Cho đến khi vàng được lựa chọn đểđúc tiềntiền vàng xuất hiện, thì ngay lập tức loại tiền này không chỉ thực hiện đượccác chức năng của mình trong phạm vi quốc gia, mà còn mở rộng ra phạm
Trang 1Chương 2
Tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế 2.1 Hệ thống tiền tệ quốc tế
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế
2.1.1.1 Khái niệm hệ thống tiền tệ quốc tế
Nếu lần theo dấu vết ngược lại của lịch sử, có thể thấy rằng, tiền tệ xuất hiện lúcđầu là mang tính tự phát, theo yêu cầu của trao đổi sản phẩm, hàng hoá; tiền tệ cũngđược xuất hiện theo vùng, sau đó mới lan rộng dần ra theo thị tộc, bộ lạc, quốc gia ;chỉ đến khi Nhà nước đứng ra nhận trách nhiệm phát hành và thống nhất tổ chức quản
lý lưu thông tiền tệ thì lúc này sự xuất hiện và tồn tại của tiền tệ mới chuyển sangmang tính tự giác Như vậy, tiền tệ thời kỳ đầu chủ yếu chỉ có ý nghĩa cho từng quốcgia; hình thức tồn tại cũng nhiều hình nhiều vẻ và chỉ có thể phát huy các chức năngvốn có của chúng trong từng phạm vi quốc gia Cho đến khi vàng được lựa chọn đểđúc tiền(tiền vàng xuất hiện), thì ngay lập tức loại tiền này không chỉ thực hiện đượccác chức năng của mình trong phạm vi quốc gia, mà còn mở rộng ra phạm vi của nhiềuquốc gia, tức là chúng đã thực hiện được chức năng tiền tệ thế giới, đóng vai trò làđồng tiền quốc tế bên cạnh các đồng tiền quốc gia và hình thành nên hệ thống tiền tệquốc tế Sau đó, cùng với đà phát triển của văn minh nhân loại và sự khan hiếm củavàng, tiền vàng được thay thế dần bằng tiền dấu hiệu, song các đồng tiền dấu hiệu nàyvẫn tiếp tục đảm nhận vai trò đồng tiền quốc tế thông qua những sự cam kết, bảo đảmcủa các quốc gia Do đó, ngày nay bên cạnh những đồng tiền của các quốc gia, hệthống tiền tệ quốc tế tồn tại như là một tất yếu khách quan và có vị trí hết sức quantrọng trong đời sống kinh tế - xã hội thế giới
Như vậy, có thể hiểu, hệ thống tiền tệ quốc tế là những thoả thuận, cam kết, qui
định (thành văn hoặc bất thành văn) của một số hoặc nhiều quốc gia về việc lựa
chọn đơn vị tiền tệ chung và tổ chức thực hiện chế độ lưu thông cho đơn vị tiền tệchung đó
Qua khái niệm trên cho thấy, hệ thống tiền tệ quốc tế bao gồm hai yếu tố cơ bản
Thứ nhất, Đơn vị tiền tệ chung được lựa chọn
Để được lựa chọn là đơn vị tiền tệ chung, trước hết, đồng tiền đó phải có giá trịnội tại hoặc đại diện cho một lượng giá trị, tức là phải có sức mua xác định Đồng thời,
nó là đồng tiền phát huy được ảnh hưởng ở những phạm vi tương đối rộng lớn, có uytín ngày càng cao, được nhiều người tin tưởng, chấp nhận
Trong lịch sử từ trước đến nay, đồng tiền chung thường có các dạng sau:
+ Là đồng tiền của một quốc gia nào đó có uy tín lớn trong giao dịch quốc tế
(Đồng Dina của Batư trước đây, GBP, USD hiện nay);
Trang 2+ Là đồng tiền chung của một số quốc gia (Đồng Rúp chuyển nhượng trước đây,
EUR );
+ Là đồng tiền hoàn toàn chung của nhiều quốc gia (SDR là điển hình).
Ngày nay, trong hệ thống tiền tệ quốc tế có thể cùng đồng thời tồn tại một sốđồng tiền chung được lựa chọn tự giác và tự phát
Thứ hai, Chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ quốc tế
Chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ quốc tế cũng bao gồm cả chế độ lưu thông tiền
đủ giá(tiền vàng) và chế độ lưu thông tiền dấu hiệu
Trong chế độ lưu thông tiền vàng bao gồm các qui định, thoả thuận của các quốcgia về tiêu chuẩn giá cả của đơn vị tiền tệ chung; tỷ giá hối đoái với các đồng tiền quốcgia; hệ thống thập phân, các mệnh giá lớn của đơn vị tiền tệ chung; chế độ thanh toán,
dự trữ
Trong chế độ lưu thông tiền dấu hiệu cũng bao gồm những qui định, thoả thuậntương tự như trong chế độ lưu thông tiền vàng Điểm khác biệt ở đây là có nhiều camkết, thoả thuận được thực hiện bằng các văn ở cấp chính phủ của các quốc gia thôngqua các Hiệp ước, Hiệp định quốc tế
2.1.1.2 Quá trình hình thành, phát triển hệ thống tiền tệ quốc tế
Xuất phát từ yêu cầu của các quốc gia trong các quan hệ quốc tế về kinh tế, vănhoá - xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao ngày càng mở rộng và phát triển đòi hỏi
hệ thống tiền tệ quốc tế phải được hình thành là một tất yếu khách quan và chúng cũngkhông ngừng phát triển, hoàn thiện Từ đó, hệ thống tiền tệ quốc tế đã trải qua các giaiđoạn phát triển sau:
- Hệ thống tiền tệ quốc tế hình thành tự phát Đó là hệ thống tiền tệ quốc tế được
hình thành chủ yếu gắn với chế độ bản vị vàng trong lịch sử Khi vàng được lựa chọn
để đúc tiền thì tiền vàng không chỉ trở thành đồng tiền quốc gia mà còn được chấpnhận trên phạm vi quốc tế một cách tự phát, tự nhiên Từ đó hệ thống tiền tệ quốc tế đãđược hình thành tự phát kèm theo chế độ lưu thông tiền vàng Trong lịch sử loại hình
hệ thống tiền tệ này đã tồn tại rõ nét thời trung cổ bằng Chế độ bản vị đồng Dina vàngcủa Batư và Chế độ bản vị vàng cổ điển gia đoạn 1875 - 1914
- Hệ thống tiền tệ quốc tế hình thành tự giác Đó là những hệ thống tiền tệ quốc
tế được hình thành trên cơ sở có sự cam kết, thoả thuận của chính phủ các quốc giathông qua các Hiệp ước, Hiệp định quốc tế Điển hình ở đây có Hệ thống tiền tệBretton Woods, Hệ thống tiền tệ Jamaica, Hệ thống tiền tệ châu Âu
- Hệ thống tiền tệ quốc tế hỗn hợp Đó là những hệ thống tiền tệ quốc tế được
hình thành tự giác và tự phát cùng tồn tại đan xen Hiện nay trên thực tế thế giới đangtồn tại sự đan xen của các hệ thống tiền tệ quốc tế tự giác, như Hệ thống tiền tệ
Trang 3Jamiaca, Hệ thống tiền tệ châu Âu với các hệ thống tiền tệ khác, như hệ thống đồngUSD, GBP tồn tại như là những hệ thống tiền tệ quốc tế tự phát.
2.1.2 Các hệ thống tiền tệ quốc tế chủ yếu
- Chế độ bản vị vàng
Trong chế độ bản vị vàng, vàng được lựa chọn là đơn vị tiền tệ quốc tế và chế độlưu thông tiền vàng được thực hiện Chế độ này được áp dụng từ trước Chiến tranh thếgiới lần thứ nhất trở về trước, song hình thành một cách tự phát và không liên tục.Trong đó, có hai giai đoạn khá điển hình
+ Chế độ bản vị vàng thời trung cổ Chế độ này được hình thành gắn liền vớihoạt động buôn bán Đông - Tây bằng đường bộ thời trung cổ và được mệnh danh là
“Con đường tơ lụa” từ Trung đông đến Tung quốc Lúc này, đồng Dina vàng của
vương quốc Ba-tư được sử dụng phổ biến như là đồng tiền quốc tế đầu tiên để dùnglàm trung gian trao đổi, thanh toán trong hoạt động buôn bán giữa các quốc gia
+ Chế độ bản vị vàng cổ điển ở châu Âu Có thể nói, chế độ tiền tệ này tồn tạigần một thế kỷ, từ năm 1821, khi ở nước Anh bắt đầu thực hiện chế độ bản vị vàng, vàkết thúc vào thời điểm trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, năm1914
Trong chế độ tiền tệ này, vàng được coi là yếu tố đảm bảo quan trọng nhất, thậmchí là duy nhất đối với hệ thống tiền tệ của nhiều quốc gia; các đồng tiền hầu như đều
có tiêu chuẩn giá cả; giữa vàng và các đồng tiền dấu hiệu được chuyển đổi cho nhaumột cách dễ dàng; còn tỷ giá của các đồng tiền giữa các quốc gia được xác định kháđơn giản và dễ dàng bằng cách chỉ cần so sánh tiêu chuẩn giá cả của chúng với nhau là
đủ Tuy nhiên, trong giai đoạn này cũng có những khoảng thời gian nhất định, bêncạnh vàng, bạc cũng được một số quốc gia lựa chọn để đúc tiền và tổ chức lưu hành
song song với tiền vàng (nên còn được gọi là chế độ lưỡng kim bản vị, hay song bản
vị) Nhưng dần dần, bạc càng kém giá trị so với vàng, nên sau này những đồng tiền
bằng bạc chỉ được coi tương tự như là những đồng tiền dấu hiệu khác
Đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914), hầu hết các quốc gia đều tuyên bố xoá
việc chuyển đổi giấy bạc ngân hàng ra vàng Vì thế, chế độ bản vị vàng cơ bản bị huỷ
bỏ Sau này, một số quốc gia đã có những nổ lực cố gắng để khôi phục lại chế độ tiềnvàng, nhưng không thành và mặc dù trong nhiều trường hợp vàng vẫn còn được sửdụng với tư cách là tiền, song chế độ lưu thông tiền vàng hầu như đã chấm dứt vĩnhviễn
- Chế độ bản vị đồng Bảng Anh (1922 - 1929)
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) các quốc gia ở châu Âu bị
kiệt quệ về kinh tế Nước Anh cũng ở trong tình trạng này Tuy nhiên, London vẫn giữđược vị trí mạnh về kinh tế và tài chính so với các nước trong khu vực Lợi dụng vị thếnày chính phủ Anh đã có ý tưởng thiết lập hệ thống tiền tệ quốc tế, lấy chính đồng
Trang 4bảng Anh (GBP) làm đồng tiền chủ chốt Được nhiều nước ủng hộ và Hoa Kỳ hậu
thuẫn, cuối cùng hệ thống tiền tệ quốc tế lấy bảng Anh (GBP) là đồng tiền chủ chốt đã
ra đời năm 1922
Tuy nhiên trong thời kỳ này nhiều quốc gia vẫn muốn quay trở lại chế độ bản vịvàng Nhưng do khối lượng hàng hoá, dịch vụ lưu thông gia tăng, trong khi khối lượngvàng dự trữ lại có hạn, buộc các ngân hàng không thể đổi lấy giấy bạc ngân hàng ravàng cho mọi đối tượng được Do đó ngân hàng Anh qui định, các đối tượng muốn đổi
giấy bạc ra vàng phải có 1700 GBP để đổi lấy một thoi vàng 400 ounce (1 ounce =
31,135 g) tức 12,4414 kg vàng Vì vậy, chế độ tiền tệ quốc tế này còn được gọi là chế
độ bản vị vàng thoi, hay chế độ bản vị vàng hối đoái
Hệ thống tiền tệ quốc tế dựa trên bảng Anh được hình thành là nhằm phục vụcho ý đồ kinh tế và chính trị của nước Anh Do đó, khi kinh tế của nước Anh suy thoái,
hệ thống thuộc địa của Anh bị co hẹp mạnh mẽ và nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế
lớn của thế giới (1929-1933) đang đến gần, thì vị trí quốc tế của GBP cũng không còn
nữa
Khi Đại khủng hoảng bùng nổ (1929), chính phủ Anh buộc phải huỷ bỏ việc đổi
GBP lấy vàng thoi nói trên Từ đây GBP mất vị trí là đồng tiền quốc tế, nó trở lại chỉ làđồng tiền quốc gia và chế độ bản vị GBP cũng chấm dứt Nhưng do vị thế tài chính củanước Anh trên thị trường quốc tế còn rất lớn, nên cho đến ngày nay GBP vẫn là đồngtiền mạnh trên thế giới
- Chế độ bản vị Dollar Mỹ (1944 - 1971)
Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) kết thúc, vị trí kinh tế - tài chính
của Hoa Kỳ trở thành nước đứng đầu thế giới Tháng 7 năm 1944 Hoa Kỳ triệu tập Hội
nghị tài chính - tiền tệ họp ở Bretton Woods (Mỹ).
Một trong những nội dung của Hội nghị Bretton Woods là bàn cách khôi phụclại chế độ bản vị vàng hối đoái và lấy USD làm phương tiện thanh toán và dự trữ quốctế
Chế độ bản vị USD ra đời sau hội nghị này Nội dung cơ bản của chế độ bản vịUSD căn bản cũng tương tự như chế độ bản vị GBP trước đây, là: các đồng tiền khácxác định tỷ giá với USD, còn USD được thiết lập tỷ giá cố định với vàng theo mức 35
USD = 1 ounce vàng (1USD = 0,88867 g vàng) và sẵn sàng chấp thuận đổi giấy bạc
ngân hàng của Hoa Kỳ ra vàng
Nhưng cũng như chế độ bản vị GBP trước đây là phụ thuộc vào nước Anh, chế
độ bản vị USD giờ đây bị phụ thuộc nặng nề vào vị trí kinh tế - tài chính của Hoa Kỳ.Cuối thập kỷ 60, kinh tế của Hoa Kỳ suy thoái nhiều, không còn vị thế như những năm
50 Đầu năm 1971, Hoa Kỳ đã đơn phương từ bỏ cam kết đổi giấy bạc ngân hàng ravàng theo mức 35 USD/1 ounce Tháng 8/1971 Hoa Kỳ tuyên bố phá giá USD 7,89%
Trang 5trong quan hệ ngoại thương Đến đây có thể nói, chế độ bản vị USD về cơ bản đã chấmdứt.
Hệ thống tiền tệ quốc tế dựa trên USD tuy không còn tồn tại nữa, nhưng do tiềmlực kinh tế của Hoa Kỳ gần như đứng đầu thế giới, do đó USD vẫn được ưa chuộng.Hiện nay, USD vẫn là đồng tiền có khả năng thanh toán mạnh Nó là đồng tiền chuyểnđổi hoàn toàn, được coi là đồng tiền chuẩn để tính thu nhập quốc dân, thu nhập tínhtheo đầu người, tính giá trị dự trữ ngoại hối, kim ngạch xuất khẩu của từng quốc giacũng như của toàn thế giới
- Chế độ Rúp chuyển nhượng của SEV (1964 - 1991)
Các nước XHCN là thành viên của khối SEV, đã ký Hiệp định thanh toán nhiềubên bằng Rúp chuyển khoản ngày 20/10/1963 Đồng thời thành lập Ngân hàng hợp tác
kinh tế quốc tế (MBES) để theo dõi và thực hiện quá trình thanh toán Hiệp định này có
hiệu lực từ ngày 01/01/1964
Như vậy từ đầu năm 1964, Rúp chuyển nhượng (RCN) là đồng tiền tập thể của
10 nước khối SEV, đó là: Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba lan, Hungari, Rumani, Mông Cổ,CHDC Đức, Bungari, Cuba và Việt Nam Tuy nhiên, RCN chỉ tồn tại trên tài khoảncủa các nước thành viên SEV và được sử dụng để thanh toán bù trừ
Khi hệ thống XHCN tan rã, thì khối SEV cũng không còn nữa RCN đã chấmdứt vai trò lịch sử của nó vào ngày 31/12/1991, sau 27 năm tồn tại
- Hệ thống tiền tệ châu Âu
Euro (EUR) là đồng tiền chung của Liên minh Châu Âu (EU) Đồng tiền này
được hình thành trên cơ sở Hiệp ước Maastricht được ký kết giữa các nguyên thủ cácnước thành viên của EU năm 1992 tại Hà lan
Từ ngày 01/01/1999, 11/15 nước của khối EU đã sử dụng EUR trong các giaodịch chuyển khoản song song với bản tệ Lúc này ECU, đơn vị thanh toán cũ của EU
đã bị bãi bỏ
Từ ngày 01/01/2002, 12 nước trong EU đã lưu thông EUR tiền mặt thay thếhoàn toàn cho các đồng bản tệ của 12 quốc gia này
EUR là đồng tiền chung của hệ thống tiền tệ khu vực, cho đến nay là của 12
nước (EU-12) với số dân hơn 300 triệu người Hiện tại EUR là một trong những đồng
tiền mạnh nhất của thế giới, bên cạnh USD Tương lai của đồng tiền này ra sao, lịch sử
sẽ phán quyết
- Hệ thống tiền tệ toàn cầu
Trên thực tế không có hệ thống tiền tệ toàn cầu, mà chỉ có một cơ chế thanh toán
và tín dụng do IMF thiết lập cho các nước hội viên Cơ chế này gọi là “quyền rút vốn
đặc biệt”, theo thuật ngữ tiếng Anh là Special Drawing Right - SDR.
Trang 6SDR được tạo ra với mục đích giúp các nước thành viên của IMF thanh toán cáckhoản nợ cho nhau, mà không phải sử dụng vàng hoặc ngoại tệ Để thuận lợi cho quátrình thanh toán và tín dụng, năm 1973 các nước thành viên của IMF đã ký Hiệp địnhtại Jamaica thừa nhận SDR là đơn vị tiền tệ trong giao dịch thanh toán giữa các nướccủa IMF.
Giá trị của SDR lúc đầu (1973) được xác định tương đương với USD (1 SDR =
1 USD), nhưng đến năm 1976 giá trị của SDR được xác định trên nguyên tắc “rổ tiền tệ” Rổ tiền tệ lúc đầu gồm 16 đồng tiền mạnh nhất thế giới Hiện nay, rổ này chỉ còn
lại 5 đồng tiền chủ chốt là USD, EUR, JPY, GBP và CAD
SDR là đơn vị tiền tệ để xác định khối lượng tín dụng mà các nước thành viên
có quyền được vay từ IMF, có quan hệ tỷ giá với các đồng tiền hiện thực, nhưng bảnthân nó thì lại không phải là đồng tiền hiện thực Nó chỉ có ý nghĩa là đồng tiền ghi sổghi sổ của các quốc gia tai IMF
Mỗi nước hội viên tuỳ theo vốn góp của mình vào IMF sẽ được hưởng mộtkhoản SDR nhất định Mặc dù các nước đã có quyền sở hữu SDR, nhưng họ chỉ được
sử dụng nó khi cán cân thanh toán bội chi Cụ thể, khi cán cân thanh toán của mộtnước nào đó bị bội chi, thì họ được quyền sử dụng SDR trong phạm vi sở hữu để thanhtoán cho nước chủ nợ Tuy SDR là của mình, nhưng mỗi khi sử dụng, nước sở hữu lạiphải trả lãi cho IMF Còn nước vừa nhận được SDR, được IMF ghi tăng số SDR trêntài khoản của nước này và coi như IMF phải vay số SDR đó Khi cán cân thanh toáncủa nước vừa nhận được SDR bị bội chi, nước này được phép sử dụng SDR trongquyền sở hữu và SDR vừa nhận được để thanh toán
Vòng thanh toán cứ tiếp diễn như vậy và IMF trở thành trung tâm thanh toán vàtín dụng quốc tế IMF vừa là người đi vay vừa là người cho vay trong quá trình thanhtoán giữa các nước hội viên
Qua xem xét một số hệ thống tiền tệ quốc tế gần đây cho thấy, xu hướng vậnđộng chung của chúng là:
• Được hình thành từ một liên minh hoặc thoả ước kinh tế giữa một số quốc gia
có quyền lợi gắn bó hoặc phụ thuộc lẫn nhau
• Sự phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế đạt đỉnh cao khi quyền lợi kinh tếgiữa các quốc gia trong khối được giải quyết hài hoà và không xung đột về mục tiêuchính trị
• Một hệ thống tiền tệ sẽ bắt đầu suy thoái khi một số quy định bị vi phạm, đặcbiệt là khi xuất hiện tình trạng suy thoái kinh tế của các nước thành viên
• Hệ thống tiền tệ quốc tế nào cuối cùng cũng đi đến tan vỡ, nhường chỗ chomột liên minh tiền tệ mới đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn Vì vậy, hệ thống tiền
tệ quốc tế là một sản phẩm có tính chất lịch sử
Trang 72.2 Tỷ giá hối đoái
2.2.1 Khái niệm và phương pháp xác định
2.2.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là một công cụ hết sức quan trọng trong hoạt động TCQT Do
đó, việc nhận thức thật thấu đáo công cụ này là vô cùng cần thiết
Phổ biến trên thị trường hối đoái quốc tế hay thị trường ngoại hối của các quốc
gia, tỷ giá hối đoái thường được hiểu là giá cả của một đồng tiền được biểu hiện thông
qua một đồng tiền khác Cách hiểu như vậy là hoàn toàn hợp lý Vì đây là nơi mua bán
các loại tiền tệ, nên các loại tiền tệ được mua bán là hàng hoá Khi đã là hàng hoá thìchúng đều có giá cả Giá cả đó được biểu hiện bằng một số tiền cần phải trả cho mộtđơn vị tiền tệ nào đó được đưa ra mua bán, tức là tỷ giá hối đoái
Khi tỷ giá hối đoái (từ đây gọi tắt là tỷ giá) được hiểu là giá cả, thì vị thế của hai đồng tiền trong quan hệ tỷ giá đó là khác nhau Một đồng tiền ở vị trí yết giá (được xác
định giá) với tư cách là hàng hoá và được mua bán; đồng tiền kia làm nhiệm vụ định
giá (xác định giá) cho đồng tiền yết giá và với tư cách là tiền tệ, đảm nhiệm chức năng
thanh toán cho việc mua bán đồng tiền yết giá Việc nhận diện chúng khá đơn giản, nóichung đồng tiền nào tròn một đơn vị trong quan hệ tỷ giá là đồng tiền yết giá, đồngtiền còn lại là đồng tiền định giá
Trên thị trường phổ biến có hai cách niêm yết tỷ giá
Đồng tiền yết giá đứng trước, A/B = x (1)
Đồng tiền yết giá đứng sau, xB = A (2)
Trong đó: A là đồng tiền yết giá, B là đồng tiền định giá
Tuy vậy, vì khi niêm yết tỷ giá thường niêm yết cả tỷ giá mua và tỷ giá bán củangười kinh doanh tiền tệ, nên cách niêm yết (1) tiện lợi hơn (2) và cũng được sử dụngphổ biến hơn Cụ thể:
A/B = x1/x2 ; trong đó: x1 là tỷ giá mua, x2 là tỷ giá bán của người kinh doanhtiền tệ và x1< x2
Theo tập quán quốc tế, khi có GBP tham gia vào quan hệ tỷ giá thì nó luôn đượcchọn làm đồng tiền yết giá
Ngày nay, tỷ giá không chỉ được sử dụng rộng rãi trên thị trường hối đoái, màcòn được sử dụng khá thường xuyên trong nhiều hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt làtrong các hoạt động về nghiên cứu, thống kê, phân tích, tính toán, đánh giá, dự báo các hoạt động kinh tế quốc tế Lúc này, nếu hiểu tỷ giá là giá cả như trên đây rõ ràng
là không phù hợp, mà được hiểu là tỷ lệ qui đổi, chuyển đổi giữa các đồng tiền.
Theo cách hiểu này, các đồng tiền trong quan hệ tỷ giá đều hoàn toàn bình đẳngnhư nhau và đều đứng vị trí là tiền Với cách niêm yết (1) trên đây có thể triển khainhư sau
Trang 8A/B = x, tức là: 1A = xB, hoặc 1B = (1/x)A, thì x và 1/x là những tỷ lệ qui đổigiữa A và B
Đến đây, một câu hỏi lớn được đặt ra là, tại sao giữa các đồng tiền lại có thể mua
bán (trao đổi), qui đổi, chuyển đổi lẫn nhau và thực chất của tỷ giá là gì?
Câu trả lời là ở chỗ, mọi đồng tiền đều có một điểm chung, hoặc là chúng có giátrị nội tại, hoặc là đại diện cho một lượng giá trị, tức là hoàn toàn có thể trao đổi để lấy
một lượng giá trị tương ứng Đó chính là “sức mua” của các đồng tiền Vậy, thực chất (bản chất) của tỷ giá hối đoái là so sánh, xác định tương quan sức mua của các đồng
tền với nhau.
Như vậy, với tỷ giá A/B = x, được hiểu
+ 1A có sức mua bằng xB, hay 1A và xB có cùng một sức mua;
+ 1A có sức mua gấp x lần sức mua của 1B;
+ x là thể hiện tương quan sức mua giữa A và B
Tóm lại, có thể hiểu một cách đầy đủ nhất về tỷ giá hối đoái như sau
Tỷ giá hối đoái được biểu hiện bằng hình thức bên ngoài là tỷ lệ trao đổi (giá
cả), qui đổi, chuyển đổi giữa các đồng tiền, về thực chất, là so sánh tương quan sức mua giữa chúng với nhau.
2.2.1.2 Các phương pháp xác định tỷ giá hối đoái
Từ trước đến nay trong lịch sử, khi muốn xác định tỷ giá của hai đồng tiền A và
B nào đó, có 3 phương pháp chủ yếu được áp dụng sau đây
(1) So sánh tiêu chuẩn giá cả của các đồng tiền
Giả sử đồng tiền A có tiêu chuẩn giá cả là a, đồng tiền B có tiêu chuẩn giá cả là
b, thì: A/B = a/b, hoặc B/A = b/a
Nhận xét: Phương pháp này rất đơn giản, độ chính xác cao và đã được áp dụng
phổ biến trong các chế độ bản vị vàng trước đây Tuy vậy, hiện không còn khả thi trênthực tế vì ngày nay hầu hết các đồng tiền đều không có tiêu chuẩn giá cả
(2) Phương pháp ngang bằng sức mua (Purchasing Power Parity - PPP)
Nội dung của phương pháp này có thể tóm tắt như sau
Để xác định tỷ giá của hai đồng tiền A và B, trên thị trường của các đồng tiền đóchọn ra hai rổ hàng hoá đều gồm n hàng hoá giống hệt nhau Xác định tổng giá cả củachúng theo từng đồng tiền, đối với A có Pi(A), đối với B có Pi(B) Sau đó đem sosánh chúng với nhau để xác định tỷ giá Cụ thể:
A/B = Pi(B)/ Pi(A), hoặc B/A = Pi(A)/ Pi(B)
Nhận xét: Phương pháp này nhìn chung là khả thi cả về lý thuyết và thực tế Tuy vậy, độ chính xác càng cao khi số lượng mặt hàng được lựa chọn phải càng lớn (n tối
Trang 9thiểu phải đạt 200), loại trừ được các yếu tố không hợp lý cấu thành trong giá (chi phí vận chuyển, bảo hiểm, thuế ).
(3) Xác định tỷ giá qua tỷ giá với một đồng tiền trung gian thứ ba (Phương pháp
tỷ giá chéo)
Nội dung của phương pháp này như sau
Muốn xác lập tỷ giá giữa A và B khi biết tỷ giá A/C = a, B/C = b, thì tỷ giá A/B
= (A/C)/(B/C) = a/b; B/A = (B/C)/(A/C) = b/a
Nhận xét: Phương pháp này tương đối đơn giản và rất khả thi trên thực tế Tuy
vậy, độ chính xác có thể bị hạn chế vì phải qua các tỷ giá trung gian Hơn nữa, sẽ kháphức tạp khi xác định tỷ giá theo tỷ giá mua, bán Lúc này cần phải thực hiện chúngtheo trình tự 3 bước sau đây
Bước 1: Xác lập các tương quan tỷ giá về mặt toán học;
Bước 2: Xác định các tỷ giá thành phần là “mua” hay “bán” gắn với tình huống
cụ thể theo nguyên tắc: Tỷ giá mua hay tỷ giá bán là của người kinh doanh tiền tệ,
ngược với của khách hàng;
Bước 3: Thay số liệu tương ứng vào
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
Với những hiểu biết thấu đáo về tỷ giá hối đoái trên đây cho thấy, tỷ giá là vấn
đề rất nhạy cảm và chúng bị chi phối bởi rất nhiều nhân tố ảnh hưởng, tác động Kháiquát lại, có các nhóm nhân tố chính sau đây
2.2.2.1 Chênh lệch tỷ lệ lạm phát giữa các đồng tiền
Tỷ lệ lạm phát đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua của các đồng tiền Vì vậy,trong một khoảng thời gian nhất định nếu hai đồng tiền nào đó có tỷ lệ lạm phát khônggiống nhau, giả sử các yếu tố khác không thay đổi, có nghĩa là, tương quan sức muagiữa chúng không còn như cũ, mà đã thay đổi Tức là, tỷ giá đã thay đổi Cụ thể nhưsau
Nếu tỷ giá đầu kỳ của hai đồng tiền A và B là A/Bđk = E0, trong kỳ tỷ lệ lạm phát
của A là a(%), B là b(%), (a b), nếu các yếu tố khác không thay đổi, thì tỷ giá cuối
kỳ của A và B sẽ là: A/Bck = E0 [(1 + b)/(1 + a)]
Nhận xét: Đồng tiền nào có tỷ lệ lạm phát càng cao thì càng bị mất giá hơn so
với đồng tiền kia
2.2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
Trên thị trường ngoại hối của các quốc gia, tỷ giá chính là giá cả của các loại
ngoại tệ được đưa ra mua bán Lúc này ngoại tệ là “hàng hoá”, tỷ giá là “giá cả” của
ngoại tệ Giá cả của bất cứ hàng hoá nào cũng đều phụ thuộc vào cung, cầu của hàng
Trang 10hoá đó ở đây cũng không phải là ngoại lệ và tỷ giá chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự tănggiảm của cung - cầu ngoại tệ trên thị trường Có 8 trường hợp chủ yếu (khi xem xétcho một ngoại tệ cụ thể nào đó) xẩy ra sau đây:
1 (1) Cung ngoại tệ (S) không đổi, cầu ngoại tệ (D) tăng Tỷ giá (E) tăng.
Các tình huống có thể xẩy ra
+ Kim ngạch xuất khẩu không
đổi, kim ngạch nhập khẩu tăng;
+ Đầu tư nước ngoài bằng ngoại tệ
vào không đổi, đầu tư ra bằng ngoại tệ tăng;
+ Vay nợ quốc tế bằng ngoại tệ
không đổi, trả nợ hoặc cho vay ra tăng;
+ Khách du lịch quốc tế, du học
sinh, các đoàn khác mang ngoại tệ vào
không đổi, mang ngoại tệ ra tăng;
+ Trên thị trường lãi suất ngoại tệ
tăng so với lãi suất nội tệ;
+ Kim ngạch xuất khẩu không
đổi, kim ngạch nhập khẩu giảm;
+ Đầu tư nước ngoài bằng ngoại tệ
vào không đổi, đầu tư ra bằng ngoại tệ giảm;
+ Vay nợ quốc tế bằng ngoại tệ
không đổi, trả nợ hoặc cho vay ra giảm;
+ Khách du lịch quốc tế, du học
sinh, các đoàn khác mang ngoại tệ vào
không đổi, mang ngoại tệ ra giảm;
Là những tình huống ngược với
Hình 2.3 - D không đổi, S tăng, E giảm
E S
Trang 11các tình huống của trường hợp (1) trên
Là những tình huống ngược với
các tình huống của trường hợp (2) trên
(5) D và S đều tăng Có 3 trường hợp.
5a D tăng nhanh hơn S Tỷ giá tăng nhẹ.
Các tình huống có thể xẩy ra
+ Kim ngạch nhập khẩu tăng
nhanh hơn kim ngạch xuất khẩu;
+ Đầu tư bằng ngoại tệ ra tăng nhanh
hơn đầu tư bằng ngoại tệ vào;
+ Trả nợ hoặc cho vay ra bằng
ngoại tệ tăng nhanh hơn vay nợ vào;
+ Khách du lịch quốc tế, du học
sinh, các đoàn khác mang ngoại tệ ra tăng
nhanh hơn mang ngoại tệ vào;
+ Kim ngạch nhập khẩu tăng
chậm hơn kim ngạch xuất khẩu;
Hình 2.6 - D tăng chậm hơn S tăng, E giảm nhẹ
E