Đặc biệt, đến khi tiền tệ xuất hiện và thực hiện được không những là chức năng thước đo giá trị, mà cả chức năng trung gian troa đổi, thanh toán giữa các quốc gia chức năng tiền tệ thế g
Trang 1Chương 4 THANH TOÁN QUỐC TẾ
4.1 KHÁI QUÁT VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
Trên cơ sở các lợi thế so sánh tương đối và lợi thế so sánh tuyệt đối, để tồn tại
và phát triển, các quốc gia sẽ tiến hành các hoạt động trao đổi kinh tế và thương mại quốc tế với nhau theo nguyên tắc mang những hàng hóa, sản phẩm mình có lợi thế so sánh đổi lấy những hàng hóa mình chưa có lợi thế Việc trao đổi này sẽ thực sự kết thúc khi bên mua đã giao tiền và nhận hàng, còn bên bán đã giao hàng và nhận tiền Điều này đồng nghĩa với việc các chủ thể giữa các quốc gia đã phát sinh quan hệ chi
trả tiền hay Thanh toán quốc tế Ngoài ra, cùng với sự phát triển của hoạt động kinh
tế quốc tế như Đầu tư quốc tế, Tín dụng quốc tế… và sự phát triển của các mối quan
hệ quốc tế trên các lĩnh vực văn hóa, ngoại giao, khoa học - kĩ thuật … đều có thể làm phát sinh và hình thành nên hoạt động Thanh toán quốc tế
4.1.1 Khái niệm và đặc điểm thanh toán quốc tế
4.1.1.1 Khái niệm
Có thể nói, quan hệ kinh tế sơ khai được coi như đầu tiên giữa các quốc gia đó
là sự trao đổi các sản phẩm dôi dư lẫn nhau, mà lúc đầu chủ yếu được thực hiện ở các vùng đường biên, giáp ranh, theo phương thức hàng đổi hàng (H – H) Dần dà, cùng với đà phát triển của sức sản xuất xã hội, việc trao đổi này được diễn ra phong phú hơn về chủng loại, nhiều hơn về số người tham gia và ngày càng mở rộng về phạm
vi Đặc biệt, đến khi tiền tệ xuất hiện và thực hiện được không những là chức năng thước đo giá trị, mà cả chức năng trung gian troa đổi, thanh toán giữa các quốc gia (chức năng tiền tệ thế giới), thì hoạt động trao đổi trên đây, bây giờ được chuyển thành hoạt động mua bán, tiền đóng vai trò trung gian (H – T – H) Việc mua bán thực chất là gồm hai quá trình, quá trình bán (H – T) và quá trình mua (T – H), chúng
có thể diễn ra độc lập nhau cả về không gian, thời gian và người giao dịch Các quá trình mua, bán giữa các quốc gia, khi kết thúc đều là việc trả tiền (thanh toán), với một lượng tiền vận động ngược chiều với lượng sản phẩm hàng hóa được mua bán
Việc trả tiền này, trong một thời gian khá dài của lịch sử, đều được thực hiện một cách trực tiếp giữa người mua và người bán Điều đó đòi hỏi tiền trong thanh toán phải là tiền thực chất, có đầy đủ gia trị Tức là, tiền ở đây phải là những thứ quí giá, như vàng, bạc, châu báu… Cuối cùng, vàng, bạc chính là những thứ kim loại quí, hiếm được lựa chọn làm tiền tệ thế giới
Cùng với đà phát triển của kinh tế, nhất là kể từ khi chủ nghĩa tư bản với nền sản xuất cơ khí hóa ra đời, đã tạo ra những bước nhảy vọt vượt bậc trong buôn bán, thương mại quốc tế Lúc này, việc thanh toán trực tiếp giữa người mua và người bán của các quốc gia được chuyển dần sang thực hiện bởi hệ thống ngân hàng thương
Trang 2mại Đồng thời, phương tiện thanh toán cũng không nhất thiết phải có tiển thực chất,
mà cũng được thay thế dần bằng nhiều loại tiền khác nhau
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, kể từ những thập niên cuối của thế kỷ 20 đến nay, việc trao đổi, mua bản giữa các quốc gia không chỉ được thực hiện bởi các sản phẩm hàng hóa vật chất thông thường, mà còn được thực hiện bởi nhiều dịch vụ khác nhau (dịch vụ truyền thông; dịch vụ tài chính, ngân hàng; dịch vụ văn hóa, thể thao…) và chúng cũng đươc thanh toán, trả tiển khi nhận được các dịch vụ này Điều này làm cho sự đối ứng trong thanh toán quốc tế không chỉ có những hàng hóa (hiện vật), mà còn có không ít các dịch vụ (phi hiện vật)
Mục đích chính của hoạt động thanh toán quốc tế là để hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động thương mại quốc tế, tức là xuất nhập khẩu giữa các nước diễn ra một cách trôi chảy và hiệu quả Ngoài ra, thanh toán quốc tế thực ra còn gắn liền với nhiều lĩnh vực hoạt động khác, miễn là chúng có liên quan đến việc sử dụng các hàng hóa, dịch vụ… lẫn nhau giữa các quốc gia và phải trả tiền, như hoạt động du lịch quốc tế, hợp tác lao động quốc tế, các quan hệ quốc tế về văn hóa – xã hội, chính trị quân sự, ngoại giao… Mỗi lĩnh vực hoạt động là một mắt xích không thể thiếu trong một dây chuyền hoạt động tài chính quốc tế của mỗi quốc gia nói riêng và trên quy mô toàn thế giới nói chung
Như vậy, Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả tiền tệ giữa các quốc gia cho các hàng hóa, dịch vụ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế của các tổ chức, cá nhân…các quốc gia và các tổ chức quốc tế, phổ biến được thực hiện thông qua hệ thống các ngân hàng, chủ yếu là ngân hàng thương mại.
Thanh toán quốc tế là khâu có nghĩa cực kỳ quan trọng và nhiều khi là khâu quyết định đến hiệu quả và tăng trưởng thương mại, bởi vì chỉ khi hoạt động thanh toán an toàn và trôi chảy thì người bán mới thu được tiền và người mua mới nhận được hàng, và đây lại là một trong những cơ sở nền tảng khiến cho hoạt động tài chính quốc tế tồn tại phát triển
4.1.1.2 Đặc điểm
Hoạt động thanh toán nói chung đều mang đặc trưng cơ bản là luôn có luồng hàng hóa, dịch vụ vận động ngược chiều với luồng tiền trong thanh toán và trong điều kiện kinh tế thị trường chúng được coi là một loại hình dịch vụ Cũng như thanh toán nội địa và các dịch vụ khác, thanh toán quốc tế mang trong mình đặc điểm cơ bản nói trên và các đặc điểm của loại hình dịch vụ, đó là tính vô hình, quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, chúng không thể lưu trữ được… Tuy vậy, bên cạnh đó, thanh toán quốc tế còn có những đặc điểm riêng sau đây
Thứ nhất, Thanh toán quốc tế được thực hiện giữa các quốc gia và trên phạm
vi toàn cầu Cụ thể, (i) Về phạm vi, thanh toán quốc tế được thực hiện chủ yếu giữa
Trang 3các quốc gia và giữa quốc gia với tổ chức quốc tế Dịch vụ thanh toán được chuyển qua biên giới cho người thụ hưởng Nói chung, giữa người thụ hưởng và người cung ứng dịch vụ không cư trú cùng chung một quốc gia (ii) Về chủ thể, tham gia hoạt động thanh toán quốc tế là người cư trú và người không cư trú, không phân biệt quốc tịch (iii) Về tiền tệ, tiền được sử dụng trong thanh toán quốc tế là những đồng tiền quốc tế chung, hay là những đồng tiền quốc gia, nhưng phải thực hiện được chức năng tiền tệ thế giới, tức là đều được các bên tham gia thanh toán thừa nhận
Thứ hai, Hoạt động thanh toán quốc tế chứa đựng nhiều rủi ro Thanh toán
quốc tế là một bộ phận của Tài chính quốc tế, do đó, hoạt động Tài chính quốc tế phải đối mặt với những rủi ro nào thì Thanh toán quốc tế cũng phải đối mặt với những rủi ro đó, bao gồm rủi ro chính trị, rủi ro tỷ giá… Ngoài ra, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như môi trường pháp lý quốc tế của của thanh toán quốc tế không đồng đều và còn nhiều bất cập trong vận dụng Trình độ nhân lực tham gia cung ứng dịch
vụ Thanh toán quốc tế còn có độ chênh lệch lớn giữa các quốc gia… Tất cả các lý do này khiến cho hoạt động thanh toán chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn
Thứ ba, Sự đa dạng, phong phú trong thanh toán quốc tế Cùng với sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, hoạt động thanh toán quốc tế càng ngày càng ứng dụng nhiều các công nghệ điện tử, kỹ thuật cao Sự phát triển của công nghệ thông tin kỹ thuật số đã giúp thanh toán quốc tế mang những diện mạo mới như hoạt động thông qua hệ thống chuyển tiền điện tử quốc tế (International Electronic Funds Transfer System - IEFTS) hay hệ thống thanh toán bù trừ khu vực (Clearing House Interbank Payment System - CHIPS) Sự ra đời của eUCP 1.0 và eUCP 1.1 điều chỉnh các xuất trình chứng từ điện tử hoặc kết hợp xuất trình chứng từ bằng văn bản với các chứng
từ điện tử là một minh chứng cho xu hướng ứng dụng công nghệ cao trong hoạt động thanh toán
4.1.2 Phân loại thanh toán quốc tế
Có nhiều tiêu chí để phân loại thanh toán quốc tế
Căn cứ vào mục đích của quan hệ mua bán hàng hóa dịch vụ, thanh toán
quốc tế được chia thành thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch
- Thanh toán mậu dịch là hoạt động thanh toán gắn với các hoạt động buôn
bán, thương mại quốc tế Trong hoạt động mua bán này, các bên tham gia đều là phục
vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận trong hoạt động mậu dịch quốc tế lại có hoạt động mậu dịch chính ngạch và hoạt động mậu dịch tiểu ngạch
+ Hoạt động mậu dịch chính ngạch là các bên mua bán giao dịch với nhau thông qua hợp đồng Mọi nội dung có liên quan về hàng hóa, dịch vụ, từ số lượng, chủng loại, đơn giá, phương thức giao hàng…, cho đến thời hạn, đồng tiền sử dụng, phương thức thanh toán… đều được cam kết rõ trên hợp đồng
Trang 4+ Hoạt động mậu dịch tiểu ngạch là những hoạt động mua bán có tính nhỏ lẻ, mua bán trao tay, các giao dịch chủ yếu được thỏa thuận bằng lời nói…
- Thanh toán phi mậu dịch là những thanh toán quốc tế khác cho các hoạt động
mua bán hàng hóa, dịch vụ không vì mục đích thương mại Như thanh toán gắn với các quan hệ quốc tế về văn hóa – xã hội (du học, chữa bệnh, tham quan du lịch…); quan hệ quốc tế về chính trị (thăm viếng, hội nghị quốc tế…); ngoại giao (hoạt động đại sứ quán…); quân sự…
Căn cứ vào tính chất của hoạt đông thanh toán, có thanh toán quốc tế trực
tiếp và thanh toán quốc tế gián tiếp
- Thanh toán quốc tế trực tiếp được thực hiện trực tiếp giữa bên mua và bên
bán Như nhiều khoản thanh toán phi mậu dịch, thanh toán mậu dịch tiểu ngạch…
- Thanh toán quốc tế gián tiếp là việc thanh toán được ủy nhiệm cho bên thứ
ba thực hiện Ở đây phổ biến là ủy nhiệm cho các ngân hàng thương mại thực hiện thanh toán
Căn cứ vào thời điểm thanh toán, có thanh toán ngay và thanh toán chậm.
Thanh toán ngay là hành vi thanh toán được thực hiện ngay sau khi giao dịch
mua bán được thực hiện Thanh toán ngay chủ yếu được thực hiện cho các món tiền không quá lớn, trong thanh toán trực tiếp…
Thanh toán chậm, còn gọi là mua hàng trả chậm, đó là việc thanh toán được
diễn ra sau hành vi giao dịch mua bán và chúng thường được chia làm nhiều lần Loại thanh toán này được thực hiện rất phổ biến trong nhập khẩu hàng mậu dich chính ngạch
4.1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế
Các giao dịch kinh tế và chi phí kinh doanh giữa người cư trú với người không
cư trú làm phát sinh nhu cầu thanh toán cho nhau Thông thường, việc thanh toán không diễn ra trực tiếp giữa người trả tiền và người thụ hưởng, mà gián tiếp thông qua ngân hàng Để việc thanh toán diễn ra chính xác, bên uỷ thác và ngân hàng uỷ thác phải thoả thuận những nội dung, điều kiện và cách thức tiến hành chuyển tiền hoặc trả tiền thích hợp
Toàn bộ nội dung, điều kiện và cách thức để ngân hàng tiến hành chuyển tiền
và trả tiền giữa người cư trú với người không cư trú gọi là phương thức thanh toán quốc tế
Trong thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế là kết quả của hợp đồng mua bán Do đó, theo nghĩa hẹp, phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, điều kiện quy định để người mua trả tiền và nhận hàng, còn người bán thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng thương mại thông qua hệ thống ngân hàng phục vụ
Như vậy, điều kiện về phương thức thanh toán chính là các điều kiện quy định trong hợp đồng thương mại, theo đó, người mua trả tiền và nhận hàng, còn người bán thì giao hàng và thu tiền Việc giao, nhận hàng và thu, chi tiền thường không diễn ra
Trang 5đồng thời, mà là một quá trình; quá trình này kết thúc khi người mua đã trả tiền và nhận được hàng; còn người bán thì đã giao hàng và nhận được tiền Trong thực tế, điều kiện quy định để các bên giao nhận hàng hoá và chi trả tiền là rất đa dạng, do
đó, tồn tại nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau Mỗi phương thức đều có
ưu điểm và nhược điểm nhất định, việc lựa chọn phương thức thanh toán thích hợp phải được hai bên xuất khẩu và nhập khẩu bàn bạc thống nhất, ghi vào hợp đồng thương mại
Các phương thức thanh toán chủ yếu hiện nay bao gồm:
1 Phương thức chuyển tiền (Remittance)
2 Phương thức nhờ thu (Collection of payment)
3 Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary credit)
4.1.4 Các công cụ thanh toán quốc tế
Để có thể thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế, các chủ thể tham gia vào hoạt động này cần có các công cụ để thực hiện Trong thanh toán quốc tế, các công
cụ này được gọi là các phương tiện thanh toán Phương tiện thanh toán là thứ có sẵn
để chi trả, thanh toán cho các bên liên quan, thể hiện bằng các chứng từ tài chính sử dụng trong lưu thông
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa và xu thế phát triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới, đặc biệt là thương mại quốc tế, việc giao nhận hàng hóa không thể tiến hành trực tiếp giữa người mua và người bán mà phải thông qua người chuyên chở và việc thanh toán không thể tiến hành trực tiếp bằng tiền mặt Thực tế này đòi hỏi phải có phương tiện thanh toán thích hợp thay cho thanh toán tiền mặt trực tiếp, do đó, một loạt các phương tiện thanh toán quốc tế ra đời giúp cho hoạt động thanh toán quốc tế thuận lợi hơn và hạn chế rủi ro cho các chủ thể tham gia quá trình này Hiện nay, các phương tiện thanh toán đang được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế bao gồm: Hối phiếu; Kỳ phiếu; Séc; Thẻ thanh toán…
4.1.4.1 Hối phiếu
Tại điều 3 của BEA, Hối phiếu là một mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện được lập bằng văn bản do một người (gọi là người ký phát) gửi đến một người khác yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu phải trả ngay hoặc đến một ngày cụ thể hoặc một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho người có tên trên tờ phiếu hoặc theo lệnh của người này hoặc cho người cầm phiếu.
Tại khoản 2, điều 4 của Luật các công cụ chuyển nhượng Việt Nam, "Hối phiếu (Hối phiếu đòi nợ) là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền nhất định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng".
Các bên tham gia có quyền lợi và nghĩa vụ về hối phiếu bao gồm:
1 Người ký phát (drawer): Là người lập và ký phát hành hối phiếu.
Trang 62 Người bị ký phát (drawee): Là người có trách nhiệm thanh toán số tiền ghi
trên hối phiếu
3 Người chấp nhận (acceptor): Là người bị ký phát sau khi ký chấp nhận hối
phiếu
4 Người thụ hưởng (beneficiary):là người sở hữu hợp pháp hối phiếu, do đó
có quyền được nhận thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu Người thụ hưởng còn có
tên gọi là người cầm "holder hay bearer" Tuỳ trường hợp, người thụ hưởng có thể
là:
- Người thụ hưởng đích danh, do người ký phát hối phiếu chỉ định Người ký phát có thể chỉ định người thụ hưởng đính danh là chính mình
- Người nhận chuyển nhượng hối phiếu
- Người cầm giữ hối phiếu vô danh
5 Người chuyển nhượng (endorser or assignor): Là người chuyển quyền
hưởng lợi hối phiếu cho người khác bằng cách trao tay hay bằng thủ tục ký hậu (nên còn gọi là người ký hậu)
6 Người bảo hành (avaliseur):Là bất cứ người nào ký tên vào hối phiếu,
ngoại trừ người ký phát và người bị ký phát Nếu hối phiếu đến hạn mà không được người chấp nhận thanh toán, thì người bảo lãnh có trách nhiêm thanh toán hối phiếu cho người hưởng lợi Người bảo lãnh có quyền truy đòi bất kỳ người nào đã ký tên vào hối phiếu kể cả người ký phát
Vì được lưu thông, nên hối phiếu phải có một hình thức nhất định để có thể phân biệt được hối phiếu với các phương tiện thanh toán khác Về hình thức, hối phiếu phải được thể hiện dưới dạng văn bản; hình mẫu hối phiếu do các pháp nhân và thể nhân tự quyết định; ngôn ngữ hối phiếu bằng ngôn ngữ viết tay, in sẵn hoặc đánh máy và phải bằng một thứ tiếng nhất định và thống nhất Hối phiếu có thể được lập thành một hay nhiều bản (thường là hai bản), mỗi bản đều đánh số thứ tự, các bản đều có giá trị như nhau Một chứng từ được xem là hối phiếu phải hội đủ các yếu tố sau đây
- Phải có chữ "Hối phiếu" ghi trên mặt trước chứng từ
- Lệnh thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán vô điều kiện một số tiền nhất định
- Tên và địa chỉ của người bị ký phát
- Địa điểm thanh toán
- Tên của người thụ hưởng
- Ngày, tháng và nơi phát hành hối phiếu
- Tên, địa chỉ và chữ ký của người phát hành hối phiếu
Từ khái niệm và những yếu tố bắt buộc cấu thành, hối phiếu có ba đặc điểm cơ bản sau
Trang 71 Tính trừu tượng của hối phiếu, hay tính độc lập của khoản nợ ghi trên hối
phiếu Đặc điểm này thể hiện trên hối phiếu là, không cần phải ghi nội dung quan hệ
kinh tế, mà chỉ cần ghi rõ số tiền cần phải trả là bao nhiêu, trả cho ai, người nào sẽ thanh toán và thời gian thanh toán khi nào…
2 Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu Theo pháp luật, người bị ký phát phải
trả tiền theo đúng nội dung của hối phiếu, không được viện bất kỳ lý do riêng hoặc chung nào để từ chối trả tiền, nghĩa là việc trả tiền không được kèm theo bất kỳ điều kiện nào, trừ khi hối phiếu được lập trái phiếu với luật điều chỉnh nó
3 Tính lưu thông của hối phiếu Trước hết, hối phiếu là một chứng từ có giá,
tuân thủ chặt chẽ nội dung theo quy định của pháp luật, thể hiện một quan hệ tín dụng được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Là chứng từ có giá, lại có tính trừu tượng
và bắt buộc trả tiền, nên hối phiếu có được tính lưu thông, nghĩa là, hối phiếu có thể được dùng một hay nhiều trong thời hạn của nó để:
- Thanh toán tiền mua hay trả một khoản nợ bất kỳ
- Chuyển nhượng hối phiếu cho người khác
- Cầm cố, thế chấp để vay vốn tại NHTM
- Chiết khấu tại NHTM và tái chiết khấu tại NHTWƯ
4.1.4.2 Kỳ phiếu ( Promissory note)
Kỳ phiếu là một cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập phiếu ký phát hứa trả một số tiền nhất định cho một người khác, hoặc trả theo lệnh của người này hoặc trả cho người cầm phiếu
Trong Luật các công cụ chuyển nhượng của Việt Nam, "bill of exchange" được gọi là hối phiếu đòi nợ, còn "promissory note" được gọi là hối phiếu nhận nợ Hối phiếu đòi nợ nghĩa là người chủ nợ là người lập và ký phát đòi tiền con nợ; còn hối phiếu nhận nợ nghĩa là con nợ tự lập và ký phát hành để nhận nợ với chủ nợ Hiện nay có rất nhiều thuật ngữ tiếng Việt dùng cho "promissory note" với nghĩa là Hối phiếu nhận nợ, kỳ phiếu, lệnh phiếu, hứa phiếu Dù gọi bằng cách nào, thì nội
dung của chúng vẫn là "promissory note", với nghĩa chính là kỳ phiếu.
Một kỳ phiếu phải bao gồm 7 nội dung bắt buộc sau đây
(1) Tiêu đề "Kỳ phiếu"
(2) Lời hứa vô điều kiện trả một só tiền nhất định
(3) Thời hạn trả tiền
(4) Địa điểm trả tiền
(5) Người thụ hưởng
(6) Ngày và nơi phát hành
(7) Chữ ký của người ký phát
Nhìn chung, về quy tắc lưu thông, thì hối phiếu và kỳ phiếu là giống nhau, có thể coi kỳ phiếu như là một hối phiếu đã được chấp nhận bởi người trả tiền Các điều luật dùng để điều chỉnh hối phiếu cũng được áp dụng tương tự cho một kỳ phiếu
Trang 8Hiện nay, trong thương mại quốc tế, người ta chủ yếu sử dụng hối phiếu, còn
kỳ phiếu hiếm thấy Lý do có thể giải thích như sau
- Hối phiếu do chủ nợ ký phát hành đòi nợ, còn kỳ phiếu lại cho con nợ ký phát để nhận nợ Vì chủ nợ ký phát hối phiếu trên cơ sở có một khoản tài sản "Có" nên việc thanh toán được bảo đảm hơn
- Nếu con nợ không trả tiền hối phiếu, thì người ký phát (chủ nợ) phải có trách nhiệm thanh toán (người thanh toán cuối cùng), lại càng làm cho hối phiếu được bảo đảm
- Hối phiếu được chấp nhận lưu thông dễ dàng hơn, đặc biệt là trong các nghiệp vụ chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp vay vốn, chiết khấu tại ngân hàng thương mại
4.1.4.3 Séc (cheque, check)
Séc ra đời từ chức năng làm phương tiện thanh toán và được sử dụng rộng rãi trong những nước có hệ thống ngân hàng phát triển cao Hiện nay, séc là phương tiện chi trả được dùng hầu như phổ biến trong giao dịch nội địa của tất cả các nước Séc cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế về hàng hoá, cung ứng lao vụ,
du lịch và về các chi trả phi mậu dịch khác
Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện do một người (chủ tài khoản), ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả cho người được chỉ định trên séc, hoặc trả theo lệnh của người này, hoặc trả cho người cầm séc
Về hình thức, séc là một văn bản bằng giấy, được chia làm hai phần có đường cắt bằng răng cưa ở giữa để tách rời, gồm:
- Phần cuống séc để người phát hành lưu những điều cần thiết;
- Phần tách rời để trao cho người thụ hưởng
Séc gồm hai mặt, mặt trước in sẵn tiêu đề để điền các yếu tố bắt buộc của tờ séc, mặt sau dùng để ghi các nội dung về chuyển nhượng
Séc thường được ngân hàng in sẵn theo mẫu, có những dòng để trống để người phát hành séc điền vào
Nội dung của tờ séc phải bao gồm những yếu tố bắt buộc như sau
1 Phải có tiêu đề "Séc" ghi trên chứng từ đó và phải cùng thứ ngôn ngữ với nội dung tờ séc
2 Lệnh trả tiền vô điều kiện một số tiền nhất định
3 Người trả tiền
4 Nơi trả tiền
5 Ngày tháng và nơi phát hành séc
6 Tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản và chữ ký của người phát hành séc
Vì séc là một công cụ thanh toán vô điều kiện, trả tiền ngay khi xuất trình, nên những điều sau đây không được cấu thành vào tờ séc
Trang 91 Điều kiện trả tiền Người ký phát cũng như người ký hậu tờ séc, không được
ghi bất cứ điều kiện trả tiền nào, nếu có ghi thì cũng coi như không có (ở đây cần phân biệt điều kiện trả tiền và nội dung trả tiền; có thể ghi nội dung trả tiền như: trả tiền mua hàng hoá, tiền thuê nhà, tiền điện, tiền nước )
2 Chấp nhận Vì séc được thanh toán ngay khi xuất trình, nên không có điều
khoản quy định chấp nhận séc Nếu có quy định thì cũng coi như không có
3 Tiền lãi Séc được thanh toán ngay một lần đúng bằng mệnh giá, nên không
được có điều khoản quy định về tiền lãi Nếu có quy định thì cũng coi như không có
4 Kỳ hạn trả tiền Trong thời hạn hiệu lực (như đã nêu ở trên), séc phải được
trả tiền ngay khi xuất trình Do đó, nếu ấn định một ngày đến hạn nào đó là không có giá trị
5 Miễn trừ bảo đảm trả tiền Người phát hành phải đảm bảo sự trả tiền của
séc, mọi điều khoản miễn trứ bảo đảm thanh toán đối với người phát hành séc được xem như không có
4.1.4.4 Thẻ ngân hàng
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hạn mức tín dụng được cấp Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua
hệ thống giao dịch tự đống hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM
Dù do bất cứ tổ chức tài chính hoặc phi tài chính phát hành, thẻ ngân hàng đều được làm bằng plastic theo kích cỡ chuẩn quốc tế và bao gồm các yếu tố căn bản như: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của Nhà phát hành, số thẻ, ngày hiệu lực và tên chủ thẻ Ngoài ra, thẻ còn có thể có tên Công ty chịu trách nhiệm thanh toán thẻ hoặc thêm một số yếu tố khác theo quy định của Tổ chức hoặc tập đoàn thẻ quốc tế
Trên thế giới có rất nhiều loại thẻ ngân hàng Các loại thẻ chính được sử dụng phổ biến bao gồm:
- Thẻ tín dụng (Credit Card)
- Thẻ thanh toán (Charge Card)
- Thẻ chuyển tiền tự động (Automatic Transfer Money – ATM)
- Thẻ ghi nợ (Debit Card)
- Thẻ đảm bảo (Check Guarantee Card)…
4.2 QUY TRÌNH THỰC HIỆN THANH TOÁN QUỐC TẾ
4.2.1 Quy trình thực hiện phương thức chuyển tiền - Remittance
4.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm
Trang 10Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định
Có thể nói, chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản, trong đó, người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hàng thanh toán trực tiếp với nhau Ngân hàng khi thực hiện chuyển tiền chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo uỷ nhiệm để hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển tiền và người thụ hưởng
Có hai hình thức chuyển tiền sau
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer - M/T) Là hình thức chuyển tiền, trong
đó lệnh thanh toán (Bank draft) của ngân hàng chuyển tiền được chuyển bằng thư cho ngân hàng trả tiền
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer - T/T) Là hình thức chuyển
tiền, trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức điện gửi cho ngân hàng trả tiền bằng telex hay mạng swift
Hình thức chuyển tiền bằng điện nhanh, nên có lợi cho nhà xuất khẩu, nhưng chi phí lại cao; còn hình thức chuyển tiền bằng thư thì chậm song chi phí lại thấp
4.2.1.2 Quy trình nghiệp vụ
a) Các bên tham gia
- Người chuyển tiền hay người trả tiền (Remitter) Là người đưa ra yêu cầu chuyển tiền, thường là người nhập khẩu, người mua, người mắc nợ, chủ đầu tư, người chuyển kiều hối Người trả tiền là người yêu cầu các ngân hàng chuyển tiền
ra nước ngoài
- Người thụ hưởng (Beneficiary) Là người xuất khẩu, chủ nợ, người nhận vốn đầu tư, người nhận kiều hối là do người chuyển tiền chỉ định
- Ngân hàng trả tiền (Paying Bank) Là ngân hàng trả tiền cho người thụ hưởng, là ngân hàng đại lý hay chi nhánh của ngân hàng chuyển tiền
b) Các bước tiến hành
Sơ đồ 4.1 – Qui trình chuyển tiền
Ngân hàng trả tiền
(Paying Bank)
Ngân hàng chuyển tiền (Remittig Bank) (4)
Người thụ hưởng
(Beneficiary)
Người chuyển tiền (Remitter) (1)