1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở việt nam

74 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 6,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu đề tài: “Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam” là rất cần thiết nhằm tìm ra những nguyên nhân, điều kiện của loại tội phạm này, đưa ra những

Trang 1

NGUYỄN QUYẾT THẮNG

ĐẤU TRANH PHÒNG, CHÔNG TỘI PHẠM

LUẬN VÃN THẠC SỸ LUẬT HỌC * * • '

HÀ NỘI - 2006

Trang 2

NGUYỄN QUYẾT THẮNG

Chuyên ngành: Tội phạm học và điều tra tội phạm

Mã số: 60.38.70

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Trang 3

CHƯƠNG 1 Tinh hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam 61.1 Thực trạng của tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em £] 2 Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em Ị 41.3 Đ ộng thái của tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em 3Q1.4 Những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội buôn bán phụ 34

3.1 Dự báo tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở 48Việt Narĩ] đến năm 2010

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm 50buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam

Trang 4

TANDTC Toà án nhân dân tối cao

TAND Toà án nhân dân

VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

BLHS Bộ luật hình sự

BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu để tài

Sau 20 năm thực hiện c ô n s cuộc đổi mới đất nước chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn Cùng với sự tăng trưởng không ngừng về kinh tế, ổn định về chính trị, nền an ninh quốc phòng được giữ vững, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao do sự tác động tích cực của công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và chính sách mở cửa hội nhập quốc tế, thì mặt tiêu cực của nó làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội tro n s đó có tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ

em Ở Việt Nam tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em chỉ mới xuất hiện khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, song tính đa dạng và phức tạp cũng như hậu quả nghiêm trọng mà loại tội phạm này gây ra cho nạn nhân, gia đình và xã hội đã thu hút sự quan tâm đặc biệt và lo ngại sâu sắc của Nhà nước và xã hội Đây không còn là vãn nạn riêng biệt của từng quốc gia mà nó có tính toàn cầu và đang có chiều hướng gia tăng đáng lo ngại trên phạm vi toàn th ế giới

Theo báo cáo của Bộ N goại giao Hoa Kỳ mỗi năm trên thế giới có khoảng 60.000-80.000 người bị buôn bán, trong đó có 80% phụ nữ và trẻ em gái; 50% là trẻ em Ở Việt Nam theo báo cáo cua Bộ Công an từ năm 1998 -

2005 đã có 4.527 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán, trong đó có 3.862 phụ nữ, trẻ

em bị bán ra nước ngoài

Buôn bán phụ nữ, trẻ em là m ột loại tội phạm nguy hiểm, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khoẻ, tính mạng của phụ nữ và trẻ em, ảnh hưỏns đến hạnh phúc gia đình, gây mất trật tự an toàn xã hội Buôn bán phụ

nữ, trẻ em không những vi phạm thô bạo quyền con người mà còn làm tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh xã hội, HIV/AIDS trong cộng đồng, làm mất nguồn nhân lực lao độnơ, sây thiệt hại về kinh tế cho gia đinh, xã hội

Trang 6

Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều biện pháp đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này Tuy nhiên, tình hình buôn bán phụ

nữ, trẻ em trong những năm qua đã và đang diễn ra rất phức tạp, nghiêm trọng

và có xu hướng gia tăng Để làm giảm và ngăn chặn tình hình hoạt động của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em, ngày 14-7-2004 Thủ tướng Chính phủ ra

Q uyết định số 130/2004/QĐ-TTg phê duyệt chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện nay Việc nghiên cứu đề tài: “Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam” là rất cần thiết nhằm tìm ra những nguyên nhân, điều kiện của loại tội phạm này, đưa ra những giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em và tiến tới đẩy lùi loại tội phạm này trong thòi gian ngắn nhất Đó cũng là lý do mà tác giả chọn

đề tài này để làm luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có một số công trình bước đầu nghiên cứu về tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em như luận văn thạc sĩ luật học “Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam- thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” của tác giả Trần Văn Thạch; bài viết

“Đấu tranh phòng chống tội m ua bán phụ nữ, trẻ em ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của Tiến sĩ Trương Quang Vinh (Tạp chí Luật học, số 3/2004) Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, buôn bán phụ nữ, trẻ em là một vấn đề bức xúc ở nhiều quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc triệt phá các đường dây, tổ chức

và ổ nhóm buôn bán phụ nữ, trẻ em nhưng tình hình hiện nay vẫn hết sức bức xúc Vì vậy, cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thốns

Trang 7

về tình hình tội phạm, nsuyên nhân điều kiện phát sinh, phát triển của loại tội phạm này.

3 Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

M ục đích nghiên cứu đ ề tài', làm rõ bức tranh toàn cảnh về tình hình tội

phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam, để từ đó đưa ra những luận cứ khoa học của các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học

về đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam trong 5 năm (2000-2005)

N hiệm vụ cơ bản của việc nghiên cứu đ ề tài:

- N ghiên cứu thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

- Làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

- Dự báo tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trong thời gian tới

- Đưa ra những giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trỏ em

4 Phương pháp nghiên cứu

T rên cơ sỏ' phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa

M ác- L ênin, các phương pháp cụ thể được sử dụng nghiên cứu đề tài bao gồm : thống kê tội phạm , phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra, khảo sát, tổng kết kinh nghiệm

5 Những điểm mới của luận văn

Luận văn là côns trình nghiên cún toàn diện về thực trạng, đặc điểm, cơ cấu, diễn biến tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam để đề ra nhũng

Trang 8

giải pháp cụ thể cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ

em ở Việt Nam Những đóng góp mới về khoa học của đề tài là:

- Khái quát hoá tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em và công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này ở nước ta trone những năm qua

- Xác định những đặc điểm mang tính đặc thù của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em , làm cơ sở cho các biện pháp phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

- Làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển và tồn tại của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam

- Đ ánh giá thực trạng công tác phòng ngừa, điều tra truy tố, xét xử tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em, rút ra nguyên nhân của những tổn tại thiếu sót trong biện pháp phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam trong những năm vừa qua

- Dự báo tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam, trên

cơ sở đó đề xuất các giải pháp chung và những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ cm ở Việt Nam trong những năm tới

6 Ý nghĩa lỷ luận và thực tiễn của luận văn

- Về lý luận: đây là công trình khoa học nghiên cứu toàn diện về tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam trong những năm gần đây Dựa trên

sự phân tích lý luận và tổng kết thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em, hoạt động áp dụng luật hình sự, tố tụng hình sự; luận văn đã luận giải nhũng căn cứ khoa học, đưa ra kết luận và những kiến nghị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

- Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu đề tài có thể được tham khảo để xây dựng đường lối, chính sách, quản lý xã hội, nhằm ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi

Trang 9

tội phạm buôn bán phụ nư, trẻ em Luận văn có thể được dùng làm lài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập.

7 Cơ cấu của Luận văn

N goài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Tinh hình của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt NamChương 2 Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam trong những năm qua

Chương 3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH CỦA TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM

ở VIỆT NAM

1.1 Thực trạng của tỉnh hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

Từ khá lâu vấn nạn buôn người đã trở thành bức xúc ở nhiều quốc gia trên thế giới Với khu vực tiểu vùng sông M êkông, diễn biến tình hình càng phức tạp hơn Tại Việt Nam tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em trong những năm qua đã và đang diễn ra hết sức phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng Theo số liệu của Bộ Công an từ năm 1998 đến năm 2005 cả nước đã phát hiện 4.527 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán, trong đó có 3.862 phụ nữ, trẻ em bị bán ra nước ngoài; 6.418 phụ nữ, trẻ em vắng mặt lâu ngày tại địa phương nghi là đã bị bán ra nước ngoài Riêng năm 2005 phát hiện 209 vụ với 344 đối tượng, có 449 phụ nữ, trẻ em bị bán ra nước ngoài, trong đó có 188 vụ với 315 đối tượng phạm tội buôn bán phụ nữ và 20 vụ với 29 đối tượng phạm tội buôn bán trẻ em [ 9 ] Trong tổng số phụ nữ, trẻ em Việt Nam bị buôn bán thì phần lớn để làm mại dâm, làm vợ bất hợp pháp hoặc buộc phải lao động trong điều kiện tồi tệ Họ bị bóc lột tình dục, bóc lột lao động hoặc bị sử dụng vào mục đích thương mại, vô nhân đạo Theo Báo cáo của Bộ tư lệnh Biên phòng thì từ năm 2000 đến năm 2004, phát hiện bắt giữ 196 vụ/403 đối tượng, triệt phá 53 đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới, giải thoát cho 641 phụ nữ bị lừa bán, phối hợp với các cơ quan chức năng tiếp nhận 3.667 phụ nữ, trẻ em Việt Nam bị buôn bán từ nước ngoài trở về [ 9 ]

Lực lượng Công an đã xác định 23 tuyến, 105 địa bàn trọng điểm thườns diễn ra hoạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài N hữns lĩnh vực, nsành nghề dễ bị tội phạm lợi dụng như thăm ncười thân, du lịch, họp tác lao động, kết hôn, cho nhận con nuôi [ 9 ]

Trang 11

Tại tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, từ năm 2000 đến đầu năm

2005 Trung Quốc đưa về 2.917 trường hợp, qua phân loại có 947 đối tượng bị lừa bán, 1.970 đối tượng sang Trung Quốc trái phép với các lý do khác nhau, tuyến này chiếm tới 70% tổng số vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài Tại tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, từ năm 2000 đến đầu năm 2005 xảy ra 217 vụ với 1.395 phụ nữ, trẻ em bị lừa bán hoặc xuất cảnh trái phép sang C am puchia hoạt động mại dâm [ 9 ]

Địa phương có phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài nhiều là Hà Tây, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Q uảng Ninh, Nghệ An, buôn bán trong nội địa là Thái Bình, Hải Phòng Theo Báo cáo của Bộ Ngoại giao chỉ riêng từ đầu năm 2005 đến tháng 8 năm 2005, các cơ quan đại diện ngoại 2Ìao của nước ta

ở nước ngoài đã xử lý tổng số 33 vụ, với 34 nạn nhân (trong đó có 33 phụ nữ,

1 trẻ em ) tại các nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Hổng Kông, M a Cao, Thái Lan, Campuchia Hầu hết những trường hợp này là nạn nhân của việc lừa đảo buôn bán ra nước ngoài làm gái mại dâm hoặc kết hôn, lao động, nhận con nuôi, kết hôn giả sau đó bị ép buộc làm nghề mại dâm [ 1 1 ]

Tội phạm ở trong nước liên kết với các tổ chức tội phạm quốc tế buôn bán phụ nữ và trẻ em từ các vùng nông thôn, miền núi ra thành thị, trung tâm kinh tế thương mại lớn hoặc qua biên giới để đưa vào các nhà hàng, ổ chứa mại dâm Phụ nữ và trẻ em ở các tỉnh phía Bắc bị bán sang Trung Quốc chủ yếu để làm vợ “hờ” và gái mại dâm N hiều nạn nhân phải lấy những người đàn ông lớn tuổi, bị quản ]ý khắt khe về thời gian và kinh tế, có những trường hợp phải phục vụ tình dục cho nhiều người đàn ông trong cùng một gia đình Phụ nũ' và trẻ em ở các tỉnh phía Nam bị bán sans Campuchia để hành nghề mại dâm tại các nhà hàng, khách sạn, các tụ điểm mại dâm; m ột số phụ nữ và trẻ

em bị lừa bán thông qua môi giới hôn nhân, nhận làm con nuôi Do các trường hợp bị bán đều trong tình trạng nhập cư trái phép nên ở nước ngoài họ phải sống lén lút, mất hết quyền lợi, danh dự, nhân phẩm bị chà đạp Nếu có người

Trang 12

phụ nữ may mắn thoái khỏi, trở về nước, nhưng khi về hai bàn tay trắng, sức khẻo bị suy giảm , mắc các bệnh xã hội, tâm lý xấu hố, mặc cảm Trong nhũng năm trước, nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em thường nhỏ lẻ, chủ yếu là buôn bán trong nước từ nông thôn ra thành thị, thì nay loại tội phạm này hoạt động có tính tổ chức, xuyên quốc gia và mang tính quốc tế, thị trường của loại tội phạm này đã vươn ra khu vực châu Á, châu Âu, Hoa Kỳ

Đối tượng dễ bị buôn bán chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi 18-35 Họ sống ở nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa, không có việc làm, điều kiện kinh tế rất khó khăn, m ột số do hôn nhân đổ vỡ, hơn nữa họ là những người có trình độ học vấn thấp, nhận thức xã hội hạn chế, thiếu hiểu biết pháp luật, nhẹ

dạ, cả tin Trẻ em trong độ tuổi vị thành niên, trẻ em lang thang thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đình, nhà trường cũng như xã hội, có những trẻ em bị bỏ rơi, bị bắt cóc hoặc bị đối tượng phạm tội dụ dỗ đem bán mà không biết cách

Trong nhiều năm qua, mặc dù lực lượng Công an đã có nhiều cố gắng

trẻ em ra nước ngoài, tình hình hiện nay vẫn chưa hết bức xúc Đáng chú ý, ngoài diễn biến tội phạm buôn người ở các tỉnh phía Bắc, hiện loại tội phạm này cũng có xu hướng gia tăng ở các linh miền Trung Điển hình như tháng

Trang 13

12-2005, Bộ đội Biên phòng phối hợp với Công an tỉnh Hà Tĩnh và Côns an nước bạn Lào bắt Phạm Thị Châu, một đầu mối đường dây buôn người qua biên giới miền Trung, bằng thủ đoạn xin việc làm, Châu đã lừa hàng chục phụ

nữ bán sang biên giới Việt - Lào [ 37 ] Mới đây, Đồn Biên phòng 563 (Hà Tĩnh) phối hợp với cơ quan chức năns của Lào bắt giữ hai đối tượng chuyên lừa bán phụ nũ' là N guyễn Hồng Quân và Nguyễn Thị Luân Đáng chú ý nhiều

vụ thủ phạm tham gia đường dây tổ chức đưa nsười sang Thái Lan bán làm gái mại dâm dưới danh nghĩa tìm việc làm [ 39 ]

Qua điều tra khảo sát trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, các ngành chức năng đã lên danh sách 231 đối tượng hoạt động lưu động, xác định 5 tuyến và hơn 30 địa bàn trọng điểm, trong đó Đồng Nai, thành phố Hồ Chí M inh 5, Đ ồng tháp 4; An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Kiên Giang mỗi địa phương 3 địa bàn trọng điểm; có 87.208 phụ nữ lấy chồng người nước ngoài, gần 2000 người bỏ nlià đi khỏi địa phương nghi bị buôn bán [ 6 ]

Đáng lưu ý, lực lượng Công an đã phát hiện những đường dây buôn bán phụ nữ trẻ em do hai vợ chồng người Đài Loan cầm đầu, câu kết với một số đối tượng ở thành phố Hổ Chí Minh, các tỉnh phía Nam, bằng thủ đoạn rủ đi tìm việc làm, lấy chồng người nước ngoài giầu có, đã lừa đảo 121 phụ nữ Việt Nam sang các nước Singapore, M alaysia, đẩy họ vào phục vụ trong các động mại dâm Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đã phối hợp với Côn 2 an tỉnh Tiền Giang khám phá, bắt giữ 10 đối tượng, kịp thời giải cứu được 38 phụ nữ, trẻ em sắp bị các đối tượng đưa ra nước ngoài

Ngoài ra, lực lượng Công an cũng kịp thời phát hiện đường dây buôn bán trẻ em xuyên quốc gia do các đối tượng người Trung Quốc câư kết với các đối tượng người Việt N am vận chuyển trái phép trẻ em Trunơ Quốc qua Việt Nam để đưa đi nước thứ ba Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội-

Bộ C ôns an đã phối hợp với Công an một số địa phươns đã điều tra khám phá một số vụ án, giải cún hàng chục cháu khác Như ngày 9-5-2006 Cục cảnh sát

Trang 14

điều tra tội phạm về trật tự xã hội- Bộ Côns an kết hợp với Cônơ an tỉnh Tây Ninh bắt hai đối tượng Đỗ Lê Phương quê Hải Dương cùng Nguyễn Văn Tiến

ở thành phố Hồ Chí M inh, giải cứu bốn cháu bé người Trung Quốc; chúng thú nhận từ tháng 2 đến khi bị bắt, đã vận chuyển 12 chuyến với 41 cháu bé Trung Quốc sang V iệt Nam để đi Camphuchia [ 6 ]

Theo thống kê của Tổng cục cảnh sát- Bộ Công an thì trong những năm qua bình quân mỗi năm, lực lượng Công an các cấp đã điều tra, khởi tố trên

200 vụ buôn bán phụ nữ, giải thoát cho hàng nghìn phụ nữ, trẻ em khỏi cảnh

bị bóc lột như nô lệ M ột số vụ án điển hình như vào ngày 14-01-2001, bắt kẻ cầm đầu Hồ Thị Kim Đẹp ở quận Tân Bình, thành phố Hổ Chí Minh cùng 11 đối tượng trong đường dây đưa gái sang Ma Cao Tuy số lượng vụ án bị triệt phá nhiều như vậy, nhưng theo đánh giá của Tổng cục Cảnh sát, số vụ việc điều tra, xử lý còn rất khiêm tốn so với thực tế M ặt khác, trước đây, bọn tội phạm hoạt động nhỏ lẻ nhưng nay đã có tổ chức, xuyên quốc gia mang tính quốc tế nên cuộc chiến vẫn còn rất cam go H iện tượng lấy chồng Đài Loan cũng bị liệt vào danh sách này, trong số hơn 80.000 cô gái V iệt nam lấy chồng Đài Loan không ít người bị lừa gạt, cưỡng ép [ 22 ]

Từ năm 2000 đến năm 2005, số vụ án m à Cơ quan điều tra đã khởi tố như sau: năm 2000 là 213 vụ, trong đó có 152 vụ m ua bán phụ nữ và 61 vụ mua bán trẻ em; năm 2001 là 124 vụ, trong đó có 92 vụ m ua bán phụ nữ và 32

vụ m ua bán trẻ em; năm 2002 là 137 vụ, trong đó có 99 vụ m ua bán phụ nữ và

38 vụ mua bán trẻ em; năm 2003 là 99 vụ, trong đó có 82 vụ m ua bán phụ nữ

và 17 vụ mua bán trẻ em; năm 2004 là 119 vụ, trong đó có 83 vụ m ua bán phụ

nữ và 36 vụ m ua bán trẻ em; năm 2005 là 116 vụ, tro n s đó có 76 vụ mưa bán phụ nữ và 40 vụ mua bán trẻ em Như vậy, chúng ta có thể thấy số vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em có khi lănơ, khi giảm, nhưng trong khi số vụ buôn bán phụ

nữ có chiều hướng siảm thì số vụ buôn bán Irẻ em lại tăng nên Điều này là rất đáng lo ngại, chúng tỏ số trẻ em rơi vào tay bọn buôn người nẹày một tăng

Trang 15

Bảns 1.1: Số vụ án về tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em mà Cơ quan điều tra

đã khởi tố vụ án từ năm 2000 đến năm 2005

Năm Số vụ m ua bán

phụ nữ

Số vụ m ua bán trẻ em

Tổng số vụ mua bán phu nữ, trẻ em

do bị kẻ phạm tội đe dọa hoặc tâm lý mặc cảm, hãi hùng

Nhìn chung, công tác khám phá điều tra tội phạm buôn bán pliụ nữ, trẻ

em đạt hiệu quả chưa cao, nhiều vụ việc không phát hiện được hoặc chưa điều tra triệt để, còn bỏ lọt tội phạm; nhiều đối tượng chưa bị phát hiện, xử lý tiếp tục phạm tội, một số vụ buôn bán có tổ chức, xuyên quốc gia thì việc điều tra gặp nhiều khó khăn hoặc không điều tra được do không có sự phối hợp hoặc tạo điều kiện từ phía các cơ quan chức năng nước ngoài Công tác khảo sát điều tra cơ bản chưa thường xuyên nên chưa nắm chắc được tình hình, diễn biến tội phạm Vì vậy, chưa xác định được tuyến, địa bàn, đối tượng cần phải tập trung đấu tranh, nhiều đường dây tội phạm ngầm , liên quan đến nhiều địa phương, xuyên quốc gia đang hoạt động mà chúng ta chưa triệt phá được Hơn nữa, trình độ năng lực của cán bộ, chiến sỹ công an trong việc thực hiện các biện pháp phòns ngừa nghiệp vụ, điều Ira khám phá tội phạm buôn bán phụ

Trang 16

nữ, trẻ em còn nhiều yếu kém Hầu hết các địa phương đều chưa có lực lượng chuyên trách làm nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ

em, kinh phí phục vụ công tác phòng chống tội phạm còn hạn hẹp

Theo số liệu thống kê của TANDTC, thì số vụ phạm tội m ua bán phụ

nữ, trẻ em đã bị Tòa án xét xử như sau: năm 2000 là 186 vụ, trong đó có 137

vụ m ua bán phụ nữ và 49 vụ mua bán trẻ em; năm 2001 là 103 vụ, trong đó có

77 vụ m ua bán phụ nữ và 26 vụ m ua bán trẻ em; năm 2002 là 125 vụ, trong đó

có 89 vụ m ua bán phụ nữ và 36 vụ m ua bán trẻ em; năm 2003 là 83 vụ, trong

đó có 74 vụ m ua bán phụ nữ và 9 vụ mua bán trẻ em; năm 2004 là 110 vụ, trong đó có 79 vụ m ua bán phụ nữ và 31 vụ mua bán trẻ em; năm 2005 là 113

vụ, trong đó có 74 vụ m ua bán phụ nữ và 39 vụ m ua bán trẻ em N hìn chung, trong tổng số vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em thì số vụ buôn bán phụ nữ thường nhiều hơn số vụ buôn bán trẻ em Tuy nhiên, trong thời gian gần đây số vụ buôn bán trẻ em bị Tòa án đưa ra xét xử có xu hướng tăng lên so với tổng số

Trang 17

C ũng theo số liệu thống kê của TANDTC, Ihì số bị cáo phạm tội m ua bán phụ

nữ, tre em đã bị Tòa án xét xử như sau: năm 2000 là 310 bị cáo, trong đó có

226 bị cáo phạm lội mua bán phụ nữ và 84 bị cáo phạm tội m ua bán trẻ em; năm 2001 là 170 bị cáo, trong đó có 129 bị cáo phạm tội mua bán phụ nữ và

41 bị cáo phạm tội m ua bán trẻ em; năm 2002 là 191 bị cáo, trong đó có 136

bị cáo phạm tội mua bán phụ nữ và 55 bị cáo phạm tội m ua bán trẻ em; năm

2003 là 142 bị cáo, trong đó có 122 bị cáo phạm tội m ua bán phụ nữ và 20 bị cáo phạm tội mua bán trẻ em; năm 2004 là 169 bị cáo, trong đó có 122 bị cáo phạm tội m ua bán phụ nữ và 47 bị cáo phạm tội m ua bán trẻ em; năm 2005 là

172 bị cáo, trong đó có 133 bị cáo phạm tội m ua bán phụ nữ và 39 bị cáo phạm tội m ua bán trẻ em N hìn vào số liệu thống kê, chúng ta có thể thấy số

bị cẫo bị xét xử về hành vi buôn bán phụ nữ, trẻ em ngày m ột tăng Điều này

là m ột m inh chứng rõ nét cho tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này

Bang 1.3: Số bị cáo phạm tội m ua bán phụ nữ, trẻ em đã bị Tòa án xét xử

Trang 18

1.2 Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

7.2.7 C ơ cấu của tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

Cơ cấu lỷ lệ so sánh giữa tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em với các loại tội phạm chung ở V iệt Nam Qua phân tích, so sánh số vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em trên cơ sở số liệu thống kê các vụ án đã xét xử của TANDTC , trong 6 năm từ năm 2000 đến năm 2005 thì tỷ lộ các vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em đã xét xử so với các vụ phạm tội nói chung thì tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

chiếm tỷ lệ không cao, năm 2000 là chiếm tỷ lộ cao nhất là 0,4 % sau đó giảm

xuống còn 0,1 hoặc 0,2 % vào các năm sau đó Nhưng tỷ lệ này thực tế là không giảm , sở dĩ nói như vậy là do tổng số vụ đã bị xét xử của tất cả các loại tội phạm tăng dần theo từng năm Nếu như năm 2000 TAND các cấp trong cả nước đã xét xử 41.409 vụ thì đến năm 2005 con số này đã lên đến 61.147 vụ

Do đó, tuy chiếm m ột tỷ lệ thấp nhung tính chất của tội phạm buôn bán phụ

nữ, trẻ em là đặc biệt nguy hiểm , gây nên những tác hại to lớn cho nạn nhân, gia đình và toàn xã hội

Bảng 1.4: Số vụ án về tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em đã bị Tòa án xét xử

so với số vụ án về các tội phạm chung từ năm 2000 đến năm 2005

Trang 19

Biểu đồ 1.1: Số vụ án về tội ỊÌiạm nữ mua bán phụ tó em so với số vụ án

vc các tội phạm nói chung trong sáu năm (2000-2005)

0 2 %

99.8%

□ s ố v ụ p h ạ m tộ i c h u n g □ s ố v ụ p h ạ m tộ i M B P N , T EBảng 1.5: số vụ án, số bị cáo phạm tội mua bán phụ nữ, trẻ em so với các tội phạm chung và các tội phạm xâm phạm tính m ạng, sức khỏe, nhân phẩm,

danh dự con người

N ăm

Tội phạm chung Tôi pham xâm pham

TM, SK, NP, DD con người

Tội phạm m ua bán phụ nữ, trỏ em

Số vụ Số bị cáo Số vụ Số bị cáo Số vụ Số bị cáo

Trang 20

Biểu đổ 1.2: số vụ án về các tội phạm chung, số vụ án về các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người và số vụ án về tội

phạm mua bán phụ nữ, trẻ em

ESTội phạm XPTM , SK,

NP, DD

■ Tội phạm mua bán PN, TE

Trang 21

Về cơ cấu tỷ lệ so sánh siữa tội phạm buôn bán phụ nữ với tội phạm buôn bán

trẻ em, qua nghiên cứu, phân tích, so sánh thì thấy rằng số vụ buôn bán phụ nữ

diễn ra phức tạp hơn và chiếm tỷ lộ cao hơn hẳn so với số buôn bán trẻ em

Theo số liệu thống kê của TANDTC thì trong 6 năm (2000-2005) số vụ buôn

bán phụ nữ luôn chiếm tỷ lệ cao (73,6% ) so với số vụ buôn bán trẻ em

(26,4% ) trong tổng số vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em nói chung

Bảng 1.6 : Tỷ lệ số vụ án về tội phạm m ua bán phụ nữ so với số vụ án về tội

phạm mua bán trẻ em đã bị Tòa án xét xử từ năm 2000 đến năm 2005

(Nguồn: Phòng tổng hợp thuộc Văn phòng Toà án nhân dân tối cao)

Cơ cấu về đối tượng phạm tội:

- Qua phân tích thống kê loại tội phạm này cho thấy thành phần phạm tội phạm rất đa dạng và phức tạp Bao gồm: đối tượng không nghề nghiệp

82%, nông dân, buôn bán, làm thuê 12%, các đối tượng khác 6%; cư dân khu

vực biên giới 84%, cư dân ở các vùng nội địa 10% và người mang quốc tịch

nước ngoài 6% Đa số các đối tượng phạm tội đều có mối quan hệ với bên kia

biên giới, nhiều trường hợp đã hình thành đường dây xuyên quốc gia [ 31 ]

THƯ V I Ệ N

TRƯỚNG ĐAIHOCLŨÂT HANỎI

Trang 22

- Về giới tính đối tượng phạm tội chủ yếu là phụ nữ chiếm 70-75% trong tổng số lội phạm, phần lớn ở độ tuổi 20-45 v ể thành phần đối tượng

tham g ia buồn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài: qua khảo sát 410 người tại

một số đ ịa bàn cho thấy có 0,7% (27) là chủ chứa mại dâm; 69 % (283) đối

tượng thực hiện buôn bán mại dâm; 21% (86) đối tượng là người môi giới, dẫn

dắt, còn lại là các đối tượng khác 10% [ 32 ]

Biểu đồ 1.4: Thành phần đối tượng tham gia buôn bán phụ nữ và trẻ em

21 %

□ C h ủ c h ứ a m ạ i d â m □ đ ố i tư ợ n g th ự c h iện

□ d ố i tư ợ n g là m ô i g iớ i □ d ố i lư ợ n g k h á c

- Cơ cấu về hình phạt và tái phạm, tái phạm nguy hiểm:

Theo số liệu thống kê do TANDTC thì từ năm 2000 đến năm 2005,

TAND các cấp đã xét xử đối với 868 bị cáo phạm tội m ua bán phụ nữ theo

Điều 119 BLHS với các hình phạt khác nhau, trong đó mức hình phạt thường

áp dụng đối với các bị cáo là mức hình phạt tù từ 7 năm trở xuống (511 bị cáo

chiếm 58,9 %), mức hình phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm chiếm tỷ lệ thấp

(44 bị cáo chiếm 5,1 %) N hư vậy, đối với tội phạm buôn bán phụ nữ, hình

phạt áp dụng đối với các bị cáo còn nhẹ, do vậy chưa có tác dụng mạnh trong

việc răn đe, giáo dục người phạm tội cũng như răn đe phòng ngừa chung Đây

cũng là một trong những nguyên nhân làm cho cuộc đấu tranh phòng chống

loại tội phạm này đạt hiệu quả chưa cao

Bảnơ 1.7: Số liệu các bị cáo phạm tội mua bán phụ nũ' và mức hình phạt đã bị

Toà án xét xử từ năm 2000 đến năm 2005

Trang 23

N ăm Số bị cáo Án treo

Tù từ 7 năm trở xuống

Tù từ 7 đến 10 năm

Tù trên 10 năm đến 15 năm

Tù trên

15 năm đến 20 năm

(N guồn: Phòng tổng hợp thuộc Văn phòng Toà án nhân dân tối cao)

Đối với tội phạm mua bán trẻ em từ năm 2000 đến năm 2005, TAND các cấp đã xét xử 317 bị cáo phạm tội mua bán trẻ em theo Điều 1120 BLHS với các hình phạt khác nhau, trong đó mức hình phạt thường áp dụng đối với

các bị cáo là mức hình phạt tù từ 7 năm trở xuống (163 bị cáo chiếm 51,4 %),

mức hình phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm chiếm tỷ lệ thấp (25 bị cáo chiếm 7,9 %) Tỷ lệ trên phản ánh mức hình phạt đối với người phạm tội còn nhẹ, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp Đ ây là loại tội phạm nguy hiểm, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nạn nhãn, gia đình và xã hội, do vậy trong thời gian tới để ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội thì chúng ta phải áp dụns hình phạt nghiêm khắc đối với các đối tượng phạm tội Có như vậy mới phát huy được tính lăn đe, giáo dục đối với người phạm tội cũng như tính phòng ngừa chung của hình phạt

Trang 24

B ả n sl 8: Số liệu các bị cáo phạm tội mua bán trẻ em và mức hình phạt đã bị

Toà án xét xử từ năm 2000 đến năm 2005

Năm

Số bị cáo

Ántreo

Tù từ 7 năm trở xuống

Tù từ 7 đến 10 năm

Tù trên 10 năm đến 15 năm

Tù trên 15 năm đến

(Nguồn: Phòng tổng hợp thuộc Văn phòng Toà án nhân dân tối cao)

Cũng theo thống kê trên, từ năm 2000 năm 2005 trong tổng số 1186 bị

cáo phạm tội mua bán phụ nữ, trẻ em theo các Điều 119 và 120 BLHS thì có

30 bị cáo tái phạm và tái phạm nguy hiểm (chiếm 2,5% ) Đây là loại tội phạm

nguy hiểm gây nhiều bức xúc trong dư luận nhưng tỷ lệ tái phạm, tái phạm

nguy hiểm như vậy phản ánh việc áp dụng hình phạt đối với loại tội phạm này

chưa nghiêm kết hợp với lợi nhuận thu được từ việc buôn bán người nên tỷ lệ

tái phạm còn cao

Cơ cấu về nạn nhân bị buôn bán:

- Theo số liệu thống kê thì có khoảng 63% nạn nhân là phụ nữ làm ruộng và 33% không có nghề nghiệp hoặc làm nghề tự do; số còn lại là học

sinh, sinh viên Cũng theo số liệu thống kê cho thấy, nạn nhân có trình độ học

vấn rất thấp; cụ thể không biết chữ chiếm 26%, học hết cấp 1-2 chiếm 71%,

học hết cấp 3 chiếm 3% [ 9 ]

Trang 25

Biểu đồ 1.5: Nghề nghiệp của nạn nhân

□ Làm ruộng

■ Không nghề nghiệp

□ Học sinh, s in h viên

- Cũng theo kết quả thống kê thì tỷ lộ nạn nhân phân theo độ tuổi như

sau: dưới 16 tuổi chiếm 5%, trên 16 tuổi chiếm 95% N hư vậy, phần lớn nạn

nhân ở độ tuổi trên 16, điều này chứng minh cho hoạt động buôn bán phụ nữ,

trẻ em phần lớn phục vụ cho mục đích mại dâm hoặc ép buộc làm vợ [ 9 ]

Biểu đồ 1.6: Tỷ lệ nạn nhân phân theo độ tuổi

5%

95%

□ D ư ớ i 1 6 tuổi □ T r ê n 1 6 tuổi

- M ột Vấn đề cũng được quan tâm là hoàn cảnh gia đình của nạn nhân

có ảnh hưởng như th ế nào đối với nạn nhân: kết quả thống kê cho thấy có đến

88% số nạn nhân bị buôn bán có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, 11,7% kinh tế

trung bình và 0,3% kinh tế khá Điều này phản ánh những khó khăn về kinh tế

cộng với nhữns thủ đoạn mà bọn buôn người sử dụng đó là hứa hẹn tìm việc

làm ổn định ở thành phố, khu công nghiệp là một trong những nguyên nhân

làm cho phụ nữ, trẻ em trở thành nạn nhân của bọn buôn người [ 9 ]

Trang 26

Biểu đồ 1.7: Hoàn cảnh gia đình của nạn nhân

Cơ cấu về địa bàn: hoạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt N am diễn

ra trên hai địa bàn đó là địa bàn ở trong nước và địa bàn qua các tuyến biên giới giữa Việt Nam và các nước láng giềng có chung đường biên giới Cụ thể là:

Tại địa bàn trong nước, buôn bán phụ nữ, trẻ em xảy ra trên cả nước, nhưng phức tạp nhất là ở các thành phố lớn các trung tâm vui chơi giải trí, các trung tâm du lịch T ội phạm thường buôn bán phụ nữ ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa để bán hoặc ép buộc làm việc trong các nhà hàng, vũ trường, các khu giải trí có nhiều người nước ngoài

- Tại các tỉnh phía Bắc, các đối tượng buôn người thường về vùng nông thôn, vùng sâu vùnơ xa, lợi dụng những người phụ nữ nông thôn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chúng hứa hẹn tìm công ăn việc làm tại thành phố có thu nhập cao để dụ dỗ những chị em nhẹ dạ tin theo chúng để lên thành phố, các khu công nơhiệp tìm việc làm N hưns thực chất chúng đem bán cho các nhà hàng, quán bar để phục vụ, bóc lột sức lao độna hoặc buộc phải làm sái mại dâm

Trang 27

- Tại các tỉnh phía Nam, hoạt độno buôn bán phụ nữ, trẻ em thường diễn ra tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, tội phạm thường lợi dụng tâm

lý của các cô gái trẻ tại đáy thích ăn ngon, mặc đẹp nhưng lại lười lao động,

do vậy bọn chúng dụ dỗ đi lên thành phố tìm việc làm, có thu nhập cao và ổn định Tuy nhiên, đây chỉ là thủ đoạn của bọn buôn người vì thực chất là chúng bán chị em vào các nhà hàng, quán karaoke, vũ trường để bóc lột sức lao động hoặc buộc phải bán dâm

- Còn tại khu vực miền Trung, buôn bán phụ nữ, trẻ em diễn ra ít hơn tại các tỉnh phía Bắc và phía Nam Nhưng bọn tội phạm cũng sử dụng những thủ

đoạn thường thấy để lừa gạt chị em có hoàn cảnh kinh tế khó khăn ở khu vực

m iền núi, nông thôn để đưa tới khu vực đồng bằng, thành phố để bán, trao đổi cho các đối tượng, đường dây buôn người và nạn nhân bị ép buộc bán dâm tại

cá khu du lịch hoặc các nhà hàng hoạt động mại dâm trá hình

Tại địa bàn qua các tuyến biên giới buôn bán phụ nữ, trẻ em diễn ra tại các tuyến sau

- T h ứ nhất, tại tuyến biên giới Việt - Trung

H oạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em tập trung ở địa bàn các tỉnh Quảng

N inh, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang Bọn tội phạm tổ chức thành đường dây, trong ngoài biên giới rất chặt chẽ, thí' đoạn vẫn là lừa gạt, dụ dỗ số phụ nữ, trẻ em nghèo, kinh tế khó khăn, thiếu công ăn việc làm, trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh éo le từ địa bàn các tỉnh nội địa, vùng sâu vùng xa biên giới đưa qua biên giới bán cho các nhà hàng, quán trọ các dịch vụ kinh doanh mại dâm trá hình hoặc làm vợ người nước ngoài Trong năm 2005 xảy ra 16 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới; hàng trăm phụ nữ xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc hành nghề mại dâm và làm các nghề khác Riêng tỉnh Quảng Ninh đã có trên 380 đối tượng phụ nữ sang

T runs Quốc lấy chồng hoặc làm các nghể khác Đáng chú ý hoạt đ ộns lừa gạt

Trang 28

phụ nữ là dân lộc thiểu số đưa sang Trung Quốc bán ở địa bàn các tỉnh Lai Châu, Hà G iang ngày càng nhiều [ 3 ].

Cao Bằng là tính có đường biên giới với Trung Quốc, nạn buôn bán phụ

nữ, trẻ em diễn ra rất phức tạp, mỗi năm trên địa bàn tỉnh xảy ra khoảng 10 vụ buôn bán qua biên giới Với đường biên giới dài hơn 300 km, thêm vào đó đồng bào ở các địa phương giáp biên giới có mối quan hệ lâu dài với người dân bên kia biên giới nên việc ngăn chặn tệ nạn này gặp không ít khó khăn

Tại Lạng Sơn từ năm 2004 đến tháng 6 năm 2006, Công an tỉnh đã khám phá được 13 vụ buôn bán phụ nữ và trẻ em, bắt giữ 21 đối tượng, giải cứu được nhiều nạn nhân Công tác điều tra phá án ở Lạng Sơn có nhiều khó khãn m à khó khăn lớn nhất là điều kiện địa lý, tự nhiên, xã hội Trong quá trình điều tra, mặc dù xác định được người phạm tội nhưng nạn nhân vẫn không giải cứu được về, cũng có nghĩa là không chứng minh được đối tượng phạm tội và như vậy không thể thực hiện được việc truy tố, xét xử

Hà Giang là địa bàn trung chuyển nạn nhân từ các tỉnh khác qua Theo

số liệu của Công an tỉnh Hà Giang thì từ năm 2004 đến tháng 6 năm 2006 số chị em phụ nữ vắng m ặt trên địa bàn tỉnh là 600 naười Trong số này có hơn

400 chị là nạn nhân bị buôn bán, đưa qua biên giới sang Trung Quốc, còn lại

là vắng mặt tại địa phương chưa rõ nguyên nhân Đặc biệt trong năm 2005 đã bắt 12 vụ, đưa ra truy tố 4 vụ với 7 đối tượng và 6 nạn nhân là phụ nữ Chúng bán phụ nữ sang Trung Q uốc chủ yếu vào các ổ mại dâm, đặc biệt là đối tượng trẻ em từ 15-16 tuổi [ 40 ]

- T hứ hai, tại tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia

Tinh hình buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới sang Cam puchia tập trung ở địa bàn các tỉnh Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, Đổng Tháp Bọn tội phạm lợi dụng sơ hở trong quản lý của địa phươns, sự nhẹ dạ cả tin của phụ

Trang 29

nữ đê lừa gạt, dụ dỗ đưa sang Campuchia bán cho các nhà hàng, khách sạn làm mại dâm.

Nắm bắt tâm lý một số cô gái ở các tỉnh miền l â y Nam Bộ do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, íĩ học, không có việc làm, cho nên muốn lấy chồng người nước ngoài để m ong đổi đời, cứu giúp gia đình, bọn tội phạm và các đối tượng môi giới đã lợi dụng, gạ gẫm để họ kết hôn với người nước ngoài, đi dulịch tìm chồng rồi bị đưa vào nhà chứa, sau đó bị bán đi bán lại nhiều lần như

m ột m ón hàng

Trong năm 2005 và sáu tháng đầu năm 2006, riêng 21 tỉnh phía Nam đã điều tra phát hiện 33 vụ, trong đó có nhiều đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ em xuyên quốc gia với quy mô lớn [ 40 ]

- T h ứ ba , tại tuyến biên giới Việt - Lào

Hoạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em tại tuyến này ít phức tạp hơn so với các tuyến khác, đối tượng bị lừa bán chủ yếu ở các địa bàn nội địa, bị bọn tội phạm dụ dỗ, lừa gạt đưa lên biên giới bán cho các nhà hàng ở khu vực ngoại biên đối diện với cửa khẩu Cầu Treo- Hà Tĩnh, Lao Bảo- Q uảng Trị Điểin nổi lên trên tuyến này là hoạt động đưa đón phụ nữ xuất nhập c anh qua Lào sang Thái Lan, trong đó nhiều trường hợp bị bán cho các cơ sở kinh doanh mại dâm

ở Lào và Thái Lan

Trong năm 2005 và quý I năm 2006 tại tuyến này xảy ra 6 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài Ví dụ: ngày 02/6/2005, Lào trảo trả cho đồn cửa khẩu Lao Bảo- Q uảng Trị 3 phụ nữ là nạn nhân bị buôn bán sang Lào Tiến hành điều tra, Cơ quan điều tra bắt khẩn cấp Tôn Thất Trắc ở huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế, đối tượng chuyên tổ chức buôn bán phụ nữ ra nước ngoài, khám xét tại nhà Trắc phát hiện 5 phụ nữ khác được đưa từ các tỉnh miền Tây Nam bộ ra để đưa sang Lào và Thái Lan [ 3 ]

- T hứ tư, tại tuyến biển- đảo

Trang 30

Tinh hình buôn bán phụ nữ, trẻ em diễn biến phức tạp, lập trung ở địa bàn các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Bạc Liêu, Cà M au Bọn tội phạm tổ chức thành đường dây câu kết chặt chẽ giữa các đối tượng ở nội địa, biên giới và ngoại biên, dụ dỗ lừa gạt phụ nữ, trẻ em đưa ra bán cho các nhà hàng quán trọ, các cơ sở kinh doanh dịch vụ mại dâm trá hình hoặc làm vợ nsười nước ngoài chủ yếu là T runs Quốc, bên cạnh đó hiện tượng phụ nữ đi khỏi nơi cư trú vẫn diễn ra, khó kiểm soát.

Trong năm 2005 và quý I năm 2006 tại tuyến này lực lượng Bộ đội Biên phòng đã phát hiện 11 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài

1.2.2 Tính chất của tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

Hoạt động của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em có tính chất xuyên quốc gia và mang tính quốc tế, buôn bán từ nước này qua nước khác Để đạt được siêu lợi nhuận các nhóm tội phạm ở các nước câu kết chặt chẽ với nhau hình thành các đường dây xuyên quốc gia buôn bán phụ nữ, trẻ em Lợi dụng đường biên giới của nước ta dài, hiểm trở, khó kiểm soát các nhóm tội phạm hoạt động Trong những năm qua và hiện tại các đường dây bị phát hiện điều tra khám phá có nhiều liên quan đến người nước ngoài, đã phát hiện hàng trăm đối tượng người nước ngoài, phần lớn là người Trung Quốc và xu hướng người nước ngoài phạm tội ngày càng tăng Vì vậy, hoạt động của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em mang đậm tính quốc tế Điều này chứng minh cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em mang tính toàn cầu.Tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em hoạt động phổ biến mang tính tổ chức theo đường dây Xuất phát từ siêu lợi nhuận và để tránh sự trừng phạt của pháp luật, mặt khác phụ nữ, trẻ em không phải ỉà “hàng hoá” bình thường có thể

m ua bán trao đổi ỏ' bất kỳ đâu, cho bất kỳ ai Do vậy, các nhóm tội phạm phải

tổ chức liên kết với nhau theo đường dây để hoạt động Đặc biệt chúng còn mua chuộc cán bộ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật và cán bộ có chức vụ, quyền hạn ở các địa bàn, tuyến trọng điểm để dễ hoạt động Với đặc điểm nêu

Trang 31

trên lại gắn với yếu tố nước ngoài làm cho cuộc đấu tranh phòng chống tộiphạm ngày càng khó khăn phức tạp, quyết liệt và nguy hiểm.

Tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em hoạt động với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt như: dụ dỗ, lừa gạt, ép buộc, làm và sử dụng giấy tờ giả chúng hoạt động thường có tổ chức, có sự câu kết chặt chẽ giữa các đối tượng kể cả ở nước ngoài để thực hiện các hành vi phạm tội và lợi dụng khó khăn trong công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý, bảo vệ biên giới, xuất nhập cảnh để đưa nạn nhân ra nước ngoài Vì siêu lợi nhuận, bọn tội phạm bất chấp pháp luật chúng luôn có ý thức quyết tâm bằng mọi thủ đoạn, cảnh giác cao để không bị phát hiện

- Tội phạm thường lợi dụng số phụ nữ, trẻ em ở các vùng quê nghèo, có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thất nghiệp, thiếu việc làm bằng những lời nói dụ dỗ khéo léo như hứa tìm việc làm thích hợp, nhẹ nhàng

ở thành phố, thị xã với mức lương cao, ổn định Sau đó, chúng tìm m ọi cách đưa qua biên giới để bán cho các chủ chứa, hoặc các tổ chức tội phạm ở nước ngoài

- Chúng lợi dụng sơ hở của pháp luật trong vấn đề mội giới hôn nhânvới người nước ngoài, cho nhận con nuôi, du lịch, thăm thân, đi hợp tác laođộng để lừa gạt đưa phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài bán

- Chúng còn lợi dụng chính sách m ở cửa và hội nhập của nước ta để buôn bán phụ nữ, trẻ em Đặc biệt, tội phạm lợi dụng công nghệ viễn thông hiện đại, thông qua Internet, chat, gam e để thiết lập các đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ em, các đường dây gái gọi qua m ạng, qua điện thoại di động, tổ chức các chuyến du lịch tình dục xuyên quốc gia nên nhiều phụ nữ, trẻ em , kể

cả sinh viên cũng bị lừa đưa ra nước ngoài bán

Tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em gắn liền với hoạt động tẩy rửa tiền Hoạt động của tội phạm m ang lại lợi nhuận cao, nguồn tài chính thu được rất lớn, tội phạm thường xuyên tìm cách họp pháp hoá nguồn tài chính này Chúng lợi dụng hoạt độns của ngân hàng để gửi tiền vào, cung cấp vốn kinh doanh, iham gia vào thị trường chứng khoán, m ua nhà đất, m ở cửa hàng khách

Trang 32

sạn, liên kết với các công ty tư nhân dưới danh nghĩa liên kết đầu tư vào sản

xuất kinh doanh

Đ ộng cơ chủ yếu của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em N ghiên cứu, * xem xét loại tội phạm này này theo cách tiếp cận hệ thống, thì đó là m ột hình

thái xã hội tiêu cực m ang yếu tố kinh tế xã hội, yếu tố xã hội vì nó ở mọi lúc

m ọi nơi, liên quan đến nhiều tầng lớp xã hội ,yếu tố kinh tế vì nó đã trở

thành “thị trường” bất hợp pháp Có thể khẳng định loại tội phạm này mang

lại siêu lợi nhuận chỉ sau buôn bán vũ khí và ma tuý Điển hình là vào ngày

25-10-2005, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm - Bộ Công an khám phá vụ án bắt

N guyễn Thị M ỹ N ga sinh năm 1979 cùng Nguyễn Thuỳ Dung sinh năm 1961

đều có hộ khẩu tại phường 3, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí M inh và

W iliam Chua Jee Hai sinh năm 1965 quốc tịch M alaysia phạm tội buôn bán

phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài Với thủ đoạn hứa hẹn phụ nữ sang Singapore,

M alaysia bán hàng sẽ trả lương cao từ 500-1000 USD/ tháng, mọi chi phí xuất

nhập cảnh chúng bao cấp và đài thọ, từ tháng 6-2002 đến tháng 1-2003 Nga

và đồng bọn đ ã lừa đưa được 16 phụ nữ V iệt Nam sang M alaysia làm gái mại

dâm, mỗi phụ nữ bạn chúng bán từ 3.000 USD đến 4.000 USD/ người [ 9 ]

Cũng vì lợi nhuận m à nhiều đối tượng đã lôi kéo cả người thân trong gia đình,

cả họ hàng thân thích vào con đưừng phạm tội Vì vậy, có thể khẳng định lợi

nhuận đã thúc đẩy hoạt động của tội phạm

Về mục đích và hình thức thực hiện loại tội phạm này là bóc lột sức lao động >

của nạn nhân bị buôn bán, bằng việc phải làm những công việc nặng nhọc, độc hại

như trong hầm lò, trong các nhà hàne kinh doanh mại dâm trong tình trạng không

có bảo hộ lao động, không được trả tiền công hoặc tiền công 1'ất thấp

- Buôn bán phụ nữ, trẻ em để bóc lột thông qua hoạt động tình dục Nhiều phụ nữ, trẻ em bị lừa gạt, ép buộc phải làm sái mại dâm trái với ý muốn

của họ Tuy nhiên, cũng có nhiều phụ nữ, trẻ em biết rằng họ sẽ phải làm mại

dâm trong các cơ sở vui chơi, giải trí Song họ không biết được điều kiện làm

>

Trang 33

việc, cũns như khả năng kiểm soát số tiền mà họ kiếm được Họ lâm và cảnh

nợ nần chồng chất, bị giữ giấy tò' tuỳ thân, hoặc tiền công, bị đánh đập một cách dã man

- Buôn bán phụ nữ, trẻ em để bóc lột thông qua hình thức giúp việc gia đình, làm việc trong các cơ sở lao động độc hại, nguy hiểm; họ bị ép buộc làm việc trong những điều kiện hết sức tồi tệ, nhiều phụ nữ bị buôn bán để giúp việc gia đình cũng thường bị buộc làm những công việc ở khu kinh doanh của chủ lao động

- Buôn bán phụ nữ, trẻ em vì mục đích hôn nhân: nhiều phụ nữ trẻ em bị lừa gạt tin rằng họ sẽ lấy được chổng giàu có, thành đạt của những người môi giới hôn nhân Những phụ nữ bị buôn bán này không hiểu ngôn ngữ, văn hoá

đã bị ép buộc làm gái mại dâm, lao động không được trả công hoặc có những cuộc hôn nhân nô lệ Sau khi bị bán những người đàn ông là chồng của họ đối

xử tàn tệ, vô nhân đạo, sử dụng bạo lực để ngăn chặn họ bỏ trốn Bản thân họ chỉ là một người di cư, không có giấy tờ, hoàn toàn phụ thuộc vào sự bảo trợ của người chồng Trong tình cảnh như vậy, người vợ thường không dám tìm đến cơ quan chức năng trình báo để đưọc bảo vệ hoặc không dám rời bỏ người chồng vì sợ sẽ bị trục xuất về nước

T ừ sự phân tích trên, chúng ta cố th ể đưa ra m ột s ố kết luận sau đây:

- Buôn bán phụ nữ, trẻ em dù với mục đích hoạt động m ại dâm, ép buộc lấy chổng hay bóc lột sức lao động thoả mãn tình dục thực chất là những hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền con người, quyền của phụ nữ, trẻ em, chà đạp lên nhân phẩm người phụ nữ, nhất là phụ nữ mới bước vào tuổi trưởng thành, đặc biệt

là trẻ em còn bị tổn thương nặng nề về tâm lý Theo kết quả một đợt khảo sát đối với trẻ em bị xâm phạm tình dục vì mục đích thương mại thì rất nhiều em đã rơi vào trạng thái bị chấn thương về tinh thần như: sợ hãi 48,8%; căm phẫn 14,29%;

hổ thẹn 19,7%; tuyệt vọng 14,29 %; buông thả, bất cần đời 12,32 % Phần lớn

các em bị mắc bệnh đường sinh dục, sức khoẻ giảm sút [ 32 ]

Trang 34

- Buôn bán phụ nữ, trẻ em xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người, thế chất cũng như tinh thần của phụ nữ và trẻ em Họ bị hành hạ chịu đựng sự đánh đập, bị 'ơiam cầm và cưỡng hiếp, bị tước quyền tự do.

- Buôn bán phụ nữ, trẻ em gây ra m ột thảm hoạ đối với gia đình nạn nhân, hạnh phúc gia đình bị phá vỡ, kéo theo đó là sự sa sút về kinh tế, khủng hoảng về tinh thẩn, con cái thất học N hũng thân nhân của họ bị tổn thương, tinh thần bị suy sụp nghiêm trọng

- Loại tội phạm này còn gây ra cho xã hội nhữns hậu quả nghiêm trọng, kéo theo các loại tội phạm khác, sây rối loạn xã hội, là nguyên nhân sây ra tình trạng lộn xộn trong quản lý dân cư, gây nguy hại đến sự ổn đinh kinh tế đất nước

1.3 Động thái (diễn biến) của tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ,

',W 2 tỷ lệ này lại tăng lên chút ít là 67,2 %, sau đó lại giảm vào năm 2003 là

' 6%, đến năm 2005 lại tăng lên ở mức 60,7% Như vậy, nhìn vào số liệu này thì

„ng ta thấy số vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em có xu hướng giảm, nhưng đây mới chỉ là số vụ đã phát hiện và đưa ra xét xử còn trên thực tế số vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em lớn hơn rất nhiều do chúng ta chưa phát hiện điều tra, xử lý được Nguyên nhan là do tính chất ẩn của tội phạm nói chung cùng với những thủ đoạn hoạt động rất linh vi của loại tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em Trong khi đó, hoạt động điều tra đối với loại tội phạm này còn có những hạn chế nhất định như chưa có một lực lượng chuyên trách để đấu tranh với loại tội phạm này Hơn nữa việc phối họp giữa các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế, hệ thốnơ pháp luật còn chưa hoàn thiện, việc họp lác quốc tế còn chưa mạnh mẽ Do vậy, còn nhiều vụ buôn bán phụ nữ, U'ẻ em mà chúng ta chưa phát hiện để xử lý theo pháp luật

Trang 35

NP, DD con người

Số vụ phạm tội

m ua bán phụ nữ, trẻ em

(N guồn: Phòng tổng hợp thuộc Văn phòng Toà án nhân dân tối cao)

Biểu đồ 1.8: Diễn biến số vụ án về tội phạm m ua bán phụ nữ, trẻ em đã bị Tòa

Trang 36

- Diễn biến về đối tượng buôn bán phụ nữ, trẻ em: theo số liệu của TANDTC, tính từ năm 2000 đến 2005 diễn biến về số bị cáo phạm tội buôn

bán phụ nữ, trẻ em nhìn chung là tăng; cụ thể năm 2000 có 311 bị cáo bị xét

xử hành vi buôn bán phụ nữ, trẻ em và giảm vào năm 2001 chỉ còn 170 bị cáo,

nhưng những năm tiếp theo có chiều hướng tăng dần, năm 2003 là 142 bị cáo,

năm 2004 là 169 bị cáo và đến 2005 là 185 bị cáo Như vậy, số lượng các đối

tượng phạm tội ngày một tăng, đây ỉà vấn đề đáng lưu ý trong thời gian tới

Vậy, tình hình đó xuất phát từ nguyên nhân nào mà ngày càng nhiều đối tượng

tham sia vào các đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ em Qua nghiên cứu cho

thấy lợi nhuận chính là yếu tố thúc đẩy các đối tượng thực hiện hành vi phạm

tội, vì nó mang ỉại những khoản lợi nhuận rất lớn do bóc lột tình dục, bóc lột

sức lao động của nạn nhân Thậm chí việc làm môi giới cho những cuộc hôn

nhân ép buộc cũng mang lại cho kẻ môi giới những khoản tiền không nhỏ

Mới đây, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội- Bộ Công an đã phối

hợp với Công an các địa phương khám phá đường dây buôn bán phụ nữ, trẻ

em sang M alaysia và M a Cao Đường dây buôn bán phụ nữ sang M alaysia do

Trần Thị Phượng, Phan Văn Long và vợ chồng N guyễn Thị Tuyết đứng ra tổ

chức Các đối tượng này thừa nhận từng mang vài chục cổ gái sang M alaysia

để bán cho các động mại dâm hoặc đàn ông có nhu cầu cưới vợ với giá từ 200

triệu đến 240 triệu đồng/cô gái Còn đường dây buôn bán phụ nữ sang M a Cao

do Phạm Ngọc Hà và Bùi Văn ú t đứng ra tổ chức, đường dây này đã bán hàng

chục cô gái miền Tây Nam Bộ ra nước ngoài Mỗi trường hợp trót lọt, Hà được

đầu mối bên M a Cao trả 400 USD/người, ú t được trả 200USD/người [ 42 ]

Bảng 1.10: Tỷ ]ệ số bị cáo phạm tội mua bán phụ nữ, trẻ em đã bị Tòa án xét

xử từ năm 2000 đến năm 2005

Trang 37

Số bị cáo phạm tội

chung

Số bị cáo phạm tội xâm phạm TM, SK,

NP, DD con người

Số bị cáo mua bán phụ nữ, trẻ em

Số bị cáo Tỷ lệ % Số bị cáo Tỷ lệ % Số bị cáo Tỷ lệ %

(N guồn: Phòng tổng hợp thuộc Văn phòng Toà án nhân dân tối cao)

Biểu đồ 1.9: Diễn biến về số bị cáo phạm tội mua bán phụ nữ, trẻ em

đã bị Tòa án xét xử từ năm 2000 đến năm 2005

Ngày đăng: 22/02/2020, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w