nhànước được coi là vay nợ khu vực công Đồng thời, các khoản vay quốc tế đượcChính phủ, các cơ quan đại diện được Chính phủ uỷ quyền bảo lãnh cũng được coi
là vay nợ khu vực công Các khoản vay của các chủ thể khác, kể cả các khoản vayđược bảo lãnh bởi một bên thứ ba không phải Chính phủ, được coi là các khoản vaykhu vực tư nhân Việc xác định các chủ thể vay quốc tế của một quốc gia thường
được căn cứ trên cơ sở người cư trú Việc xác định chủ thể cho vay quốc tế căn cứ trên cơ sở phải là người không cư trú.
Thông thường, việc vay nợ được bên cho vay nước ngoài và các chủ thể củaquốc gia đi vay nợ (bên đi vay) thỏa thuận trên cơ sở hiệp định vay nợ (hoặc hợpđồng vay nợ) trong đó quy định số lượng vốn vay, thời gian vay, thời gian ân hạn,
Trang 4lãi suất vay, lãi suất phạt trong trường hợp bên đi vay không trả được nợ hoặc trả nợđúng hạn và các điều khoản khác liên quan đến việc vay và trả nợ Như vậy, đứng
về phía bên đi vay, các khoản nợ phải chịu sự điều chỉnh của luật pháp của chínhquốc gia đó và sự điều chỉnh của các cam kết mang tính quốc tế, đó là các hiệp địnhvay nợ hoặc hợp đồng vay nợ
Vay quốc tế của một quốc gia là việc các chủ thể thuộc khu vực công, khuvực kinh tế tư nhân và các thể nhân của một quốc gia tiến hành vay các khoản củacác chủ thể là người không cư trú của quốc gia đó
Nói cách khác, vay quốc tế của một quốc gia là việc các chủ thể cư trú củaquốc gia tiến hành vay các khoản của các chủ thể là người không cư trú của quốcgia đó
6.1.2.2 Phân loại vay quốc tế của quốc gia
- Theo tính chất của khoản vay, gồm vay thương mại và vay ưu đãi quốc tế
+ Vay thương mại là các khoản vay quốc tế theo điều kiện thị trường về lãisuất và các điều kiện khác, có thể có thế chấp, bảo lãnh,…)
Trong vay thương mại quốc tế, các chủ thể đi vay (Chính phủ, doanh nghiệp,ngân hàng, cá nhân ) có thể đi vay của ngân hàng thương mại, của các tổ chức tàichính quốc tế (phần trên hạn ngạch ưu đãi) và phát hành trái phiếu quốc tế trên thịtrường tài chính quốc tế
+ Vay ưu đãi quốc tế là các khoản quốc tế với nhiều ưu đãi như ưu đãi về lãisuất, thời hạn vay, có thể không cần bảo lãnh hay thế chấp,…Tuy nhiên để được vay
ưu đãi, các chủ thể đi vay có thể phải chấp nhận một số điều kiện của bên cho vay
- Theo chủ thể đi vay, gồm vay quốc tế của khu vực công và của khu vực tư
+ Vay quốc tế của khu vực công là khoản vay do các chủ thể của khu vựccông thực hiện và chịu trách nhiệm trả nợ Bao gồm vay quốc tế của Chính phủ vayquốc tế của chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (nếu có), vayquốc tế của các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng nhà nước vàcác tổ chức kinh tế nhà nước (gọi tắt là các doanh nghiệp nhà nước)
+ Vay quốc tế của khu vực tư là các khoản vay do các chủ thể của khu vực tưnhân thực hiện và chịu trách nhiệm trả nợ Bao gồm vay quốc tế của các doanhnghiệp tư, các cá nhân thông qua phát hành trái phiếu quốc tế, vay của ngân hàngthương mại nước ngoài (bao gồm các ngân hàng tư nhân và các tổ chức tài chính tưnhân), nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ trả chậm, thuê tài chính, và tất cả các khoảnvay tư nhân khác bao gồm cả các khoản tín dụng ngân hàng được các tổ chức tíndụng bảo lãnh
- Theo chủ nợ cho vay, gồm vay quốc tế đa phương, vay quốc tế song
phương
+ Vay quốc tế đa phương là các khoản cho vay của các tổ chức tài chính quốc
tế đa phương (WB, IMF, ADB )
Trang 5+ Vay quốc tế song phương là các khoản cho vay của các khoản vay củachính phủ các nước, của một tổ chức hay cá nhân nước ngoài.
- Theo thời hạn vay, gồm vay ngắn hạn, vay dài hạn
+ Vay ngắn hạn thường là các khoản vay có thời hạn vay dưới 1 năm
+ Vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn vay trên 1 năm
Tùy theo quy định của mỗi quốc gia về phân loại thời hạn các khoản vay nênviệc xác định các khoản vay có thể không đồng nhất Chẳng hạn như Nhật Bản quyđịnh vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn dưới 5 năm, Anh quy định khoảnvay dài hạn là các khoản vay có thời hạn trên 15 năm Bởi vậy, phân loại vay quốc
tế theo các tiêu thức chỉ mang tính chất tương đối
Việc phân loại nợ theo các tiêu thức khác nhau nhằm tạo điều kiện cho chínhphủ mỗi nước và các chủ thể trong quan hệ tín dụng có thể quản lý và sử dụng cóhiệu quả nhất các khoản vay
6.1.2.3 Ý nghĩa tích cực và những bất lợi của các khoản vay quốc tế
đề trên, chính phủ có nhiều cách sau đây
+ Phát hành thêm tiền Chính phủ nào cũng có quyền phát hành tiền nhưng nếuphát hành thêm tiền sẽ có nguy cơ dẫn tới lạm phát, gây xáo trộn nền kinh tế, thậm chí khủng hoảng kinh tế - xã hội
+ Vay trong nước Đối với các nước đang và chậm phát triển, vay trong nước rất khó khăn và số lượng không lớn vì thu nhập và tích lũy của dân cư thấp
+ Tài trợ quốc tế Cách này vừa tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tăng thu ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ mà không gây ra các xáo trộn lớn cho nền kinh tế quốc dân
- Tăng thêm nguồn vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội, phát huy được các tiềm năng sẵn có trong nước.
Một phần rất lớn từ nguồn tài trợ quốc tế được chi tiêu cho mục đích phát triển
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và chi cho phát triển kinh tế Đây sẽ là cơ sở để cácdoanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế phát triển, cũng sẽ là nhân tố tác động làm tăngtổng chi trong nước, góp phần làm tăng sản lượng sản xuất, tạo việc làm của nềnkinh tế
Nguồn vốn vay, nhất là ODA thường được chính phủ và các nhà tài trợ sửdụng như một nhân tố kích thích hoạt động đầu tư, thu hút đầu tư nước ngoài đặc
Trang 6biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó góp phần phát huy tốt hơn các tiềmnăng sản xuất đã có trong nước để phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Ngoài ra, các khoản vay tài trợ quốc tế còn mang nhiều ý nghĩa khác như: đảmbảo cán cân thanh toán, phục hồi kinh tế khi có tác động bởi thiên tai (động đất,sóng thần ), góp phần ổn định kinh tế vĩ mô,…
b) Tác động tiêu cực
Việc vay nợ quốc tế có thể gây ra những tác động tiêu cực sau đây
- Phải trả lãi ra bên ngoài Nói chung các khoản vay đều kèm theo lãi Điều
này đồng nghĩa với việc làm giảm một phần thu nhập quốc dân, hay đất nước phảicắt giảm một phần lợi ích để trả lãi vay Nếu quốc gia đi vay sử dụng tốt khoản vayquốc tế, số vốn này sẽ giúp nền kinh tế phát triển, tạo ra thu nhập lớn hơn nhiềukhoản lãi vay phải trả.Tuy nhiên, tác động tiêu cực này sẽ xảy ra khi quản lý và sửdụng không tốt nguồn vốn vay, dẫn đến phần thu nhập dành trả lãi vay chiếm tỷtrọng lớn trong thu nhập được tạo ra
- Có thể để lại gánh nặng nợ nần cho các thế hệ tương lai Các khoản vay
nước ngoài thường có thời hạn tương đối dài và có thể có các ưu đãi Nếu sử dụngmột cách có hiệu quả, biến nợ nước ngoài thành tài sản sinh lời, nâng cao mức tăngtrưởng kinh tế thì đây lại là một nguồn lực tốt, một gia tài để lại cho tương lai.Nhưng nếu sử dụng không có hiệu quả sẽ không tạo ra tăng trưởng kinh tế, khôngtạo ra thu nhập ròng để trả nợ, tạo ra gánh nặng nợ nần cho các thế hệ tương lai Ngoài ra, nếu đồng tiền bản tệ luôn mất giá với các đồng tiền vay và trả nợ, thìđây cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến gánh nặng nợ quốc gia
- Có thể dẫn tới vỡ nợ quốc gia Vỡ nợ quốc gia là tình trạng quốc gia không
có khả năng trả được các khoản nợ quốc tế, điều này sẽ đem lại những hậu quả cực
kỳ nghiêm trọng Do các khoản nợ nước ngoài phải trả bằng vàng hoặc ngoại tệ,nên khi quốc gia tuyên bố vỡ nợ, thì quốc gia đó sẽ chịu nhiều bất lợi từ cộng đồngtài chính quốc tế, như bị ngăn cấm không được tham gia vào hoạt động kinh tế quốc
tế, đặc biệt là thương mại quốc tế; không có tiếng nói trong cộng đồng quốc tế, vịthế quốc gia thấp; có nguy cơ bị cắt hết các khoản tài trợ quốc tế, kể các vay nợ,viện trợ và đầu tư nước ngoài Nghiêm trọng hơn, đó là bị tịch biên tài sản ở nướcngoài trừ các tài sản ở đại sứ quán, các tài sản đó có thể là tài sản của chính phủ vàtài sản của công dân quốc gia đó như tàu chở hàng, máy bay chở hàng,…để xiết nợ Tuy nhiên, cũng nhận thấy rằng, với xu hướng liên kết chắt chẽ về kinh tế giữacác quốc gia trong khu vực và thế giới hiện nay, các tổ chức tài chính quốc tế vàcộng đồng quốc tế sẽ bằng nhiều biện pháp hạn chế tối đa sự vỡ nợ của một quốcgia nào đó, sẽ cố gắng giúp các quốc gia này vượt qua khó khăn để phục hồi kinh tế,tránh tình trạng mất hoàn toàn khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong tương lai.Song rõ ràng là, bất kỳ nền kinh tế nào để xảy ra hiện tượng trên đều sẽ gặp rất
Trang 7nhiều khú khăn trong phỏt triển kinh tế và nếu cú cơ hội vay nợ quốc tế thỡ sẽ phảichịu chi phớ rất đắt do phải vay với mức lói suất cao
Túm lại, vay quốc tế vừa cú những ý nghĩa tớch cực, vừa cú những hậu quả tiờucực nếu khụng quản lý, sử dụng tốt khoản vay này
6.1.3 Nợ quốc tế
Nợ quốc tế (nhiều tài liệu gọi là nợ bờn ngoài – External Debt) được hiểu làtổng số tiền nợ mà một quốc gia cú trỏch nhiệm và ràng buộc phải thanh toỏn chocác chủ thể ở các quốc gia khỏc hoặc cỏc tổ chức quốc tế, cỏc doanh nghiệp tưnhõn nước ngoài
Năm 1988, nhúm cụng tỏc quốc tế về thống kờ nợ quốc tế (được hỡnhthành năm 1984) trờn cơ sở hợp tỏc của 4 tổ chức tài chớnh quốc tế là Quỹ tiền tệquốc tế (IMF), Ngõn hàng thế giới (WB), Ngõn hàng thanh toỏn quốc tế (BIS), Tổchức Hợp tỏc và phỏt triển kinh tế (OECD) đó cụng bố một định nghĩa chung về nợquốc tế như sau
Nợ quốc tế của một quốc gia tại một thời điểm nhất định là tổng số vay đó được giải ngõn mà người cư trỳ của một quốc gia cú trỏch nhiệm phải thanh toỏn cho người khụng cư trỳ, bao gồm việc hoàn trả nợ gốc, kốm hoặc khụng kốm với lói, hoặc trả nợ lói, kốm hoặc khụng kèm nợ gốc (Nguồn: UNTACD).
Như vậy, nợ được phõn loại là "Nợ quốc tế" tơng tự cũng đợc dùngtheo cách xác định để chỉ sự cư trỳ, mà khụng phải chỉ quốc tịch
Nợ quốc tế của một quốc gia là nợ của các chủ thể c trú của
quốc gia đó đối với những ngời khụng cư trỳ Sự cư trỳ theo "Sổ tay cỏn cõn thanh toỏn" của IMF được xỏc định theo lónh thổ Đú là, Người cư trỳ bao gồm
chớnh phủ nói chung, cỏc cỏ nhõn, cỏc tổ chức tư nhõn phi lợi nhuận, cỏc doanhnghiệp và các thể nhân là cỏc đối tượng được xỏc định theo mối quan hệ của
họ đối với lónh thổ của nền kinh tế đú Tất cả cỏc đối tượng khỏc đều là người khụng cư trỳ Vớ dụ, nợ của Chớnh phủ Việt Nam với cụng ty Citicrorp (New York)
là nợ quốc tế vỡ người cho vay là người khụng cư trỳ đối với Việt Nam Nợ củaChớnh phủ Việt Nam với Ngõn hàng ANZ tại Việt Nam là nợ trong nước, ngay cảkhi khoản vay được thực hiện bằng ngoại tệ, vỡ đồng tiền trả nợ khụng cú vai trũquyết định trong việc xỏc định đú là nợ trong nước hay nợ quốc tế
Đối với Việt Nam, theo Luật Quản lý nợ cụng số 29/2009/QH12, “Nợ nước
ngoài của quốc gia là tổng cỏc khoản nợ nước ngoài của Chớnh phủ, nợ được Chớnhphủ bảo lónh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khỏc được vay theo phương thức tựvay, tự trả theo quy định của phỏp luật Việt Nam”
Như vậy, nợ nước ngoài núi chung được hỡnh thành từ cỏc khoản vay nướcngoài
Trang 8Tóm lại, nợ quốc tế của một quốc gia tại một thời điểm nhất định là tổng số
vay đã giải ngân mà người cư trú của một quốc gia có nghĩa vụ phải hoàn trả chongười không cư trú, bao gồm cả nợ gốc và lãi nếu có
6.2 HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA
6.2.1 Xuất xứ, khái niệm của ODA
Tháng 4/1944, trước tình hình Đại chiến thế giới thứ hai sắp kết thúc, 44 nước
đã tham gia Hội nghị tài chính quốc tế tại Bretton Wood (Mỹ) Hội nghị đã quyếtđịnh thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng tái thiết và phát triển (IBRD).IBRD chính thức đi vào hoạt động ngày 25/6/1946, còn IFM là tháng 3/1947 Saukhi chiến tranh kết thúc (1945), các nước châu Âu, châu Á đều bị chiến tranh tànphá Riêng Mỹ ít bị thiệt hại, thậm chí còn phất lên nhờ chiến tranh GDP năm 1945của Mỹ là 213,5 tỷ USD, bằng khoảng 48% tổng GDP của thế giới, tăng gần 2 lần
so với 125,8 tỷ USD năm 1942 Để giúp đỡ các đồng minh Tây Âu khôi phục kinh
tế, phát huy ảnh hưởng chính trị, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô vàcác nước xã hội chủ nghĩa, Mỹ đã triển khai “Kế hoạch Marsahall” thông qua Ngânhàng thế giới, chủ yếu là IBRD Thông qua kế hoạch này, Mỹ đã thực hiện tài trợ ồ
ạt, được ví là “trận mưa dollar” khổng lồ cho Tây Âu với tên gọi là Viện trợ Mỹ(USA Aid – USAID) Trong USAID gồm 2 phần, phần viện trợ không hoàn lại vàmột phần cho vay ưu đãi với thời hạn dài, lãi suất thấp, trong đó, viện trợ khônghoàn lại là chủ yếu Chỉ tính từ năm 1947 đến năm 1951, đã có 12 tỷ USD thuộcUSAID được đổ xuống châu Âu
Trong những năm 1950, để thực hiện cái gọi là “ngăn chặn làn sóng cộng sảnlan tràn xuống phía Nam”, Mỹ đã thực hiện viện trợ ồ ạt cho các nước đồng minhphương Đông như Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan, một số nước Đông nam Á…thông qua USAID lên tới khoảng 7 tỷ USD, được ví như là “Kế hoạch Marshall 2”.Cuối năm 1960, Tổ chức các nước có nền kinh tế phát triển (OECD) đượcthành lập, đồng thời thống nhất coi việc tài trợ giúp đỡ các nước đang phát triểnthực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội như là một nghĩa vụ được thựchiện thường xuyên của các nước phát triển Trên cơ sở đó, Ủy ban hỗ trợ phát triển(Development Assistance Comeete – DAC) được thành lập và có nhiệm vụ huyđộng một phần thu nhập của các nước phát triển để tài trợ cho các nước đang pháttriển tương tự như USAID đã làm trước đây Từ đó, các chương trình tài trợ pháttriển cho các quốc gia chính thức mang tên Hỗ trợ phát triển chính thức (OfficalDevelopment Assistance – ODA) được thực hiện
Từ những thập niên 1970, 1980 trở đi, ODA được chuyển qua thực hiện bởicác tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế, như WB, IMF, ADB…, cùng với các khoảntài trợ song phương của chính phủ các nước phát triển hoặc các nướ có điều kiệnphát triển hơn
Trang 9Như vậy, Hỗ trợ phỏt triển chớnh thức ODA là sự hỗ trợ, giỳp đỡ về mặt tàichớnh chủ yếu là của chớnh phủ cỏc nước phỏt triển, cỏc tổ chức quốc tế liờn chớnhphủ dành cho chớnh phủ cỏc nước đang phỏt triển để thực hiện cỏc chương trỡnhphỏt triển kinh tế - xó hội thụng qua viện trợ quốc tế khụng hoàn lại và cho vay ưuđói.
Theo quy định của OECD, một khoản tài trợ quốc tế được coi là ODA khi cúyếu tố khụng hoàn lại (mức cho khụng) đạt từ 25% trở lờn
6.2.2 Yếu tố khụng hoàn lại của ODA
Yếu tố khụng hoàn lại (Grant Element – GE) của khoản tài trợ ODA là thểhiện tổng hợp những ưu đói của người tài trợ cho người nhận tài trợ Đú là những
ưu đói về lói suất, về thời gian õn hạn, về thời hạn vay… Tất cả những yếu tố nàytạo ra một tỷ lệ hỗ trợ cho người nhận ODA so với khoản tài trợ tương ứng nhưngtheo cỏc điều kiện của thị trường Vỡ thế, trong đàm phỏn nhận tài trợ ODA cần phảitớnh toỏn, xem xột cỏc phương ỏn khỏc nhau để đạt mức ưu đói tối ưu (cao nhất) chokhoản tài trợ
Cú một số phương phỏp xỏc định mức độ ưu đói và yếu tụe khụng hoàn lạicủa khoản vay sau đõy
- Mức độ ưu đói danh nghĩa Đó là chênh lệch giữa tổng số
tiền danh nghĩa phải trả (cả vốn gốc và lãi) theo lãi suất u đãi so vớivay theo lãi suất thị trờng
+ L là số vốn vay của dự ánPhương phỏp này cú ưu điểm là dễ xỏc định, dễ thấy được mức độ ưu đói củakhoản vay Tuy vậy, cỏch xỏc định này chưa phản ỏnh hết mức độ ưu đói, vỡ chủ yếumới phản ỏnh ưu đói của lói vay, mà chưa tớnh đến thời gian õn hạn và thời hạn củakhoản vay
- Mức độ ưu đói thực của khoản vay Theo phương phỏp này, toàn bộ số vốn
gốc và lói theo lói suất ưu đói phải trả trong tương lai được qui về tại thời điểm hiệntại khi vay trờn cơ sở lói suất vay trung bỡnh của thị trường Sự chờnh lệch giữa sốtiền phải trả này so với số tiền vay chớnh là sự ưu đói thực mà người cho vay đódành cho người vay
(Li + Rim)
(Li +
Rim)
Trang 10- Xỏc định trực tiếp yếu tố khụng hoàn lại Căn cứ vào chênh
lệch lãi suất u đãi, thời gian ân hạn của khoản vay và trả nợ củakhoản vay để xác định yếu tố không hoàn lại Đó là sự kết hợp giữahai yếu tố, mức độ u đãi của khoản vay đợc xác định bằng tỷ lệ chênh lệch của lãi suất vay u đãi với lãi suất chiết khấu theo kỳ trả nợ và tỷ lệ chênh lệch giữa số tiền lãi chiết khấu trong thời gian vay nợ và số tiền lãi chiết khấu trong thời gian ân hạn của khoản vay tính theo kỳ trả nợ.
GE(L) = [1 - ] [1 - ]
Trong đó:
+ GE(L) là yếu tố khụng hoàn lại của khoản vay L
+ Rf là lãi suất vay u đãi hàng năm
+ a là số lần trả nợ trong năm (theo điều kiện của bên chovay)
+ r là tỷ lệ chiết khấu của mỗi kỳ trả nợ, được xỏc định: r = (1 +
r 1) 1/ a – 1, với r 1 là tỷ lệ chiết khấu của cả năm (theo thông báo của OECD hoặc thoả thuận của bên cho vay, tương tự như lói suất cho vay bỡnh quõn hàng năm của thị trường)
+ G là thời gian ân hạn (thời gian cha phải trả gốc)
+ M là thời hạn cho vay
Việc trả nợ theo nguyên tắc chia đều cho mỗi kỳ
Phương phỏp này mặc dự khụng chớnh xỏc tuyệt đối, song khỏ giản tiện chotrường hợp khoản vay cú nhiều kỳ trả nợ trong năm, nờn hiện nay đợc các nớcOECD, các tổ chức tài chính quốc tế và nhiều nớc nhận tài trợ ODA
sử dụng để tính toán yếu tố khụng hoàn lại của cỏc khoản ODA
Từ xỏc định mức độ ưu đói và yếu tố khụng hoàn lại của khoản vay ODA núitrờn cú thể rỳt ra một số hệ quả sau đõy
Trang 11Hệ quả 1, Mức độ ưu đãi thực đó chính là yếu tố không hoàn lại của khoản tài trợ ODA Đây thực ra là hai cách diễn đạt cho một nội dung Khi nói mức độ ưu
đãi chủ yếu là ở góc độ người tài trợ dành cho người nhận tài trợ; còn khi nói yếu tốkhông hoàn lại là ở góc độ người nhận tài trợ đã không phải hoàn lại một phần nào
đó cho nhà tài trợ Về mặt lượng, Fr(L) = GE(L)
Hệ quả 2, Đối với khoản viện trợ không hoàn lại (a) thì mức độ ưu đãi danh nghĩa Fn(a), mức độ ưu đãi thực Fr(a) và yếu tố không hoàn lại GE(a) đều bằng nhau và bằng 100%.
Có nghĩa là: Fn(a) = Fr(a) = GE(a) = 100%
Hoàn toàn dễ dàng chứng minh khi áp dụng các công thức tính toán trên đây
Hệ quả 3, Nếu A là một khoản ODA hỗn hợp với một phần viện trợ không hoàn lại (a) và phần còn lại là vay ưu đãi (L), tức A = a + L, thì
Fn(A) = [a.100% + L.Fn(L)]/A
Fr(A) = [a.100% + L.Fr(L)]/A
GE(A) = [a.100% + L.GE(L)]/A
Đây là điều hiển nhiên theo phương pháp tính bình quân gia quyền của khoahọc thống kê
6.2.3 Phân loại ODA
Có nhiều cách phân loại ODA
- Căn cứ vào tính chất tài trợ, có
+ Viện trợ không hoàn lại Là các khoản tài trợ mà người nhận không có
nghĩa vụ phải hoàn trả
+ Cho vay ưu đãi Là các khoản cho vay nhưng phải đảm bảo yếu tố không
hoàn lại từ 25% trở lên
+ ODA hỗn hợp Gồm một phần viện trợ không hoàn lại và một phần cho
vay (có thể có ưu đãi hoặc không ưu đãi), nhưng tổng yếu tố không hoàn lại phải từ25% trở lên
- Căn cứ vào mục đích sử dụng, có
+ Hỗ trợ cơ bản Là các khoản ODA dành cho việc thực hiện nhiệm vụ chính
của các chương trình, dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và bảo
vệ môi trường Thông thường đây là các khoản vay ưu đãi
+ Hỗ trợ kỹ thuật Là các khoản tài trợ dành cho chuyển giao tri thức, chuyển
giao công nghệ, phát triển năng lực phát triển thể chế, nghiên cứu đầu tư cácchương trình, dự án, phát triển nguồn nhân lực Thông thường chúng là các khoảnviện trợ không hoàn lại
- Căn cứ vào các điều kiện để được nhận tài trợ, có
+ ODA không ràng buộc Là khoản tài trợ mà người nhận không phải chịu bất
cứ ràng buộc nào
Trang 12+ ODA có ràng buộc Người nhận phải chịu một số ràng buộc nào đó khi nhận tài trợ, như ràng buộc người sử dụng, chỉ được mua sắm hàng hoá, thuê chuyên gia, thuê thầu theo chỉ định; ràng buộc mục đích sử dụng, chỉ được sử dụng cho một
số mục đích nhất định nào đó qua các chương trình, dự án
+ ODA hỗn hợp Có thể một phần có những ràng buộc, một phần không có
ràng buộc nào
- Căn cứ vào hình thức thực hiện các khoản tài trợ, có
+ ODA hỗ trợ dự án Là hình thức chủ yếu của ODA nghĩa là ODA sẽ đợc
xác định cho các dự án cụ thể, có thể là hỗ trợ cơ bản, hỗ trợ kỹ thuật, viện trợkhông hoàn lại hay cho vay ưu đãi
+ ODA hỗ trợ phi dự án Khoản tài trợ không gắn với các dự án đầu tư cụ thể,
như hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ trả nợ
+ ODA hỗ trợ chương trình Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng
quát nào đó trong một khoảng thời gian xác định, thường là gắn với nhiều dự án chitiết cụ thể trong một chương trình tổng thể Hình thức này đặc biệt chú trọng từnhững năm 1990 và được áp dụng với các quốc gia đã sử dụng ODA có hiệu quả
- Căn cứ vào chủ thể tài trợ, có
+ ODA song phương Là ODA của một chính phủ tài trợ trực tiếp cho một
Chính phủ khác
+ ODA đa phương Là ODA của nhiều chính phủ cùng đồng thời tài trợ cho
một chính phủ Đó là ODA của các tổ chức quốc tế liên chính phủ toàn cầu và khuvực
6.2.4 Vai trò của ODA
Có thể thấy rõ vai trò của ODA đối với nước tài trợ và đối với nước nhận tàitrợ
6.2.4.1 Đối với nước tài trợ
Việc tài trợ ODA của các nước, chủ yếu là các nước phát triển, đã giúp họ đạtđược nhiều mục đích quan trọng Trong đó nổi bật là, mục đích chính trị, mục đíchkinh tế và mục đích xã hội – nhân đạo
a) Mục đích chính trị
Các quốc gia đều muốn phát huy uy tín, ảnh hưởng, vị thế chính trị… củamình trên trường quốc tế nói chung và đối với từng quốc gia nói riêng; đồng thời,cũng từ đó mà có thể ngăn chặn hay giảm bớt ảnh hưởng chính trị của các quốc giakhác Để đạt được mục đích này, có thể có nhiều cách, trong đó, việc thực hiện tàitrợ ODA là một trong những cách rất hữu hiệu
Nhờ có ODA mà một quốc gia có thể giúp đỡ một hoặc một số quốc gia khácvượt qua các cơn hoạn nạn do thiên tai, địch họa… gây ra Lập tức, các quốc giađược giúp đỡ sẽ luôn ghi ơn, coi quốc gia tài trợ là ân nhân, là đồng minh tin cậy…Thực tế đã chứng minh rất sinh động các quốc gia tài trợ nhanh chóng chiếm được
Trang 13lòng tin, ngưỡng mộ, thêm bạn bớt thù…của các nước tiếp nhận, mà có thể nói, điểnhình nhất là Mỹ.
b) Mục đích kinh tế
Mặc dù việc tài trợ ODA không nhằm thu lợi nhuận tực tiếp, kể cả các khoảnODA cho vay có thu lãi, song đều là theo lãi suất ưu đãi (dưới 3%/năm), nên phầnlãi là không đáng kể và cũng không phải là mục đích theo đuổi của nhà tài trợ Tuythế, nhờ có các khoản ODA mà từ cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, thôngtin liên lạc…), đến khuôn khổ pháp lý, thể chế, năng lực quản lý… của bộ máy nhànước của các nhận nước tài trợ đều được cải thiện vượt bậc, tạo cơ hội đánh thức,khơi dậy… các tiềm năng, thế mạnh… để phát triển kinh tế của các quốc gia này,hứa hẹn mở ra thị trường tốt cho đầu tư và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Đến lúc này,các luồng vốn đầu tư (đặc biệt là FDI), cũng như các luồng sản phẩm hàng hóa củanước tài trợ có cơ hội thuận lợi để đổ vào những thị trường mới nổi này, hứa hẹnđưa về những khoản lợi nhuận khổng lồ và sẽ nộp thuế cho chính phủ nhiều hơn.Trên góc độ này có thể thấy, ODA thực ra là khoản tiền ứng trước của chính phủ,được ví như là “đội quân tiên phong” đi trước mở đường để cho các “đại quân chủlực” là vốn đầu tư và hàng hóa rầm rập đổ vào, mà cuối cùng là “chiến lợi phẩm”mang về chính quốc với những khoản lợi nhuận kếch xù, trong đó có phần nộp thuêhoàn trả cho chính phủ, lớn hơn số đã được ứng ra trước đây
Nhật Bản và khá nhiều quốc gia khác đã rất thành công trong tài trợ ODA chomục đích kinh tế
c) Mục đích xã hội – nhân đạo
Có thể nói, hàng năm một lượng khá lớn ODA, trong số đó phần lớn là ODAkhông hoàn lại của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, như của Liên Hợp quốc…,cùng với của một số nước phát triển, điển hình là các nước Bắc Âu, được dành đểtài trợ trực tiếp cho các chương trình xã hội – nhân đạo, như chống đói nghèo, xóanạn mù chữ, phòng chống các dịch bệnh xã hội (HIV, H5N1, SARS…), chống biếnđổi khí hậu toàn cầu… Nhờ đó mà dân chúng của nhiều quốc gia ở châu Phi, châuÁ…có đời sống ngày càng được cải thiện hơn, nhiều dịch bệnh được đẩy lùi…
6.2.4.2 Đối với các nước nhận tài trợ
Nhận tài trợ ODA chủ yếu là các nước nghèo và đang phát triển Đối với cácnước này, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, nền kinh tếđều ở mức phát triển thấp, đời sống của người dân phần lớn là rất khó khăn, mặc dùđất nước có thể có những tiềm năng, thế mạnh… nhất định Vì thế, Trung Quốc đã
ví quốc gia tiếp nhận ODA như là người bị ốm đau trầm trọng hay ốm yếu lâu ngày,rơi vào tình trạng yếu ớt, nay được “chuyền máu” từ bên ngoài vào để vực dậy sứckhỏe, vượt qua cơn nguy kịch, có cơ hội phục hồi và sau đó có thể “tự sinh ra máu”
để nuôi cơ thể Cụ thể, ODA đã giúp các nước tiếp nhận chúng trên nhiều khía cạnhsau đây
Trang 14- Giúp khắc phục những khó khăn đột xuất do thiên tai, địch họa;
- Cung cấp lượng vốn lớn để phát triển mạng lười cơ sở hạ tầng kỹ thuật củanền kinh tế;
- Là nguồn lực quan trọng để thực hiện các chương trình xã hội nhân đạo,như xóa đói giảm nghèo, xóa nạn mù chữ, phòng chống bệnh dịch…
- Giúp xây dựng, hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý; Hỗ trợ đào tạo nângcao năng lực, trình độ quản lý… của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước các cấp…
Có thể nói, ODA đối với các nước tiếp nhận là rất quí giá và phát huy tácdụng tích cực trên rất nhiều mặt Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng, nếu ODA khôngđược quản lý, sử dụng tốt, sẽ phát sinh không ít các mặt trái, tiêu cực, như tình trạngtham nhũng, lãng phí, sử dụng kém hiệu quả…; đặc biệt, đối với các khoản ODAvay, có thể để lại gánh nặng nợ, thậm chí là nguy cơ vỡ nợ quốc gia
6.2.5 Qui trình thu hút, sử dụng ODA
Quy trình thu hút, quản lý, sử dụng ODA là quá trình gặp gỡ giữa nhu cầucần tài trợ và khả năng tài trơ, cũng như quá trình hài hoà thủ tục giữa nhà tài trợ vàngười nhận tài trợ để ODA đi vào thực tiễn Quy trình gồm các bước sau đây
a) Xây dựng danh mục chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA (Thể hiện nhu cầu ODA).
Chính phủ các nước đang và chậm phát triển trong từng thời kỳ (năm) tổng hợp các nhu cầu để lập Danh mục các chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA, kèm theo đề cương nêu rõ sự cần thiết, tính phù hợp quy hoạch, mục tiêu, kết quả dự kiến, các hoạt động chủ yếu, thời hạn thực hiện, dự kiến mức vốn ODA và vốn đối ứng, dự kiến cơ chế tài chính (cấp phát từ NSNN; Cho vay lại từ NSNN; Một phần cấp phát, một phần cho vay lại), dự báo tác động tới kinh tế - xã hội cho từng chương trình,
dự án cụ thể Chính phủ sẽ dự kiến phân bổ và vận động các nhà tài trợ ODA tại các Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG), hoặc thông qua các cơ quan đại diện của nhà tài trợ, hoặc thông qua công bố trên các phương tiện thông tin chính thức.
b) Vận động ODA (Tìm kiếm tài trợ) Đó là quá trình các cơ quan của chính
phủ các nước nhận tài trợ liên hệ, vận động các nhà tài trợ ODA Các nhà tài trợ sẽcăn cứ vào khả năng tài trợ ODA trong năm tài khoá và sự phù hợp của các chươngtrình, dự án để thông báo cho nước có nhu cầu về mức độ, các chương trình, dự ánODA có thể được tài trợ thông qua hội nghị CG, văn bản chính thức, hay Internet
c) Đàm phán, ký kết Điều ước quốc tế khung về ODA Các chính phủ nhận
tài trợ sẽ cử các quan chức có trách nhiệm đến đàm phán và ký kết Điều ước quốc tế
về ODA có tính nguyên tắc với nhà tài trợ Nội dung gồm: Chiến lược, chính sách,khuôn khổ hợp tác, phương hướng ưu tiên trong cung cấp và sử dụng ODA; danhmục các lĩnh vực, chương trình, dự án, điều kiện khung và cam kết tài trợ ODA chomột năm hoặc nhiều năm đối với các chương trình, dự án, những nguyên tắc về thểthức và kế hoạch quản lý, thực hiện các chương trình, dự án
d) Thông báo điều ước quốc tế khung về ODA Chính phủ các nước sẽ thông
báo cho các cơ quan chủ quản, các địa phương có chương trình, dự án về Điều ước