1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận ứng dụng công nghệ sinh thái trong xử lí chất thải hữu cơ nông nghiệp trồng trọt

50 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể định nghĩa theo cách khác: “Công nghệ sinh thái là các thiết kế dùng cho xử lý chất thải, kiểm soát xói mòn, phục hồi sinh thái và nhiều ứng dụng khác nhằm hướng tới sự phát triển bền vững”. II.1.2. Quá trình hình thành và phát triển Công nghệ sinh thái bắt đầu từ những năm 1960, xuất phát từ việc nghiên cứu các quá trình làm sạch môi trường. Ứng dụng các sinh vật trong xử lý nước thải, chất thải và phục hồi các nguồn tài nguyên đất và tài nguyên nước. HT Odum là người đi đầu trong kỹ thuật sinh thái để ứng dụng cho các mục tiêu. Ông tiến hành các thí nghiệm thiết kế hệ sinh thái lớn tại Port Aranasa, Texa (HT Odum, 1963), thành phốMorehead, Bắc Carolina (HT Odum, 1985, 1989) và Gainesville, Florida (Ewel và HTOdum, 1984). Hiện nay người ta sử dụng các hệ sinh thái tự nhiên để tái tạo tài nguyên; sử dụng hệ sinh thái nhân tạo để xử lý nguồn nước, đất và không khí; phục hồi tài nguyên đất, tài nguyên thực vật cho vùng nông thôn; kiến tạo cảnh quan đô thị. Các hệ sinh thái được ứng dụng hiệu quả trong vệc đóng kín các chu trình sinh địa hóa. II.1.3. Các lĩnh vực ứng dụng của công nghệ sinh thái hiện nay Tuy là lĩnh vực khá mới nhưng sự phát triển và ứng dụng của công nghệ sinh thái rất đáng kể, bao gồm nông nghiệp; công nghiệp; xử lý nước cấp, nước thải, chất thải, khí thải; xử lý kim loại nặng, chất hữu cơ; sử dụng năng lượng; phục hồi tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng… II.1.3.1. Công nghệ sinh thái trong nông nghiệp “Công nghệ sinh thái” là thiết kế lại hệ thống ruộng lúa sao cho đa dạng hóa về thực vật (Flora) và động vật (Fauna). Hay nói cách khác là làm cho các loài trong hệ sinh thái ruộng lúa được phong phú. Từ đó tạo được chuỗi thức ăn và mạng lưới thức ăn trong sự biến động nhưng cân bằng còn được gọi là dịch vụ sinh thái (Ecological Services). Từ dịch vụ sinh thái này các thiên địch sẽ tấn công các loài sâu hại và giữ mật số của dịch hại ở mức thấp nhất không gây ra sự mất mát năng suất và chúng ta không cần phải xử lý thuốc trừ sâu. Trồng các loại hoa có phấn hoa và mật hoa trên các bờ ruộng thì các loài thiên địch ở giai đoạn trưởng thành cần ăn thêm mật và phấn hoa để bổ sung năng lượng cho sự sinh sản. Do đó, nếu trên bờ ruộng hay các cây trồng khác xung quanh có nhiều hoa với lượng mật và phấn hoa dồi dào sẽ thu hút chúng đến ăn và rồi cư ngụ ngay trong ruộng lúa để tấn công các loại sâu rầy. Công việc này được hiểu như kiến thiết lại đồng ruộng, đảm bảo được môi trường tự nhiên hay còn được gọi là “Công nghệ sinh thái”(Ecological Engineering).Có nhiều loài cây nhỏ có nhiều hoa và hoa phát triển quanh năm sẽ thu hút nhiều côn trùng có ích. Chúng có thể trồng dễ dàng trên bờ ruộng, ít phải chăm sóc. Những lợi ích mà công nghệ sinh thái mang lại: • Thu hút Ong mật và Ong ký sinh đến bảo vệ ruộng lúa • Giảm chi phí thuốc trừ sâu • Tăng lợi nhuận • Tạo nguồn nguyên, nhiên liệu sạch II.1.3.2. Công nghệ sinh thái bảo vệ môi trường Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, loài người phải bắt đầu tìm cách giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường bằng các biện pháp khác nhau. Trong đó, các biện pháp công nghệ thái học ngày càng tỏ ra ưu việt hơn so với các biện pháp khác. Nói chung, hiện nay vấn đề bảo vệ môi trường được giải quyết theo ba hướng sau: • Phân hủy các độc chất vô cơ và hữu cơ; phục hồi các chu trình trao đổi chất của C, N, P và S trong tự nhiên; thu nhận các sản phẩm có giá trị ở dạng nhiên liệu hoặc các hợp chất hữu cơ. • Xử lý chất thải, như: xử lý sinh học hiếu khí, xử lý bằng lên men phân hủy yếm khí.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN



BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ:

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH THÁI TRONG XỬ LÍ CHẤT THẢI HỬU CƠ NÔNG NGHIỆP TRỒNG TRỌT

GVHD: TS LÊ QUỐC TUẤN

TP HCM, tháng 11 năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ 3

II NỘI DUNG 3

II.1 Tổng quan về công nghệ sinh thái 3

II.1.1 Khái niệm 3

II.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 4

II.1.3 Các lĩnh vực ứng dụng của công nghệ sinh thái hiện nay 4

II.1.3.1 Công nghệ sinh thái trong nông nghiệp 4

II.1.3.2 Công nghệ sinh thái bảo vệ môi trường 5

II.1.3.3 Công nghệ sinh thái trong năng lượng 6

II.1.3.4 Các hoạt động khác của công nghệ sinh thái hiện nay 7

II.2 Tổng quan về chất thải hữu cơ nông nghiệp 7

II.2.1 Khái niệm và nguồn gốc 7

II.2.2 Thành phần của chất thải hữu cơ 8

II.2.3 Hiện trạng chất thải hữu cơ ở Việt Nam 8

II.2.4 Tác động của chất thải hữu cơ 12

II.2.4.1 Tác động đến môi trường 12

II.2.4.2 Ảnh hưởng đến con người 13

II.2.5 Hiện trạng xử lý chất thải hữu cơ nông nghiệp ở Việt Nam và thế giới 13

II.2.5.1 Việt Nam 13

II.2.5.2 Thế giới 16

II.3 Ứng dụng công nghệ sinh thái trong xử lí chất thải hữu cơ nông nghiệp trong trồng trọt 18

II.3.1 Sử dụng chế phẩm sinh học biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ 18

II.3.1.1 Chế phẩm sinh học FITO-BIOMIX-RR 19

II.3.1.2 Ứng Dụng Chế Phẩm Sinh Học (Nấm Trichoderma) 22

II.3.2 Sản xuất ethanol từ rơm rạ 27

II.3.2.1 Các loại của tiền xử lý: 29

II.3.2.2 Thủy phân bởi enzim: 38

II.3.3 Sản xuất ethanol từ bã mía 41

Trang 3

II.3.3.1 Giới thiệu về bã mía 41

II.3.3.2 Nguồn bã mía ở Việt Nam 42

II.3.3.3 Quy trình sản xuất ethanol 43

II.4 Lợi ích nông nghiệp, môi trường và kinh tế xã hội 45

II.4.1 Nông nghiệp 45

II.4.2 Môi trường 46

II.4.3 Kinh tế và xã hội 46

III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47

III.1 Kết luận 47

III.2 Kiến nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 4

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngành nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp Nókhông chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vìmột mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng,vật nuôi Nông nghiệp đã chuyển mạnh sang cơ cấu sản xuất hiệu quả hơn và đạt tốc độtăng trưởng khá cao, an ninh lương thực được bảo đảm Cơ cấu hộ nông dân theo ngànhnghề đang chuyển dịch theo hướng tăng dần số lượng và tỷ trọng nhóm các hộ tham giasản xuất phi nông nghiệp như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng pháttriển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ tăng lên rõ rệt, góp phần tạo việc làm, tăng thunhập, xóa đói, giảm nghèo cho nông dân Song song với sự chuyển biến tích cực, nôngthôn Việt Nam vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém: phát triển thiếu quy hoạch, tựphát những hạn chế, yếu kém này kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn

Một trong những nguyên nhân chính của ô nhiễm môi trường nông thôn là do CTR

từ hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi, sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón trongsản xuất nông nghiệp, CTR từ hoạt động làng nghề và rác thải từ sinh hoạt Trong đó,nông nghiệp làm phát sinh một lượng lớn chất thải hửu cơ, từ các hoạt động sản xuấtnông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ ), thu hoạch nông sản (rơm,

rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô)…

Chất thải nông nghiệp nếu không được xử lý sẽ gây ra ô nhiễm môi trường khôngkhí, môi trường đất, nước, làm mất vẻ mỹ quan , gây nhiều bệnh tật, tác động xấu đến sứckhỏe con người, môi trường, đánh mất một nguồn lợi lớn về kinh tế

II NỘI DUNG

II.1 Tổng quan về công nghệ sinh thái

II.1.1 Khái niệm

Công nghệ sinh thái là sự kết hợp các quy luật sinh thái và công nghệ để giải quyếtcác vấn đề của môi trường như điều tra ô nhiễm, cải tạo ô nhiễm, xử lý chất thải

Trang 5

Có thể định nghĩa theo cách khác: “Công nghệ sinh thái là các thiết kế dùng cho xử lýchất thải, kiểm soát xói mòn, phục hồi sinh thái và nhiều ứng dụng khác nhằm hướng tới

sự phát triển bền vững”

II.1.2 Quá trình hình thành và phát triển

Công nghệ sinh thái bắt đầu từ những năm 1960, xuất phát từ việc nghiên cứu cácquá trình làm sạch môi trường Ứng dụng các sinh vật trong xử lý nước thải, chất thải vàphục hồi các nguồn tài nguyên đất và tài nguyên nước HT Odum là người đi đầu trong kỹthuật sinh thái để ứng dụng cho các mục tiêu Ông tiến hành các thí nghiệm thiết kế hệsinh thái lớn tại Port Aranasa, Texa (HT Odum, 1963), thành phốMorehead, Bắc Carolina(HT Odum, 1985, 1989) và Gainesville, Florida (Ewel và HTOdum, 1984)

Hiện nay người ta sử dụng các hệ sinh thái tự nhiên để tái tạo tài nguyên; sử dụng

hệ sinh thái nhân tạo để xử lý nguồn nước, đất và không khí; phục hồi tài nguyên đất, tàinguyên thực vật cho vùng nông thôn; kiến tạo cảnh quan đô thị Các hệ sinh thái đượcứng dụng hiệu quả trong vệc đóng kín các chu trình sinh địa hóa

II.1.3 Các lĩnh vực ứng dụng của công nghệ sinh thái hiện nay

Tuy là lĩnh vực khá mới nhưng sự phát triển và ứng dụng của công nghệ sinh tháirất đáng kể, bao gồm nông nghiệp; công nghiệp; xử lý nước cấp, nước thải, chất thải, khíthải; xử lý kim loại nặng, chất hữu cơ; sử dụng năng lượng; phục hồi tài nguyên đất, tàinguyên nước, tài nguyên rừng…

II.1.3.1 Công nghệ sinh thái trong nông nghiệp

“Công nghệ sinh thái” là thiết kế lại hệ thống ruộng lúa sao cho đa dạng hóa vềthực vật (Flora) và động vật (Fauna) Hay nói cách khác là làm cho các loài trong hệ sinhthái ruộng lúa được phong phú Từ đó tạo được chuỗi thức ăn và mạng lưới thức ăn trong

sự biến động nhưng cân bằng còn được gọi là dịch vụ sinh thái (Ecological Services) Từdịch vụ sinh thái này các thiên địch sẽ tấn công các loài sâu hại và giữ mật số của dịch hại

ở mức thấp nhất không gây ra sự mất mát năng suất và chúng ta không cần phải xử lýthuốc trừ sâu

Trang 6

Trồng các loại hoa có phấn hoa và mật hoa trên các bờ ruộng thì các loài thiên địch

ở giai đoạn trưởng thành cần ăn thêm mật và phấn hoa để bổ sung năng lượng cho sự sinhsản Do đó, nếu trên bờ ruộng hay các cây trồng khác xung quanh có nhiều hoa với lượngmật và phấn hoa dồi dào sẽ thu hút chúng đến ăn và rồi cư ngụ ngay trong ruộng lúa đểtấn công các loại sâu rầy Công việc này được hiểu như kiến thiết lại đồng ruộng, đảm bảođược môi trường tự nhiên hay còn được gọi là “Công nghệ sinh thái”(EcologicalEngineering).Có nhiều loài cây nhỏ có nhiều hoa và hoa phát triển quanh năm sẽ thu hútnhiều côn trùng có ích Chúng có thể trồng dễ dàng trên bờ ruộng, ít phải chăm sóc

Những lợi ích mà công nghệ sinh thái mang lại:

 Thu hút Ong mật và Ong ký sinh đến bảo vệ ruộng lúa

 Giảm chi phí thuốc trừ sâu

 Tăng lợi nhuận

 Tạo nguồn nguyên, nhiên liệu sạch

II.1.3.2 Công nghệ sinh thái bảo vệ môi trường

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, loài người phải bắt đầu tìm cách giảiquyết vấn đề ô nhiễm môi trường bằng các biện pháp khác nhau Trong đó, các biện phápcông nghệ thái học ngày càng tỏ ra ưu việt hơn so với các biện pháp khác Nói chung,hiện nay vấn đề bảo vệ môi trường được giải quyết theo ba hướng sau:

 Phân hủy các độc chất vô cơ và hữu cơ; phục hồi các chu trình trao đổi chấtcủa C, N, P và S trong tự nhiên; thu nhận các sản phẩm có giá trị ở dạng nhiên liệu hoặccác hợp chất hữu cơ

 Xử lý chất thải, như: xử lý sinh học hiếu khí, xử lý bằng lên men phân hủyyếm khí

 Thu nhận các chất có ích từ lên men yếm khí, như: xử lý các dạng nước thảikhác nhau và tái sử dụng chúng để phục vụ cho các ngành công nghiệp nặng

 Xử lý các chất thải công nghiệp như: xử lý chất thải công nghiệp chế biếnsữa, xử lý chất thải công nghiệp dệt

Trang 7

 Dùng vi sinh vật để khả năng ăn dầu để xử lí các sự cố tràn dầu hay ô nhiễmdầu.

II.1.3.3 Công nghệ sinh thái trong năng lượng

Như chúng ta đã biết, năng lượng có vai trò rất quan trọng trong đời sống, sinhhoạt và sản xuất của con người Mọi hoạt động từ nấu ăn, đun nước thường ngày cho đếncác hoạt động sản xuất trong các nhà máy, xí nghiệp bắt buộc phải có năng lượng mà chủyếu là xăng, dầu, gas…đều có nguồn gốc từ năng lượng hóa thạch Việc sử dụng nănglượng hóa thạch đã mang lại những thay đổi to lớn trong xã hội loài người, nâng cao trình

độ phát triển của xã hội, đem lại cuộc sống ấm no hơn Tuy nhiên việc sử dụng nhiên liệuhóa thạch gây nên sự tàn phá môi trường, khan hiếm các nguồn tài nguyên, biến đổi khíhậu…, đang đặt con người trước những thách thức của sự phát triển Trước những tháchthức này, người ta nhận thấy rằng việc ứng dụng công nghệ sinh thái vào năng lượng làchìa khóa để giải quyết vấn đề, vượt qua các trở ngại của quy luật phát triển Công nghệsinh thái sẽ giúp chúng ta khắc phục các nhược điểm của nhiên liệu hóa thạch đó là việcthải ra CO2 một loại khí gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính dẫn đến biến đổi khí hậutoàn cầu Ngoài ra năng lượng hóa thạch không phải là nguồn tài nguyên vô tận, đến mộtlúc nào đó chúng sẽ bị cạn kiệt, do vậy con người không thể trông đợi mãi vào chúng màphải tìm ra được nguồn năng lượng mới an toàn hơn, thân thiện hơn để thay thế, mà côngnghệ sinh thái có thể giúp chúng ta việc này

Vai trò của công nghệ sinh thái trong năng lượng

 Nghiên cứu tạo ra nguồn năng lượng mới, an toàn, thân thiện với môitrường

 Khắc phục hậu quả môi trường của việc khai thác và sử dụng năng lượnghiện nay

II.1.3.4 Các hoạt động khác của công nghệ sinh thái hiện nay

 Công nghệ sạch: liên quan đến sự thay dổi quy trình sản xuất, thay đổi côngnghệ và thay đổi nguyên liệu đầu vào

Trang 8

 Công nghệ phân hủy sinh học: dùng các cơ thể sống phân hủy các chất độcthành các chất không độc như nước, khí CO2 và các vật liệu khác Bao gồm công nghệkích thích sinh học: bổ sung chất dinh dưỡng để kích thích sự sinh trưởng của các vi sinhvật phân hủy chất thải có sẵn trong môi trường, công nghệ bổ sung vi sinh vật vào môitrường để phân hủy chất ô nhiễm, công nghệ xử lý ô nhiễm kim loại và các chất ô nhiễmkhác bằng thực vật và nấm.

 Dự phòng môi trường: phát triển các thiết bị dò và theo dõi môi trường, đặcbiệt dò nước và khí thải công nghiệp trước khi giải phóng ra môi trường

 Sử dụng các hệ sinh thái tự nhiên để tái tạo tài nguyên

 Hệ sinh thái nhân tạo để xử lí nước, đất, không khí

 Kiến tạo cảnh quan đô thị, phục hồi tài nguyên đất, tài nguyên thực vật chovùng nông thôn

II.2 Tổng quan về chất thải hữu cơ nông nghiệp

II.2.1 Khái niệm và nguồn gốc

Chất thải rắn hữu cơ là các chất thải có chứa các hợp chất hữu cơ(C, H, N, S, P) cókhả năng dễ dàng phân hủy sinh học (phân hủy trong điều kiện tự nhiên.) VD: rau quả,cơm thừa… hay nói một cách đơn giản: Chất thải rắn hữu cơ là rác thải có nguồn gốc từsinh vật (thực vật, động vật) Chúng có “tuổi thọ” thấp nhất, tồn tại trong môi trường vớithời gian ngắn rồi biến mất

Chất thải rắn hữu cơ trong nông nghiệp là các chất thải hữu cơ có nguồn gốc từ cáchoạt động sản xuất nông nghiệp như:

 Trồng trọt: gieo cấy, thực vật chết, rơm rạ, vỏ nông sản sau thu hoạch, lácành qua cắt tỉa, xác bã sau chế biến…

 Chăn nuôi: chăm sóc gia súc gia cầm, vệ sinh chuồng trại, các hoạt độnggiết mổ, phân gia súc gia cầm

Trang 9

 Các loại rác thải của vùng nguyên liệu công nghiệp, như: vỏ hạt cà phê, vỏlạc, bã mía, v.v

 Phế liệu nhà máy giấy, nhà máy sợi

 Phế thải của làng nghề chế biến tinh bột

Về mặt hóa học, các rác hữu cơ ấy chứa các phân tử lớn mà tuỳ theo loại rác có thể

giàu polysaccarit, protein, lipit, hoặc hỗn hợp của chúng, v.v

II.2.2 Thành phần của chất thải hữu cơ

Các thành phần của rác thải hửu cơ, tất cả, đều là từ xác động vật, thực vật hoặccác bộ phận của chúng Do vậy, rác thải hửu cơ cũng có thành phần hóa học như thànhphần cơ thể sống, trong đó các nhóm chất quan trọng (về lượng) là cacbonhydrat, protein

và lipit Tất cả chúng đều là những phần tử lớn (polime) gồm nhiều gốc liên kết với nhau

Cacbonhydrat có thành phần tỷ lệ lớn trong sinh khối rác thải hửu cơ Những nhómchính của cacbonhydrat gồm: xenluloza, hemixenluloza, lignin, pectin và tinh bột

II.2.3 Hiện trạng chất thải hữu cơ ở Việt Nam

Trang 10

Qua đó ta có thể thấy sản lượng các sản phẩm tạo ra từ hoạt độn sản xuất nôngnghiệp là vô cùng lớn, ước tính tổng giá trị lên tới 830 nghìn tỉ đồng đem lại nguồn tàichính dồi dào cho nền kinh tế Tuy nhiên qua quá trình sản xuất chế biến một phần lớncác phụ phẩm (rơm, rạ, chất thải gia súc gia cầm, thực vật chết) đều không được xử lí triệt

để hoặc xử lí sơ xài gây ra lãng phí một nguồn tài nguyên năng lượng đáng kể mà còn gây

ô nhiễm môi trường

Nếu như không xử lí triệt để tương lai cho dù tạo ra bao nhiêu sản phẩm, giá trị cólớn như thế nào thì so với chi phí chi ra để khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường hayviệc lãng phí một nuồn nguyên liệu lớn cũng như muối bỏ biển mà thôi

Trồng trọt

Trong nông nghiệp trồng trọt có quy mô lớn nhất cũng như tạo ra lượng chất thải

và phụ phẩm nông nghiệp phát sinh chim đa số trong chất thải nông nghiệp Sau đâychúng ta cùng nhìn hiện trạng này thông qua hai ví dụ tiêu biểu:

Lúa nước: là loại cây lương thực chính ở nước ta với khoảng 7, 5 triệu hecta đất

trồng lúa mỗi năm tạo ra lượng rơm thải lêm tới 76 triệu tấn Tuy nhiên lượng rơm thảinày hiện nay không được tính toán trong thống kê lượng chất thải phát sinh ở địa phươngcũng như trên toàn quốc.bên cạnh đó còn có các phụ phầm khác như vỏ trấu, thực vậtchết…

Đối với rơm rạ một phần nhỏ thường được sử dụng làm thức ăn cho gia súc hayphân bón, tuy nhiên phần còn lại thường đem đi đốt bỏ ngay tại ruộng Hiện tượng nàyngày càng phổ biến không chỉ ở những vùng quê Bắc Bộ: Hưng Yên, Nam Định, TháiBình mà còn cả ở Đồng Bằng sông Cửu Long vựa lúa lớn nhất nước Nguyên nhân chủyếu là do ngày nay việc xuất hiện cụng những loại chất đốt nhứ khí gas hay than đã thaythế rơm rạ cho nên phần rơm rạ dư được xử lí sơ xài bằng cách đốt hay thậm chí vứt trựctiếp vào kênh rạch đường xá Quá trình đốt này rất nguy hiểm bởi chúng tạo ra các loạikhí như CO, CO2, NOX, SO2 và một số khí độc hại Khi không cháy hết chúng tạo ra khí

Trang 11

Anđêhit và bụi mịn, đặc biệt vào những ngày nắng nóng chúng kết hợp với lớp không khísát mặc đất tạo nên khói mù.

Hiện nay một số công nghệ nhằm tái sử dụng phụ phẩm của cây lúa đang được ápdụng:

 Dùng rơm làm môi trường trồng nấm

 Ủ rơm làm thức ăn cho gia súc

 Xử lí rơm làm phân bón

 Dùng vỏ trấu đốt lò hơi

Hình: ứng dụng của rơm rạ.

Mía đường: là loại cây công nghiệp quan trọng ở nước ta, Mỗi năm nước ta sản

xuất gần 2 triệu tấn mía đường song song đó lượng phụ phẩm từ quá trình này cũng vôcùng to lớn

Tính riêng ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long: Lá mía phế thải (2.47 triệu tấn/ năm), Bã mía (1, 42 triệu tấn/năm).

Với số lượng lớn chất thải sau sản xuất như vậy nhưng thực tế là hiện nay phần lớncác nhà máy đều không có nơi chứ hay phương pháp xử lí bã mía sau sản xuất hay cóchăng cũng chỉ là nơi chứa rất nhỏ Phương pháp thường được lựa chọn là đổ trực tiếp ra

Trang 12

ngoài môi trường xung quanh hay để chúng tự phân hủy Điểu này gây tác hại rấ lớnkhông chỉ gây ô nhiễm môi trường xung quanh mà còn phí phạm một nguồn tài nguyên

bã mía rất lớn

Như vậy với cách làm hiện nay vô hình chung đã lãng phí một nguồn nguyên liệu

vô cùng lớn khi mà bã mía có rất nhiều ứng dụng:

 Chất đốt cung cấp nhiệp cho nhà máy điện lò lơi

 Sản xuất bột giấy

 Đệm lót chuồng trại

 Vật liệu lọc nước

 Ủ lên men làm thức ăn gia súc phân bón

 Giá thể trồng nấm mèo, linh chi

Chăn nuôi:

Chăn nuôi ở nước ta đang là một trong những ngành có bước phát triển mạnh mẽ,đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước cũng như xuất khẩu Theo số liệu của Tổng cụcthống kê, năm 2014 đàn lơn nước ta có khoảng 26, 76 triệu con, đàn trâu bò khỏang 7, 75triệu con, đàn gia cầm khoảng 327, 69 triệu con Tính theo số đầu gia súc này lượng chấtthải hàng năm là 76 triệu tấn

Tuy nhiên với số lượng chất thải khổng lồ như vậy chỉ có khoảng từ 40-70% làđược xử lí còn lại là thải trực tiếp ra sông hồ, kênh rạch Nguyên nhân là đặc điểm nểnnông nghiệp nước ta tuy phát triển nhưng phần là chăn nuôi theo hộ gia đình có quy mônhỏ thường xây dựng gần khu dân cư do đó không những không có nơi nhằm xủ lí chấtthải mà còn tang nguy cơ ô nhiễm cho người dân xung quanh Còn với các trang trại chănnuôi tuy được xây dựng xa khu dân cư nhưng biện pháp xử kí thường là chôn lấp do thiếukinh phí công nghệ

Hiện nay những biện pháp chủ yếu được người nông thôn chọn giải quyết là: Xử kíbằng công nghệ khí sinh học (biogas), Ủ làm phân bón cho cây trồng nhưng cũng chỉ

Trang 13

được áp dụng ờ một vài địa phương nhất định mà chưa có một chương trình cụ thể chotoàn quốc.

II.2.4 Tác động của chất thải hữu cơ

II.2.4.1 Tác động đến môi trường

Hiện nay nước ta chưa có một quy trình xử lí chất thải nông nghiệp cụ thể nào dothiếu thốn về phương tiện kĩ thuật, nhân lực Biện pháp thường được chọn để giải quyết làchôn lấp và đốt bỏ điều này đã gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường:

 Không khí:

- Do việc xử lí bằng đốt bỏ đã thải vào môi trường các loại khí như CO,

CO2 khói và tro bụi tang lên nhanh chóng góp phần tạo hiện tượng nónglên toàn cầu

- Khi vân chuyển và lưu giữ các chất thải sẽ phát sinh mùi do quá trìnhphân hủy như NH3, H2S, Phenol, Cl2…gây ô nhiễm không khí Bên cạnh

đó là mùi hôi thối của chất thải động vật từ các cơ sở chăn nuôi gần khudân cư cũng làm ô nhiễm không khí

 Nước: Việc xử lí chất thải bằng cách đổ trực tiếp vào sông hồ gây ô nhiễmnước, là tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước vớikhông khí dẫn tới giảm DO trong nước Chất thải hữu cơ phân hủy gây mùi hôithối, gây phú dưỡng hóa làm hệ thủy sinh suy yếu

Tại tỉnh Hà Nam: Nước thải chăn nuôi mang theo chất thải rắn chảy ra ao hồ của thôn đã khiến 100% diện tích ao hồ bị ô nhiễm không sử dụng được,gần 28% ao hồ bị phú dưỡng hóa.

 Đất đai: Trong hoạt đông nông nghiệp việc phun thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệthực vật đã dân tới ô nhiễm môi trường đất, trong đất tồn tại lượng lớn chất hóahọc gây chết hệ vi sinh vật dưới đất tạo điều kiện cho nấm và sâu bệnh hại pháttriển gây bệnh cho cây

Trang 14

II.2.4.2 Ảnh hưởng đến con người

Ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí gây tác động không nhỏ đến sức khỏe vàđiều kiên sống của người dân:

 Việc các hộ chăn nuôi gần khu dân cư khiến mùi hôi thối từ các chất thài donhững hộ này phát gây ảnh hưởng tới chất lượng sống cùa họ Trong một điềutra tại Thái Nguyên với 113 hộ gia đình chăn nuôi 20 con lợn trở lên thì 50%các hộ có nhà xây gần chuồng hoặc gần giếng nước gần chồng lợn thì tỷ lệnhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc, trứng giun của người chăn nuôi cao gấphai lần so với người chăn nuôi , và có sự tương quan tỉ lệ thuận giữa tỉ lệ nhiễm

ký sinh trùng đường rột với ký si trùng trong đất.( Đại học Y khoa TháiNguyên,2008)

 Các chất thải hữu cơ khó phân hủy tồn dư trong đất do chôn lấp có khả năngtích lũy trong nông sản, ttrong mô tế bào động vật có thể gây hàng loạt bệnhnguy hiểm cho con người như vô sinh quái thai, dị tật, tim mạch, thần kinh, ungthư và có thể di chứng cho thế hệ sau

 Ô nhiểm không khí do khói bụi từ việc đốt rác thải nông nghiệp gây các bênh

về viêm đường hô hấp hay thậm chí là ung thư phổi

 Chưa có một số liệu cụ thể nhưng nếu xem lượng chất thải nông nghiệp lànhững nguồn năng lượng, nguyên liệu đáng lẽ có thể tái chế nhằm sử dụng chocác hoạt động khác thì mỗi năm thiệt hại kinh tế của chúng ta là không hề nhỏ

II.2.5 Hiện trạng xử lý chất thải hữu cơ nông nghiệp ở Việt Nam và thế giới

II.2.5.1 Việt Nam

Các quá trình xử lý sinh học rác hữu cơ do con người thực hiện chính là sự bắtchước những gì diễn ra trong tự nhiên Nói cách khác, xử lý sinh học rác thải hữu cơ dựa

vào hoạt động phân huỷ của vi sinh vật nhằm phân hủy chất hữu cơ của rác

Các biện pháp:

Trang 15

Ủ đống (composting)

Đây là hình thức xử lý được coi là đơn giản nhất và với quy mô nhỏ nhất Rácđược ủ thành đống hoặc luống, nổi trên mặt đất hoặc chìm dưới hố, hoặc nửa nôỉ nửachìm Đống ủ có thể được trát kín bằng bùn Trong trường hợp này, suốt quá trình ủ, oxy

sẽ được tiêu thụ dần đến hết, và điều kiện chuyển từ hiếu khí sang kị khí; nhiệt độ có thểtăng lên đến 60-70oC Nếu đống ủ không được trát kín, nó cũng có thể được đảo xới định

kỳ để được cung cấp oxy vào bên trong

Hình thức ủ đóng có thể được áp dụng không những với rác thải sinh hoạt mà cònvới rác thải sản xuất của làng nghề, loại giàu tinh bột (chế biến sắn, làm bún, miến, v.v ),với phế thải công nghiệp: công nghiệp cà phê (vỏ hạt cà phê), công nghiệp đường (bã thâncây mía), công nghiệp giấy (phế liệu từ thực vật), phế thải nông nghiệp (rơm, rạ), và vớiphế thải chăn nuôi (phân và nước tiểu gia súc và gia cầm)

Thời gian ủ dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào quy mô đống ủ, tuỳ nguyên liệu ủ vàđiều kiện hiếu khí hay kị khí Có thể kết hợp một giai đoạn hiếu khí với một giai đoạn kịkhí

Sản phẩm của sự ủ đống được gọi là phân ủ (compost), cũng giống như của quátrình phân huỷ chất hữu cơ trong tự nhiên, là hỗn hợp của các chất hữu cơ đơn giản (cácsản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ các chất hữu cơ phức tạp) và các chất vô cơ

Hỗn hợp này tương đương với mùn trong tự nhiên, vì thế có thể được dùng làm phân bón hữu cơ, dùng cho trồng trọt Khi bón vào đất, chúng được các nhóm vi sinh vật đất phân

huỷ tiếp tới các chất vô cơ mà cây hấp thụ được Trong quá trình ủ đống nói trên, nếu đảmbão giữ được nhiệt sinh ra (tới 60-70oC) thì hầu hết vi sinh vật gây bệnh (vốn không sinhbào tử), và cả trứng giun, sán bị giết chết, nên phân ủ nói chung không đáng lo ngại vềmặt vệ sinh

Trong một số trường hợp, để tăng cường quá trình phân huỷ trong đống ủ, người ta

bổ sung các chế phẩm vi sinh vật gồm các tế bào sống đã được lựa chọn Đó có thể là chế

Trang 16

phẩm đơn chủng, hoặc đa chủng có những hoạt tính mong muốn, ví dụ phân huỷ một loạichất nhất định, ở điều kiện hiếu khí, hay kị khí, hoặc vi hiếu khí.

bón hữu cơ: Cụ thể, Viện đã phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật ưa nhiệt bao

gồm 30 chủng xạ khuẩn ưa nhiệt thuộc nhóm xạ khuẩn Streptomyces và 20 chủng vikhuẩn ưa nhiệt thuộc giống Bacillus Các xạ khuẩn và vi khuẩn này có ưu điểm là sinhenzym (men)có tác dụng phân hủy mạnh các chất hữu cơ trong chất thải như rác thải sinhhoạt, rơm rạ, bả rong riềng than bùn, phân gia súc, gia cầm… ở nhiệt độ cao (từ 50 - 60

độ C trở lên) thành phân bón hữu cơ.Trong một gam chế phẩm có chứa hàng chục tỷ tếbào vi sinh vật hữu hiệu Tất cả các chủng vi sinh vật tuyển chọn dùng để sản xuất các chếphẩm vi sinh vật đều đã được nghiên cứu kỹ các đặc điểm sinh học để khẳng định đượcchúng không độc hại cho con người, vật nuôi và môi trường Sau khi xử lý phế thải bằng

vi sinh vật đã tạo ra được sản phẩm phân hữu cơ sạch, an toàn Các loại rau, củ, quả như

cà chua, cà rốt, bắp cải, đậu tương sinh trưởng nhanh, năng suất cao, khả năng chống chịusâu bệnh tốt hơn (so với cây trồng đối chứng chỉ bón đơn thuần bằng phân hóa học hoặcphân tươi không qua ủ), không có ký sinh trùng gây bệnh như giun, sán…

Sản xuất nhiên liệu từ trấu: than trấu, củi trấu là lựa chọn tối ưu để thay thế nhiênliệu hóa thạch, đặc biệt ở nước SX nông nghiệp như Việt Nam Làm nguyên liệu sản xuấtthan tổ ong: thành phần có 60% chất thải hữu cơ từ làng nghề và 40% than cám thôngthường Than hữu cơ đã cháy hết có thể tái tạo sử dụng làm phân bón

II.2.5.2 Thế giới

Sản xuất điện năng từ rơm:

Trang 17

Các nhà nghiên cứu đã phát triển một nhà máy khí sinh học chưa từng có chạyhoàn toàn bằng phế thải nông nghiệp: Rơm Nhà máy sẽ sản xuất ra nhiều khí sinh học

hơn 30% so với những nhà máy trước đây Viện công nghệ gốm sứ và hệ thống IKTS tại

Dresden (CHLB Đức) đã triển khai một nhà máy khí sinh học chưa từng có

“Tại nhà máy thử nghiệm của chúng tôi, chúng tôi chỉ dùng phế liệu của nông nghiệp là lõi ngô và rơm lúa mì mà không dùng đến hạt Bằng nguồn nguyên liệu ít giá trị này chúng tôi đã sản xuất được khí sinh học với hiệu suất cao hơn các công nghệ truyền thống tới 30%” – Michael Steller Chủ nhiệm khoa IKTS nói

Hình: Nguyên liệu rơm hoặc lõi ngô.

Thời gian để phân huỷ phế liệu (quá trình ủ) tại nhà máy có thể giảm từ 50 đến70% Sinh khối thường lưu giữ trong các thiết bị lên men để tạo ra khí sinh học trong 80ngày Nhờ tìm ra được phương pháp tiền xử lý, việc ủ trong các nhà máy thử nghiệm của

nhóm các nhà khoa học nói trên chỉ mất 30 ngày “Lõi ngô (hoặc rơm) chứa xenlulôz không bị lên men trực tiếp Nhưng tại nhà máy của chúng tôi, xenlulôz bị men phân huỷ trước khi ủ” Steller giải thích.

Trang 18

Các nhà nghiên cứu cũng tối ưu hoá được quy trình chuyển hoá khí sinh học thànhđiện năng, Họ chuyển khí đến một pin nhiên liệu nhiệt độ cao với hiệu suất chuyển hoáthành điện năng lên tới 40 đến 55% Trong khi đó, các động cơ khí thường dùng cho mụcđích này chỉ thực hiện được hiệu suất trung bình 38% vì nhiệt rất khó chuyển hoá thànhđiện năng Ngoài ra, vì pin nhiên liệu vận hành ở 850 độ C, nên có thể tận dụng trực tiếpnhiệt năng để làm nóng hoặc cung cấp cho mạng lưới sưởi ấm tại các thành phố Nếucộng gộp cả hiệu suất điện và nhiệt, thì pin nhiên liệu sẽ đạt được hiệu suất chung lên tới85%, trong khi hiệu suất như vừa nói của động cơ đôt thông thường không vượt dược quá38%

Nhà máy thử nghiệm có công suất 1,5 kilowatt, đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng củamột hộ gia đình Các nhà nghiên cứu sẽ trình bày quan niệm và kết quả nghiên cứu đầytriển vọng của họ tại Hội chợ Hanover tổ chức từ 20 đến 24 Tháng Tư năm nay Giai đoạn

kế tiếp của Dự án, theo các nhà khoa học là phối hợp với các đối tác công nghiệp để nângquy mô thử nghiệm lên công suất 2 megawatt

II.3 Ứng dụng công nghệ sinh thái trong xử lí chất thải hữu cơ nông nghiệp trong trồng trọt.

II.3.1 Sử dụng chế phẩm sinh học biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ.

Hình: rơm rạ đốt trên đồng ruộng.

Theo phân tích, thành phần hóa học của rơm rạ tính theo khối lượng khô gồmxenluloza, đạm hữu cơ, chất béo Nếu tính theo nguyên tố thì carbon (C) chiếm 44%,

Trang 19

hyđrô (H)- 5% Oxygen (O)- 49%, N- khoảng 0,92%, và một lượng rất nhỏ photpho (P),lưu huỳnh (S), kali (K) Đó là điều gây cản trở việc sử dụng rơm, rạ một cách kinh tế.

Đề góp phần giảm thiểu ô nhiễm sử dụng chế phẩm sinh học biến rơm rạ thànhphân bón hữu cơ thử nghiệm thành công tại nhiều địa phương khác nhau (Thái Bình, NamĐịnh, Thanh Hóa, Hòa Bình, Hưng Yên, Hà Nội ) đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, đượccác chuyên gia nông nghiệp và bà con nông dân đánh giá cao

Như chúng ta biết, trong tự nhiên, tất cả các chất hữu cơ tự nhiên đều bị nhóm nàyhay nhóm khác của vi sinh vật phân huỷ, trong điều kiện hiếu khí hoặc kị khí Chất hữu

cơ càng phức tạp bao nhiêu thì sự phân huỷ nó càng phải trải qua nhiều giai đoạn, donhiều nhóm vi sinh vật kế tiếp nhau phân huỷ, trước khi tới sản phẩm cuối cúng là cácchất vô cơ Tuỳ theo loại chất hữu cơ bị phân huỷ, các sản phẩm cuối cùng có thể là CO2,

CH4, H2O, NH3, NO2, H2S, v.v Như vậy một sản phẩm của phản ứng phân huỷ nào đó

có thể tích luỹ trong môi trường tự nhiên nơi nó được sinh ra, cũng như có thể được phânhuỷ trong một phản ứng tiếp theo, nhờ một nhóm vi sinh vật khác

II.3.1.1 Chế phẩm sinh học FITO-BIOMIX-RR

Thành phần lignocellulose trong rơm, rạ khó phân hủy sinh học Chế phẩm có tên làFito-Biomix RR, bao gồm các vi sinh vật hữu ích: nấm men, nấm mốc, vi khuẩn, xạkhuẩn,…Chế phẩm Fito-Biomix RR là một hỗn hợp vi sinh vật xử lý rơm, rạ và vi sinhvật kháng bệnh cho cây trồng có mật độ ≥ 107 CFU/g, các nguyên tố khoáng, vi lượng…

có tác dụng phân giải triệt để rơm, rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ vi sinh giàudinh dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp

Chế phẩm sinh học FITO-BIOMIX-RR được sử dụng phổ biến nhất do Công cổphần công nghệ sinh học Hà Nội sản xuất đã được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích

số HI-2010 của Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ

o Chuẩn bị xử lý:

 Xác định lượng rơm rạ cần xử lý

Trang 20

 Lựa chọn địa điểm ủ: Địa điểm ủ xử lý gần nguồn nguyên liệu (rơm rạ)

 Thuận tiện và hợp lý với nguồn nước khi bảo quản xử lý theo quy mô hộ giađình nên tập trung để tiện quản lý kỹ thuật

 Chuẩn bị đủ lượng chế phẩm sinh học, phân hóa học bổ sung và một số vật tưcần thiết

o Quy trình biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ được thực hiện thông qua các bước

Hình: quy trình chuyển hóa rơm rạ thành phân.

Trang 21

 Rơm rạ tươi sau thu hoạch được chất đống với chiều rộng 2 m, cứ mỗi lớp30cm tưới một lượt dung dịch chế phẩm Fito-Biomix RR, bổ sung thêm NPK

và phân chuồng nếu có Trong quá trình ủ phát hiện chỗ nào chưa đảm bảo độ

ẩm thì tưới bổ sung thêm để cho nguyên liệu hoại hoàn toàn

 Tiến hành ủ rơm rạ bằng cách sử dụng nilon, bạt, tải rách, bùn che đậy kínđảm bảo nhiệt độ ủ từ 45-50 độ C

 Sau 10 đến 15 ngày tiến hành kiểm tra và đảo trộn Điều này làm cho rơm rạvụn thêm do tác động cơ học, đảm bảo độ ẩm cũng như nhiệt độ của đống ủluôn trong mức tối ưu, tạo điều kiện cho quá trình phân hủy rơm rạ diễn ranhanh chóng và triệt để

 Sau 25 đến 30 ngày rơm rạ phân hủy thành phân ủ hữu cơ Nếu phân hủy tốt,

sẽ chuyển sang màu nâu, vi khuẩn, nấm mốc phát triển tốt, rơm rạ phân hủyđược khoảng 80-85% Hàm lượng cacbon tổng số giảm, hàm lượng đạm, lânhữu hiệu, mật độ các vi sinh vật đều tăng Thành phẩm phân hữu cơ từ rơm rạđược sử dụng bón ngay cho vụ kế tiếp hoặc bảo quản để sử dụng cho vụ sau

 Sau mỗi vụ thu hoạch 1ha lúa sẽ thu được 6 tấn rơm rạ, nếu đem đốt sẽ mất đi hơn

5, 5 triệu đồng, trong khi cùng khối lượng rơm rạ ấy nếu đem xử lý bằng chế phẩmsinh học sẽ thu được khoảng 400kg phân hữu cơ, giảm từ 20-30% lượng phân bónhóa học, năng suất cây trồng tăng từ 10-15% Người nông dân sẽ không phải bỏtiền mua phân hóa học khi có phân bón hữu cơ được tạo ra từ chính rơm rạ sau thuhoạch góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất và gia tăng giá trị kinh tế cho bà connông dân Ngoài ra vấn đề môi trường được bảo vệ, tăng độ phì cho đất và nângcao năng suất, chất lượng cây trồng

Vd: 200g chế phẩm Fito-Biomix RR và 5kg phân NPK dùng cho 1 tấn rơm rạ sau quá trình ủ 1 tháng sẽ thu được 1 lượng phân hữu cơ được xác định bằng khoảng 9kg đạm, 9kg lân và 20kg kali

Trang 22

II.3.1.2 Ứng Dụng Chế Phẩm Sinh Học (Nấm Trichoderma).

Hình : Sản phẩm Trichoderma và hoạt động ủ rơm rạ.

Hình: Rơm rạ sau thu hoạch bằng máy phân bố đều trên ruộng.

Trang 23

Tại Việt Nam nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng cây lúa có mộtvai trò rất quan trọng, diện tích gieo trồng chiếm gần 4 triệu ha, do đó lượng rơm rạ thải

ra sau thu hoạch chứa nguồn hữu cơ rất lớn Tuy nhiên, rơm rạ nếu để tự nhiên sẽ cần thờigian phân hủy rất lâu, và do tỷ lệ C/N rất cao nên nếu cày vùi rơm rạ trực tiếp vào đất, sẽgây hiện tượng bất động dinh dưỡng trong đất, hoặc trong quá trình phân hủy sẽ gây rahiện tượng ngộ độc hữu cơ cho cây lúa (Martin và ctv, 1978; Elliott và ctv, 1981) Do đóđại đa số nông dân thường đốt bỏ để chuẩn bị đất cho vụ mùa tiếp theo.Theo ước tính nếuđốt 1 tấn rơm thì sẽ thải ra 36,32 kg khí CO, 4,54 kg Hydrocarbon và 3,18 kg bụi tro( Jefferey Jacobs và ctv., 1997) và 56,00 kg CO2 (C.A.M 1991) góp phần gây hiệu ứngnhà kính, ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm môi trường sống và hệ sinh

Trong tự nhiên, đất chứa nhiều vi sinh vật sống chung với nhau Chúng cạnh tranhnhau về không gian sinh sống và chất dinh dưỡng Một số vi sinh vật gây bệnh cho câytrồng, số khác là những sinh vật phân hủy các chất hữu cơ nhưng không gây hại cho câytrồng, số còn lại giúp ích cho cây trồng bằng cách đối kháng với vi sinh vật gây bệnh hoặctăng cường khả năng kháng bệnh của cây

Trichoderma thuộc vào nhóm này, chúng sống trên các xác bã thực vật và các chất hữu cơtrong đất nhưng không gây hại cho thực vật, một số loài Trichoderma có khả năng ký sinh

trên các loài nấm gây bệnh cho cây Các nấm bệnh có thể bị Trichoderma ức hế: Pythium, Phytophthora, Fusarium, Rhizoctonia, Sclerotinia và Verticillium Trichoderma được xếp

vào nhóm nấm nhỏ, phân bố ở hầu hết các loại đất trên thế giới

Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) đãnghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm sinh học Trichoderma dạng bột hòa tan,phun xịt trực tiếp vào bề mặt rơm rạ, giúp xử lý rơm rạ nhanh rút ngắn thời gian phânhủy, rẻ tiền, hiệu quả cao trong điều kiện sản xuất ở Đồng bằng sông Cửu Long, chếphẩm này có nguồn gốc sinh học, là sản phẩm thân thiện với môi trường, an toàn chongười sử dụng, góp phần bảo vệ sinh thái cũng như bầu khí quyển của chúng ta

Trang 24

o Quy trình sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma dạng bột hòa tan như sau:Sau khi thu hoạch lúa xong (áp dụng với vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu và ruộngphải thu hoạch bằng biện pháp cơ giới), rơm rạ trải đều trên ruộng, cho máy càyvào chặt gốc rạ, làm cho sợi rơm mềm hơn, sau đó tiến hành phun xịt Quá trình

xử lý đạt hiệu quả cao bà con nông dân cần thực hiện theo các bước:

- Bước 1: Chuẩn bị và phun chế phẩm (sử dụng cho 1 hecta) Hòa 4 kg chếphẩm vào 40 lít nước, tạo thành dung dịch, dùng tay bóp nhẹ cho bột chếphẩm hòa tan hoàn toàn vào nước Tiếp theo, dùng vải lượt phần dung dịchnày để loại bỏ cặn lắng Sau đó, lần lượt lấy 1 lít dung dịch này cho vào bìnhphun (loại bình 16 lít) thêm vào 15 lít nước sạch, quậy đều và bắt đầu phuntrực tiếp vào rơm rạ (phun ướt đều rơm rạ) đến cho hết phần dung dịch cònlại Bước 2: Cày vùi rơm rạ Sau khi phun chế phẩm xong, cho máy cày vàocày lật gốc rạ lại, đảm bảo cho rơm rạ được cày vùi kỹ vào đất Sau đó, chonước vào ruộng và dùng máy xới tay trục và trạc lại cho bằng phẳng và tháocạn nước cho ráo mặt đất

Hình: Máy cày vào cày lật gốc rạ

- Bước 3: Hoàn tất quá trình, để ruộng trống 5 -7 ngày rồi cho nước vào sạ lúabình thường cho vụ mùa kế tiếp

Trang 25

Hiện nay, chế phẩm xử lý rơm rạ Trichoderma dạng bột hòa tan có thể phun xịt trực

tiếp trên rơm rạ đang được nhiều nông dân ở An Giang, Cần Thơ ủng hộ và ưa chuộng

Lợi ích sau sử dụng Trichoderma :

- Tận dụng được phế liệu thực vật làm nguyên liệu sản xuất (phân bón).

- Bảo vệ rễ cây khỏi các tác nhân gây bệnh tăng hàm lượng Silic trong thân và

hạt giúp cây lúa chống chịu sâu bệnh tốt hơn so với bón hoàn toàn phân hoáhọc đẩy nhanh quá trình hấp thu chất dinh dưỡng và kích thích tăng trưởngcây trồng

- Có phổ đối kháng rộng trên các loài nấm gây bệnh trên cây trồng giảm thiểu

việc dùng thuốc trừ sâu hóa học để tiêu diệt các nấm gây bệnh cải thiện được

lý tính của đất và cải thiện được độ phì sinh học của đất chuyên canh cây lúa

- Tồn tại lâu dài trong đất nhờ khả năng tự sản sinh ra bào tử, phát triển nhanh

trong đất giảm thiểu dùng phân bón hóa học

- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Trichoderma vừa có khả năng phân hủy cellulose vừa có khả năng đối kháng lại các loài nấm gây bệnh ở thực vật nên việc dung Trichoderma trong phân bón là lựa chọn

tốt vừa bảo vệ được cây trồng, tăng thêm thu nhập, giảm chi phí đầu tư và bảo vệ môitrường, vì vậy mà được sử dụng ở nhiều quốc gia (New Zealand, Mỹ, Pháp, Đức, Israel,Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, ) Trichoderma được dùng rộng rãi trong các trồng trọt cácloài rau, cây ăn quả, trồng hoa, nho và các cây trồng làm cảnh quan

II.3.1.3 Ứng dụng chế phẩm sinh học EMIC:

Chế phẩm sinh học EMIC được xem là một trong những loại chế phẩm được nhiều

bà con nông dân chọn mua

Ngày đăng: 22/02/2020, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w