1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Mối quan hệ giữa luân chuyển kiểm toán viên và chất lượng kiểm toán – Nghiên cứu tại các công ty niêm yết ở Việt Nam

7 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 455,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ giữa việc luân chuyển KTV và chất lượng kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam. Mối quan hệ giữa luân chuyển kiểm toán viên và chất lượng kiểm toán – Nghiên cứu tại các công ty niêm yết ở Việt Nam The relationship between auditor rotation and audit quality – A case study in listed companies in Vietnam TS. Nguyễn Anh Hiền, Trường Đại học Sài Gòn Nguyen Anh Hien, Ph.D., Saigon University Tóm tắt Một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiếm toán là tính độc lập của kiểm toán viên (KTV).

Trang 1

Mối quan hệ giữa luân chuyển kiểm toán viên

và chất lượng kiểm toán – Nghiên cứu tại các công ty niêm yết ở Việt Nam

The relationship between auditor rotation and audit quality –

A case study in listed companies in Vietnam

TS Nguyễn Anh Hiền, Trường Đại học Sài Gòn

Nguyen Anh Hien, Ph.D., Saigon University

Tóm tắt

Một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiếm toán là tính độc lập của kiểm toán viên (KTV) Do đó, nhiều quốc gia đã ban hành các qui định về luân chuyển KTV Tuy nhiên, qui định này

đã dẫn đến nhiều cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu, quản lý cũng như các hội nghề nghiệp Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ giữa việc luân chuyển KTV và chất lượng kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam

Từ khóa: luân chuyển kiểm toán viên, chất lượng kiểm toán, công ty niêm yết

Abstract

One of the factors affecting the audit quality is the independence of the auditor Therefore, many countries have issued regulations on auditor rotation However, this regulation has led to many debates among researchers, managers and professional associations This study uses quantitative research methods The research results show that there is no relationship between the auditor rotation and the audit quality at listed companies in Vietnam

Keywords: auditor rotation, Audit quality, listed companies

1 Giới thiệu

Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia có

nền tài chính còn khá non trẻ trong khu vực

cũng như trên thế giới Thị trường chứng

khoán mặc dù đã đi vào hoạt động được

trên 16 năm nhưng tính minh bạch của thị

trường vẫn còn là vấn đề gây nhiều bức

xúc cho nhà đầu tư cũng như các cơ quan

quản lý Nhà nước Trên thực tế có rất

nhiều báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết có sự thay đổi số liệu giữa trước và sau kiểm toán trong các năm

2013, 2014 và 2015 Mặc dù đã có sự giải trình của các công ty nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư Sự tách biệt giữa chủ sở hữu (nhà đầu tư) và nhà quản lý trong mô hình công ty cổ phần một mặt mang lại những

Trang 2

lợi ích không thể tranh cãi như có thể

chuyển nhượng quyền sở hữu một cách dễ

dàng mà không ảnh hưởng đến hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,

đồng thời cũng thuê được những nhà quản

lý chuyên nghiệp có thể thực hiện mục tiêu

của doanh nghiệp Mặt khác, việc tách biệt

này dẫn đến việc xung đột lợi ích giữa chủ

sở hữu và nhà quản lý Trong khi chủ sở

hữu muốn biết nhiều thông tin liên quan

đến doanh nghiệp thì nhà quản lý lại có xu

hướng hạn chế cung cấp thông tin hoặc

cung cấp thông tin có độ tin cậy thấp Từ

những vấn đề trên, có thể thấy chất lượng

BCTC của các công ty niêm yết công bố là

vấn đề quan trọng trong việc minh bạch

thông tin trên thị trường chứng khoán của

Việt Nam hiện nay Điều này cũng cho

thấy vai trò quan trọng của kiểm toán độc

lập trong việc nâng cao chất lượng BCTC

của các công ty niêm yết Nhà đầu tư trong

khả năng giới hạn về khả năng tiếp cận

thông tin thực tế của doanh nghiệp nên họ

gần như đặt trọn niềm tin vào các công ty

kiểm toán (KT) độc tập Họ kỳ vọng vào

CLKT BCTC của các công ty KT độc lập

trước khi đưa ra các quyết định đầu tư

Chất lượng kiểm toán (CLKT) gắn liền

với chất lượng BCTC Tuy nhiên, có nhiều

nhân tố ảnh hưởng đến CLKT Một trong

những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng

đến CLKT là tính độc lập của KTV Do đó

để nâng cao tính độc lập của KTV trong

kiểm toán BCTC nhiều quốc gia đã đưa ra

các qui định về luân chuyển KTV định kỳ

nhằm tăng cường tính độc lập, khách quan

trong hoạt động KT độc lập Tuy nhiên, qui

định này đã dẫn đến rất nhiều cuộc tranh

luận diễn ra giữa các nhà quản lý, nghiên

cứu, cũng như các Hội KTV hành nghề

Do đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa

thời gian luân chuyển KTV và CLKT ở các

công ty niêm yết tại Việt Nam nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này

để giúp các cơ quan quản lý Nhà nước có những chính sách phù hợp với thực tế tại Việt Nam

2 Cơ sở lý thuyết

2.1 Chất lượng kiểm toán

Có nhiều quan điểm khác nhau về CLKT Tuy nhiên, Beatty (1989) thì đứng dưới góc nhìn của nhà đầu tư cho rằng CLKT được thể hiện qua sự trung thực của thông tin tài chính được trình bày trên BCTC sau khi kiểm toán Trách nhiệm của KTV là phải làm giảm thiểu các sai sót và nâng cao độ trung thực của dữ liệu kế toán Quan điểm này quan tâm đến kết quả của dịch vụ kiểm toán hay nói cách khác đó là

sự trung thực của BCTC Tác giả cho rằng BCTC là kết quả tổng hợp của doanh nghiệp và KTV, công ty KT Khi thông tin trên BCTC không trung thực hợp lý thì chất lượng KT đã không được đảm bảo cho

dù KTV đã hoàn toàn tuân thủ các chuẩn mực có liên quan Từ định nghĩa này nhiều công trình nghiên cứu định lượng về CLKT

đã sử dụng độ tin cậy của các thông tin trên BCTC làm thước đo CLKT Do đó, nghiên cứu này cũng dựa vào quan điểm trên để

đo lường chất lượng KT

Vì vậy nhằm đảm bảo thông tin BCTC nói chung và thông tin lợi nhuận nói riêng đáng tin cậy thì vai trò của KTV là phải phát hiện và hạn chế tối đa các hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý trong quá trình KT của mình Khi các KTV để cho các hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý trong BCTC thì thông tin lợi nhuận

có độ tin cậy thấp nên CLKT bị ảnh hưởng Như vậy, mức độ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý thể hiện CLKT BCTC

2.2 Mô hình đo lường CLKT

Trong các mô hình nhận diện hành vi

Trang 3

điều chỉnh lợi nhuận đã công bố ở nước

ngoài, các tác giả đã dựa trên nguyên tắc

cơ sở dồn tích của kế toán để chia lợi

nhuận trong kỳ của doanh nghiệp thành hai

loại là lợi nhuận bằng tiền (cash earnings)

và lợi nhuận dồn tích (accrual earnings)

Trong đó, lợi nhuận bằng tiền hình thành

từ các khoản doanh thu và chi phí bằng tiền

mặt mà doanh nghiệp đã thu và chi trong

kỳ Riêng lợi nhuận dồn tích là lợi nhuận

được tính trong kỳ của doanh nghiệp

nhưng chưa thu được bằng tiền như các

khoản doanh thu bán chịu cho khách hàng

sau khi đã trừ các khoản chi phí không phải

chi trả bằng tiền; các khoản chi phí phải

trả; chi phí trích trước; các khoản dự phòng

giảm giá tài sản; các khoản khấu hao tài

sản cố định trong kỳ

Các nhà quản lý thường không thể

thực hiện hành vi điều chỉnh trên các khoản

lợi nhuận bằng tiền Tuy nhiên, đối với

khoản lợi nhuận dồn tích thì các nhà quản

lý có thể thay đổi khi vận dụng nguyên tắc

cơ sở dồn tích trong kế toán Trên lý

thuyết, nguyên tắc cơ sở dồn tích nhằm

đảm bảo doanh nghiệp phản ánh đúng

doanh thu, chi phí trong kỳ nhằm bảo đảm

lợi nhuận được phản ánh một cách trung

thực và hợp lý Trong thực tế, nguyên tắc

này có thể bị lợi dụng để thực hiện hành vi

điều chỉnh lợi nhuận như ghi nhận doanh

thu khi nghiệp vụ bán hàng chưa được thực

hiện đầy đủ hay ghi nhận doanh thu khi

chưa đủ điều kiện ghi nhận theo chuẩn mực

kế toán hoặc sử dụng việc trích lập các

khoản dự phòng, chi phí trả trước nhằm gia

tăng hay giảm bớt chi phí trong kỳ

Do đó, các nghiên cứu trên thế giới

đều cho rằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận

của các công ty xuất phát từ các khoản lợi

nhuận dồn tích hay còn gọi là các khoản

dồn tích trong lợi nhuận (total accrual

earnings viết tắt là TA) TA còn được gọi tắt là biến kế toán dồn tích Khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA) được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận kế toán sau thuế trừ lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh:

TA = LN sau thuế – dòng tiền thuần hoạt động kinh doanh

Tuy nhiên, không thể sử dụng biến TA làm thước đo điều chỉnh lợi nhuận một cách trực tiếp do trong đó có các khoản dồn tích phù hợp với tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp như các khoản doanh thu bán chịu trong kỳ, các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, các khoản chi phí phải trả… Do đó, ta cần phải có một mô hình để tách biến TA ra làm hai phần gồm:

- Các khoản dồn tích không tự định (Non-discretionary accruals viết tắt là NDA): là các khoản dồn tích được thực hiện theo những qui định, nguyên tắc của chuẩn mực và chế độ kế toán

- Các khoản dồn tích tự định (Discretionary accruals viết tắt là DA) hay còn gọi là các khoản dồn tích bất thường (abnormal accruals): là các khoản dồn tích

do nhà quản lý thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ

Do đó, biến DA mới chính là thước đo phù hợp để đánh giá các nhà quản lý có thao túng thông tin lợi nhuận hay không và

từ đó đánh giá CLKT Theo lý thuyết thì khi DA mang giá trị dương thì nhiều khả năng nhà quản lý thổi phồng lợi nhuận Ngược lại, trường hợp DA mang giá trị âm thì có khả năng nhà quản trị che giấu lợi nhuận Như vậy, biến DA cho thấy có sự điều chỉnh chủ quan từ nhà quản lý đến lợi nhuận của doanh nghiệp

Để ước tính giá trị của DA trong TA, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng mô hình của nguyên gốc của Jones

Trang 4

(1991) và mô hình Jones cải tiến của

Dechow, Sloan and Sweeney (1995)

Mô hình Jones (1991)

Mô hình được nhiều nhà nghiên cứu

thừa nhận tính hiệu quả trong việc nhận

diện điều chỉnh lợi nhuận ở các nước phát

triển Theo đó, Jones đã đưa ra mô hình

nhận diện hành vi điều chỉnh thu nhập

thông qua 2 bước:

- Xác định biến kế dồn tích không tự

định (NDA) theo phương trình sau:

NDAt / At-1 = α/At-1 + β1 ΔREVt /At-1

+ β2 PPEt / At-1

Trong đó:

NDAt: Biến kế toán dồn tích không thể

điều chỉnh được năm t

At-1: Tổng tài sản cuối năm t-1

ΔREVt: Biến động doanh thu thuần

năm t

PPEt: Nguyên giá của tài sản cố định

hữu hình năm t

Trong công thức trên tất cả các biến

của phương trình đều chia cho At-1 (tài sản

cuối năm t-1) để giảm thiểu rủi ro do

phương sai không thuần nhất

α, β1, β2 là những tham số được tính

bằng ước lượng bằng phương pháp bình

phương bá nhất (OLS) của các hệ số a1, a2,

a3 trong mô hình sau:

TAt / At-1 = a0 + a1 1 / At-1 + a2 ΔREVt

/ At-1 + a3 PPEt / At-1 + εt

Phần dư ε trong mô hình trên đại diện

cho biến chưa thể nhận diện được, bao gồm

cả biến dồn tích tự định (DAt)

Sau khi ước lượng biến dồn tích không

tự định (NDA), từ phương trình:

DAt = TAt – NDAt

Ta có:

DAt / At-1 = TAt / At-1 – NDAt / At-1

Từ đó xác định biến kế toán dồn tích

tự định như sau:

DAt / At-1 = TAt / At-1 - a1 1 / At-1 - a2

ΔREVt / At-1 - a3 PPEt / At-1

Mô hình Jones cải tiến của Dechow, Sloan and Sweeney (1995)

Hạn chế của mô hình Jones (1991) là khi chọn REV làm biến nghiên cứu thì có thể doanh thu thuần cũng cũng bị tác động thông qua các khoản doanh thu bị ghi nhận không đúng niên độ và các khoản này có thể là doanh thu khống của doanh nghiệp

Do đó, các nhà nghiên cứu sau này đưa thêm biến tăng giảm khoản phải thu khách hàng (ΔREC) vào phương trình nhằm loại

bỏ ảnh hưởng của các khoản doanh thu dồn tích do sự tăng lên của tài khoản phải thu khách hàng trong kỳ Qua đó, giá trị doanh thu thuần tăng thêm phản ánh chính xác hơn môi trường kinh doanh của doanh nghiệp trong năm đó Dechow, Sloan and Sweeney (1995) đã cải tiến mô hình của Jones (1991) bằng cách bổ sung thêm sự thay đổi của tài khoản nợ phải thu vào mô hình (ΔREC) Mô hình Jones được cải tiến như sau:

NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (ΔREVt - ΔRECt) / At-1 + β2 PPEt / At-1

Trong đó:

ΔRECt là sự thay đổi trong tài khoản phải thu khách hàng

Dechow, Sloan and Sweeney (1995) cho rằng mô hình Jones cải tiến đã phát hiện ra hành vi điều chỉnh lợi nhuận tốt hơn so với mô hình nguyên gốc của Jones Nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển đã kết luận rằng mô hình Jones và mô hình Jones cải tiến đã cho kết quả đáng tin cậy

về biến dồn tích có thể điều chỉnh (Guay, Kothari and Watts, 1996)

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Mô hình nghiên cứu

Xuất phát từ mô hình đo lường CLKT của Dechow, Sloan and Sweeney (1995): NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (ΔREVt -

Trang 5

ΔRECt ) / At-1 + β2 PPEt / At-1

Từ phương trình trên, ta tính được

DAit/At-1 = TAit/At-1 - NDAit/At-1

Khi tỉ số DAit/At-1 quá cao thể hiện các

khoản DA trong lợi nhuận lớn và CLKT

giảm xuống Tuy nhiên, trên thực tế giá trị

của DA của từng công ty có thể mang giá

trị âm hoặc dương tùy thuộc vào hành vi

của nhà quản lý trong kỳ muốn thổi phồng

lợi nhuận (DA>0) hay giảm bớt lợi nhuận

(DA<0) Do đó, nghiên cứu này sử dụng

giá trị tuyệt đối của DAit/At-1 làm biến phụ

thuộc trong phương trình hồi quy để đại

diện cho CLKT BCTC Ký hiệu giá trị

tuyệt đối của DAit/At-1 là |DA|

Ngoài ra, kế thừa các nghiên cứu trước

đây về CLKT, tổng hợp các nhân tố ảnh

hưởng đến CLKT (Chen và cộng sự; Myers

và các cộng sự; Siregar và cộng sự…),

nghiên cứu này sử dụng mô nghiên cứu sau

để xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa

CLKT BCTC (được đo lường bằng giá trị

|DA|) và các biến độc lập có liên hệ với

mức độ điều chỉnh lợi nhuận Cụ thể mô

hình nghiên cứu như sau:

|DA| = α + β1TENURE + β2BIG4 +

β3LEV + β4GROW + β5CFO + β6SIZE + ε

Trong đó:

|DA|: Chất lượng KT (được đo lường

bằng mức độ điều chỉnh lợi nhuận thông

qua các khoản dồn tích)

TENURE: Nhiệm kỳ KTV (được xác

định bằng cách đếm số năm liên tiếp một

KTV thực hiện công việc kiểm toán cho

một công ty)

BIG4: Biến giả (dummy variable) biến

này sẽ mang giá trị bằng 1 nếu công ty

kiểm toán là một trong các Big4, nếu

không phải Big4 thì mang giá trị bằng 0

LEV: Tỷ lệ nợ của công ty (được xác

định bằng cách lấy tổng nợ phải trả chia

cho tổng tài sản trong kỳ)

GROW: Tốc độ tăng trưởng của công

ty (được xác định bằng cách lấy tổng tài sản năm t trừ tổng tài sản năm t-1 và chia lại cho tổng tài sản năm t-1)

CFO: Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty trong năm

SIZE: Quy mô công ty (được xác định bằng cách lấy logarit của tổng tài sản doanh nghiệp)

3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

Với mục tiêu tính toán và ước tính DA cho từng công ty, nghiên cứu đã thực hiện việc lấy số liệu kế toán từ BCTC năm và thu thập thông tin về KTV phụ trách KT trên BCKT kèm theo của các công ty hiện đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Trong nghiên cứu này, để xem xét mối quan hệ của việc luân chuyển KTV

và CLKT thì cần phải có dữ liệu chuỗi thời gian tương đối dài Do đó, mẫu nghiên cứu

là các công ty niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam từ 10 năm trở lên Theo đó, chỉ có một số công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoáng TP.HCM (HOSE) mới đáp ứng yêu cầu này Ngoại trừ các công ty kinh doanh trong lãnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thống kê cho thấy trên sàn HOSE có

70 công ty niêm yết trên 10 năm Trong đó,

có 4 công ty dữ liệu không đầy đủ cho 10 năm nên nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của 66 công ty niêm yết trong 10 năm từ

2006 đến 2015 làm mẫu nghiên cứu của đề tài Như vậy, số lượng quan sát trong đề tài

là 660 quan sát

Nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập các dữ liệu trên BCTC bao gồm số dư các khoản mục các khoản phải thu khách hàng, tổng nợ phải trả, giá trị còn lại tài sản cố định, tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán; khoản mục lợi nhuận trước thuế thu nhập, doanh thu thuần trong kỳ trên báo

Trang 6

cáo kết quả kinh doanh; khoản mục lưu

chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh

từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ Trên báo cáo

KT, tên KTV chính thực hiện KT BCTC

năm đó và tên công ty KT sẽ được ghi

nhận lại

Mỗi chuỗi số liệu sẽ được tính toán

bằng phần mềm Excel để tính tổng lợi

nhuận dồn tích (TA), từ đó tính toán thông

qua mô hình nghiên cứu nói trên để tính

toán các khoản dồn tích tự định (DA)

Nhiệm kỳ kiểm toán (thời gian luân chuyển

KTV) được hiểu là số năm một KTV độc

lập thực hiện kiểm toán cho cùng một công

ty Mỗi chuỗi số liệu sau khi tính toán các giá trị cần thiết sẽ là một quan sát để chạy hồi qui trên phần mềm SPSS để tìm mối tương quan giữa nhiệm kỳ KT và CLKT

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Kết quả thống kê thời gian luân chuyển KTV và CLKT

Để phân tích tương quan giữa biến TENURE và DA, nghiên cứu tính giá trị trung bình của DA tương ứng với từng năm luân chuyển KTV, kết quả được trình bày trong bảng 1

Bảng 1 Thống kê CLKT và thời gian luân chuyển KTV Nhiệm kỳ kiểm toán Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 Năm 6 Năm 7

Giá trị trung bình DA 0,2241 0,2437 0,2108 0,1570 0,1514 0,1523 0,5014

Qua bảng 1, ta thấy giá trị trung bình

của DA thấp nhất là ở năm thứ 5 (0,1514)

và cao nhất là ở năm thứ 7 (0,5014) Kết

quả DA trung bình trong từng năm cũng

cho thấy DA ở các năm thứ nhất và năm

thứ 2 cao cho thấy một thực tế là kiểm toán

trong hai năm đầu tạo ra nhiều rủi ro cho

KTV khiến CLKT không được đảm bảo

Tuy nhiên, từ năm thứ 3 đến năm thứ 5 giá

trị DA giảm dần qua từng năm, đến năm

thứ 6 thì DA tăng trở lại và đặc biệt tăng

cao ở năm thứ 7 Do đó, CLKT có xu

hướng tăng dần từ năm KT thứ 3 đến năm

thứ 5 Bước sang năm thứ 6 thì CLKT bắt đầu có xu hướng giảm và giảm mạnh ở năm thứ 7 Kết quả này cho thấy khi nhiệm

kỳ kiểm toán không vượt quá 5 năm thì giá trị DA trung bình càng giảm xuống tức là CLKT tăng lên

4.2 Kết quả phân tích hồi qui

Để có thể khẳng định việc luân chuyển KTV có ảnh hưởng đến CLKT không, nghiên cứu tiếp tục thực hiện hồi qui đa biến với mô hình nghiên cứu được đề xuất

ở trên Kết quả hồi qui được trình bày ở bảng 2

Trang 7

Bảng 2 Kết quả hồi qui Coefficientsa

Model Unstandardized

Coefficients

Standardized Coefficients

t Sig 95,0%

Confidence Interval for B

Collinearity Statistics

Bound

Upper Bound

Tolerance VIF

1

CFO 4,544E-014 ,000 ,056 1,334 ,183 ,000 ,000 ,841 1,190

SIZE -,182 ,043 -,201 -4,224 ,000 -,267 -,098 ,643 1,555

a Dependent Variable: DA (Y)

Bảng 3 Kết quả tổng hợp mô hình

Model Summary b

Mode

l

Square

Adjusted

R Square

Std Error

of the Estimate

Change Statistics

Durbin-Watson

R Square Change

F Change

df1 df2 Sig F

Change

a Predictors: (Constant), SIZE, TENURE, GROW, LEV, CFO, BIG4

b Dependent Variable: DA (Y)

Kết quả hồi qui đa biến thể hiện ở

bảng 2 cho thấy biến TENURE không có ý

nghĩa thống kê trong mô hình (giá trị sig

đều lớn hơn 5%) Điều này có nghĩa là với

bộ dữ liệu trong mẫu nghiên cứu không tìm

thấy bằng chứng về mối liên hệ giữa thời

hạn luân chuyển KTV và CLKT Điều này

là do từ năm 2004 Việt Nam đã có qui định

thời gian luân chuyển KTV là 3 năm nên

biến TENURE trong mô hình chủ yếu nhận

giá trị 1, 2, 3 Các trường hợp biến

TENURE có giá trị lớn hơn 3 phần lớn là

do cách năm (không liên tục) Kết quả này

cũng phù hợp với một số nghiên cứu trên thế giới như Siregar và các cộng sự (2012), Geiger và Raghunandan (2002), Carcello

và Nagy (2004), Johnson và cộng sự (2002), Knechel và Vanstraelen (2006)…

Về giá trị và dấu của các biến độ lập khác,

ta thấy chỉ có biến GROW và SIZE là có ý nghĩa thống kê Điều này có nghĩa là tốc độ tăng trưởng và qui mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến CLKT

Giá trị R2 điều chỉnh trong mô hình hồi qui là 3,9% (bảng 3) Nguyên nhân mức độ giải thích của mô hình thấp là do biến DA

Ngày đăng: 23/02/2020, 08:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w