Mục đích đưa văn bản truyện vào sách giáo khoa, giảng dạy cho học sinh của Bộ giáo dục là nhằm giúp học sinh nhận ra những giá trị Chân-Thiện-Mĩ từ các tác phẩm đó, nhận ra “những điều m
Trang 12 Các thao tác cơ bản dạy văn bản truyện 8
Trang 3Có một thực tế là học sinh các cấp học đều rất thích đọc truyện Với các
em, truyện là một hình thức giải trí khá hiệu quả HS đọc truyện trong các giờ
ra chơi, thậm chí ngay cả khi đang học các bộ môn văn hóa khác Như vậy để thấy rằng truyện có sức hấp dẫn , lôi cuốn các em như thế nào.
Tuy nhiên, khi bước vào một giờ học truyện ( Học văn bản), ngay từ
khâu tiếp cận văn bản, chuẩn bị bài ở nhà đến tìm hiểu văn bản theo hướng dẫn của giáo viên thì phần lớn học sinh đều không thích Các em sẽ hoặc là soạn bài qua loa chiếu lệ theo số câu hỏi phần hướng dẫn tìm hiểu bài trong sách giáo khoa, hoặc là chép phần trả lời câu hỏi trong sách tham khảo Các tiết học văn bản truyện thành ra gần như giáo viên độc thoại
Có nhiều lí do dẫn tới tình trạng học sinh chưa hứng thú, say mê với môn học này Có lí do chủ quan ( Định hướng khối thi, ngành thi trong tương lai gần), có lí do khách quan ( gia đình, hoặc là sự phát triển chung của xã hội ), nhưng không thể không nói tới một phần phương pháp giảng dạy, sự thu hút của giáo viên bộ môn đối với học trò.
Hiện nay, khi giảng dạy các văn bản truyện, các thầy cô giáo vẫn chủ yếu dựa trên hai loại sách hướng dẫn cơ bản: Sách giáo viên và sách thiết kế giảng dạy mà không xác định được đó chỉ là một trong số nhiều phương án giảng dạy.
Vì thế, bài giảng thường theo một công thức đã định ẵn: hoặc rời rạc, hoặc khô khan, kém hấp dẫn với học trò.Phương pháp giảng dạy vẫn còn tồn tại cách thầy cô đọc, trò ghi Phần giảng bình vẫn còn thầy cô giáo đọc cho học sinh chép như một bài tập làm văn Việc giảng dạy theo lối mòn, áp đặt, ghi chép nhiều khiến học sinh sợ học môn này Việc thích hay không thích học văn của học sinh vì thế có thể thể xác định được do một phần phương pháp giảng dạy của thày cô chưa thực sự hấp dẫn, chưa khơi gợi trong trò niềm hứng thú, say
mê, chưa “truyền lửa” được cho trò.
Đọc truyện và học truyện là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Nếu mỗi tác phẩm chỉ dùng để giải trí thì thật đáng tiếc Mục đích đưa văn bản truyện vào sách giáo khoa, giảng dạy cho học sinh của Bộ giáo dục là nhằm giúp học sinh nhận ra những giá trị Chân-Thiện-Mĩ từ các tác phẩm đó, nhận ra “những điều mới mẻ” mà tác giả muốn gửi gắm tới người đọc Vì thế, nhiệm vụ của người giáo viện bộ môn là vô cùng quan trọng.
Từ những lí do trên, từ thực tế công tác giảng dạy bộ môn nhiều năm, tôi
mạnh dạn trình bày đề tài “ Kinh nghiệm dạy một văn bản truyện trong chương trình ngữ văn lớp 9”.
Rất mong được sự góp ý của đồng nghiệp.
Lê Thị Thanh Hồng
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Trang 41– Dạy học đọc chép Thầy cô đọc trước, HS chép sau, hay thầy cô vừa đọc
vừa ghi bảng rồi HS chép theo Đối với các bài khái quát về giai đoạn văn họchay khái quát về tác gia thầy cô cũng thường tóm tắt rồi đọc cho HS chép cáckết luận, nhận định Trong cách dạy này HS tiếp thu hoàn toàn thụ động, mộtchiều
2 – Dạy nhồi nhét Dạy nhồi nhét cũng là hiện tượng phổ biến do thầy cô sợ
dạy không kĩ, ảnh hưởng đến kết quả làm bài thi của HS, cho nên dạy “từ a đếnz”, không lựa chọn trọng tâm, không có thì giờ nêu vấn đề cho HS trao đổi, sợ
“cháy” giáo án Kết quả của lối dạy này cũng là làm cho HS tiếp thu một cáchthụ động
3– Dạy học văn như nhà nghiên cứu văn học Một hiện tượng thường thấy là
cách giảng văn trên lớp như cách nghiên cứu văn học của các học giả, như cáchhọc của sinh viên văn học Đó là cách phân tích sâu về tâm lí, về kĩ thuật ngôn
từ, về phương pháp sáng tác… Trong khi đó, đối với HS môn ngữ văn chỉ cầndạy cho HS đọc hiểu, tiếp nhận tác phẩm như một độc giả bình thường là đủ,nghĩa là chỉ cần nắm bắt đúng ý nghĩa, tư tưởng của tác phẩm, một vài nét đặcsắc về nghệ thuật đủ để thưởng thức và gây hứng thú
4 – Học sinh học thụ động, thiếu sáng tạo Tương ứng với cách dạy học như
trên HS tất nhiên chỉ tiếp thu một cách thụ động mà thôi Tính chất thụ động thểhiện ở việc học thiếu hứng thú, học đối phó, và về nhà chỉ còn biết học thuộc đểtrả bài và làm bài Cách học đó tất nhiên cũng không có điều kiện tìm tòi, suynghĩ, sáng tạo, cũng không được khuyến khích sáng tạo
Trang 55– Học sinh không biết tự học HS không biết tự học, không có nhu cầu tự tìm
hiểu, nghiên cứu, không biết cách chủ động tự đọc SGK để tìm hiểu kiến thức,không biết tìm kiến thức trọng tâm để học, không biết từ cái đã biết mà suy racái chưa biết
6 – Học tập thiếu sự hợp tác giữa trò và thầy, giữa trò với trò Mỗi cá nhân
trong quá trình học tập đều có hạn chế, bởi mỗi người thường chỉ chú ý vào một
số điểm, bỏ qua hoặc không đánh giá hết ý nghĩa của các kiến thức khác Trongđiều kiện đó, nếu biết cách hợp tác trong học tập, giữa thầy giáo và HS, HS với
HS có thể nhắc nhở nhau, bổ sung cho nhau, làm cho kiến thức được toàn diện
và sâu sắc
7 - Học thiếu hứng thú, đam mê Kết quả của việc học thụ động là học tập thiếu
cảm hứng, thiếu lửa, thiếu niềm ham mê, mà thiếu những động cơ nội tại ấy việchọc tập thường là ít có kết quả
8- Giáo viên Trong thực tế có một số giáo viên không nắm vững phương pháp
phân tích một tác phẩm được chọn giảng trong chương trình theo đặc trưng thể loạicủa nó nên khai thác tác phẩm một cách chung chung, sơ lược, công thức
Đổi mới phương pháp dạy học Văn là một đòi hỏi cấp bách, một vấn đề cótính chất thời sự khoa học hiện nay Với chương trình đổi mới giáo dục, môn Ngữvăn trong nhà trường đã có được những bước tiến đáng kể, chất văn chương, chấtnhân văn của chương trình văn học đã được nâng lên khá rõ song vấn đề phươngpháp dạy học Văn, nhất là dạy một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích vẫn còn làmột bài toán khó đang cần sự giúp sức của nhiều người
II
Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp
Trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở (THCS) , việc giảng dạy truyệnngắn hoặc đoạn trích đạt hiệu quả sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấptri thức cơ bản về kiểu văn bản tự sự, giúp HS hiểu khái quát về loại văn bản này,
có khả năng cảm thụ tác phẩm và có phương pháp tự học, hình thành kỹ năng nói(kể chuyện người thật việc thật, kể chuyện sáng tạo, rèn luyện yếu tố miêu tả nộitâm, tóm tắt văn bản tự sự) và kĩ năng tạo lập văn bản tốt (nghị luận trong văn bản
Trang 6tự sự, độc thoại, nội tâm…) vì truyện thường phản ánh hiện thực đa dạng, phongphú, có nhiều sự việc tình tiết, tính cách nhân vật đa dạng, nội dung đề tài gần gũivới cuộc sống mang tính hiện thực
Từ những lí do trên, tôi mạnh dạn trình bày “ Kinh nghiệm dạy một tác
phẩm truyện trong chương trình Ngữ văn 9”
III Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu phương pháp dạy một tác phẩm truyện trong chương trình
ngữ văn 9 Cụ thể là các tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại:
Bài 13: Làng (trích) - tác giả Kim Lân - trang 162 (tập I)
Bài 14: Lặng lẽ Sa Pa (trích) - tác giả Nguyễn Thành Long - trang 180 (tập I)Bài 15: Chiếc lược ngà (trích) - tác giả Nguyễn Quang Sáng - trang 195 (tập I)Bài 28: Những ngôi sao xa xôi (trích) - tác giả Lê Minh Khuê - trang 113 (tập II)
- Nghiên cứu trên cơ sở thực hiện là nội dung, chương trình, kế hoạchgiáo dục ở trường THCS, các định hướng và quan điểm về ĐMPPDH, các thầy
cô giáo và các em học sinh trường THCS Phù Cừ
B PH ƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1 Cơ sở lý luận.
Một số vấn đề cơ bản về dạy học tích cực:
1.1 Dạy học tích cực là gì?
Dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để
chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của người học
"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động,
trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực
Dạy tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận
thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người họcchứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy
Học tích cự chỉ xảy ra khi học sinh được trao cơ hội thực hiện các tương
tác đề tài chính trong một giai đoạn giáo dục, được động viên để hình thành tri
thức hơn là việc nhận tri thức từ việc giới thiệu của giáo viên Trong một môi
Trang 7trường học tập tích cực, giáo viên là người tạo điều kiện thuận lợi cho việc học chứ không phải là người “đọc chính tả” cho học sinh chép!
1.2 Một số yêu cầu của dạy học tích cực
Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
2.2Một số em học sinh tuy rất chăm học nhưng sự tiếp thu còn hạn chế vìkhông biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng những kiến thức
đã học trước đó vào phần sau Học sinh chỉ biết ghi mà không biết cách lưuthông tin sao cho khoa học, tự chủ, độc lập nhất
2.3 Một số học sinh chưa biết vận dụng kiến thức phần văn bản vào làmmột bài tập làm văn phân tích tỏc phẩm
Từ những cơ sở trên, từ quá trình tích lũy những kinh nghiệm giảng dạyphân môn Tập làm văn trong chương trình Ngữ văn THCS, tôi mạnh dạn trình
bày những kinh nghiệm của bản thân về “ Kinh nghiệm dạy một tác phẩm truyện trong chương trình ngữ văn 9”.
Trang 83- Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu các phương pháp dạy một tác phẩm truyện
- Nghiên cứu đề tài này nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của người học và nhằm nângcao chất lượng bộ môn Ngữ văn, nhất là phần tỡm hiểu văn bản truyện, đoạn trích
4.Các biện pháp tiến hành Thời gian tạo ra giải pháp.
a Phương pháp nghiên cứu:
1 Phương pháp nghiên cứ lý luận
Nghiên cứu một số tài liệu về khoa học phương pháp dạy học môn ngữvăn, các văn kiện của Đảng, nhiệm vụ năm học, hướng dẫn thực hiện kế hoạchnăm học của các cấp để xây dựng lý luận cho đề tài
2 Nhóm phương pháp thực tiễn
Giảng dạy trực tiếp, dự giờ, quan sát, đàm thoại, tổng kết kinh nghiệm để vậndụng, truyền đạt cho học sinh những kỹ năng cơ bản khi làm một bài văn nghị luận
3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
Điều tra thống kê, lập bảng biểu so sánh dữ liệu đánh giá
b Kế hoạch nghiên cứu
1 Đăng ký nghiên cứu chuyên đề “ Kinh nghiệm dạy một tác phẩm truyện
trong chương trình ngữ văn 9” với trường THCS Phù Cừ từ đầu năm học
2013-2014
2/ Thực hiện nhóm phương pháp thực tiễn tại Trường THCS Phù Cừ trong năm
học 2012-2013; 2013-2014 bao gồm:
+ Điều tra thực tiễn qua học sinh trường THCS Phù Cừ
+ Tổng kết, viết đề tài, thông qua Hội đồng khoa học trường THCS Phù
Cừ (Tháng 03/2014)
Trang 9PHẦN 2: NỘI DUNG
I GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
1 Khái niệm truyện ngắn
Nhận diện thể loại truyện ngắn cũng như sáng tạo về thể loại truyện ngắn
là một nỗ lực liên tục cho cả người sáng tác và giới nghiên cứu phê bình Từ W.Gớt thế kỷ XVII cho đến Sêkhốp, từ Lỗ Tấn đến Môpatxăng, từ Antônốp thế kỷXIX - XX, đến Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Kiên… họ đãđưa ra những cách phân biệt khác nhau Các khái niệm thường xoáy vào bìnhdiện chính: dung lượng, cốt truyện, nhân vật, chi tiết, ngôn ngữ… để khái quátthành đặc trưng Người cho truyện ngắn là một “khoảnh khắc”, một “trườnghợp”, người nhấn mạnh vào nhân vật, vào tính súc tích của chi tiết, cô đúc của
ngôn từ… Ở phần chủ yếu, chúng ta có thể hình dung: truyện ngắn là một tác
phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung thường chỉ xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó.
2
Các thao tác cơ bản của việc dạy truyện ngắn ( Đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn 9
2.1- Xác định mục tiêu cần đạt của tác phẩm được giảng dạy
Cần xác định rõ mục tiêu cần đạt được khi dạy tác phẩm đó về mặt: Nộidung tư tưởng, nghệ thuật, thành công, hạn chế của tác giả trong tác phẩm; bàihọc giáo dục Đây là bước định hướng chung cho người thầy trong quá trình giảngdạy tác phẩm đó
2.2-Tìm hiểu yếu tố ngoài văn bản ( tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm)
2.2.1 Tác giả :
Tìm hiểu về quê quán, cuộc đời, phong cách, sự nghiệp sáng tác
Ví dụ: Khi tìm hiểu truyện ngắn Làng của Kim Lân, phải chú ý đến quê quán của
nhà văn thuộc làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đó là nơi ông đã từngsống, gắn bó với nông thôn và cuộc sống của người nông dân Do đó, ông rất am
Trang 10hiểu về cuộc sống của họ Vì vậy, sở trường chính của ông luôn viết về đề tài này
và rất thành công
2.2.2 Hoàn cảnh sáng tác:
Sự ra đời của tác phẩm vào thời điểm nào cũng là yếu tố quan trọng giúp ta hiểu
rõ hơn về tác phẩm
Ví dụ: Kim Lân viết truyện Làng sau ngày toàn quốc kháng chiến, nhân dân
theo lệnh của chính phủ tản cư vào vùng tự do Kim Lân cùng gia đình tản cưlên vùng Cao Thượng -Nhã Nam ở nhờ một nhà chủ trong một ngôi làng nhỏ.Tâm trạng nhớ làng da diết của ông Hai cũng chính là tâm trạng thực của KimLân lúc bấy giờ Kim Lân đã từng tâmsự: "Tôi là người gắn bó với làng tôi Đi xavài ngày là tôi nhớ làng không chịu được Ở nơi sơ tán trong hoàn cảnh xa làngxóm, quê hương tôi đã rất buồn, lại thêm tin đồn làng chợ Dầu của tôi theoPháp Càng yêu làng và gắn bó với làng, tin này làm cho tôi bồn chồn, xấu hổ…Làng có được chút chú ý của người đọc là do cảm xúc, khát khao, buồn khổ củachính tôi."
2.3.
Tìm hiểu các yếu tố trong văn bản
2.3.1.Giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm
Tựa đề là yếu tố đầu tiên biểu hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm
Ví dụ:
- Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đặt tên truyện là Chiếc Lược Ngà vì có nhiều ýnghĩa biểu tượng
Thứ nhất, nó là chiếc cầu nối của tình cha con Nó là biểu tượng giá trị tinh thần
không có gì thay thế được Tuy nhỏ bé nhưng nó là biểu tượng của tình cha conbất tử
Thứ hai, cùng với ý nghĩa, biểu tượng tinh thần Chiếc lược ngà còn có giá trị gợi
cảm Đối với ông Sáu còn gì thân thiết hơn khi nhìn cây lược tự tay mình làm ra
mà như được nhìn thấy đứa con bé bỏng Nó lấp đầy khoảng trống trong lòngngười cha xa con: "Những đêm nhớ con ông lấy cây lược ra ngắm nghía" Ngoài
ra đối với bé Thu kỷ vật ấy là niềm hạnh phúc
Trang 11- Nhà văn Kim Lân đặt tên “Làng” mà không phải là “Làng chợ Dầu” vì nếu thế
thì vấn đề tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp của một làng cụ thể.Đặt tên là “Làng” vì truyện đã khai thac một tình cảm bao trùm, phổ biến củangười nông dân Việt Nam thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp: Tìnhyêu làng quê gắn liền với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến)
- Nguyễn Thành Long lại đặt tên tác phẩm là “ Lặng lẽ Sa Pa” để chỉ cái vẻ lặng
lẽ bên ngoài của một nơi ít người đến, nhưng thực ra nó lại không lặng lẽ chútnào, bởi đằng sau cái vẻ lặng lẽ của Sa Pa là cuộc sống sôi nổi của những conngười đầy trách nhiệm đối với công việc, đối với đất nước, với mọi người màtiêu biểu là anh thanh niên làm công tác khí tượng một mình trên đỉnh núi cao.Trong cái không khí lặng im của Sa Pa, Sa Pa mà nhắc tới người ta chỉ nghĩ đếnchuyện nghỉ ngơi lại có những con người ngày đêm lao động hăng say, miệt màilặng lẽ, âm thầm, cống hiến cho đất nước)
Như vậy, chỉ một nhan đề mà gợi ra bao điều thú vị, sâu sắc.
2.3.2.Tóm tắt nội dung của tác phẩm
-Để có thể tóm tắt nội dung tác phẩm, GV yêu cầu HS đọc tác phẩm, kết hợp trảlời các câu hỏi gợi ý của GV và hướng dẫn trong SGK Trong quá trình đọc, HScần chú ý khâu đọc ở nhà và đọc ở lớp
Đọc ở nhà là việc làm rất cần thiết cho học sinh trong quá trình chuẩn bị bài Học
sinh có thể đọc theo sự gợi ý, hướng dẫn trước của thầy để tìm hiểu tác phẩm.Trong quá trình đọc, học sinh cần đánh dấu những từ ngữ, những chi tiết khó,không hiểu để lên lớp hỏi giáo viên Đọc xong, học sinh cần tìm những chi tiếtđặc sắc, những điểm nhấn, những nét nổi bật về nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Đọc ở lớp đọc Gắn việc đọc diễn cảm với các phương pháp khác sẽ tạo cho giờ
học thêm sinh động, giúp cho học sinh thêm hứng thú trong cảm thụ, phân tíchtác phẩm Bởi vì, giọng đọc là thước đo mức độ rung cảm của người đọc với cáctác phẩm
- Yêu cầu HS tóm tắt tác phẩm bằng cách nêu một số câu hỏi như:
+Truyện có những nhân vật nào? Nhân vật nào là chính? Nhân vật nào là phụ? + Truyện nói về vấn đề gì?
Trang 12Ví dụ: Truyện Chiếc lược ngà gồm những nhân vật nào? (anh Sáu, bé Thu, bác
Ba: bạn anh Sáu…); Truyện kể về vấn đề gì? (cuộc gặp gỡ đầy xúc động củacha con anh Sáu sau tám năm xa cách) Để giúp học sinh nắm được những nộidung cốt lõi, tổng thể của tác phẩm, GV có thể gợi mở HS qua một số câu hỏi: + Mở đầu truyện là gì?
+ Diễn biến thế nào?
+ Kết thúc ra sao?
Nếu truyện quá dài có thể cho học sinh đọc và tóm tắt theo từng phần của diễnbiến truyện
2.3.3.Tìm hiểu giá trị tác phẩm
Giảng dạy một tác phẩm văn học đòi hỏi phải phân tích toàn diện, cặn kẽ
và đúng hướng Đặc biệt ở tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn, GV cần chú ý đếncốt truyện, tình huống, sự kiện, nhân vật, ngôn ngữ, ngôi kể…
Cốt truyện: Truyện Làng của Kim Lân có cốt truyện tâm lý, truyện chú ý
đến tình huống bên trong nội tâm nhân vật, miêu tả diễn biến tâm lý ông Hai từ đólàm rõ tình cảm nhân vật và làm nổi bật chủ đề tác phẩm Tâm lý nhân vật đượcthể hiện ở cử chỉ, hành động, đối thoại và độc thoại…
2.4 Phân tích tình huống truyện.
- Đối với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại, nóchính là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến cho tại
đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc
lộ sắc nét nhất.
-Hạt nhân của thể loại truyện ngắn là tình huống truyện nhưng cũng không phải
là yếu tố duy nhất để thể hiện hết chủ đề, tư tưởng và ý dồ nghệ thuật của nhàvăn Do đó, khi phân tích tình huống truyện cần phải phân tích nhân vật, giọngđiệu, kết cấu… để có sự đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc hơn
- Khai thác và giảng dạy truyện ngắn từ góc độ tình huống không phải là mộthướng đi mới nhưng là một phương pháp hiệu quả để khám phá tư tưởng chủ đề
Trang 13của tác phẩm Chính vì vậy, vấn đề này cần được ứng dụng rộng rãi hơn vàoviệc nghiên cứu, giảng dạy truyện ngắn nói chung và giảng dạy truyện ngắn ởtrường phổ thông nói riêng.
-Khi phân tích tình huống cần theo các bước:
+ Xác định tình huống
+ Phân tích diễn biến tình huống
+ Rút ra ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện
a.Xác định tình huống truyện
-Đặt câu hỏi: Sự kiện nào bao trùm và chi phối toàn bộ thiên truyện này? Hay sự
kiện bao trùm nào đã giúp tác giả dựng lên toàn bộ truyện ngắn này?
-Tổng hợp các tình tiết: Lướt qua những tình tiết chính và xác định một trong
các tình tiết ấy đóng vai trò bao trùm, chi phối quán xuyến toàn truyện, haychúng chỉ là những thành tố nối kết với nhau để làm thành một sự kiện lớn hơn,
sự kiện ấy mới trùm lên tất cả?
b Phân tích tình huống.
Cần phân tích trên các bình diện cơ bản sau:
-Diện mạo của tình huống (bình diện không gian)
-Diễn biến của tình huống (bình diện thời gian)
-Mối liên kết của tình huống với các khâu khác của tác phẩm (chi phối đến tổchức hình thức của văn bản nghệ thuật truyện ngắn)
c Rút ra ý nghĩa tư tưởng của tình huống: Thông điệp thẩm mĩ mà tình huống chứa đựng
Trang 14-Về quan niệm: Toát lên quan niệm gì về nhân sinh, thẩm mĩ ?
-Về cảm xúc: Chứa đựng cảm xúc chủ đạo gì ?
Ví dụ:
-Tác phẩm “ Làng”- Nhà văn Kim Lân đã đặt nhân vật ông Hai vào một tình
huống rất gay cấn Ông Hai vốn rất yêu làng, lúc nào cũng tự hào và khoekhoang về ngôi làng của mình với sự giàu có và tinh thần kháng chiến Nhưngđột nhiên ông nhận được tin sét đánh từ những người tản cư - làng ông theoTây, làm việt gian Ông vô cùng đau đớn tủi hổ và nhục nhã Các tạo tình huốngnhư vậy nhà văn Kim Lân muốn làm nổi bật lòng yêu làng gắn liền với lòng yêunước và tinh thần kháng chiến của người nông dân Việt Nam thời kỳ đầu củacuộc kháng chiến chống Pháp
- Tác phẩm “ Lặng lẽ Sa Pa” ( Nguyễn Thành Long) Truyện ngắn Lặng lẽ Sa
Pa có tình huống rất đơn giản Câu chuyện chỉ xoay quanh cuộc gặp gỡ tình cờ
của nhân vật anh Thanh niên với ông Hoạ sĩ già và cô Kỹ sư trẻ diễn ra trongvòng ba mươi phút trên đỉnh núi Yên Sơn cao hai nghìn sáu trăm mét Cuộc gặp
gỡ bất ngờ nhưng đã để lại trong lòng mỗi nhân vật những ấn tượng sâu sắc về lítưởng và mục đích sống Cách tạo tình huống như vậy nhà văn Nguyễn ThànhLong muốn làm nổi bật hình ảnh những con người đang lao động âm thầm lặng
lẽ, đầy trách nhiệm để cống hiến hết mình cho đất nước, cho công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc những năm 70 của thế kỷ XX
- Tác phẩm “Chiếc lược ngà” - Nguyễn Quang Sáng.
+ Tình huống của truyện ngắn Chiếc lược ngà thật éo le Anh Sáu sautám năm xa nhà đi làm kháng chiến, chuyến nghỉ phếp thăm quê trước khichuyển đơn vị này với anh thật ý nghĩa bởi anh sẽ được gặp con - đứa con gáiduy nhất anh chưa từng gặp mặt Nhưng bé Thu đã không nhận ra anh là cha.Ngày anh ra đi cũng là lúc bé Thu nhận ra anh là cha
+ Ở chiến khu lúc nào anh cũng nhớ về con, anh dồn hết tâm lực vàoviệc tạo ra cây lược ngà để tặng con Nhưng anh chưa kịp trao chiếc lược chocon thì anh đã hy sinh trong một trận càn của giặc Mỹ
Trang 15+ Tạo tình huống như vậy Nguyễn Quang Sáng muốn ca ngợi tình cảmcha con sâu nặng của anh sáu và bé Thu trong hoàn cảnh éo le, vùa là lời lên án
tố cáo tội ác của chiến tranh đã gây ra cho bao gia đình Việt Nam
- Tác phẩm “Bến quê” - Nguyễn Minh Châu
+Tình huống của truyện ngắn đầy trớ trêu nghịch lí: Nhĩ làm một côngviệc đã tạo điều kiện cho anh đi khắp mọi nơi ntrên trái đất Nhưng về cuối đời,anh mắc phải một căn bệnh quái ác - liệt toàn thân Bệnh tật đã hành hạ anhhàng năm trời, tất cả mọi sinh hoạt của anh dều phải nhờ vào vợ con và nhữngđứa trẻ hàng xóm Nằm trên giường bệnh, qua ô cửa sổ nhà mình, Nhĩ đã nhận
ra được vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông, nhận ra được gia đình là chỗdựa chính của cuộc đời mỗi co người Anh nảy ra một khao khát được đặt chânsang bãi bồi bên kia sông, nhưing anh không thể thực hiện được Anh đã nhờTuând - con trai anh sang thực hiện thay mình Nhưng đứa con không hiểu và đã
để lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày
+ Qua nhân vật Nhĩ, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã rút ra một quy luậtmang tính triết lí về con người, cuộc đời: "Con người ta trên đường đời thật khótránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình ", thức tỉnh mọi người
về những giá trị bền vững bình thường và sâu xa của cuộc sống - những giá trịthường bị người ta bỏ quên nhất là khi cón trẻ
- Tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” - Lê Minh Khuê.
+ Ba nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn trongnhững năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước Họ là những nữ thanh niên còn rấttrẻ tuổi Công việc của họ là theo dõi máy bay địch ném bom, đo đếm khốilượng đất đá bị bom địch đào xới, san lấp mặt đường và phá bom nổ chậm.Công việc của họ thật khó khăn vất vả và luôn phải đối mặt với cái chết Việctạo tình huống trên nhà văn Lê Minh Khuê muốn thể hiện tâm hồn hồn nhiêntrong sáng đầy mơ mộng và lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kêt, tình đồng chíđồng đội của người lính trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
2.5 Phân tích nhân vật
Đây là bước quan trọng bởi nhân vật là hình tượng trung tâm của tác phẩm
Trang 16tự sự Giỏo viờn hướng học sinh vào việc tỡm hiểu sự phõn bố nhõn vật chớnh,phụ và số phận nhõn vật chớnh thụng qua hành động và xung đột bởi xung đột tạonờn độ căng và tớnh hấp dẫn cho truyện và cũng chớnh xung đột tạo nờn sự phỏttriển của kết cấu trong tỏc phẩm văn chương Trong tỏc phẩm văn chương, xungđột càng sõu, càng cú ý nghĩa thỡ việc giải quyết nú càng đũi hỏi bản lĩnh, tàinăng của nhà văn và càng cú sức thuyết phục với người đọc hơn
a Nhân vật tự sự
Là con ngời cụ thể đợc miêu tả, khắc họa trong tác phẩm tự sự, nhân vật tự
sự thờng có tên tuổi, lý lịch, diện mạo, tích cách, số phận riêng
Là con ngời của cuộc đời đợc h cấu, tái tạo theo quan niệm của tác giả vàbằng nghệ thuật của tác giả Đó là một hình tợng nghệ thuật mang tính ớc lệ Vìvậy, ta không đợc đồng nhất nhân vật văn học với con ngời ngoài đời thật Tuynhiên tiếp xúc với mỗi nhân vật tự sự của tác phẩm tự sự ta có thể thấy đợc một conngời của cuộc đời Ngoài ra, từ nhân vật ta có thể nhận ra cách nhìn đời, nhìn ngờicũng nh nhận ra cái tài tả ngời, tả đời của tác giả Do đó phân tích nhân vật cũng là
để phân tích t tởng, nghệ thuật của tác phẩm của tác giả nhân vật tự sự đợc đa raphân tích thờng phải đạt đến trình độ một tích cách( một nét tích cách) một điểnhình Tính cách là cá tính của nhân vật, cá tính ấy rõ rệt đậm nét và nhất quán từ
đầu đến cuối trong tác phẩm, qua số phận nhân vật Điển hình là hình tợng nghệthuật độc đáo, đợc miêu tả sống động, mang ý nghĩa khái quát, tiêu biểu cho nhữngnét phẩm chất nhát của con ngời và cuộc sống
b Phân tích nhân vật tự sự.
Là phân tích những chi tiết cụ thể có liên quan đến nhân vật, lần lợt xuấthiện trong tác phẩm bằng cái nối kết hệ thống tổng thể, nhằm tìm hiểu suy luận
về ý nghĩa của những chi tiết ấy để từ đó mà cũng có những nhận định, đánh giá
về nhân vật cũng nh về t tởng, tài năng nghệ thuật của tác giả
Lúc đọc tác phẩm, ta phải nhận diện và theo dõi đợc số phận nhân vật,
cảm nhận đợc nghệ thuật miêu tẩ nhân vật của tác giả
Một cách chung nhất, muốn phân tích nhân vật tức là phân tích đặc điểm,tính cách nhân vật, chúng ta cần phải căn cứ vào những chi tiết có liên quan đếnnhân vật trong tác phẩm để từ đó mà tìm hiểu, suy luận tìm ra tính cách của nhânvật, ở tác phẩm tự sự những chi tiết có gía trị góp phần thể hiện đặc điểm, tínhcách của nhân vật là :
+ Ngoại hình: Thờng gồm những nét miêu tả về mặt mũi, hình dáng, tớng
mạo, áo quần Qua ngoại hình nhà văn gửi gắm những chiêm nghiệm của mình
Trang 17về con ngời và cuộc đời Nói rõ hơn việc miêu tả ngoại hình nhân vật thờng cóchủ đích hớng tới việc thể hiện nội tâ, tính cách nhân vật.
+ Nội tâm: Là thế giới bên trong của nhân vật gồm cảm giác, cảm xúc,
tình cảm, suy nghĩ, tâm lý của con ngời rất sâu kín, phong phú, phức tạp Ngòibút của nhà văn có khả năng miêu tả đợc những ngõ ngách sâu kín của nội tâmcon ngời, từ những điều thuộc phạm vi ý thức đến những điều trong cõi tiềmthức, vô thức Qua đó ta có thể xét đoán đợc tính cách cuả nhân vật
Qua những lời nói trên ta phần nào suy đoán đợc tính cách của nhânvật :nhiệt tình, bộc trực, nhanh nhẹn nhng lại ngăn nắp khoa học, một con ngời tựgiác vợt khó để hoàn thành công tác với ý thức đầy đủ về vị trí công tác của mình
Hay ở truyện Làng: Kim Lõn rất tinh tế khi dựng đoạn đối thoại và độcthoại nội tõm để biểu hiện những cung bậc tõm trạng nhõn vật ụng Hai sau khinghe tin làng theo Việt gian Đú là tõm trạng rối bời, nửa tin nửa ngờ xen lẫn sựtủi hổ, nhục nhó:
"Về đến nhà, ụng Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hụm nay cú
vẻ khỏc, len lộn đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm, chơi sụi với nhau Nhỡn lũ con, tủi thõn, nước mắt ụng cứ giàn ra Chỳng nú cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chỳng nú cũng bị người ta rẻ rỳng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu… ễng lóo nắm chặt hai tay lại mà rớt lờn:
- Chỳng bay ăn miếng cơm hay miếng gỡ vào mồm mà đi làm cỏi giống Việt gian bỏn nước để nhục nhó thế này."
Ngụn ngữ độc thoại của ụng Hai đó thể hiện được nội tõm sõu sắc của nhõn