1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chương 3 Tài chính quốc tế học viện tài chính

44 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 366 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vốn thặng dư của Công ty X có thể đượcchuyển giao cho Công ty Y thông qua những tổ chức môi giới tài chính quốc tế.Việc can thiệp này có thể gồm 3 giai đoạn, đầu tiên, Công ty X ký quỹ c

Trang 1

Chương 3 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

3.1 SỰ HÌNH THÀNH, VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 3.1.1 Sự hình thành và quá trình phát triển của thị trường tài chính quốc

tế

3.1.1.1 Sự hình thành thị trường tài chính quốc tế

Đặc điểm phổ biến trong phát triển kinh tế của các quốc gia là hướng ra bênngoài, hoà nhập vào dòng chảy của kinh tế thế giới bằng việc đẩy mạnh hoạt độngngoại thương và các hoạt động đối ngoại khác Chính sự phát triển và mở rộng cáchoạt động này là cơ sở phát sinh các mối quan hệ giao lưu vốn giữa các quốc giavới nhau, hình thành nên thị trường tài chính quốc tế Nói cáh khác, thị trường tàichính quốc tế ra đời được xuất phát từ những căn nguyên nhất định sau đây

Thứ nhất, Do sự phát triển không đồng đều giữa các nước cho thấy một thực

tế là, trong các hoạt động trao đổi quốc tế, các nớc kém phát triển thường rơi vàotình thế bất lợi, dẫn đến sự thiếu hụt thường xuyên trên cán cân thanh toán quốc tế,nên nhu cầu về ngoại hối thường rất căng thẳng, vì thế rất cần phải vay mượn vốnnước ngoài Bên cạnh đó, các nước phát triển thường có thặng dư lớn trên cán cânthanh toán quốc tế cũng ra sức tìm mọi cách để chuyển số thặng dư đó ra nước

ngoài (trong đó có đầu tư tín dụng) nhằm tím kiếm lợi nhuận, chiếm lĩnh thị trường,

nguồn nguyên liệu và sử dụng lao động rẻ ở nước ngoài

Mặt khác, trong thương mại quốc tế, vẫn thường xuyên diễn ra các cuộcchiến tranh thương mại gay gắt giữa các cường quốc kinh tế - tài chính, đã buộc họphải sử dụng các công cụ tín dụng như thứ vũ khí để chiếm lĩnh thị trường tiêu thụhàng hóa, để tranh thủ các điều kiện có lợi cho mình, để trợ cấp xuất khẩu tăng tíchluỹ về tư bản nhằm chống chế và đánh bại lẫn nhau

Nh vậy, sự phát triển của nền kinh tế thị trường nảy sinh nhu cầu về vốn cũngnhư xuất hiện khả năng cung cấp vốn giữa các quốc gia Một khi phát sinh nhu cầuvay mượn, nhu cầu thanh toán vượt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia thì đư-

ợc gọi là thị trường tài chính quốc tế

Thứ hai, Để tăng tiềm lực về sức mạnh công nghiệp

Ở các nước, việc tài trợ bên ngoài cho ngành công nghiệp rất khác nhau.Trong lịch sử, ngành công nghiệp của Anh, Mỹ phần lớn nhờ nguồn tài chính trựctiếp từ thị trường tài chính thông qua việc bán chứng khoán Một xu hướng mớiđang phát triển cho các khoản vay của tập đoàn là phát hành chứng khoán chuyển

nhượng ở thị trờng chứng khoán Quá trình này được gọi là "chứng khoán hoá"

Chứng khoán hoá là quá trình chuyển dịch một tổ hợp các khoản cho vaythành các chứng khoán khả mại có thể bán trên thị trường thứ cấp Bằng việc chianhỏ tập chọn các khoản cho vay theo những hạng tiền đã được chuẩn hoá, ngânhàng có thể bán gốc và quyền thu lãi của các khoản cho vay này cho bên thứ ba

Trang 2

như một chứng khoán Dưới góc độ quản trị ngân hàng hiện đại, kỹ thuật sáng tạonày được gọi là chứng khoán hoá các khoản cho vay

Với sự xuất hiện và tồn tại của công cụ tài chính mới này, giờ đây các tổ chứctín dụng có thể dễ dàng tập hợp các khoản cho vay thế chấp có hạng tiền tương tự

nhau có thể bán lại cho nhà đầu tư Việc "chứng khoán hoá" một cách rộng rãi đã

làm giảm chi phí sử dụng vốn ở thị trường tài chính, trong khi đó chi phí vay từngân hàng cao Các công ty nhỏ, danh tiếng thấp nhận thấy vay từ thị trường tàichính thì kinh tế và đơn giản hơn là vay từ các ngân hàng trong nước Từ đó ra đờicác trung tâm tài chính quốc tế lớn - nơi chuyển giao, vay mượn các nguồn vốn củacác doanh nghiệp lớn, công ty siêu quốc gia

Như vậy, do cạnh tranh đã dẫn đến một hệ thống tài chính quốc tế, mà yếu tố

cơ bản chính là sự sáng tạo, sự phát triển của khoa học công nghệ Chính sự pháttriển này nó đã cho phép các công ty đi vào thị trường mà trước đây không thể thâmnhập và cho phép các nhà đầu tư cũng như các nhà phát hành chứng khoán mua bánvốn tự do trên thị trường, làm cho lưu chuyển vốn quốc tế tăng lên nhanh chóng

Ví dụ3.1 - Công ty X của Bỉ luôn thặng dư vốn tìm cách đầu tư ra nước ngoài,

trong khi Công ty Y của Nhật Bản đang cần vốn Công ty Y có thể phát hành chứngkhoán mới và bán chúng cho Công ty X Vốn thặng dư của Công ty X có thể đượcchuyển giao cho Công ty Y thông qua những tổ chức môi giới tài chính quốc tế.Việc can thiệp này có thể gồm 3 giai đoạn, đầu tiên, Công ty X ký quỹ của mìnhvào một ngân hàng trong nước; tiếp đến, ngân hàng Bỉ lại ký quỹ số tiền này vàomột ngân hàng ở trung tâm tiền tệ quốc tế London để cho ngân hàng của Nhật Bảnvay tiền và cuối cùng cho Công ty Y vay số tiền này

Thứ ba, Cùng với những tiến bộ trong công nghệ thông tin, việc giảm các quy

định về tài chính nước ngoài đã xoá mờ những ngăn cách giữa thị trường tài chínhtrong nước và thị trường ngoài nước Khi công nghệ thông tin phát triển, chi phígiao dich giảm, thế giới trở nên rộng lớn, nối liền thành một thị trường Thị trườngtrái phiếu, thị trường hối đoái … hoạt động liên tục 24 giờ và trên khắp thế giới vớimột quy mô khổng lồ Toàn cầu hoá thị trường tài chính mang lại sức mạnh cạnhtranh cha từng có giữa những trung tâm tài chính và các định chế tài chính Điềunày đã làm giảm hơn nữa chi phí huy động vốn trên thị trường thông qua việc pháthành những chứng khoán mới

Với thông tin sẵn có rộng rãi đặt nền tảng cho sự phát triển toàn cầu lượnggiao dịch chứng khoán xuyên quốc gia và nguồn tài trợ cũng không ngừng tăng lên.Các tổ chức tín dụng, các công ty không ngừng mở rộng nguồn quỹ của mình ở thịtrường nội địa mà còn nhanh chóng khai thác và thu hút vốn trên các thị trường vốnquốc tế

Do quá trình hiện đại hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế đã tạo ra một khônggian kinh tế mới có khả năng thực hiện mọi quan hệ giao lưu, tương tác trong một

Trang 3

thời gian ngắn nhất với mọi chủ thể của các quá trình kinh tế ở mọi cấp độ khácnhau Nhờ đó, lưu thông kinh tế quốc tế trở thành một mạch máu kinh tế tuần hoànliên tục bao trùm cả hành tinh Vì vậy, thị trường tài chính quốc tế ra đời và pháttriển ở khắp mọi nơi, có vai trò như những tổ chức trung gian tài chính giữa nhữngnhà cung cấp và ngời sử dụng

Thị trường tài chính quốc tế là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bánvốn giữa các quốc gia thông qua những công cụ tài chính nhất định

3.1.1.2 Quá trình phát triển của thị trường tài chính quốc tế

Trong những năm vừa qua, thị trường tài chính quốc tế có sự phát triển mạnh

cả về quy mô lẫn n tố lịch sử gồm sự sụp đổ của chế độ tỷ giá cố định BrettonWoods, sự tan vỡ của mô hình thương mại truyền thống và sự tập trung của cải vàocác nớc thuộc tổ chức đầu lửa OPEC do cuộc khủng hoảng dầu lửa (những năm

1974 - 1979) gây ra; sự thâm hụt ngân sách khổng lồ và bất thường ở Mỹ, sự trỗidậy vượt bậc của Nhật Bản trong lĩnh vực tài chính suốt thập niên 80; sự bành trư-ớng kinh tế toàn cầu khởi đầu từ cuối năm 1982; cuộc chiến vùng Vịnh và hậu quả

để lại vào những năm đầu 90… Các nhân tố kinh tế và công nghệ mang tính dài hạn

đã xúc tiến quá trình quốc tế hoá các thị trường tài chính, bao gồm khuynh hướngtoàn cầu hướng đến một hệ thống quy chế tài chính thông thoáng

Hệ thồng tỷ giá cố định Bretton Woods ra đời năm 1944 và tồn tại đến năm

1971 Với hệ thống tỷ giá này, các doanh nghiệp không phải quan tâm đến việcphòng chống biến động tỷ giá hối đoái Nhưng khi chế độ tỷ giá cố định sụp đổ, chế

độ tỷ giá thả nổi ra đời, đã làm cho giá trị các loại tiền tệ luôn biến động, nhiều lúcmang tính đột biến Các ngân hàng quốc tế đã nhanh chóng xây dựng một đội ngũnhân viên đông đảo và tinh thông về kinh doanh hối đoái nhằm đáp ứng nhu cầu củacác doanh nghiệp Nghiệp vụ swap tiền tệ và lãi suất ra đời, nhờ đó mà các doanhnghiệp có thể trao đổi một khoản nợ theo loại tiền tệ có lãi suất cố định với mộtkhoản nợ khác có lãi suất thả nổi theo loại tiền được ưa chuộng hơn Nghiệp vụ này

đã trở thành một công cụ quản trị tài chính quốc tế

Vào những năm 70, các ngân hàng quốc tế đóng vai trò nòng cốt trong việc

lưu chuyển nguồn thặng dư của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) trên

thị trường dầu lửa Các ngân hàng bán các khoản tiền gửi của OPEC rộng khắp, qua

đó hướng dòng vốn này về các quốc gia đang phát triển dưới hình thức khoản tíndụng hợp vốn trung hạn

Nước Mỹ từ một quốc gia chủ nợ lớn nhất thế giới vào năm 1980, lại trởthành quốc gia con nợ cũng lớn nhất thế giới vào năm 1988, do đầu tư của doanhnghiệp thực tế tăng lên trong khi thâm hụt ngân sách ngày càng lớn, dẫn đến Mỹphải đi vay nợ nước ngoài với quy mô lớn Khi nợ quốc gia của Mỹ bùng nổ vượt

quá mức cho phép thì một thị trường trái phiếu thật sự toàn cầu (chứng khoán kho

bạc Mỹ) đã được khai sinh với quy mô rộng lớn và tính thanh khoản cao Giới đầu

Trang 4

tư nước ngoài ra sức nắm giữ một lượng khổng lồ USD, nhờ đó họ có thể đầu tưvào các tài sản tài chính được định giá theo đồng tiền này hoặc chuyển vốn vàonước Mỹ như một dạng đầu tư nước ngoài

Trong khi thâm hụt thương mại của Mỹ tăng lên thì thương mại của Nhật Bảnlại bắt đầu có thặng dư và ngày càng lớn Với lượng dự trữ ngoại tệ hùng hậu cùngvới một tỷ lệ tiết kiệm quốc gia cao và tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định đã đưacác ngân hàng và công ty chứng khoán của Nhật vào vị trí hàng đầu trong các tổchức tài chính quốc tế Do lãi suất của Nhật thấp xa so với lãi suất ở các nước côngnghiệp, nên giới tài chính Nhật có khả năng giành giật tài trợ kinh doanh cho cácdoanh nghiệp quốc tế, từ đó họ đã sớm chiếm được vị trí thống trị ở hầu hết các thịtrường tài chính, cả trong nước và trên thế giới

Sự thịnh vượng của các nớc công nghiệp trong suốt thập kỷ 80 lại tạo áp lựcđòi hỏi phải thúc đẩy quá trình quốc tế hoá tài chính Các doanh nghiệp mở rộngquy mô kinh doanh khắp toàn cầu nên cần có số vốn bổ trợ từ các thị trường vốnquốc tế Vì vậy, khi thị trường vốn khắp thế giới đã chứng kiến sự phát triển bộcphát về giá trị và doanh số giao dịch, điều này đã góp phần đẩy nhanh dòng lưuchuyển vốn quốc tế từ giới đầu tư theo đuổi mục tiêu phân tán rủi ro đến giới doanhnghiệp mong muốn nguồn tài trợ chi phí thấp

Trong những năm gần đây, khi các nền kinh tế trên thế giới ngày càng trở nêntương thuộc lẫn nhau, các tập đoàn công ty đa quốc gia đã gia tăng quyền lực Đốivới các công ty này vốn hầu như hoàn toàn cơ động và phương thức quản trị tàichính mang tính toàn cầu về phạm vi cùng với các kỹ thuật phức tạp Vỳ hoạt độngtrên phạm vi rộng, toàn cầu, do đó đòi hỏi phải có hệ thống chuyên nghiệp trongviệc kinh doanh mới đáp ứng nổi Mặt khác, xu hướng toàn cầu hoá đã được xem làphơng châm phát triển chủ đạo, vì nếu không, sẽ không tồn tại và phát triển trongmột thế giới không biên giới Xu hướng liên kết quốc tế ngày càng tăng giữa các thịtrường tài chính trên khắp thế giới xoay quanh các trục tài chính chủ yếu như NewYork, London, Tokyo… Nhờ sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ máy tính và côngnghệ thông tin viễn thông hiện đại đã góp phần chuyển giao nhanh chóng và tiện lợicác giao dịch trên thị trường tài chính quốc tế

Các nhà buôn bán chứng khoán có thể đặt lệnh mua bán hàng tỷ dollar trênthị trường vốn quốc tế vào bất cứ lúc nào thông qua các trục tài chính chủ yếu Sựphát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính quốc tế tạo điều kiện cho kinh tế từng n-ước cũng nh khu vực phát triển

3.1.2 Phân loại thị trường tài chính quốc tế

Hiện nay có những quan niệm khác nhau về phân chia thị trường tài chínhquốc tế Tuỳ theo giác độ nghiên cứu, ngời ta có thể dựa vào một số tiêu thức sau:

3.1.2.1 Căn cứ vào phạm vi giao dịch

Dới giác độ này, thị trường tài chính quốc tế gồm

Trang 5

- Thị trường tài chính quốc gia như là các trung tâm tài chính quốc tế.

Ở một số nước, thị trường tài chính nội địa có khả năng thu hút cả những nhàđầu tư và tài trợ từ nước ngoài Trên thị trường này người nước ngoài có thể vay vàcho vay tiền Vì vậy, hoạt động của thị trường này như là một thị trường tài chínhquốc tế, như: Thị trường tài chính Hong Kong, Singapore, Luxemburg…

- Thị trường tài chính quốc tế mang tính toàn cầu.

Đây là thị trường hoạt động không chịu sự chi phối, kiểm soát bởi luật lệ củaquốc gia nào, như: Thị trường tiền tệ Châu Âu, thị trường trái phiếu Châu Âu…

3.1.2.2 Căn cứ vào thời gian luân chuyển của vốn

Theo cách phân loại này, người ta phân chia làm 2 loại là vốn ngắn hạn vàvốn trung, dài hạn

Các nguồn vốn ngắn hạn vận động không tập trung, chủ yếu là các phươngtiện thanh toán và được quy thành đối tượng của thị trường tiền tệ

Các nguồn vốn trung và dài hạn vận động tập trung thành các kênh lớn vớikhối lượng lớn để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và được tụ lại các điểmgiao dịch vốn lớn, được xem là đối tượng của thị trường vốn

Như vậy, theo mô hình này thì thị trường tài chính quốc tế bao gồm thịtrường tiền tệ quốc tế và thị trường vốn quốc tế Thị trường tiền tệ quốc tế chủ yếu

là hoạt động cho vay ngắn hạn và trao đổi, mua bán các loại tiền tệ (hối đoái quốc

tế) Hoạt động của thị trường tiền tệ quốc tế chủ yếu diễn ra thông qua thống ngân

hàng và các tổ chức tín dụng khác Còn thị trường vốn quốc tế là nơi cung ứng vốntrung và dài hạn cho nền kinh tế của các quốc gia; trong đó bao gồm thị trường tíndụng quốc tế trung, dài hạn và thị trường chứng khoán quốc tế Dưới giác độchuyên môn, nghiệp vụ, hai mảng thị trường tài chính quốc tế quan trọng nhất làThị trường hối đoái quốc tế và Thị trường vốn quốc tế

3.1.2.3 Căn cứ vào địa điểm giao dịch

Ngày nay, trên thị trường tài chính quốc tế, các giao dịch tài chính ngày càngphát triển và tập trung vào các thị trường sau:

Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các công ty chứng khoán liên tục xuấthiện và mở rộng hoạt động Thị trường tài chính London đã cung cấp một lượngvốn khổng lồ cho các nước đang phát triển Thị trường này không chỉ giới hạn thanhtoán khoản mậu dịch mà còn là thị trường vay nợ, cung cấp dịch vụ tài chính và

Trang 6

điều tiết vốn giữa các ngân hàng Đây chính là bộ phận chính của thị trường tàichính Châu Âu

Vào những năm 70, thị trường này cung cấp vốn dựa vào việc phát hànhEurenote, đây được coi là hoạt động trọng tâm Các công cụ Euro note này đều có

sự đảm bảo của ngân hàng Tại thị trường này các ngân hàng có số dư tiền gửi rấtlớn, nhng tiền gửi bằng bảng Anh chỉ chiếm khoảng 1/3, số còn lại gửi bằng ngoại

tệ Vì vậy, London không chỉ được coi là thị trường tài chính của nước Anh mà còn

là thị trường tài chính Châu Âu

- Thị trường New York

New York với tư cách là thị trường tài chính quốc tế phát triển, không chỉ thểhiện ở quy mô, sự phát triển của các nghiệp vụ ở mức độ cao mà còn có nhiều chủthể tham gia với nhiều loại công cụ đa dạng Thị trường New York còn là thị trườngtài chính quốc tế mở cho những người không cư trú trong vùng

Tại thị trường New York có thể tìm thấy các thị trường con giành cho Quỹliên bang, thoả thuận mua lại; công cụ ngắn hạn của các tổ chức tài chính có liênquan tới liên bang; các thương phiếu, giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng Thịtrường New York rất phát triển bằng cách mở rộng cửa đối với người ngoại quốc,đối xử với các tổ chức tài chính nước ngoài như với các doanh nghiệp trong nước

- Thị trường Tokyo

Thị trường Tokyo cũng đợc xếp vào 1 trong 3 thị trường lớn nhất thế giới Tại thị trường London, các nghiệp vụ tài chính tổng hợp đều do các ngânhàng thương mại thực hiện Tại thị trường New York đảm nhận chức năng tài chínhtổng hợp là các ngân hàng đầu tư Còn đối với Nhật Bản thì loại ngân hàng thựchiện chức năng tài chính tổng hợp chưa có Vì vậy, thị trường tài chính quốc tếTokyo đã thiếu sự hấp dẫn quốc tế so với các thị trường khác

Các trung tâm tài chính quốc tế quan trọng hầu hết đều là trung tâm tài chínhnội địa mạnh Ngoài ra, một số nước có nguồn tài chính không mạnh nhưng lại lànhững trung tâm tài chính quốc tế quan trọng Những thị trường này bao gồm: Thụy

Sỹ, Luxemurg, Singapore, Hong Kong, Buhamas… có tác dụng như những kho tàichính hoặc như những kênh chuyển vốn giữa nhà cung cấp vốn và người sử dụngvốn giữa các quốc gia

Trong các tiêu thức phân chia nêu trên, tiêu thức phân chia theo thời gianluân chuyển của vốn được đề cập nhiều nhất Theo cách phân chia này thì thị trường

tài chính quốc tế bao gồm thị trường tiền tệ quốc tế (mà chủ yếu là thị trường hối

đoái quốc tế) và thị trường vốn quốc tế

Nhưng trên thực tế không phải dễ dàng chỉ ra đâu là khu vực chuyên môn hoácủa thị trường tiền tệ quốc tế và đâu là khu vực chuyên môn hoá của thị trường vốn

quốc tế Hai thị trường này có liên quan mật thiết với nhau Các biến đổi (về giá cả,

lãi suất) trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường

Trang 7

vốn Ngược lại, các thay đổi của thị trường vốn (chỉ số Dow - Jones hoặc thị giá cổ

phiếu…) cũng phản ánh các hiện tượng tốt hay xấu, đã, đang hoặc sẽ xảy ra trên thị

trường tiền tệ

Xuất phát từ những đời hỏi thực tiễn của nền kinh tế, trong tương lai sẽkhông thể tồn tại một thị trường tiền tệ quốc tế thuần tuý và cũng không thể có mộtthị trường vốn quốc tế thuần tuý mà sẽ tồn tại một thị trường tài chính - tiền tệ quốc

tế hỗn hợp

3.1.3 Vai trò của thị trường tài chính quốc tế

Thị trường tài chính quốc tế có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Vai trò của nó được thể hiện trên các điểmsau:

Thứ nhất, Thị trường tài chính quốc tế đóng vai trò to lớn trong việc thu hút

các nguồn tài chính nhàn rỗi của các chủ thể trong xã hội, đầu tư cho vay các nhucầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Để tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển và tăng trưởng bền vững thì phảigiải quyết được nhu cầu vốn Sự thiếu hụt vốn là một trong những trở ngại chínhkìm hãm việc phát triển kinh tế của một đất nước Vì vậy, thông qua các công cụ tàichính phong phú, đa dạng và cơ chế hoạt động có hiệu quả, thị trường tài chínhquốc tế sẽ thu hút và chuyển giao các khoản tiền nhàn rỗi để tài trợ kịp thời cho cácnhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Thị trường tài chính quốc tế hoạt động có hiệuquả sẽ tận dụng được ở mức cao nhất mọi nguồn vốn tiềm tàng trong nước và nướcngoài để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của người dân

Sự tài trợ của thị trường tài chính quốc tế đối với sự phát triển của nền kinh tếđược thực hiện dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp Việc tài trợ trực tiếp đượcthể hiện ở chỗ các chủ thể thừa vốn đáp ứng trực tiếp nhu cầu thiếu vốn của các chủthể khác thông qua việc mua các chứng khoán khởi thuỷ của các chủ thể này Trư-ờng hợp này dòng tiền tệ vận động thẳng từ các chủ thể thừa vốn sang các chủ thểthiếu vốn và các chứng khoán khởi thuỷ vận động ngược chiều với dòng tiền tệ.Còn trường hợp tài trợ gián tiếp thì các chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếu vốn giaodịch thông qua các trung gian tài chính Các trung gian tài chính ngoài việc huy

động dưới hình thức tiết kiệm, còn phát hành các chứng khoán (trái phiếu, tín phiếu

…) để thu hút vốn, sau đó dùng vốn gom được để mua các chứng khoán khởi thuỷcủa các chủ thể thiếu vốn phát hành Như vậy, dòng tiền từ nơi thừa được đưa sangnơi thiếu thông quá các trung gian tài chính

Thứ hai, Thị trường tài chính quốc tế có vai trò quan trọng thúc đẩy nâng cao

hiệu quả sử dụng các nguồn vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dịch chuyển vốn

từ lĩnh vực kinh doanh kém hiệu quả sang lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả hơn.Qua việc sử dụng vốn này, các doanh nghiệp đầu tư - đặc biệt doanh nghiệp ở các

Trang 8

nước đang phát triển, có cơ hội tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm quản lý tiên tiếncủa nước ngoài

Việc huy động và sử dụng vốn trên thị trường tài chính quốc tế diễn ra trên cơ

sở quan hệ cung cầu Bất kỳ chủ thể ở quốc gia nào khi sử dụng vốn trên thị trườngtài chính đều phải trả lãi, phí hoặc chỉ trả phí Điều này buộc chủ thể cần vốn phảiquan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn Với sự phát triển của thị trường tài chính quốc

tế sẽ tạo ra những cơ hội cho các chủ thể đầu tư bỏ vốn vào những nơi có hiệu quảnhất

Thứ ba, Thị trường tài chính quốc tế giúp cho việc mở rộng thị trường tiêu

thụ hàng hóa xuất nhập khẩu, mở rộng giao lưu vốn giữa các quốc gia trên toàn thếgiới

Tóm lại, thị trường tài chính quốc tế đã góp phần nâng cao năng suất và hiệu

quả của nền kinh tế, thông qua thị trường tài chính các chủ thể sản xuất kinh doanh

có năng lực có thể sử dụng vốn của chủ thể khác để làm giàu cho mình và tạo thêmcông ăn việc làm cho xã hội Hoạt động của thị trường tài chính quốc tế mang lại lợi

ích cho cả hai chủ thể (người đi vay và người cho vay) Thị trường tài chính quốc tế

tạo môi trường thuận lợi để dung hoà các lợi ích kinh tế khác nhau của các thànhviên khác nhau trên thị trường Vai trò của chúng càng được thể hiện rõ nét hơnthông qua tìm hiểu sâu hơn hai mảng chủ yếu, quan trọng nhất của thị trường tàichính quốc tế là thị trường hối đoái quốc tế và thị trường vốn quốc tế dưới đây

3.2 THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI QUỐC TẾ VÀ CÁC NGHIỆP VỤ CHỦ YẾU

3.2.1 Thị trường hối đoái quốc tế và thị trường ngoại hối

3.2.1.1 Thị trường hối đoái quốc tế

a) Xuất xứ và khái niệm

Lần lại lịch sử lưu thông tiền tệ thế giới cho thấy, trong chế độ bản vị vàng

(vàng được lựa chọn làm tiền tệ), những đồng tiền vàng của các quốc gia không

những thực hiện đầy đủ các chức năng của tiền tệ quốc gia, mà còn thực hiện đượcchức năng tiền tệ thế giới Tuy vậy, do tiêu chuẩn giá cả của các đồng tiền có sựkhác biệt, nên trong quá trình thanh toán giữa các chủ thể của các quốc gia xuất

hiện hoạt động đổi tiền Lúc này đúng nghĩa là "đổi tiền", mà chưa phải là "mua

bán tiền", nên chưa có thị trường mua bán tiền tệ quốc tế (Thị trường hối đoái quốc

tế - The International Foreign Exchange Market) chính thức Trong khi đó, vàng

cũng được thực hiện mua bán giữa các quốc gia nhưng được coi như mua bán cáchàng hoá bình thường khác, vì số vàng này chủ yếu là dùng để làm nguyên liệu chomột số ngành sản xuất, chế tác đồ trang sức

Chỉ đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi Chính phủ Mỹ thực hiện Kế

hoạch Marshall, tiến hành viện trợ (USAID) ồ ạt cho các nước Tây Âu, trong đó có

một khối lượng không nhỏ những đồng USD tiền mặt, thì lần đầu tiên, một đồngtiền dấu hiệu của một quốc gia được tự do lưu hành trên lãnh thổ của các quốc gia

Trang 9

khác và thực hiện đầy đủ các chức năng tiền tệ như những đồng bản tệ của chínhcác quốc gia đó Sỡ dĩ có tình trạng này là theo Hiệp ước Bretton Woods 1944, tạibất kỳ Ngân hàng Mỹ nào, cứ 35 USD là đổi được 01 ounce vàng Điều này dẫn tới

những đồng USD dấu hiệu lưu hành ở châu Âu và chúng đợc gọi là Eurodollar để phân biệt với American Dollar đang lưu hành trên lãnh thổ nước Mỹ Những

Eurodollar được trao đổi với các đồng tiền bản tệ, mà thực chất là hoạt động mua đibán lại chúng, làm xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới thị trường hối đoái quốc tếchính thức

Tiếp theo đồng Eurodollar, những đồng tiền dấu hiệu của các quốc gia pháttriển khác, như GBP, FFR, DM, EUR cũng dần được trao đổi, mua bán trên cáctrung tâm giao dịch của thị trường tiền tệ quốc tế, như ở London, Newyork,Frankfurt, Tokyo, Singapore làm cho thị trường hối đoái quốc tế ngày càng hoànthiện

Như vậy, có thể hiểu, thị trường hối đoái quốc tế là nơi diễn ra các hoạt độngtrao đổi, mua bán tất cả những gì thực hiện được chức năng tiền tệ trên phạm vi

toàn thế giới (trong đó chủ yếu là đồng tiền của các quốc gia).

b) Đặc điểm của thị trường hối đoái quốc tế

- Khối lượng giao dịch lớn Khối lượng giao dịch hay quy mô của thị trường

hối đoái là rất lớn Theo thống kê, doanh thu toàn cầu trung bình hàng ngày từ cácgiao dịch thị trường hối đoái truyền thống vào năm 2006 đạt 2,7 nghìn tỷ USD.Doanh thu toàn bộ từ thị trường này, bao gồm cả các giao dịch công cụ ngoại hốiphái sinh và các sản phẩm khác lên tới 2,9 nghìn tỷ USD/ ngày Con số này gấp 10

lần doanh thu hàng ngày của tất cả các thị trường vốn cổ phần (equity) trên thế giới

cộng lại Giao dịch hối đoái tăng 38% từ tháng 4/2005 đến tháng 4/2006 và tăng gầngấp đôi kể từ năm 2001 Điều này chủ yếu do tầm quan trọng ngày càng tăng lêncủa các loại tiền tệ với tư cách chúng đều là những tài sản Các giao dịch được thựchiện thông qua mạng lưới internet cũng giúp cho các nhà buôn lẻ thuận lợi và dễdàng hơn khi tham gia thị trường

Lượng giao dịch trung bình hàng ngày vào tháng 4 các năm (tính theo tỷ USD)

được thể hiện trên biểu đồ 3.1 dưới đây

Biểu đồ 3.1 Doanh thu trung bình hàng ngày trên thị trường hối đoái quốc

tế (1988 – 2007)

Đơn vị: tỷ USD

Trang 10

- Có sự phân tán về địa lý Do thị trường hối đoái là một dạng thị trường phi

tập trung (OTC), nơi mà các nhà môi giới và nhà buôn trực tiếp thương lượng với

nhau nên không nhất thiết phải là một địa điểm cụ thể Chúng thực chất là mộtmạng lới toàn cầu, đưược hình thành tại bất cứ nơi nào có hoạt động trao đổi, muabán tiền tệ diễn ra Nói cách khác, chỳng không tập trung đặt địa điểm tại một nơiduy nhất mà nằm rải rác khắp các trung tâm tài chính lớn của thế giới như London,New York, Paris, Zurich, Amsterdam, Tokyo, Frankfurt, Hongkong, Singapore Trung tâm giao dịch hối đoái tính theo địa lý lớn nhất hiện nay là Anh, mà chủyếu là London Tỷ trọng doanh thu từ các giao dịch truyền thống trên thị trường hốiđoái Anh trong tổng doanh thu toàn cầu tăng từ 31,3% vào tháng 4 năm 2004 lên32,4% vào tháng 4 năm 2006

- Thời gian giao dịch liên tục 24/24giờ Do bản chất "phi tập trung" của các thị

trường tiền tệ nên không tồn tại chỉ một thị trường hối đoái thống nhất mà có rấtnhiều địa điểm giao dịch khác nhau, cũng có nghĩa là các giao dịch hối đoái diễn raliên tục 24/24 giờ Khi các phiên giao dịch ở châu Á kết thúc thì cũng là lúc cácphiên giao dịch mới ở châu Âu bắt đầu; sau đó là các phiên giao dịch tại Mỹ, rồiquay trở lại châu Á…

- Có tính nhạy cảm cao Trên thị trường hối đoái những biến động về tỷ giá

luôn luôn bắt nguồn từ khối lượng giao dịch thực tế của các loại tiền tệ cũng như từ

sự kỳ vọng về những thay đổi của các dòng tiền được giao dịch do sự thay đổi củatăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, ngân sách, thâm hụt hoặc thặng dư thương mại,

những thoả thuận sáp nhập và mua lại lớn xuyên biên giới (cross-border M&A) và

các điều kiện kinh tế vĩ mô khác Do đó, thông tin về các sự kiện kinh tế, chính trị,

xã hội, v v… thường có tác động sâu sắc đến thị trường này

- Các loại tiền tệ được giao dịch với nhau theo cặp Chính vì vậy, mỗi cặp tiền

tệ sẽ tạo nên một sản phẩm hàng hoá riêng trên thị trờng và thông thường được ký

hiệu là: XXX/YYY (Ví dụ: USD/EUR, USD/GBP).Error: Reference source not

found Theo đó, tỷ giá hối đoái giữa các loại tiền tệ khác nhau được công bố trên báo

Trang 11

được ký hiệu nhiều nhất bằng ba chữ cái thay vì dùng tên nguyên gốc hoặc biểutượng của chúng Theo thống kê trên thị trường giao ngay, những sản phẩm đượcgiao dịch nhiều nhất là:

•EUR/USD: 28%

•USD/JPY: 18%

•GBP/USD: 14%

Đồng USD của Mỹ hiện diện trong 88,7% các giao dịch trên thị trường (cả

mua và bán); theo sau là đồng EURO (37.2%), Yên Nhật (JPY- 20.3%), và Bảng

THỊ PHẦN B.QUÂ N NGÀY

- Giao dịch chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại Các

giao dịch trên thị trường hối đoái thường được ví von là diễn ra "nhanh như chớp"

Trang 12

nhằm tận dụng các cơ hội chênh lệnh tỷ giá dù là nhỏ nhất Để thực hiện được điềunày, các chủ thể tham gia trên thị trường luôn tận dụng triệt để các phương tiệnthông tin liên lạc hiện đại như điện thoại, telex, mạng internet, mạng SWIFT nhằmtruyền những thông tin đi một cách nhanh nhất Nhân viên giao dịch hối đoái ở cácngân hàng luôn có bên cạnh rất nhiều máy điện thoại, các màn hình, máy telex…Nhờ đó mà thông tin về diễn biến của thị trường được cập nhật đến từng phút.

c) Cấu trúc của thị trường hối đoái quốc tế

Thị trường hối đoái được chia thành các cấp độ (levels) Cấp độ cao nhất là thị

trường liên ngân hàng, với sự tham gia của các ngân hàng đầu tư và ngân hàng

thương mại (commercial banks) lớn Chênh lệch (spreads) giữa giá chào mua (bid

price - BP) và giá chào bán (ask price - AP) trên thị trường này là rất nhỏ Cấp độ

càng thấp thì chênh lệch giữa BP và AP càng tăng lên Điều này là do khối lượnggiao dịch Nếu một nhà buôn có thể đảm bảo được một khối lượng giao dịch lớn thì

họ thường yêu cầu mức chênh lệch nhỏ hơn Mức chênh lệch càng nhỏ thì tính cạnhtranh càng cao Như vậy, cấp độ thị trường liên quan đến quy mô và khối lượng

giao dịch, thuật ngữ thị trường gọi là "line", nghĩa là lượng tiền giao dịch Hiện nay, thị trường liên ngân hàng (cấp độ cao nhất) chiếm khoảng 53% tổng khối lượng giao dịch, theo sau đó là các ngân hàng nhá hơn, các công ty đa quốc gia (mua bán

ngoại hối để phòng ngừa rủi ro và trả lương cho nhân viên ở các quốc gia khác nhau), các quỹ phòng ngừa (hedge funds) lớn và những người buôn bán ngoại hối

lẻ

Ngoài ra, người ta nhận thấy kể từ những năm 2000, các quỹ hu trí, công tybảo hiểm, quỹ tương hỗ và các nhà đầu tư có tổ chức khác đang đóng vai trò ngàycàng quan trọng trên các thị trường tài chính nói chung và các thị trường hối đoáinói riêng Các ngân hàng trung ương cũng tham gia thị trường hối đoái để đáp ứngnhững nhu cầu khác nhau về tiền tệ của các nền kinh tế

Trên thị trường hối đoái thường có nhiều đối tượng tham gia hoạt động Phổbiến có các đối tượng sau đây

1 Ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư (Commercial Banks & Investment Banks).

Thị trường liên ngân hàng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng doanh số giaodịch thương mại và phần lớn các giao dịch đầu cơ trên thị trường hối đoái Mộtngân hàng lớn có thể giao dịch hàng tỷ USD mỗi ngày Một phần trong số các giaodịch này được thực hiện cho khách hàng, nhưng phần chủ yếu vẫn là giao dịch tựdoanh của các ngân hàng Khi các ngân hàng chủ động giao dịch hối đoái để kiếm

lời cho bản thân họ thì họ được coi là những người kiến tạo thị trường (market

marker) Các ngân hàng này luôn sẵn sàng mua hoặc bán bất cứ đồng tiền chủ chốt

nào khi thích hợp (Bảng 3.2)

2 Nhóm các khách hàng mua bán lẻ (Retail clients).

Trang 13

Nhóm này thường có:

- Các công ty thwơng mại (Commercial Companies) Một phần quan trọng của

thị trường hối đoái là xuất phát từ hoạt động tài chính của các công ty cần mua bántiền tệ để thanh toán tiền hàng, dịch vụ và trả lương cho nhân viên ở nước ngoài.Hầu hết trong số này là các công ty đa quốc gia Các công ty thương mại thườnggiao dịch với số lượng khá nhỏ so với các ngân hàng hoặc các nhà đầu cơ và có tácđộng không đáng kể lên giá cả thị trường trong ngắn hạn Tuy nhiên, trong dài hạn,các dòng tiền giao dịch của các công ty này là một nhân tố quan trọng định hướng

tỷ giá của một đồng tiền

Bảng 3.2 Mười nhà giao dịch hàng đầu trên thị trường hối đoái quốc tế

(Nguồn: Euromoney FX survey)

- Các công ty quản lý đầu t (Investment Management Firms) Các công ty quản

lý đầu tư (còn được gọi là công ty quản lý quỹ) là các công ty chuyên quản lý hộ những tài khoản lớn cho khách hàng, chẳng hạn như các quỹ lương hưu (pension

funds), quỹ tương hỗ (mutual fund) bằng cách đầu tư chúng để kiếm lời cho khách

hàng và có thu phí

Các công ty này sử dụng thị trường hối đoái để tạo thuận lợi cho các giao dịch

về chứng khoán nước ngoài Ví như, một công ty quản lý đầu tư với một danh mụccác cổ phiếu quốc tế sẽ cần mua và bán một lượng tiền tệ tệ trên thị trường giaongay để thanh toán cho các hợp đồng mua cổ phiếu nước ngoài Vì các giao dịchhối đoái là để bổ trợ cho các quyết định đầu tư thực sự của các công ty này nênchúng không bị coi đó là một hành động đầu cơ hay nhằm mục tiêu tối đa hoá lợinhuận

- Các quỹ phòng ngừa (Hedge funds) Đây là các quỹ đầu tư tư nhân có thu phí

hoạt động và đặc trưng của nó là chỉ chấp nhận với số lượng hạn chế những nhà đầu

Trang 14

tư có chất lượng Chẳng hạn như quỹ Quantum của George Soros đã trở nên nổitiếng về hoạt động đầu cơ mạnh mẽ từ năm 1990 Quỹ này kiểm soát hàng tỷ USDvốn cổ phần và có thể vay thêm hàng tỷ nữa Vì thế chúng có thể lấn át sự can thiệpcủa các ngân hàng trung ương để hỗ trợ cho gần như bất cứ đồng tiền nào nếu vềmặt kinh tế có lợi cho quỹ, bằng cách mua vào hoặc bán ra trên thị trường hối đoái.

- Khách du lịch Loại khách hàng này có nhu cầu mua, bán các đồng tiền khác

nhau để phục vụ nhu cầu chi tiêu khi đi du lịch nước ngoài

3 Các nhà môi giới tiền tệ (Forex brokers).

Hầu hết các giao dịch hối đoái trên thị trường liên ngân hàng tại Mỹ đều đượcthực hiện thông qua người môi giới Đây là những chuyên gia có sự am hiểu sâu sắc

về cung và cầu các đồng tiền của các ngân hàng Những người môi giới này làmviệc cho các công ty môi giới và nhận hoa hồng trong mọi giao dịch mua bán,không được tự giao dịch hối đoái cho bản thân mình Các nhà môi giới có khuynhhướng chuyên sâu vào một số đồng tiền nhất định, nhưng nhìn chung thì họ giaodịch hầu hết các đồng tiền chính của thế giới, như GBP, USD, EUR, JPY

Bên cạnh đó, trên thị trường còn có các nhà môi giới riêng lẻ (Retail FOREX

brokers) Giao dịch lẻ của các cá nhân khách hàng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ

trên thị trường này và họ thường chỉ tham gia một cách gián tiếp thông qua ngườimôi giới riêng lẻ hoặc ngân hàng Giao dịch của các nhà môi giới riêng lẻ chỉ chiếmmột phần nhỏ, dao động trong khoảng 25 đến 50 tỷ USD mỗi ngày, ước tính chưađầy 2% tổng dung lượng của thị trường

4 Ngân hàng Trung ư ơng (Central Banks).

Ngân hàng trung ương (NHTW) các nước đóng vai trò quan trọng trên thị

trường hối đoái Các NHTW kiểm soát cung tiền, lạm phát, lãi suất và thường cócác tỷ giá mục tiêu chính thức hoặc không chính thức cho các đồng tiền của họ Họ

có thể sử dụng nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia hiện có để ổn định thị trường Cáccác ngân hàng NHTW thường mua vào khi tỷ giá quá thấp và bán ra khi tỷ giá quácao, nhờ đó có thể duy trì sự ổn dịnh cho tỷ giá

d) Các nhân tố ảnh hởng đến thị trường hối đoái quốc tế

Mặc dù hoạt động của thị trường hối đoái chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố,nhng cuối cùng, giá cả của các loại tiền trên thị trường này vẫn là hệ quả của lượngcung và lượng cầu Các nhân tố tác động vào cung, cầu và làm cho chúng liên tục

thay đổi Từ đó, giá của một đồng tiền trong quan hệ với một đồng tiền khác (tỷ giá)

cũng thay đổi theo Nói chung, có nhiều nhân tố tác động và có thể chia chúngthành các loại như: các nhân tố kinh tế, điều kiện chính trị, tâm lý thị trờng…

- Các nhân tố kinh tế Bao gồm các chính sách kinh tế, tiền tệ do các cơ quan

Chính phủ và NHTW ban hành Ngoài ra, điều kiện của các nền kinh tế thể hiện quacác báo cáo và các chỉ số kinh tế cũng là một nhân tố quan trọng

Điều kiện kinh tế được phản ánh qua những chỉ tiêu sau

Trang 15

+ Thâm hụt hoặc thặng dư ngân sách của các Chính phủ Thị trường luôn phảnứng tiêu cực với mức thâm hụt ngân sách lớn và tích cực với mức thâm hụt ngânsách nhỏ Những phản ứng này được thể hiện trong sự thay đổi về giá cả của cácđồng tiền.

+ Mức độ và xu hướng của cán cân thương mại Dòng chảy thương mại giữacác quốc gia thể hiện mức cầu về hàng hoá và dịch vụ Mức cầu này đến lượt nó lạiphản ánh mức cầu về các loại tiền để phục vụ việc thanh toán trong hoạt độngthương mại nói trên Thặng dư hay thâm hụt thương mại của một quốc có thể gâytác động tích cực hoặc tiêu cực lên giá đồng tiền của quốc gia đó trên thị trường hốiđoái

+ Mức độ và xu hướng lạm phát Về cơ bản, đồng tiền của một quốc gia sẽ bịmất giá nếu quốc gia đó đang có mức lạm phát cao hoặc đang đối mặt với nguy cơlạm phát cao Lý do là lạm phát làm xói mòn sức mua, vì thế đồng thời làm giảmnhu cầu đối với đồng tiền của quốc gia đó

+ Tốc độ tăng trưởng và sức khoẻ của nền kinh tế Mức tăng trưởng và sứckhoẻ của một nền kinh tế được thể hiện qua các chỉ số, như tốc độ tăng GDP, tỷ lệthất nghiệp, lạm phát, mức tăng doanh số bán lẻ Nhìn chung, nền kinh tế mộtquốc gia càng lành mạnh và có tốc độ tăng trưởng tốt thì đồng tiền của quốc gia đócàng có giá trị và nhu cầu đối với đồng tiền này vì thế cũng tăng lên

- Điều kiện chính trị Điều kiện chính trị quốc tế, khu vực và trong nội bộ các

quốc gia cũng có những ảnh hưởng sâu sắc đến thị trường hối đoái Chẳng hạn,những biến động và bất ổn về chính trị có thể gây tác động xấu đối với nền kinh tếcủa một quốc gia Thậm chí các sự kiện chính trị tại một quốc gia trong một khuvực có thể gây ra tác động tiêu cực hoặc tích cực đối với các chỉ số kinh tế của cácnước láng giềng, chẳng hạn như lãi suất…, và gây tác động dây chuyền đến cácđồng tiền

- Tâm lý thị trường Tâm lý thị trường và nhận thức của các chủ thể tham gia

cũng ảnh hưởng đến thị trường hối đoái Cú thể theo nhiều cách, như:

+ Tìm đến chất lượng (flights to quality) Những sự kiện quốc tế chưa giải

quyết được đôi lúc khiến các nhà đầu tư có tâm lý muốn tìm đến những đồng tiền cótính an toàn cao, vì vậy đẩy giá của những đồng tiền này tăng lên so với các đồngtiền khác

+ Mua tin đồn, bán thực tế (Buy the rumor, sell the fact) Điều này vẫn thường

xuyên xảy ra trên thị trường hối đoái Giá cả của một đồng tiền có khuynh hướngthay đổi do tác động của một sự kiện cụ thể, thậm chí trước khi sự kiện đó xảy ra.Tuy nhiên, khi sự kiện được trông đợi xảy ra như dự kiến thì phản ứng của thị tr-ường lại hoàn toàn ngược lại Những nhà đầu tư quá chú trọng vào sự liên quan củacác sự kiện bên ngoài đến giá cả của tiền tệ đôi khi mua bán dựa trên tin đồn về

Trang 16

những sự kiện chưa xẩy ra, sau đó phải chịu thất bại nặng nề vì thị trường phản ứngkhông theo cách mà họ kỳ vọng.

+ Nghiên cứu các mô hình (pattern considerations) Các chủ thể tham gia thị trường thường không quên nghiên cứu và sử dụng các mô hình (biểu đồ) mô tả sự

biến động trong quá khứ về giá của các đồng tiền nhằm đa ra dự đoán trong tươnglai để quyết định mua hay bán Các dự đoán này có thể dẫn đến những biến động vềgiá cả trên thị trường trong ngắn hạn

3.2.1.2 Thị trường ngoại hối

a) Nhận diện thị trường ngoại hối

Khi quay về phạm vi một quốc gia, thị trường ngoại hối có thể hiểu đơn giản

đó là nơi giao dịch, mua bán các loại ngoại hối trên lãnh thổ của quốc gia Tuynhiên, phần lớn các phương tiện thanh toán và các loại giấy tờ có giá ghi bằng ngoại

tệ không có giá trị nội tại, mà chỉ là dấu hiệu của tiền tệ nên chúng không đượcgiao dịch trực tiếp trên thị trường ngoại hối Thông thường, chúng phải được chiếtkhấu để đổi lấy ngoại tệ, sau đó số ngoại tệ này mới được mua, bán trên thị trườngngoại hối Do đó, người ta coi thị trường ngoại hối chủ yếu là nơi mua bán các đồng

tiền khác nhau của các quốc gia (ngoại tệ) hoặc vàng tiêu chuẩn thực hiện được

chức năng tiền tệ Do vai trò của vàng trong thanh toán quốc tế ngày càng mờ nhạtnên thị trường ngoại hối ngày nay thường được hiểu theo nghĩa hẹp là thị trườngmua bán ngoại tệ Ở đây ngoại tệ được coi là hàng hoá mua bán, còn bản tệ là tiền tệ

thanh toán Từ đó có thể hiểu một cách đầy đủ hơn, thị trường ngoại hối là nơi diễn

ra các hoạt động mua bán, trao đổi ngoại hối, trong đó chủ yếu là các loại ngoại tệ trên lãnh thổ quốc gia Nói cách khác, thị trường ngoại hối là nơi trao đổi, mua bán

các đồng ngoại tệ và được thanh toán thông qua đồng nội tệ trên lãnh thổ quốc gia

Sự ra đời và phát triển của hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế làm xuấthiện nhu cầu mua, bán các đồng tiền khác nhau và hình thành nên thị trường ngoạihối Bởi vì không có một đồng tiền nào được chấp nhận làm phương tiện thanh toán

ở tất cả các quốc gia, kể cả đồng Dollar Mỹ Các giao dịch tiền tệ trên thị trường

này tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đầu tư quốc tế được diễn ra trôi chảy.Chẳng hạn, tại Nhật Bản, một công ty xuất khẩu ô tô sang Mỹ và được thanh toánbằng USD; sau đó, họ phải nhập khẩu một lô linh kiện từ Đức và phải thanh toánbằng EUR Để có đồng EUR, công ty này chỉ cần thực hiện một thao tác đơn giản làbán USD để lấy JPY, sau đó dùng JPY để mua EUR trên thị trường ngoại hối

Ngày nay, thị trường ngoại hối được coi vừa là một bộ phận của thị trường tiền

tệ quốc gia, vừa là một bộ phận của thị trường hối đoái quốc tế (Đặc biệt, đối với

các nước phát triển, thị trường ngoại hối của họ được hoà chung trong thị trường hối đoái quốc tế) Tham gia hoạt động trên thị trường này cũng bao gồm các ngân

hàng thương mại, các nhà đầu cơ tiền tệ, các công ty kinh doanh, đặc biệt là các

Trang 17

công ty đa quốc gia, ngân hàng trung ương, các định chế khác của thị trường tàichính quốc gia

b) Ngoại hối

Ngoại hối là một khái niệm được dùng ở phạm vi quốc gia để chỉ tất cả những

gì thực hiện được chức năng tiền tệ trên lãnh thổ của một quốc gia nhưng không baogồm đồng bản tệ của chính quốc gia đó

Ngoại hối thường bao gồm 4 loại chủ yếu sau đây

1) Ngoại tệ (foreign currencies) Là những đồng tiền của nước ngoài được

l-ưu thông trên lãnh thổ quốc gia Ngoại tệ bao gồm ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ ghi

sổ (tài khoản).

2) Các giấy tờ có giá được ghi bằng ngoại tệ Hối phiếu, thương phiếu, séc,

thư chuyển tiền (mail transfer), điện chuyển tiền (telegraphic transfer), thẻ tín dụng (credit card), thư tín dụng ngân hàng (bank letter of credit) Chúng là những chứng

từ chi trả phát sinh từ quan hệ tín dụng, thể hiện một số tiền nhất định, được lưuthông dễ dàng từ người này sang người khác Phần lớn các phương tiện thanh toánnày hình thành trên cơ sở của sự phát triển tín dụng thương mại và tín dụng ngânhàng

3) Vàng, bạc và các loại kim khí quí khác được dùng làm tiền tệ

4) Đồng tiền bản tệ của quốc gia do người không cư trú nắm giữ

(Trước đây các loại cổ phiếu, trái phiếu… ghi bằng ngoại tệ cũng đ ược

coi là ngoại hối Hiện nay, nếu quan niệm như vậy là không hợp lý, vì hai lẽ: i) Chức năng chính của chúng không phải là dùng để làm trung gian trao đổi, thanh toán…như tiền; ii) Chúng được lưu hành trên một thị trường riêng, đó là thị trường chứng khoán quốc tế).

Theo quy định trong Pháp lệnh quản lý ngoại hối của Việt Nam thì ngoạihối gồm:

- Đồng tiền của các quốc gia khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế

(gọi tắt là ngoại tệ);

- Các phương tiện thanh toán ghi bằng ngoại tệ, như séc, thẻ thanh toán,hối phiếu và các phương tiện thanh toán khác;

- Các loại giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, như trái phiếu, cổ phiếu, kỳ

phiếu… (Vẫn theo quan niệm cũ!);

- Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước; vàng trên tài khoản nước ngoàicủa ngời cư trú; vàng dưới dạng khối, thái, miếng, hạt khi mang vào hoặc ra kháilãnh thổ Việt Nam;

Đồng Việt nam khi chuyển vào hoặc ra khỏi lãnh thổ quốc gia hoặc đ ược sử dụng trong thanh toán quốc tế

-3.2.2 Các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái quốc tế

Trang 18

Như chúng ta đã biết, trên thị trường hàng hoá thông thường, có hai phương

thức mua bán chủ yếu đợc thực hiện là Thanh toán ngay (tiền trao cháo múc) và Mua bán chịu (lấy hàng trước, trả tiền sau) Đối với thị trường hối đoái quốc tế (bao gồm cả thị trường ngoại hối của các quốc gia), do giá cả ở đây là tỷ giá hối

đoái, một yếu tố rất nhạy cảm, chịu tác động bởi rất nhiều các nhân tố khác nhau,

nên dễ phát sinh rủi ro tỷ giá Từ đó, ngoài phương thức (nghiệp vụ) mua bán cơ

bản là Giao ngay, còn có nhiều phương thức khác phái sinh trên nền tảng cơ bản đó

và hình thành thêm nhiều nghiệp vụ khác, như: nghiệp vụ Kỳ hạn, nghiệp vụ Hoánđổi, nghiệp vụ Quyền chọn, nghiệp vụ Tương lai… Dới đây là nghiệp vụ cơ bản vàcác nghiệp vụ phái sinh chủ yếu của thị trường hối đoái quốc tế

3.2.2.1 Nghiệp vụ Giao ngay (Spot Exchange)

a) Khái niệm

Giao dịch giao ngay là giao dịch cơ bản và phổ biến nhất trong các giao dịchtrên thị trường hối đoái quốc tế Đó là hoạt động thanh toán diễn ra ngay tại thời

điểm giao dịch ở một mức tỷ giá gọi là tỷ giá giao ngay (spot exchange rate) Tỷ giá

giao ngay được hình thành trên cơ sở cung - cầu của thị trường hối đoái

Như vậy, nghiệp vụ giao ngay là nghiệp vụ mua hay bán một số lượng tiền tệ

theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng một

số ngày làm việc kể từ thời điểm cam kết mua bán.

b) Nội dung của nghiệp vụ giao ngay

Thỏa thuận giao dịch giữa hai bên thường bao gồm các điều kiện như: tỷ giágiao ngay; số lượng tiền tệ giao dịch; các loại tiền trong giao dịch; chi phí giao dịch;

địa chỉ chuyển tiền đến, chuyển tiền đi; ngày thanh toán (payment date)…

- Tỷ giá giao ngay Tỷ giá giao ngay là tỷ giá được hai bên thoả thuận và có

giá trị tại thời điểm giao dịch Chúng được xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngaycủa thị trường được niêm yết tại các trung tâm giao dịch hối đoái, tại các ngân hàngthương mại, các phương tiện thông tin đại chúng, như báo viết, báo mạng, truyềnhình

Tỷ giá giao ngay cho khách hàng thường được niêm yết dưới dạng "trực tiếp" direct quotation, (đồng ngoại tệ yết giá, đồng bản tệ định giá), hoặc "gián tiếp" -

-indirect quotation, ngược lại trường hợp trên Tuy vậy, tại các trung tâm giao dịchhối đoái quốc tế, tỷ giá thường được niêm yết theo cặp, dạng XXX/YYY, trong đó,đồng tiền đứng trước là yết giá, đứng sau là định giá

Trong giao dịch giao ngay, thông thường các ngân hàng không thu hoa hồngtrên các thương vụ mà thu lời từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán

- Chi phí giao dịch (transaction cost) Là chênh lệch giữa giá chào mua và giá

chào bán, thường được tính theo tỷ lệ phần trăm:

Tỷ giá bán (BP) - Tỷ giá mua (AP)

Chi phí giao dịch = -

Trang 19

- Ngày giá trị (value date) Trong giao dịch giao ngay, các bên cần xác định

điểm thời gian thực hiện chuyển tiền đến các tài khoản có liên quan Ngày mà tiền

phải được thanh toán cho các bên liên quan gọi là "ngày giá trị" Thông thường,

trên thị trường giao ngay, ngày giá trị được qui định tối đa là 2 ngày làm việc saungày giao dịch, được ký hiệu là t + 2 Như vậy, sẽ có những trường hợp ngày giá trịđược xác định là t + 1 hoặc t + 0 tuỳ theo từng thoả thuận giao dịch

c) Ưu nhược điểm của nghiệp vụ giao ngay

- Ưu điểm Nghiệp vụ này có thể giúp người sử dụng chúng đáp ứng kịp thời

nhu cầu về một loại tiền nào đó với số lượng không hạn chế Ngoài ra, người sửdụng nghiệp vụ này không phải ký quỹ

- Nhược điểm Vì là giao dịch mua bán giao ngay, diễn ra khi có nhu cầu tức

thì về ngoại hối nên nghiệp vụ này không thể giúp người sử dụng phòng ngừa rủi

ro, khả năng đầu cơ là hầu như không có vì tỷ giá giao ngay gần như thống nhấtgiữa các thị trường

3.2.2.2 Nghiệp vụ Kỳ hạn (Forward Exchange)

Nghiệp vụ kỳ hạn và các nghiệp vụ khác được trình bày sau đây được coi làcác nghiệp vụ phái sinh Tỷ giá áp dụng trong các nghiệp vụ này không được xácđịnh trực tiếp vào thực tế cung - cầu ngoại hối trên thị trường, mà chủ yếu dựa vào

tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền

a) Khái niệm, đặc điểm và các loại kỳ hạn

Nghiệp vụ Kỳ hạn là giao dịch mà trong đó hai bên thoả thuận mua bán vớinhau một khối lượng tiền tệ sau một số ngày nhất định nhưng theo một tỷ giá đượcthoả thuận tại thời điểm giao dịch hiện tại và chúng được ghi trong hợp đồng

Như vậy, trong một giao dịch kỳ hạn, các yếu tố như tỷ giá, số tiền, ngày thanhtoán… đều được xác định ở thời điểm hiện tại, nhưng việc thực hiện chúng lại diễn

ra tại một thời điểm trong tương lai Mục đích cơ bản của một giao dịch kỳ hạnchính là để phòng ngừa những rủi ro, thiệt hại có thể xẩy ra do biến động của tỷ giáhối đoái

Ví dụ 3.3 - Một công ty Việt Nam nhập khẩu ô tô của Mỹ với tổng trị giá

100.000 USD Phía đối tác Mỹ yêu cầu thanh toán bằng đồng USD và kỳ hạn thanh

Trang 20

toán là 90 ngày Tỷ giá hiện tại USD/VND là 16100 Giả sử nhà nhập khẩu ViệtNam dự đoán rằng trong thời hạn 90 ngày, giá của USD sẽ tăng làm tăng tổng sốVND mà họ phải trả cho lô hàng nói trên Nhà nhập khẩu có thể phòng ngừa rủi robằng cách ký kết một hợp đồng kỳ hạn 90 ngày với ngân hàng mua 100.000 USDvới giá 1 USD = 16.175 VND Chiếu theo hợp đồng, 90 ngày sau ngân hàng sẽ traocho nhà nhập khẩu 100.000 USD, đổi lại nhà nhập khẩu phải trả cho ngân hàng tổng

số tiền là 1.617.500.000 VND

Nghiệp vụ kỳ hạn thường có các đặc điểm

+ Được thực hiện thông qua hợp đồng (Hợp đồng kỳ hạn) và chúng thường có qui mô (giá trị giao dịch) lớn, phổ biến là tương đương 1 triệu USD trở lên.

+ Là loại hợp đồng bắt buộc phải thực hiện Đến ngày đáo hạn, nếu người ký

hợp đồng (khách hàng) không thực hiện các điều khoản đã thoả thuận thì sẽ mất số tiền ký quỹ Người cung cấp hợp đồng (thường là các ngân hàng) nếu không thực

hiện là vi phạm luật hợp đồng

+ Hợp đồng kỳ hạn không được mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp

- Các loại hợp đồng kỳ hạn

+ Hợp đồng outright Là hợp đồng được ký kết giữa ngân hàng và khách hàng

không phải ngân hàng (non-bank customer) nhằm mục đích phòng chống rủi ro cho

khách hàng

+ Hợp đồng Swap Là hợp đồng được ký kết giữa hai ngân hàng, theo đó, haibên đồng ý hoán đổi một số lượng tiền tệ nhất định vào một ngày xác định, sau đóhoán đổi ngược lại vào một ngày trong tương lai theo một tỷ giá khác với tỷ giáhoán đổi lần trước

b) Nội dung của nghiệp vụ kỳ hạn

- Tài sản cơ sở Đó là tổng số tiền mua, bán được ghi trong hợp đồng kỳ hạn.

Nếu tổng số tiền càng lớn thì qui mô của hợp đồng càng lớn

- Ngày kỳ hạn Là số ngày thời hạn để hợp đồng kỳ hạn có hiệu lực Thông

thường ngày kỳ hạn được lựa chọn là 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng… hoặc 30, 60, 90…ngày theo tự nhiên

- Tỷ giá kỳ hạn

+ Yết giá kỳ hạn

Tương ứng với hai loại hợp đồng kỳ hạn sẽ có hai kiểu yết giá, kiểu yết giá

trực tiếp đối với hợp đồng outright và yết giá gián tiếp (kiểu swap) Yết giá gián tiếp

kiểu swap là cách mà theo đó ngân hàng sẽ yết tỷ giá giao ngay kèm theo mứcswap

Ví dụ 3.4 - Yết giá kiểu swap

Tỷ giá hợp đồng Tỷ giá giao ngay Mức swap

1 tháng

Mức swap

3 tháng

Trang 21

Tỷ giá kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay +(-) Mức swap

Khi giá swap mua (yết theo điểm) nhỏ hơn giá swap bán, sử dụng dấu (+); Khi giá swap mua (yết theo điểm) lớn hơn giá swap bán, sử dụng dấu (-);

Áp dụng công thức trên, có thể tính ra tỷ giá kỳ hạn của 2 ví dụ trên là:

S là tỷ giá giao ngay;

rdlà lãi suất của đồng tiền định giá;

rylà lãi suất của đồng tiền yết giá;

t là kỳ hạn, được tính bằng số ngày kỳ hạn n/360

Cụ thể hoá cho tỷ giá kỳ hạn mua và bán như sau:

+ Đối với Hợp đồng kỳ hạn bán (khách hàng bán), tỷ giá hợp đồng là Tỷ giá

kỳ hạn mua (Fb).

Trong đó: Fb là tỷ giá kỳ hạn mua;

Sb là tỷ giá mua giao ngay;

rdglà lãi suất tiền gửi của đồng tiền định giá (nội tệ) tính theo năm;

ryvlà lãi suất cho vay của đồng tiền yết giá (ngoại tệ) tính theo năm; + Đối với Hợp đồng kỳ hạn mua (khách hàng mua), tỷ giá hợp đồng là Tỷ giá

Trang 22

Ss là tỷ giá bán giao ngay;

rdvlà lãi suất cho vay của đồng tiền định giá(nội tệ) tính theo năm;

ryglà lãi suất tiền gửi của đồng tiền yết giá (ngoại tệ) tính theo năm;

Ví dụ 3.5 - Tại một trung tâm giao dịch ngoại hối ở Mỹ

S(EUR/USD) = 1,24/26 ;

Lãi suất năm của EUR(r y ): 3,90 – 4,00% ;

Lãi suất năm của USD (r d): 3,00 – 3,10%;

Hãy tính tỷ giá kỳ hạn (F) 6 tháng của EUR/USD?

c) Lỗ, lãi trong nghiệp vụ kỳ hạn

- Đối với nghiệp vụ kỳ hạn mua (khách hàng mua)

Tỷ giá hợp đồng: Tỷ giá kỳ hạn bán (Fs);

Tỷ giá bán giao ngay tại điểm kỳ hạn là Ssf;

Đến ngày đáo hạn, các trường hợp xẩy ra giữa Fs và Ssf:

+ Ssf < Fs: Khách hàng bị lỗ Mức lỗ là chênh lệch của Fs - Ssf;

+ Ssf = Fs: Khách hàng không lỗ, không lãi;

+ Ssf > Fs: Khách hàng được lãi Mức lãi là chênh lệch của Ssf - Fs;

Minh họa bằng đồ thị

Hình 3.1 Lỗ, lãi trong hợp đồng kỳ hạn mua

- Đối với nghiệp vụ kỳ hạn bán (khách hàng bán)

Tỷ giá hợp đồng: Tỷ giá kỳ hạn mua (Fb);

Tỷ giá bán giao ngay tại điểm kỳ hạn là Sbf;

Đến ngày đáo hạn, các trường hợp xẩy ra giữa Fb và Sbf:

+ Sbf < Fb: Khách hàng đợc lãi Mức lãi là chênh lệch của Fb - Sbf;

Lỗ, lãi

Vùng lỗ

0

Fs

Vùng lãi i

Fsf

Ngày đăng: 24/02/2020, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w