1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN dạy học ngữ văn 9 qua trải nghiệm

49 75 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 367,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có một suy nghĩ trong dạy học xưa nay là thầy bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, nếu không có thầy, người học khó mà tiếp cận kiến thức hoặc nếu có cũng mung lung, không có định hướng. Tuy nhiên, có một thực tế là khi chúng ta để học sinh tự tiếp cận và khám phá kiến thức, sẽ có vô cùng nhiều những điều thú vị được mở ra mà ngay cả thấy cô kể cả những người đứng trên bục giảng lâu năm cũng phải bất ngờ trước những phát hiện mới mẻ, độc đáo của HS; kiến thức khi trò tự tìm hiểu sẽ được nhìn từ nhiều phía, được đánh giá nhiều chiều, khá sâu sắc… Trong khi đó, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học. Để thực hiện được điều đó, chúng ta phải nhanh chóng thay đổi quan điểm dạy học theo lối truyền thụ một chiều và áp đặt sang cách học tự tiếp cận, vận dụng kiến thức, kĩ năng hình thành năng lực và phẩm chất của người học. Hoạt động trải nghiệm trong giờ học sẽ phát huy tối đa vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của học trò đặc biệt là môn Ngữ văn. Bởi đây là môn học đòi hỏi người học phải có sự cảm nhận riêng, việc vận dụng kiến thức văn học vào cuộc sống cũng cần sự linh hoạt, đa dạng. Với mong muốn học sinh tiếp nhận được nhiều hơn phạm vi kiến thức một bài học môn Ngữ văn, giúp học sinh trở thành người học tích cực, chủ động tiếp cận kiến thức, tôi mạnh dạn trình bày SK “Sử dụng PP DH qua trải nghiệm trong môn ngữ văn 9 phần văn học hiện đại” Để hoàn thiện đề tài này, tôi đã nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn bè đồng nghiệp và đặc biệt là sự đón nhận của các em học sinh. Đây chính là nguồn động viên lớn lao cho tôi trong công tác chuyên môn. Xin trân trọng cảm ơn Phù Cừ, ngày 8 tháng 3 năm 2018

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Có một suy nghĩ trong dạy học xưa nay là thầy bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, nếu không có thầy, người học khó mà tiếp cận kiến thức hoặc nếu có cũng mung lung, không có định hướng Tuy nhiên, có một thực tế là khi chúng ta để học sinh tự tiếp cận và khám phá kiến thức, sẽ có vô cùng nhiều những điều thú vị được mở ra mà ngay cả thấy cô- kể cả những người đứng trên bục giảng lâu năm- cũng phải bất ngờ trước những phát hiện mới

mẻ, độc đáo của HS; kiến thức khi trò tự tìm hiểu sẽ được nhìn từ nhiều phía, được đánh giá nhiều chiều, khá sâu sắc…

Trong khi đó, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học Để thực hiện được điều đó, chúng ta phải nhanh chóng thay đổi quan điểm dạy học theo lối truyền thụ một chiều và áp đặt sang cách học tự tiếp cận, vận dụng kiến thức, kĩ năng hình thành năng lực và phẩm chất của người học Hoạt động trải nghiệm trong giờ học sẽ phát huy tối đa vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của học trò đặc biệt là môn Ngữ văn Bởi đây là môn học đòi hỏi người học phải có sự cảm nhận riêng, việc vận dụng kiến thức văn học vào cuộc sống cũng cần sự linh hoạt, đa dạng.

Với mong muốn học sinh tiếp nhận được nhiều hơn phạm vi kiến thức một bài học môn Ngữ văn, giúp học sinh trở thành người học tích cực, chủ động tiếp cận kiến thức, tôi mạnh dạn

trình bày SK “Sử dụng PP DH qua trải nghiệm trong môn ngữ văn 9 phần văn học hiện đại”

Để hoàn thiện đề tài này, tôi đã nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn bè đồng nghiệp

và đặc biệt là sự đón nhận của các em học sinh Đây chính là nguồn động viên lớn lao cho tôi trong công tác chuyên môn

Xin trân trọng cảm ơn!

Phù Cừ, ngày 8 tháng 3 năm 2018

Tác giả

Lê Thị Thanh Hồng

Trang 2

PHẦN MỘT: LÝ LỊCH

- Họ và tên tác giả: Lê Thị Thanh Hồng.

- Chức vụ: Giáo viên

- Đơn vị công tác: Trường THCS Phù Cừ- huyện Phù Cừ- tỉnh Hưng Yên.

- Tên đề tài: ““Sử dụng PP DH qua trải nghiệm trong môn ngữ văn 9 phần văn học hiện đại”

Trang 3

PHẦN HAI: NỘI DUNG

tự học làm chính; lấy tập thể để bổ trợ cho cá nhân; lấy máy móc thiết bị làm phương tiện;lấy tài liệu, sách giáo khoa, băng hình và tự đánh giá kết quả học tập Lối học này hình thành

ở HS sự mạnh dạn, có tính cách, tự tin, biết cách học, biết cách làm, biết cách giao tiếp xãhội, biết cách khẳng định chân lí, tạo nên con người rất thực tế, thích hoạt động, dẫn đến sựnăng động và sáng tạo trong tư duy, trong hoạt động cuộc sống

Hoạt động trải ngiệm trong dạy học môn Ngữ văn, đặc biệt là phần văn bản trong nhàtrường THCS sẽ góp phần tạo nên thành công trong dạy học tích cực Giúp học sinh hìnhthành được những kỹ năng đó

2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

Sự phát triển đi lên của xã hội, nhịp sống hổi hả của cuộc sống hiện đại khiến chonhiều học sinh không còn thời gian để quan tâm đến môn Văn ( Một môn vốn bị coi là dài,khó) Đặc biệt, tâm lí ngại học phần văn bản trong chương trình văn học THCS hiện nay làkhá phổ biến Phần lớn HS khi được hỏi đều cho biết ngại đọc trước phần VB được học ở tiếtsau, ngại soạn bài, ngại học thuộc (nếu văn bản đó là thơ), ngại suy nghĩ, cảm nhận

Chính tâm lí đó đã khiến cho các em học phần văn bản ít có kết quả Đó cũng là điều

dễ hiểu khi nhìn vào “sản phẩm” phân tích phần văn bản của trò: cảm nhận hời hợt, chủ yếu

là chép lại những điều thầy cô đã giảng trên lớp, ít có sự phát hiện sáng tạo Các bài của HStrong lớp thường giống nhau Hạn chế về diễn đạt, bình luận, nhận xét và đánh giá Khi đọcbài phân tích tác phẩm văn học của học sinh, tôi ít có cảm giác hứng thú vì thấy giọng văncác bài rất quen; cách trình bày cũ mòn theo công thức giáo viên đã xây dựng, ít tính đột phá,sáng tạo

Trang 4

Đối với giáo viên, dạy môn ngữ văn nói chung, dạy phần văn bản hiện đại nói riêngthường chủ yếu dựa vào sách giáo viên, thiết kế bài giảng Dạy hoặc còn nặng về áp đặt( đưa ra ý hiểu, sự cảm nhận của mình rồi áp đặt trò phải hiểu theo hướng đó); hoặc còn nặng

về giảng bình Nhiều giờ giảng văn, giáo viện gần như độc thoại, chiếm lĩnh “sân khấu” củahọc sinh Vì thế đã hạn chế tính sáng tạo của học trò Không ít giáo viên tỏ ra lúng túng khiphải dạy một giờ văn bản

Hơn nữa, sự phát triển của kinh tế, khoa học, công nghệ dẫn đến những thay đổi về giátrị, quan điểm, lối sống, đạo đức Từ đó, xã hội có quá nhiều vấn đề buộc các em phải đốimặt Giáo viên dạy môn văn không chỉ dạy phần kiến thức trong SGK mà còn phải hìnhthành cho các em nhiều kĩ năng sống Để học sinh có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về kiến thứcđược học Gắn kiến thức lý thuyết trong nhà trường với thực tiễn đời sống; thực hiện theophương châm "học đi đôi với hành"

Được coi là một trong những hình thức học tập khơi dậy hứng thú trong học trò, pháthuy tối đa tính tích cực của người học nhưng khái niệm học tập trải nghiệm đối với học sinh

ở nhiều địa phương hiện nay khá mới bởi lâu nay chúng ta vẫn chú trọng những tiết học trênlớp, qua kênh sách giáo khoa và kênh hình bằng các phương tiện hỗ trợ Vì vậy, nếu tổ chứccác hoạt động trải nghiệm mà không có sự chuẩn bị về tâm lý và phương pháp, chắc chắn họcsinh sẽ bị rơi vào trạng thái thụ động khi tiếp cận đối tượng trải nghiệm hoặc sẽ biến buổi họctrải nghiệm thành một giờ học tổng hợp, mất thời gian, không hiệu quả và càng làm cho họcsinh hoang mang hơn về phương pháp học tập bộ môn

Nhiệm vụ của giáo viên dạy phần văn bản là phải giải quyết những yêu cầu đó

3 Ý nghĩa của đề tài

Với vai trò là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 9, tôi đã xác định và ýthức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làmtrung tâm Một trong những hình thức tổ chức dạy học hiệu quả của phương pháp này chính

là dạy học qua trải nghiệm, đó là hình thức dạy học tích cực, mang lại nhiều hiệu quả:

Trang 5

- Dạy học qua trải nghiệm học sinh có thể rèn luyện và học tập một cách tốt nhất, hiệu quảnhất Phương pháp học mới HS luyện được cả về kiến thức bộ môn và kĩ năng học tập, tìmtòi, phân tích và áp dụng thực tiễn.

- Dạy học qua trải nghiệm giúp HS luôn tích cực, chủ động trong việc tìm tòi kiến thức Kíchthích sự khám phá kiến thức của các em

- Dạy học qua trải nghiệm còn góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng ở học sinh Tạocho học sinh một thói quen trong tư duy, lập luận tức là khi xem xét một vấn đề phải đặtchúng trong một hệ quy chiếu, từ đó mời có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo

- Giúp học sinh hứng thú học tập, từ đó mở rộng, khắc sâu được kiến thức đã học

- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa

- Dạy cho học sinh sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể

-Thay vì tham nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học trải nghiệmchú trọng tới sự chủ động của học sinh khi học tập, có năng lực sống tự lập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đề tài nghiên cứu: “Sử dụng PP DH qua trải nghiệm trong môn ngữ văn 9 phần văn học hiện đại”

- Nghiên cứu trên cơ sở thực hiện là nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục ở trườngTHCS, các định hướng và quan điểm về ĐMPPDH, các thầy cô giáo và các em học sinh khối

9 trường THCS Phù Cừ

II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn.

a Cơ sở lí luận.

a.1 Dạy học tích cực là gì?

Dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương

pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với

không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực

Trang 6

Dạy tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học,nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vàophát huy tính tích cực của người dạy.

Học tích cự chỉ xảy ra khi học sinh được trao cơ hội thực hiện các tương tác đề tài chínhtrong một giai đoạn giáo dục, được động viên để hình thành tri thức hơn là việc nhận tri thức

từ việc giới thiệu của giáo viên

a.2 Một số yêu cầu của dạy học tích cực

Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.

3 Xuất phát từ phương pháp giảng dạy còn mang tính một chiều, hạn chế khả năng tư duy ởhọc sinh của một bộ phận giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn

4 Học sinh trường THCS Phù Cừ nhiều em chỉ chú ý học các môn tự nhiên mà chưa thực sựdành thời gian cho việc học bộ môn văn Nhất là phần văn bản hiện đại

5 Tôi đã tiến hành điều tra sơ bộ HS Trường THCS Phù Cừ về thực trạng học phần văn bảnnăm học 2016-2017 như sau:

5.1 Điều tra thực trạng học phẩn văn bản với câu hỏi: “Em có thích học phần văn bản hiện đại trong chương trình Ngữ văn9 không?”

* Kết quả qua phiếu điều tra:

Trang 7

*Đánh giá kết quả điều tra

Phần lớn học sinh không thích học phần văn bản hiện đại Khi được hỏi lí do, các emchia sẻ: vì phần này dài, HS ngại đọc, ngại nghĩ, ngại ghi chép Giờ học văn bản các em phảinghe nhiều nên có một số học sinh uể oải, mệt mỏi Cộng với sự tương tác giữa giáo viên vàhọc sinh còn hạn chế, áp đặt nên các em có tâm lí “phải nghe, phải công nhận những điềugiáo viên giảng

5.2 Kết quả điều tra sự chuẩn bị của học sinh trước một tiết học văn bản hiện đại

5.2.1 Điều tra học sinh khối 9 của trường THCS Phù Cừ (Năm học 2016- 2017) qua câu hỏi

điều tra: “Trước một tiết học phần văn bản, em thường chuẩn bị bài như thế nào ?”

A Không chuẩn bị

B Chuẩn bị qua loa

C Tìm tòi qua các tài liệu một cách hào hứng

D Chép ở sách để học tốt nhưng không hiểu gì.

* Trong tổng số 89 phiếu thu về:

16,8%

3033,7%

10 11,2%

34( 38,3

* Đánh giá kết quả điều tra:

Phần lớn các em chỉ chuẩn bị nội dung của môn học theo kiểu chép trong sách để học tốt

Điều tra tại Trường THCS Phù Cừ về việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp và quá trình khai

thác kiến thức , thu được kết quả:

a) Tự tìm hiểu: 30%

b) Thầy cô giảng: 70 %

Kết quả điều tra

Trang 8

*1 Có không ít HS không chủ động tìm hiểu bài Lí do là đọc và làm mất thời gian và những

gì thầy cô giảng thường là đủ và đúng rồi Hoặc sau khi trả lời, thầy cô vẫn chỉ cho ghi theo ýthầy cô

*2 Số HS tự tìm hiểu bài ít Có tìm hiểu cũng chỉ ở mức độ cơ bản Không có ý thức mởrộng hơn những gì trong câu hỏi SGK và yêu cầu của thầy cô

Từ những cơ sở trên, từ quá trình tích lũy những kinh nghiệm giảng dạy phần văn bản hiệnđại trong chương trình Ngữ văn THCS, tôi mạnh dạn trình bày những kinh nghiệm của bản

thân về “Sử dụng PP DH qua trải nghiệm trong môn ngữ văn 9 phần văn học hiện đại”

2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu tài liệu, giáo trình có liên quan đến đề tài

khoa học Nghiên cứu sách giáo khoa Ngữ văn 9, sách tham khảo và các nguồn tư liệu

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm; ra đề cho học sinh luyện tập; dự

giờ, quan sát, chuyên đề

- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm

- Phương pháp thống kê toán học: Thu thập, xử lý, đánh giá kết quả sau khi áp dụng đề tài

3 Kế hoạch nghiên cứu

1 Đăng ký nghiên cứu chuyên đề “Sử dụng PP DH qua trải nghiệm trong môn ngữ văn 9 phần văn học hiện đại”

với trường THCS Phù Cừ từ đầu năm học 2017-2018

2/ Thực hiện nhóm phương pháp thực tiễn tại Trường THCS Phù Cừ trong năm học

2017-2018 bao gồm:

+ Điều tra thực tiễn qua học sinh trường THCS Phù Cừ

+ Tổ chức chuyên đề cấp Tổ đối với Tổ KHXH (tháng 10 năm 2017, tháng 3 năm 2018)+ Tổng kết, viết đề tài, thông qua Hội đồng khoa học trường THCS Phù Cừ (Tháng 3 năm2018)

B NỘI DUNG.

Trang 9

I Mục tiêu

1 Mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn ở Trường Phổ thông cơ sở.

1.1 Trang bị cho HS kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và

văn học Hướng tới 4 kĩ năng: Nghe - đọc - nói - viết phù hợp với trình độ HS và phù hợp vớiyêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại

1.2 Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng Tiếng Việt, tiếp nhận văn bản,

cảm thụ thẩm mĩ, phương pháp học tập tư duy đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứngdụng những điều đã học vào cuộc sống

1.3 Bồi dưỡng cho HS tình yêu Tiếng Việt, văn học, văn hóa truyền thống; tình yêu gia

đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập tự cường; lý tưởng xã hội chủnghĩa; tinh thần dân chủ nhân văn; giáo dục học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữunghị hợp tác quốc tế; ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại

2 Mục tiêu của hoạt động trải nghiệm sáng tạo

MỤC TIÊU CHUNG

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành và phát triển phẩmchất nhân cách, các năng lực tâm lý – xã hội ; giúp học sinh tích luỹ kinhnghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình, làmtiền đề cho mỗi cá nhân tạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúcsau này

MỤC TIÊU CỦA GIAI ĐOẠN GIÁO DỤC CƠ BẢN

Giai đoạn giáo dục cơ bản kéo dài từ lớp 1 đến lớp 9 Ở giai đoạn giáodục cơ bản, chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo tập trung vào việchình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kỹ năng sống cơbản: tích cực tham gia, kiến thiết và tổ chức các hoạt động; biết cách sốngtích cực, khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân; biết cách tổ chức cuộcsống và biết làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm Đặc biệt, ở giai đoạnnày, mỗi học sinh cũng bắt đầu xác định được năng lực, sở trường, và chuẩn

Trang 10

bị một số năng lực cơ bản cho người lao động tương lai và người công dân

có trách nhiệm

Ở bậc trung học cơ sở, hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành lốisống tích cực, biết cách hoàn thiện bản thân, biết tổ chức cuộc sống cánhân biết làm việc có kế hoạch, tinh thần hợp tác, có trách nhiệm, có ý thứccông dân… và tích cực tham gia các hoạt động xã hội

II Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực

1 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất

- Sống yêu thương: thể hiện ở sự sẵn sàng tham gia các hoạt động giữ

gìn, bảo vệ đất nước, phát huy truyền thống gia đình Việt Nam, các giá trị

di sản văn hoá của quê hương, đất nước; tôn trọng các nền văn hoá trên thếgiới, yêu thương con người, biết khoan dung và thể hiện yêu thiên nhiên,cuộc sống…

- Sống tự chủ: là sống với lòng tự trọng, trung thực, luôn tự lực, vượt khó

khăn và biết hoàn thiện bản thân

- Sống trách nhiệm: quan tâm đến sự phát triển hoàn thiện bản thân,

tham gia hoạt động cộng đồng, đóng góp cho việc giữ gìn và phát triểncủa cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên Luôn biết tuânthủ, chấp hành kỷ cương, quy định, hiến pháp và pháp luật và sống theogiá trị chuẩn mực đạo đức xã hội

2 Yêu cầu cần đạt về năng lực chung

- Năng lực tự học: là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự

giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thựchiện; Lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nền nếp; thực hiệncác phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế củabản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc

Trang 11

lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khókhăn trong học tập.

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: là khả năng nhận diện vấn

đề, thiết lập không gian vấn đề, xác định được các phương pháp khácnhau từ đó lựa chọn và đánh giá được cách giải quyết vấn đề làm cơ sởcho việc hiệu chỉnh cần thiết

- Năng lực thẩm mỹ: là năng lực nhận diện và cảm thụ cái đẹp, biết thể

hiện được cái đẹp trong hành vi, trong lời nói, trong sản phẩm… và biếtsáng tạo ra cái đẹp

- Năng lực thể chất: là khả năng sống thích ứng và hài hòa với môi trường; biết

rèn luyện sức khoẻ thể lực và nâng cao sức khoẻ tinh thần

- Năng lực giao tiếp: là khả năng lựa chọn nội dung, cách thức, thái độ

giao tiếp để đạt được mục đích giao tiếp và mang lại sự thỏa mãn cho cácbên tham gia giao tiếp

- Năng lực hợp tác: là khả năng cùng làm việc giữa hai hay nhiều người

để giải quyết những vấn đề nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên

- Năng lực tính toán: là khả năng sử dụng các phép tính và đo lường,

công cụ toán học để giải quyết những vấn đề trong học tập và cuộc sống

- Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): là khả năng

sử dụng thiết bị kỹ thuật số, máy tính, phần mềm… để tìm kiếm thông tinphục vụ tích cực và hiệu quả cho học tập và cuộc sống; là khả năng sànglọc và tham gia truyền thông trên môi trường mạng một cách có văn hóa

3 Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù

Căn cứ vào nhiệm vụ của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong địnhhướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông, căn cứ vào đặc thù củahoạt động trải nghiệm, căn cứ vào nghiên cứu tổng thuật các chương trìnhgiáo dục quốc tế, căn cứ các yêu cầu đối với năng lực chung đã được đề

Trang 12

xuất, căn cứ vào kết quả khảo sát trên nhóm mẫu và kết quả tọa đàm vớichuyên gia, nhóm nghiên cứu rút ra các mục tiêu cần thực hiện của hoạtđộng trải nghiệm sáng tạo Bên cạnh những phẩm chất và năng lựcchung, hoạt động trải nghiệm sáng tạo hướng tới mục tiêu là một số nănglực đặc thù sau:

a.Năng lực tham gia và tổ chức hoạt động: thể hiện ở sự tích cực

tham gia hoặc thiết kế, tổ chức các hoạt động, đặc biệt các hoạt động xãhội; biết đóng góp vào thành công chung; thể hiện tính tuân thủ với quyếtđịnh của tập thể cũng như sự cam kết; trách nhiệm với công việc đượcgiao, biết quản lý thời gian và công việc cũng như hợp tác hoặc tập hợp,khích lệ các cá nhân tham gia giải quyết vấn đề và sẵn sàng hỗ trợ, giúp

đỡ mọi người

b.Năng lực tự quản lý và tổ chức cuộc sống cá nhân: là khả năng tự

phục vụ và sắp xếp cuộc sống cá nhân; biết thực hiện vai trò của bản thântrong gia đình (theo giới); biết chia sẻ công việc; biết lập kế hoạch chi tiêuhợp lý và phát triển kinh tế gia đình; biết tạo bầu không khí tích cực tronggia đình

c.Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân: là khả năng nhận

thức về giá trị của bản thân; là sự nhận thức về điểm mạnh cũng nhưđiểm yếu trong năng lực và tính cách của bản thân, tìm được động lực đểtích cực hóa quá trình hoàn thiện và phát triển nhân cách; là sự xác địnhđúng vị trí xã hội của bản thân trong các mối quan hệ và ngữ cảnh giaotiếp hay hoạt động để ứng xử phù hợp; luôn thể hiện người sống lạc quanvới suy nghĩ tích cực

d.Năng lực định hướng nghề nghiệp: là khả năng đánh giá được yêu

cầu của thế giới nghề nghiệp và nhu cầu của XH, đánh giá được năng lực

và phẩm chất của bản thân trong mối tương quan với yêu cầu của nghề;

Trang 13

biết phát triển các phẩm chất và năng lực cần có cho nghề hoặc lĩnh vực

mà bản thân định hướng lựa chọn; biết tìm kiếm các nguồn hỗ trợ để họctập và phát triển bản thân; có khả năng di chuyển nghề

e.Năng lực khám phá và sáng tạo: thể hiện tính tò mò, ham hiểu biết,

luôn quan sát thế giới xung quanh mình, thiết lập mối liên hệ, quan hệgiữa các sự vật hiện tượng; thể hiện ở khả năng tư duy linh hoạt, mềmdẻo tìm ra được phương pháp độc đáo và tạo ra sản phẩm độc đáo

III Những vấn đề chung về “Giáo dục trải nghiệm”

1 Khái niệm: Định nghĩa của Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm quốc tế: “Giáo dục trải

nghiệm là một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích ngườihọc tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, pháttriển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góptích cực cho cộng đồng và xã hội.”

Người dạy ở đây có thể là: giáo viên, tình nguyện viên, hướng dẫn viên, huấn luyện viên,bác sỹ tâm lý Nó nói lên tính đơn giản, đa dạng, phổ biến và ứng dụng của “Giáo dục trảinghiệm”

“Giáo dục trải nghiệm” cũng có cơ sở lý thuyết dựa trên một nghiên cứu (Edgar Dale 1946)chỉ ra rằng:

Các đặc điểm nổi bật của “Giáo dục trải nghiệm”:

- Quá trình học qua trải nghiệm diễn ra khi trải nghiệm được lựa chọn kỹ càng và sau khithực hiện được tổng kết bởi quá trình chia sẻ, phân tích, tổng quát hoát và áp dụng

- Người học được sử dụng toàn diện: trí tuệ, cảm xúc, thể chất, kỹ năng và các quan hệ xãhội trong quá trình tham gia

Trang 14

- Trải nghiệm được thiết kế để yêu cầu người học phải sáng tạo, tự chủ, tự ra quyết định vàthỏa mãn với kết quả đạt được.

- Qua “Giáo dục trải nghiệm”, người học được tham gia tích cực vào việc: đặt câu hỏi, tìmtòi, trải nghiệm, giải quyết vấn đề, tự chịu trách nhiệm

- Kết quả của trải nghiệm không quan trọng bằng quá trình thực hiện và những điều học được

từ trải nghiệm đó

- Kết quả đạt được là của cá nhân, tạo cơ sở nền tảng cho việc học và trải nghiệm của cá nhân

đó trong tương lai

- Các mối quan hệ được hình thành và hoàn thiện: người học với bản thân mình, người họcvới những người khác, và người học với thế giới xung quanh

2 Phương pháp “Học tập qua trải nghiệm”

Phương pháp “Học tập qua trải nghiệm” được thừa nhận là phương pháp cốt lõi của “Giáodục trải nghiệm” Chi tiết về phương pháp được giới thiệu dưới đây

2.1 Định nghĩa

“Học tập qua trải nghiệm” xảy ra khi một người sau khi tham gia trải nghiệm nhìn lại và đánhgiá, xác định cái gì là hữu ích hoặc quan trọng cần nhớ, và sử dụng những điều này để thựchiện các hoạt động khác trong tương lai (John Dewey – 1938)

2.2.Quy trình 5 bước khép kín

Trang 15

Phương pháp “Học tập qua trải nghiệm” thể hiện theo mô hình 5 bước khép kín như dưới

đây:

Vòng tuần hoàn “Học tập qua trải nghiệm”

Bước 1 – Trải nghiệm

Học sinh làm, thực hiện một hoạt động tuân theo các hướng dẫn cơ bản về an toàn, tổ chứchoặc quy định về thời gian, học sinh làm trước khi được chỉ dẫn cụ thể về cách làm

Bước 2 – Chia sẻ

Học sinh chia sẻ lại các kết quả, các chú ý và những điều quan sát, cảm nhận được trong phầnhoạt động đã thực hiện của mình Học sinh học cách diễn đạt và mô tả lại rõ ràng nhất các kếtquả của trải nghiệm và mối tương quan của chúng

Bước 3 – Phân tích

Học sinh cùng thảo luận, nhìn lại cả quá trình trải nghiệm, phân tích và phản ánh lại Họcsinh sẽ liên hệ trải nghiệm với chủ đề của hoạt động và các kỹ năng sống học được

Bước 4 – Tổng quát

Trang 16

Liên hệ những kết quả và điều học được từ trải nghiệm với các ví dụ trong cuộc sống thực tế.Bước này thúc đẩy học sinh suy nghĩ về việc có thể áp dụng những điều học được vào cáctình huống khác như thế nào.

Bước 5 – Áp dụng

Học sinh sử dụng những kỹ năng, hiểu biết mới vào cuộc sống thực tế của mình Học sinhtrực tiếp áp dụng những điều học được vào tình huống tương tự hoặc các tình huống khác -thực hành

Sự khác biệt của phương pháp “Học tập qua trải nghiệm” với việc đơn giản chỉ học từ việclàm hàng ngày đó là các bước đúc kết sau quá trình trải nghiệm Mỗi bước bao gồm các câuhỏi mở được đưa ra để học sinh trả lời, khiến học sinh phải thực sự động não, từ đó tự rút rabài học cho bản thân Đây cũng là lúc để đánh giá lại quá trình trải nghiệm của người học.Các câu hỏi rất đa dạng tùy theo từng hoạt động cụ thể Phương pháp và các bước có thể ápdụng với tất cả các chủ đề, lĩnh vực, tùy theo định hướng của người thiết kế

3 Hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn

3.1 Môn ngữ văn THCS

Môn Ngữ văn ở trường phổ thông nói chung và bậc trung học phổ thông CS nói riêng,trước hết nó được cấu thành bởi ba bộ phận kiến thức cơ bản là tiếng Việt, Đọc – hiểu vănbản và Làm văn Các bộ phận kiến thức này được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp Ngoàiviệc hình thành năng lực giao tiếp, năng đọc viết và năng lực sáng tạo (thuộc nhóm năng lựcchung), môn Ngữ văn còn có trách nhiệm hình thành và phát triển ở học sinh năng lực

chuyên biệt của môn học là năng lực tiếp nhận văn bản và tạo lập văn bản Để đáp ứng

được mục tiêu, nội dung chương trình buộc phải có sự xuất hiện của hệ thống kiến thức ngônngữ tiếng Việt, sự đa dạng của các thể loại văn bản nhưng vẫn ưu tiên những văn bản nghệthuật có hư cấu của lịch sử văn học Việt Nam và những văn bản đại diện cho các nền văn hóalớn của nhân loại Với cấu trúc này, học sinh không chỉ hoàn thiện các kỹ năng nói, nghe,đọc, viết một cách hiệu quả mà còn biết cảm thụ những giá trị thẩm mỹ của các văn bản có

hư cấu rồi chuyển hóa chúng trong những sản phẩm cá nhân ở phần tạo lập văn bản Kiếnthức khoa học và nghệ thuật là hai phạm trù khác biệt về cách huy động kinh nghiệm, quan

Trang 17

sát, suy nghĩ và hoạt động thực tiễn để hình thành các nhận thức mới, giá trị mới, xúc cảmmới Vấn đề đặt ra là mức độ tương thích giữa nội dung chương trình môn Ngữ văn vớiHĐTN như thế nào Những HĐTN nào thực sự phù hợp với từng bộ phận kiến thức…

Như vậy, để hoàn thành một quá trình giáo dục thông qua HĐTN trong môn Ngữ văn,trước tiên phải đảm bảo các yêu cầu chung của hoạt động Tuy nhiên muốn quá trình đó cóhiệu quả tất cả mọi đề xuất về giải pháp cần phải khai thác trên đặc điểm riêng của từng nộidung ứng dụng

3.2 Các dạng hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong môn Ngữ văn

Thuật ngữ trải nghiệm có hai cách để hiểu Nếu xem là danh từ thì nó là “kinh nghiệm”nhưng nếu hiểu theo nghĩa của động từ nó là “ thực nghiệm” Với mục tiêu của môn Ngữ văn

và chương trình giáo dục phổ thông mới, cách phù hợp nhất khi sử dụng khái niệm đó chính

là hiểu nó như một quá trình làm ra kiến thức thông qua thực nghiệm Tuy nhiên, “thựcnghiệm” trong trường hợp này không chỉ là không gian duy nhất của các phòng thí nghiệm

Vì lẽ đó, HĐTN được dùng theo nghĩa rộng và trải nghiệm được xem như là con đường, cáchthức hay phương pháp để đạt được kiến thức Trong các nghiên cứu Tâm lý học, các chuyêngia đã phân chia hoạt động trải nghiệm của con người thành các dạng(7): [1] Trải nghiệm vậtchất [2] Trải nghiệm tinh thần [3] Trải nghiệm tình cảm [4] Trải nghiệm xã hội [6] Trảinghiệm chủ quan [7] Trải nghiệm mô phỏng

Dựa vào lý thuyết trên, có thể thấy đặc điểm của môn Ngữ văn trung học phổ thông cókhả năng thực hiện trải nghiệm trên hầu hết các dạng được đề xuất Đây cũng chính là cơ sởkhoa học cần thiết để triển khai các dạng HĐTN phù hợp với nội dung bộ môn Ngữ văn

Trải nghiệm vật chất: Trải nghiệm vật chất là những trải nghiệm “có thể quan sát

được”(8) Hoạt động này phù hợp trong môn Ngữ văn vì nó bắt đầu từ các quan sát của họcsinh về các hiện tượng tự nhiên, xã hội khi các em tham gia vào đời sống cộng đồng; nhữngcảm xúc được hình thành từ những điều nhìn thấy; các đồ dùng trực quan hay những âmthanh, hình ảnh được trình chiếu bằng các phương tiện khoa học kỹ thuật; mẫu (bài tập, tình

Trang 18

huống…) trong dạy học; cuộc đời và sự nghiệp của các tác giả văn học hay những người nổitiếng;… Dù hoạt động của học sinh có thể trực tiếp hay gián tiếp qua những phương tiện cụthể nhưng hầu hết nó đều là sự tương tác trực tiếp của người học với một hoàn cảnh hay tìnhhuống cụ thể Dạng trải nghiệm này có thể tạo cảm xúc trực tiếp ngay trong thời điểm đangdiễn ra hoạt động trải nghiệm, để lại ấn tượng mạnh làm xuất hiện các động lực tích cực đểhoàn thành nhiệm vụ học tập.

Trải nghiệm tinh thần: Trải nghiệm tinh thần có thể xem là dạng trải nghiệm phù hợp

với những giá trị đặc trưng mà môn Ngữ văn có thể mang lại cho người học Hoạt động trảinghiệm này “liên quan đến các khía cạnh trí tuệ và ý thức; là sự kết hợp giữa tư duy, nhậnthức, trí nhớ, cảm xúc, ý chí và tưởng tượng Nó bao gồm cả quá trình nhận thức và vôthức”(9) Như chúng ta đã biết, những tác phẩm nghệ thuật được giới thiệu trong nhà trườngthường là những tác phẩm tiêu biểu cho một nền văn học, một thể loại văn học, một khuynhhướng văn học hoặc là sự nghiệp sáng tác của một tác giả Những tác phẩm đó chắc chắn lànhững tác phẩm có nhiều giá trị bởi nhận được sự sàng lọc khắt khe của thời gian và bạn đọcqua nhiều thế hệ Mỗi tác phẩm đều có những vùng trời riêng để thể hiện những sắc thái độđáo, không lặp lại của thế giới hình tượng nghệ thuật cũng như những thông điệp mà tác giảmuốn chuyển tải Không phải là duy nhất, nhưng hình tượng nghệ thuật vẫn có thể được xem

là yếu tố cơ bản trung tâm để bạn đọc có thể bắt đầu bằng kinh nghiệm và trải nghiệm ở kếtthúc Những trải nghiệm đã bao gồm cả thao tác phân tích, tổng hợp và kết nối chúng tronghình thức đúc rút kinh nghiệm [cái riêng], đưa nó trở thành những nhận thức phổ quát vàkhách quan hơn [cái chung] Sở dĩ phải huy động những thao tác của tư duy trong quá trìnhtiếp nhận văn bản bởi nhờ nó mà những chân lý chỉ tồn tại trong nghệ thuật, trong thế giớitinh thần phức diệu của con người mới được chiếu sáng và lý giải Nếu tính đa nghĩa là bảnchất của thế giới hình tượng nghệ thuật trong mỗi văn bản thì hoạt động của người đọc chính

là ở việc cụ thể hóa các lớp ý nghĩa được tác giả mã hóa trong quá trình sáng tác Từ cáchhiểu về quá trình tiếp nhận của người học có thể thấy trải nghiệm tinh thần là một hoạt độngkhông thể thiếu trong tiếp nhận và cảm thụ và ở hoạt động trải nghiệm này nó buộc người

Trang 19

học phải huy động hầu hết những phương diện cần thiết để hình thành kiến thức mới Để trảinghiệm, trước hết người học cần phải tưởng tượng ra những bức tranh hiện thực được mô tả

và mã hóa bằng ngôn ngữ hình tượng thông qua năng lực liên tưởng và tưởng tượng Vì vậytrải nghiệm tinh thần trong trường hợp này tập trung cơ bản vào những hoạt động như “ướmthử số phận”; “nếm trải nghệ thuật” trong quá trình dạy học Dạng trải nghiệm này ngoài việchuy động kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ thẩm mỹ cá nhân, quan niệm sống… nócòn đưa lại phẩm chất quí giá trong hành trình sống của con người đó chính là sự chia sẻ.Đây là phẩm chất khởi đầu để xây dựng đời sống tinh thần khoan dung, trí đức, có tác dụngchi phối và điều chỉnh các hành vi khiến con người trở nên thân thiện

Trải nghiệm tình cảm: Tên của hoạt động trải nghiệm cũng phản ánh nội dung của các

hoạt động Trong lĩnh vực giáo dục học sinh bằng môn văn học, việc hình thành những xúccảm và tình cảm thẩm mỹ là mục tiêu quan trọng được định dạng trong chương trình môn học.Các văn bản được sử dụng dạy học cho học sinh đều gắn liền với những lĩnh vực cụ thể củađời sống Văn bản nhật dụng, văn bản nghệ thuật, văn bản khoa học… đều có những giá trị nộidung và phương thức trình bày khác nhau Hầu hết các văn bản hoặc chủ quan hoặc kháchquan đều thể hiện thái độ của người viết trước những sự vật và hiện tượng Đặc biệt trong cácvăn bản nghệ thuật thế giới tình cảm càng trở nên phong phú đa dạng và nhiều chiều Sự pháttriển về tâm lý và đời sống tinh thần của con người được chuyển tải trong văn học một cáchchân thực và rõ nét Đặc điểm riêng của thời đai, những giá trị chân lý đạo đức được tôn vinhhay hạ thấp đều được các tác giả mã hóa vào trong hành vi, bản chất của từng cá nhân tham giavào hiện thực được đặt ra trong văn bản nghệ thuật.Thế giới tình cảm của con người bắt đầu từlòng biết ơn, sự rung động, những xúc cảm hay thậm chí là những ấn tượng được thu nhậnthông qua trực giác cá nhân Tình cảm nếu được nhìn một cách khách quan nó không chỉ là vấn

đề cá nhân mà đã bị chi phối và tự điều chỉnh bởi các chuẩn mực đạo đức và giá trị xã hội Hơnnữa, tình cảm là góc nhìn khách quan nhất để đánh giá các mối quan hệ giữa cá nhân với cánhân; cá nhân với cộng đồng Những xung đột tình cảm trong văn học đôi khi dẫn các nhân vậtrơi vào vực thẳm của sự tự ti, sợ hãi, đau đớn và đôi lúc nó là những phản kháng cuồng nộ dẫn

Trang 20

đến sự hủy diệt Không hề thiếu các cung bậc tình cảm ấy trong những sáng tác của vănchương nhân loại từ cổ chí kim từ đông sang tây Vì vậy, đặt vấn đề trải nghiệm tình cảm trongdạy học Ngữ văn có thể được ví là gieo hạt trên mảnh đất màu mỡ Tính đa dạng của thổnhưỡng sẽ là cội nguồn của sự phát triển cây trái tinh thần hay loài cây trái tinh thần đã làmcho thổ nhưỡng trở nên trù phú, mối quan hệ thẩm thấu bên trong này thật khó mà lý giải Điềuquan trọng nhất của việc trải nghiệm tình cảm chính là việc hình thành lối sống mang tính lựachọn chủ động và trên thực tế, một lần nữa nó lại quay về với tâm thế sẻ chia đồng cảm giữacon người với con người; giữa con người với môi trường sống.

Trải nghiệm xã hội: Tham gia vào các hoạt động xã hội được xem là nhu cầu thiết yếu

của con người Các hoạt động trải nghiệm xã hội “cho con người kỹ năng và thói quen cầnthiết để sống trong xã hội của mình, chia sẻ kinh nghiệm, hình thành các chuẩn mực, phongtục, truyền thống, giá trị, vai trò xã hội, biểu tượng và ngôn ngữ”(11) Sự quan trọng của môitrường xã hội đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh vì vậy những trảinghiệm xã hội trong dạy học Ngữ văn cũng được kỳ vọng không kém Trong thực tế, cáchình thức tham quan những danh thắng, lăng tẩm, sưu tầm văn học địa phương, câu lạc bộsáng tác văn học, trại sáng tác văn học, tìm hiểu ca Huế trên sông Hương, tìm hiểu các thểloại dân ca, kịch, tuồng, chèo… và các hình thức biểu diễn hay sân khấu hóa… đều đượcxem là cơ hội để người học có dịp hóa thân, tham gia trực tiếp vào các hoạt động có chủ điểmgắn liền với hoạt động giáo dục môn học trong nhiều loại trải nghiệm được đề xuất của cácchuyên gia tâm lý, trải nghiệm xã hội vẫn là hình thức trải nghiệm được tổ chức nhiều nhất ởnhà trường phổ thông Việt Nam Đối với môn Ngữ văn nó hầu như gắn liền với các hoạtđộng ngoài giờ lên lớp Trải nghiệm xã hội qua nội dung môn Ngữ văn là cơ hội phát triểntâm lý nhận thức của học sinh, cải thiện các kỹ năng sống, biến quan tâm chia sẻ thành phẩmchất, nhưng quan trọng hơn là các em có thể tự xác định một số tiêu chí phát triển phù hợpvới bản thân hài hòa trong mối quan hệ với điều kiện sống cụ thể của từng cá nhân học sinh

Trải nghiệm chủ quan: Đây là dạng trải nghiệm dựa trên sưc mạnh của trực giác cá nhân

khi tương tác với môi trường Kết quả của trải nghiệm này đưa lại cho chủ thể những cảm

Trang 21

xúc hay trạng thái tâm lý phù hợp với nội dung trải nghiệm Sự khởi dầu của trải nghiệm là

sự huy động các kinh nghiệm rời rạc, sau đó nhờ vào năng lực cá nhân thể hiện thông quamột chuỗi các hành động và thao tác để phân tích, tổng hợp và giải quyết tình huống Xuấtphát từ kinh nghiệm nên kết quả của trải nghiệm có khả năng không chính xác Tuy nhiênnhờ vào những phản hồi người học có thể tiếp tục điều chỉnh nhận thức hoặc kinh nghiệm đểđạt đến những kết quả có khả năng phản ánh đúng các giá trị hay thuộc tính chung của cộngđồng Đôi khi trong thực tiễn, có trải nghiệm chủ quan mang tính bị động và ngay trongnhững trường hợp như thế, người học vẫn có thể rút ra bài học hay những kinh nghiệm quígiá cho bản thân

Trải nghiệm mô phỏng: Nếu trải nghiệm chủ quan thể hiện năng lực người học ở khâu

xử lý tình huống thì kết quả của trải nghiệm mô phỏng cũng được thể hiện ở việc giải quyếtcác tình huống giả định trong cuộc sống Với đặc điểm như vậy, các hoạt động mang tínhchất mô phỏng và tái hiện đời sống trong nội dung văn học đều được xem là cơ hội cho họcsinh trải nghiệm Theo cách này hầu hết việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học cũngđáp ứng được yêu cầu học tập, trong đó hợp lý và hiệu quả nhất có thể là sử dụng máy tính

Sự cụ thể hóa các vấn đề trừu tượng thông qua xử lý của giáo viên khiến học sinh có cáchnhìn chính xác và rõ ràng hơn về đối tượng nhận thức Cần lưu ý, ngôn ngữ của giáo viêncũng được xem là phương tiện mô phỏng bên cạnh những hình ảnh, âm thanh, con số… Tồntại song song với việc sử dụng phương tiện nói chung, sắm vai hay những trò chơi trí tuệ cóliên quan đến môn học cũng là cách trải nghiệm mô phỏng hiệu quả Thông qua trải nghiệm

mô phỏng khiến học sinh có cảm giác thật hơn khi sắm vai các nhân vật để vượt rào cản tìnhhuống Đây cũng là sự tập dượt để người học có khả năng xử lý tốt một tình huống tương tựtrong cuộc sống

Trên đây là những phác thảo bước đầu về các dạng trải nghiệm phù hợp với môn Ngữ vănđược đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu của tâm lý học Để HĐTNST thật sự hiệuquả, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê hứng thú trong quá trình tìm kiếm tri thức bằng chínhhoạt động nếm trải của bản thân thì mọi khâu của quá trình tổ chức dạy học đều phải được

Trang 22

đồng bộ Nói cách khác, kết quả của HĐTNST không chi dừng lại ở sự phân tích và chỉ racác dạng trải nghiệm phù hợp Trên thực tế, nó còn yêu cầu kết hợp với các chủ điểm hợp lý,

hệ thống phương pháp phù hợp, hình thức tổ chức dạy học đa dạng, phương pháp kiểm trađánh giá tương thích và sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống phương tiện mới có thể xác lập kếtquả như mong muốn

4.Ý nghĩa của việc dạy học qua trải nghiệm trong giảng dạy phần văn bản hiện đại môn Ngữ văn 9

* Với giáo viên:

- Nó không chỉ góp phần làm sâu sắc kiến thức của bài học mà còn tạo ra động lực lớn cho tưduy và sự hứng thú học tập của học sinh với bộ môn Dạy học qua trải nghiệm sẽ tránh đượcviệc tiếp xúc văn bản một cách khô khăn, khiên cưỡng Thậm chí suy diễn khi dạy các vănbản

- Dạy học qua trải nghiệm giúp giáo viên luôn tự làm mới chính mình, làm chủ nội dung,phương pháp, cách tổ chức dạy học Bởi vì chỉ có vậy người giáo viên mới có thể “truyềnlửa” đến học sinh, mới có thể giúp các em chủ động tích cực, sáng tạo trong tiếp cận, lĩnh hộichi thức

- Dạy học qua trải nghiệm trong dạy văn còn giúp giáo viên luôn chủ động, sáng tạo trướcmọi yêu cầu Từ đó người dạy văn có nhiều thông tin, có cái nhìn đa chiều khi tiếp cận mộttác phẩm Vì vậy mới có thể khơi lên “ngọn lửa” nhiệt huyết ở học trò

- Dạy học qua trải nghiệm trong học văn cũng là nhu cầu tự thân, là yêu cầu bắt buộc củacuộc sống hôm nay Xu thế thời đại là hội nhập toàn cầu, khoa học là sự giao thoa, kế thừa,văn hóa là sự đan xen đa dạng,… và giáo dục đương nhiên không thể nằm “ngoài vùng phủsóng” Bởi hơn hết: văn học là cảm nhận Đã là cảm nhận học sinh phải có sự trải nghiệm

* Với học sinh:

Các hoạt động này tạo cơ hội cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác vàsáng tạo của bản thân, huy động sự tham gia của học sinh vào tất cả các khâu của quá trìnhhoạt động Học sinh được trình bày và lựa chọn ý tưởng, tham gia chuẩn bị, thiết kế hoạtđộng, trải nghiệm, bày tỏ quan điểm, tự đánh giá, tự khẳng định

Trang 23

5 Tổ chức dạy học qua trải nghiệm phần văn bản hiện đại 9

5.1 Thống kê các TP văn học hiện đại lớp 9.

THƠ HIỆN ĐẠI

1 Đồng chí (Trích Đầu súng trăng treo)

- Tác giả: Chính Hữu (Trần Đình Đắc) sinh năm 1926, quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh

2 Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Trích Vầng trăng quầng lửa)

- Tác giả: Phạm Tiến Duật sinh năm 1942, quê ở Phú Thọ

3 Đoàn thuyền đánh cá (Trích Trời mỗi ngày lại sáng)

- Tác giả: Huy Cận (1919 – 2005), tên đầy đủ Cù Huy Cận, quê ở Đức Thọ, Hà Tĩnh

- Sáng tác: 1958

- Thể loại: Thơ bảy chữ

- Chủ đề: Thiên nhiên và con người

Trang 24

4 Bếp lửa (Trích Hương cây - Bếp lửa)

- Tác giả: Bằng Việt (Nguyễn Việt Bằng), quê ở Thạch Thất, Hà Tây.- Trưởng thành trong

- Thể loại: Thơ năm chữ

TRUYỆN HIỆN ĐẠI

1 Làng (Kim Lân tên là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1920)

- Năm sáng tác: 1948, kháng chiến chống Pháp

- Chủ đề: Ca ngợi lòng yêu nước

2 Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long (1925-1991), quê ở Duy Xuyên - Quảng Nam)

- Năm sáng tác: 1970 - KC chống Mĩ

- Chủ đề: Ca ngợi hình ảnh người lao động mới

3 Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932 quê ở huyện Chợ Mới, tính An Giang)

- Sáng tác: 1966 - KC chống Mĩ

- Chủ đề: Ca ngợi tình cảm gia đình, tình cha con

5.1 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường

5.1.2 Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong giờ học

* HĐ khởi động

Ngày đăng: 22/02/2020, 14:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w