Rừng Cần Giờ với loài cây chính là đước, chiếm đến 75% diện tích, thường ở tuổi 22, nên nguy cơ rừng “già yếu” là chuyện xảy ra trong tương lai gần. Ngoài ra còn có sâu bệnh, xói mòn, và việc mở đường, xây dựng các khu du lịch, nuôi tôm, làm diện tích ngày càng thu hẹp. Theo báo cáo của Tiến sĩ Viên Ngọc Nam thuộc Chi cục phát triển lâm nghiệp năm 2004 diện tích rừng bị mất 25ha. Cũng theo Tiến sĩ, mật độ cây ngày càng dày, trong khi thành phố cấm tỉa thưa từ 1999, khiến chiều cao và đường kính cây không cân xứng, tán cây nhỏ không đủ quang hợp, ánh sáng mặt trời không lọt xuống bên dưới nên cây tăng trưởng chậm. Một vấn đề cũng đáng lưu ý là rừng ngập mặn đang đứng trƣớc nguy cơ bị khai thác quá mức để phát triển kinh tế xã hội, dẫn tới bị tàn phá nặng nề.Hiện nay, tình trạng khai thác quá mức nguồn nguyên thiên nhiên đang là những nguy cơ đe dọa hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ Trước đây rừng ngập mặn Cần Giờ rộng mênh mông, còn có tên là rừng Sác (do người Nam Bộ gọi cây mắm là cây sác). Đây là loài cây ngập mặn sống cùng với các loại cây khác, như sú, vẹt, đước, ô rô, chà là tạo thành một tập đoàn cây ngập mặn. Tập đoàn cây tiên phong lấn biển này thích hợp với những vùng bùn lỏng chưa ổn định ở các bãi bồi cửa sông ven biển. Cây mắm, cây đước đi trước. Khi đất bùn được cố định, nước nhạt dần, cây dừa nước phát triển sau cùng trong đoàn quân lấn biển. Vào thế kỷ 17, khi những cư dân Việt đầu tiên vào khai khẩn vùng đất mới Nam Bộ, Cần Giờ có đến 42 ngàn ha rừng nguyên sinh mọc trên hàng trăm gò đất nửa chìm nửa nổi, hoặc chỉ cao hơn mức nước biển một vài mét và hơn 14 diện tích vùng Rừng Sác là sông rạch. Thế giới động vật rừng Sác thời đó thật khó kiểm đếm hết. Cho đến những năm kháng chiến chống Pháp, ngoài hàng trăm loài chim nước và động vật thủy sinh như tôm, cua, cá, lưỡng cư, nơi đây còn có các loài hổ, khỉ độc, rái nước. Những lúc triều lên, hàng trăm rái nước tập trung trên gò nhỏ. Nhiều người đã chứng kiến những cuộc giao tranh quyết liệt giữa heo rừng và trăn nước. Loài cá sấu có nhiều vô kể và vẫn được dân địa phương gọi là chúa nước. Những năm 19621971, Mỹ tàn phá rừng Sác bằng cách rải chất diệt cỏ. Cộng với nạn phá rừng bừa bãi nên các cánh rừng bị hủy diệt hoàn toàn biến nhiều vùng thành các bãi hoang, trảng trống, cây lùm bụi. Các loại động vật rừng ngập mặn như chim, tôm, cá cũng biến mất. Năm 1985, nhân dân Cần Giờ và bộ đội quyết tâm trồng lại rừng. Hàng chục ha rừng Sác hồi sinh. Có đến 60 loài thực vật xuất hiện trở lại, nhiều nhất là cây đước. Hàng chục loài chim nước bay về trú chân, trong đó có bồ nông, cò quắm, sếu, diệc, hồng hộc, le le. Sau 30 năm khôi phục, rừng Sác giờ đây được gọi là rừng ngập mặn Cần Giờ đã phục hồi được trên 30.491 ha rừng, biến khu đất hoang hóa trơ trọi năm xưa thành cánh rừng bạt ngàn xanh tốt, tạo nên cảnh quan tươi đẹp và môi trường sống thuận lợi cho nhiều loài động vật phát triển. rừng ngập mặn Cần Giờ được các chuyên gia nước ngoài đánh giá cao về công tác trồng , chăm sóc và bảo vệ rừng ở Việt Nam và trên thế giới. Các nhà khoa học lâm nghiệp khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ trở về trạng thái tự nhiên đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 2005. Hiện nay, theo kết quả mới nhất. Về diện tích: đã trồng thành rừng 19.448,41 ha với các loài cây chủ yếu như: Đước (Rhizhophora apiculata), Dà vôi (Ceriops tagal), Dà quánh (Ceriops decandra), Gõ biển (Intsia bijuga), Tra(Thespesia polunea), Đưng (Rhizophora mucronata), Vẹt đen (Bruguiera sexangula)…Song song việc trồng và chăm sóc rừng trồng, đã tiến hành khoanh nuôi 11.043,11 ha rừng tự nhiên thành rừng, tạo ra sự đa dạng về chủng loài thực vật theo diễn thế tự nhiên của hệ thực vật Rừng ngập mặn Về tài nguyên thiên nhiên: sau khi hệ sinh thái được phục hồi rừng ngập mặn Cần Giờ rất đa dạng và phong phú về thực vật cũng như động vật, cụ thể: Hệ thực vật: Đã thống kê được 159 loài thực vật thuộc 76 Họ (theo Viên Ngọc Nam, Nguyễn Sơn Thụy 1997), trong đó:
Trang 1QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
BÀI TIỂU LUẬN KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM
Trang 2MỤC LỤC
I.MỞ ĐẦU 4
II TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 5
2.1 Đặc điểm tự nhiên 5
Vị trí địa lý 5
Diện tích tự nhiên 7
Địa hình thổ nhưỡng 7
Đặc điểm Khí hậu 7
Đặc tính thủy văn 8
2.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội- văn hóa 8
Dân số 8
Kinh tế 9
Văn hóa xã hội 9
2.3 Cấu trúc của khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ 10
CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu 11
3.2 Phương pháp đánh giá nhanh 11
3.3 Phương pháp so sánh 11
Trang 34.1 Đối với hiện trạng khai thác và sử dụng 11
4.2 Đối với công tác quản lý 11
CHƯƠNG V: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
5.1.Hiện trạng khai thác và sử dụng 12
5.2 Công tác quản lý rừng ngập mặn Cần Giờ 15
5.2.1 Ban quản lý 15
5.2.2 Mục đích 15
5.2.3 Chức năng, nhiệm vụ 15
5.2.4 Cơ cấu tổ chức, nội dung và công tác quản lý 16
CHƯƠNG VI KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24
I.MỞ ĐẦU
Rừng cung cấp nguyên vật liệu thô cho con người và là nguồn kinh tế cơ bản cho nhiều dân tộc, quốc gia, cũng là hợp phần quan trọng nhất cấu thành nên sinh quyển , có vai trò cực kỳ quan trọng tạo cảnh quan, khí hậu, đất đai
Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
bạc, Đất phì nhiêu” nhưng hiện nay đang bị thu hẹp cả về số lượng và chất lượng Ước tính rằng đã có khoảng 60 triệu km2 và bị thu hẹp xuồng còn 44,05 triệu km2 vào năm
trạng hiện này đó chính là do hoạt động khai thác một các bừa bãi, cùng với việc sử rừng lãng phí, và do công tác quản lý yếu kém của các cấp chính quyền địa phương
Cụ thể là tài nguyên rừng đang bị thu hẹp theo từng ngày, diện tích rừng tự nhiên che phủ giảm dần do khai thác trái phép, đất rừng bị chuyển qua đất nông công nghiệp,
Trang 4các loài sinh vật quý hiếm thì đứng trước nguy cơ tuyệt chủng rất cao (Theo thống kê thì
ở Việt Nam có khoảng 100 loài thực vật và gần 100 loài động vật đang đứng trước nguy
cơ tuyệt chủng)
Những năm gần đây, tình trạng phá rừng xảy ra ngày một nhiều với các hành vi,thủ đoạn tinh vi làm nghèo tài nguyên rừng Việc bảo vệ rừng khó khăn, cơ chế chínhsách trong quản lý, khai thác còn nhiều bất cập Nâng cao chất lượng rừng, ngăn chặn nạnphá rừng là việc làm cấp bách hiện nay Vấn đề đặt ra là chúng ta phải tăng cường côngtác quản lý tốt hơn để bảo vệ nguồn tài nguyên này Phải ngăn chặn các hoạt động phárừng và khắc phục các sự cố đã xảy ra Phải nâng mức xử phạt đối với các hành vi viphạm làm ảnh hưởng xấu tới tài nguyên rừng
Nhận thấy được tầm quan trọng nhóm đã chọn tiến hành đề tài “TÌNH HÌNH KHAI THÁC, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RƯNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ VÀ
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ RỪNG”.
II TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu
Phía Tây giáp với tỉnh Tiền Giang và tỉnh Long An
Phía Bắc giáp với huyện Nhà Bè TPHCM
Phía Nam giáp với biển Đông
+Tọa độ địa lý: từ 10° 22’14’’ - 10° 37’39’’ vĩ độ Bắc, từ 106° 46’12’’- 107° 00’50’’ kinh độ Đông
Trang 62 Dạng ngập theo chu kỳ nhiều năm 1,6 – 2m
3 Dạng ngập theo chu kỳ năm 1,1 – 1,5m
Mùa nắng: Tháng 11 đến tháng 4 năm sau
+Lượng mưa trung bình 130mm/ tháng
Trang 7+Chế độ gió: 2 hướng gió chính trong năm là
Tây và Tây Nam tháng 5 đến tháng 10 dương lịch
Bắc Đông Bắc tháng 11 đến tháng 4 âm lịch
+Độ ẩm và bốc hơi: Ẩm độ trung bình 80-85% lượng bốc hơi trung bình 1204mm/tháng+Chế độ nhiệt và bức xạ: nhiệt độ trung bình năm 27oC lượng bức xạ trung bình ngày trên 300 Calo/cm2
- Nhiệt độ cao tuyệt đối: 33,3oC
-Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 22,7oC
-Biên độ dao động trong ngày: 3 – 70C
- Biên độ nhiệt trong tháng: 4oC
+Số giờ nắng 7-9 giờ/ngày
Đặc tính thủy văn
Hệ thống sông ngòi chằng chịt Nguồn nước từ biển đưa vào qua hai cửa chính hình phễu
là vịnh Động tranh và Gành rai;nguồn nước từ sông đổ ra là nơi hội lưu của sông Sài Gòn
và sông Đồng Nai ra biển bằng hai tuyến chính là sông Long Tàu và Soài Rạp; ngoài ra còn có sông Thị Vải, Gò Gia và các sông phụ lưu
+Diện tích sông rạch là 22.161 ha chiếm 21,27% diện tích toàn huyện
+Chế độ thủy triều : Nằm trong vùng chế độ bán nhật triều, hai lần nước lớn và hai lần nước ròng không đều trong ngày, hai đỉnh triều thường bằng nhau nhưng chân triều lệch rất xa
+Độ mặn : Nước mặn theo dòng triều ngược lên thượng lưu trong thời kỳ triều lên hòa lẫn với nước ngọt từ nguồn đổ về thành nước lợ, sau đó tiêu đi trong thời gian triều hết.Càng vào sâu trong đất liền độ mặn càng giảm
Trang 82.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội- văn hóa
Dân số
Dân số trên toàn huyện Cần Giờ là 68.403 người với 15.922 hộ (thống kê
06/2007,huyện Cần Giờ) được chia làm 6 xã và 01 thị trấn gồm : Bình Khánh, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp, Lý Nhơn, Long Hòa, Thạnh An và Thị trấn Cần Thạnh
40% người dân thuộc diện xóa đói giảm nghèo, sống chủ yếu phụ thuộc vào rừng
Kinh tế
Bảng các thành phần kinh tế huyện Cần Giờ năm 2006Tổng giá trị sản xuất toàn Huyện đạt trên 4.150 tỷ đồng tăng 29% so với 2007 trong đó-Thủy sản tăng 4%,
-Công nghiệp- tiểu thủ công nhiệp tăng 21%
Trang 9-Nông lâm nghiệp giảm 47%
-Giao thông bưu điện tăng 18%
-Đầu tư xây dựng tăng 87%
-Thương nghiệp dịch vụ giảm 8%
Văn hóa xã hội
UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam
Ngày 21/ 01/ 2000, khu rừng này đã được Chương trình Con người và Sinh Quyển - MAB của UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam nằm trong mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển của thế giới
2.3 Cấu trúc của khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ
Cấu trúc của khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn cần giờ chia làm 3 vùng chính
Vùng lõi: nhằm bảo tồn lâu dài đa dạng loài, các cảnh quan, hệ sinh thái
Vùng đệm: nằm bao quanh hoặc tiếp giáp vùng lõi Ở đây, có thể tiến hành các hoạt động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không ảnh hưởng đến vùng lõi
Vùng chuyển tiếp: nằm ở ngoài cùng Tại đây, các hoạt động kinh tế vẫn duy trì bình thường trên cơ sở phát triển bền vững nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên mà khu dự trữ sinh quyển đem lại
Trang 10CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu
Từ những tài liệu đã có, thông qua việc phân tích tổng hợp để có cái nhìn tổng quát về khu vực nghiên cứu,làm cơ sở cho việc đánh giá
3.2 Phương pháp đánh giá nhanh
Thông qua các số liệu thu được và tình hình thực tế nhận diện thực trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
3.3 Phương pháp so sánh
Dựa vào điều kiện và phương thức quản lý của các đối tượng tương tự rừng ngập mặn Cần Giờ như vườn quốc gia Cúc Phương, Cát Tiên để từ đó đưa ra nhận xét
về tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên tại khu vực nghiên cứu
CHƯƠNG IV: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1 Đối với hiện trạng khai thác và sử dụng
-Nghiên cứu các số liệu thực tiễn thống kế của cơ quan kiểm kê rừng về diện tích
-Nghiên cứu sự đa dạng cũng như số lượng của chủng loại hệ động thực vật thuộc rừng ngập mặn Cần giờ
4.2 Đối với công tác quản lý
-Nghiên cứu về cơ cấu ban quản lý hiện tại ở rừng ngập mặn Cần Giờ
-Nghiên cứu phương thức hoạt động, cách thức quản lý rừng, các nguyên tắc quản lý rừng ngập mặn Cần Giờ
Trang 11CHƯƠNG V: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1.Hiện trạng khai thác và sử dụng
Rừng Cần Giờ với loài cây chính là đước, chiếm đến 75% diện tích, thường ở tuổi
22, nên nguy cơ rừng “già yếu” là chuyện xảy ra trong tương lai gần Ngoài ra còn có sâubệnh, xói mòn, và việc mở đường, xây dựng các khu du lịch, nuôi tôm, làm diện tíchngày càng thu hẹp Theo báo cáo của Tiến sĩ Viên Ngọc Nam thuộc Chi cục phát triểnlâm nghiệp năm 2004 diện tích rừng bị mất 25 ha Cũng theo Tiến sĩ, mật độ cây ngàycàng dày, trong khi thành phố cấm tỉa thưa từ 1999, khiến chiều cao và đường kính câykhông cân xứng, tán cây nhỏ không đủ quang hợp, ánh sáng mặt trời không lọt xuống bêndưới nên cây tăng trưởng chậm
Một vấn đề cũng đáng lưu ý là rừng ngập mặn đang đứng trước nguy cơ bị khaithác quá mức để phát triển kinh tế xã hội, dẫn tới bị tàn phá nặng nề Hiện nay, tình trạngkhai thác quá mức nguồn nguyên thiên nhiên đang là những nguy cơ đe dọa hệ sinh tháirừng ngập mặn Cần Giờ
Trước đây rừng ngập mặn Cần Giờ rộng mênh mông, còn có tên là rừng Sác (dongười Nam Bộ gọi cây mắm là cây sác) Đây là loài cây ngập mặn sống cùng với các loạicây khác, như sú, vẹt, đước, ô rô, chà là tạo thành một tập đoàn cây ngập mặn Tập đoàncây tiên phong lấn biển này thích hợp với những vùng bùn lỏng chưa ổn định ở các bãibồi cửa sông ven biển Cây mắm, cây đước đi trước Khi đất bùn được cố định, nước nhạtdần, cây dừa nước phát triển sau cùng trong đoàn quân lấn biển
Vào thế kỷ 17, khi những cư dân Việt đầu tiên vào khai khẩn vùng đất mới Nam
Bộ, Cần Giờ có đến 42 ngàn ha rừng nguyên sinh mọc trên hàng trăm gò đất nửa chìmnửa nổi, hoặc chỉ cao hơn mức nước biển một vài mét và hơn 1/4 diện tích vùng RừngSác là sông rạch Thế giới động vật rừng Sác thời đó thật khó kiểm đếm hết Cho đếnnhững năm kháng chiến chống Pháp, ngoài hàng trăm loài chim nước và động vật thủysinh như tôm, cua, cá, lưỡng cư, nơi đây còn có các loài hổ, khỉ độc, rái nước Những lúctriều lên, hàng trăm rái nước tập trung trên gò nhỏ Nhiều người đã chứng kiến những
Trang 12cuộc giao tranh quyết liệt giữa heo rừng và trăn nước Loài cá sấu có nhiều vô kể và vẫnđược dân địa phương gọi là chúa nước.
Những năm 1962-1971, Mỹ tàn phá rừng Sác bằng cách rải chất diệt cỏ Cộng vớinạn phá rừng bừa bãi nên các cánh rừng bị hủy diệt hoàn toàn biến nhiều vùng thành cácbãi hoang, trảng trống, cây lùm bụi Các loại động vật rừng ngập mặn như chim, tôm, cácũng biến mất Năm 1985, nhân dân Cần Giờ và bộ đội quyết tâm trồng lại rừng Hàngchục ha rừng Sác hồi sinh Có đến 60 loài thực vật xuất hiện trở lại, nhiều nhất là câyđước Hàng chục loài chim nước bay về trú chân, trong đó có bồ nông, cò quắm, sếu,diệc, hồng hộc, le le
Sau 30 năm khôi phục, rừng Sác giờ đây được gọi là rừng ngập mặn Cần Giờ đãphục hồi được trên 30.491 ha rừng, biến khu đất hoang hóa trơ trọi năm xưa thành cánhrừng bạt ngàn xanh tốt, tạo nên cảnh quan tươi đẹp và môi trường sống thuận lợi chonhiều loài động vật phát triển rừng ngập mặn Cần Giờ được các chuyên gia nước ngoàiđánh giá cao về công tác trồng , chăm sóc và bảo vệ rừng ở Việt Nam và trên thế giới.Các nhà khoa học lâm nghiệp khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ trở về trạngthái tự nhiên đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 2005
Hiện nay, theo kết quả mới nhất
- Về diện tích: đã trồng thành rừng 19.448,41 ha với các loài cây chủ yếu như: Đước(Rhizhophora apiculata), Dà vôi (Ceriops tagal), Dà quánh (Ceriops decandra), Gõ biển(Intsia bijuga), Tra(Thespesia polunea), Đưng (Rhizophora mucronata), Vẹt đen(Bruguiera sexangula)…Song song việc trồng và chăm sóc rừng trồng, đã tiến hànhkhoanh nuôi 11.043,11 ha rừng tự nhiên thành rừng, tạo ra sự đa dạng về chủng loài thựcvật theo diễn thế tự nhiên của hệ thực vật Rừng ngập mặn
- Về tài nguyên thiên nhiên: sau khi hệ sinh thái được phục hồi rừng ngập mặn Cần Giờrất đa dạng và phong phú về thực vật cũng như động vật, cụ thể:
Hệ thực vật: Đã thống kê được 159 loài thực vật thuộc 76 Họ (theo Viên Ngọc Nam,Nguyễn Sơn Thụy 1997), trong đó:
Trang 13+ Loài cây chịu mặn: 33 loài thuộc 19 Họ.
+ Loài cây trên đất cao: 90 loài thuộc 42 Họ
Hệ động vật, thủy sinh vật rừng ngập mặn Cần Giờ:
Quá trình phục hồi thành công hệ thực vật Rừng ngập mặn đã góp phần tạo ra môitrường sống cho các loài động vật trên cạn, dưới nước phát triển về chủng loài lẫn sốlượng Theo các nhà khoa học Rừng ngập mặn Cần Giờ với hệ thống sông rạch chằngchịt, các bãi bồi, ao đầm, rừng - đầm nhận nước từ sông Sài Gòn, Đồng Nai – giàu chấtdinh dưỡng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài thủy sinh vật cónguồn gốc biển, nước lợ theo thủy triều vào rừng sinh sống Thành phần các loài thủysinh vật ở rừng Cần Giờ rất phong phú: có trên 130 loài Tảo thuộc 3 ngành: Tảo Khuê(Bacillariophita), tảo Giáp (Pyrrophyta) và tảo Lam (Cyanophyta), trong đó tảo Khuêchiếm ưu thế; trên 100 loài động vật không xương sống thuộc ngành chân khớp(Arthrophoda), Giun đất (Annelides), Giun tròn (Nemathalninthes), Thân mềm(Molusca); trên 120 loài cá nước lợ, nước mặn thuộc các bộ cá Nhám (Lamniformes), cáĐuối (Rajiiformes), cá Trích (Clupeiformes), cá Đối (Mugillifomes), cá Heo(Siluriiformes), cá Chình (Anguilliformes), cá Vược (Pereiiformes), cá Kìm(Beloniformes), cá Bơn (Pluroneetiformes), cá Nục (Tetraodontiformes), cá Mang Ếch(Batrachidiformes) (theo Hoàng Đức Đạt – 1997)
Mặc dù môi trường rừng ngập mặn không thuận lợi cho các loài động vật sống trên cạnnhư các rừng nội địa, nhưng do có nhiều thức ăn nên khu hệ động vật có xương sống ởcạn trong rừng ngập mặn cũng đa dạng và phong phú Có thể kể các loài thú như: Heorừng, Khỉ đuôi dài, Rái cá, các loài Mèo, Chồn, Nhím, Tê tê ở đây còn có tập đoànchim nước, Bồ nông, các loài Cú, Diệc, Nhan sen, Cốc, có số lượng lớn Bò sát có : CáSấu hoa cà, Kỳ đà nước, Trăn, nhiều loài Rắn, Rùa biển (hiện nay, không còn thấy Cọp,Nai, cá Sấu hoa cà xuất hiện trong môi trường tự nhiên cũng như thông tin về 3 loài này) Các công trình nghiên cứu đã xác định được 09 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát ; trên 150loài chim thuộc 47 Họ, 17 Bộ (trong đó có 51 loài chim nước và 79 loài không phải làchim nước) sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau; Thú có 19 loài thuộc 13 Họ, 07 Bộ
Trang 14Trong đó có các loài quý hiếm như: Rái cá thường (Lutra lutra), Rái cá vuốt bé (Aouyxcinerea), Mèo cá (Felis viverria), Mèo rừng (Felis bengalensi); Bồ nông chân xanh –Chàng bè (Peiecaunus philippensis), Cò lạo ấn Độ _ Nhan sen (Lepptopilos javanicus),
Cò lạo xám (Myeteria cinerea), Choắt lớn móng vàng (Tringaguttifr), ác là (Pica pica)
5.2 Công tác quản lý rừng ngập mặn Cần Giờ
Ban Quản lý Rừng phòng hộ gồm có 100 người trong đố có trên 70% làm nhiệm vụ bảo
vệ rừng trực tiếp tại 24 tiểu khu phân bố khắp rừng ngập mặn Ngoài lực lượng của Ban Quản lý còn có các đơn vị nhận khoán, đơn vị phối hợp trên địa bàn huyện: Các đồn biênphòng, UBND các xã, thị trấn, cơ quan, công an, Nông trường, Các công ty du lịch sinh thái,… Đặc biệt có trên 160 hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng Trong những năm qua, những thiệt hại tài nguyên rừng ngập mặn Cần Giờ đã được hạn chế thấp nhất
5.2.2 Mục đích
Phát huy tốt 3 chức năng của Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ:
- Chức năng bảo tồn: đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng di truyền, loài, hệ sinh thái và cảnh quan
- Chức năng phát triển: thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững về sinh thái cũng như các giá trị văn hóa truyền thống
- Chức năng hỗ trợ: tạo điều kiện cho các hoạt động nghiên cứu, giám sát, giáo dục và
Trang 15trao đổi thông tin giữa các địa phương, trong nước và quốc tế về bảo tồn và phát triển bền vững.
- Tổ chức hoàn chỉnh hệ thống quản lý bảo vệ rừng từ huyện đến cơ sở, thực hiện việcgiao đất, giao rừng cho các hộ dân nhận khoán chăm sóc, bảo vệ, nhằm tạo ra nhữngvùng lâm nghiệp bền vững, ngày càng ổn định đời sống của nhân dân và cán bộ côngnhân trực tiếp làm nghề rừng
- Xây dựng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn để quản lý bảo vệ, phát triểnrừng phòng hộ; trong đó bao gồm việc xây dựng và thực hiện các dự án lâm – ngư – dịch
vụ du lịch sinh thái kết hợp, các đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật cho rừng phòng hộ nhằm nâng cao chất lượng của rừng
- Tăng cường công tác khuyến lâm và không ngừng tuyên truyền, giáo dục, vận độngnâng cao ý thức phát triển và bảo vệ rừng trong nhân dân
- Tổ chức hoạt động sản xuất lâm ngư kết hợp, các dịch vụ khoa học kỹ thuật và dịch vụ phục vụ tham quan du lịch, làm tăng giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội của rừng phòng hộ; góp phần cải thiện đời sống cho các hộ dân giữ rừng và cán bộ công nhân trực tiếp làm nghề rừng
5.2.4 Cơ cấu tổ chức, nội dung và công tác quản lý
a.Cơ cấu tổ chức