1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thơ nguyễn khoa điềm trong trường trung học từ góc nhìn văn hóa

59 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 658 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với những tác phẩm tiêu biểu, những tác phẩm của ông được đưa vào trong chương trình giảng dạy của nhà trường đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu cũng như các bạn yêu vă

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KH A LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS LA NGUYỆT ANH

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CẢM N

Trong quá trình triển khai khóa luận, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ La Nguyệt Anh cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong Tổ Bộ môn Văn học Việt Nam đã hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành khóa luận này Do thời gian có hạn, năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, chắc chắn không tránh khỏi sự thiếu sót, tôi mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của thầy

cô cùng toàn thể bạn bè để tôi có thể hoàn thiện t t hơn h a luận của mình

Hà nội, tháng 05 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Yến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo ý kiến của những người đi trước dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ La Nguyệt Anh

Các s liệu và kết quả nghiên cứu được ghi trong khóa luận là hoàn toàn trung thực

Hà nội, tháng 05 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Yến

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đ i tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Mục đích, ý nghĩa, đ ng g p của khóa luận 4

6 Cấu trúc của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5

1.1 Những tiền đề khoa học 5

1.1.1 Khái niệm văn h a, văn học 5

1.1.1.1 Khái niệm văn h a 5

1.1.1.2 Khái niệm văn học 6

1.2 Nguyễn Khoa Điềm và quá trình sáng tác 10

1.2.1 Tác giả Nguyễn Khoa Điềm 10

1.2.2 Quá trình sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm 12

1.3 Khảo sát sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm trong chương trình Ngữ văn THCS và PTTH 16

Chương 2 KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ C NGU N KHO ĐIỀM T G C NH N V N H 18

2.1 Hát ru từ cội nguồn văn h a 18

2.1.1 Hát ru trong truyền th ng văn h a dân tộc 18

2.1.2 Hát ru trong văn h a Tà-ôi 23

2.2 Những yếu t văn h a trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm 28

Trang 5

2.2.1 Cội nguồn văn h a - nguồn nuôi dưỡng tâm hồn con người 28

2.2.1.1 Cội nguồn của tình mẫu tử 28

2.2.1.2 Cội nguồn của tình yêu nước 30

2.2.2 Bức tượng đài bất tử về mẹ 32

2.2.2.1 Bà mẹ chan chứa tình thương, tình yêu với con 32

2.2.2.2 Bà mẹ yêu lao động, tảo tần sớm hôm 34

2.2.2.3 Bà mẹ giàu lòng yêu nước, khát vọng tự do 37

Chương 3: ĐẤT NƯỚC C A NGUY N KHO ĐIỀM T G C NH N V N H 41

3.1 Đất Nước nhìn từ cội nguồn văn h a dân gian 41

3.1.1 Đất Nước nhìn từ văn h a phong tục 41

3.1.2 Đất Nước được thức nhận từ chất liệu văn học dân gian 43

3.2 Đất Nước nhìn từ hông gian văn h a 46

3.2.1 Đất Nước nhìn từ hông gian địa văn h a 46

3.2.2 Đất Nước nhìn từ hông gian văn h a đời thường 47

3.3 Đất Nước trong chiều dài lịch sử dân tộc 48

3.3.1 Từ lịch sử b n ngàn năm dựng xây và đấu tranh ch ng ngoại xâm 48

3.3.2 Sự tiếp n i của thế hệ tr hôm nay 50

KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của thế hệ thơ tr trong những năm chiến tranh ch ng Mỹ Sau hơn b n mươi năm vừa đảm nhiệm những chức vụ quan trọng vừa cầm bút, Nguyễn Khoa Điềm

đã đ ng g p cho nền thơ ca nước nhà một s thành tựu đáng ể Những tác

phẩm: Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng và Ngôi nhà có ngọn lửa ấm của

ông đã nhận được Giải thưởng Nhà nước về Văn học và Nghệ thuật Các sáng tác của ông chính là lời tự bạch trước những vấn đề của thời cuộc, nhân sinh

để c cái nhìn rộng rãi hơn, sâu sắc hơn, hái quát hơn hình như là ý tưởng đeo đuổi su t cuộc đời Nguyễn Khoa Điềm trong quá hứ cũng như hiện tại Cùng với những tác phẩm tiêu biểu, những tác phẩm của ông được đưa vào trong chương trình giảng dạy của nhà trường đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu cũng như các bạn yêu văn học trong những năm trở lại đây 1.2 Sáng tạo văn học là một hoạt động văn h a Vì vậy, khi nghiên cứu văn học từ g c độ quan hệ văn hóa - văn học sẽ thấy được vai trò sáng tạo văn hóa của văn học qua những hình tượng nghệ thuật, qua xây dựng những mô hình nhân cách văn h a đẹp cho xã hội, cho dân tộc Đồng thời, nghiên cứu văn học từ g c độ quan hệ văn h a – văn học sẽ góp phần khẳng định vai trò vừa lưu giữ, chuyển tải vừa thẩm định và lựa chọn văn h a của văn học Thiết nghĩ, việc tìm hiểu một nhà thơ đã từng được biết đến từ rất sớm và đã c những đ ng g p nhất định nền văn học dân tộc n i chung và thơ ca hiện đại

n i riêng như Nguyễn Khoa Điềm trong tình hình hiện nay là công việc cần thiết Việc làm này về mặt khoa học không chỉ cho phép chúng ta có cái nhìn bao quát, toàn diện hơn về thế giới thơ Nguyễn Khoa Điềm mà còn giúp chúng ta nhận diện ra được đặc trưng phong cách riêng của nhà thơ

Trang 7

Trong nhà trường phổ thông hiện nay, việc hám phá đánh giá tác phẩm, nhìn nhận thành công của nhà thơ từ phương diện văn h a còn mới m Từ nhiều năm nay, thơ Nguyễn Khoa Điềm được đưa vào giảng dạy trong hệ

th ng nhà trường Trung học song vấn đề tiếp cận những tác phẩm đ từ góc

độ văn h a chưa được chú ý nhiều

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thơ Nguyễn Khoa Điềm

trong trường Trung học từ góc nhìn văn hóa” làm đề tài nghiên cứu của khóa

luận

2 Lịch sử vấn đề

Về Nguyễn Khoa Điềm, các bài viết, công trình nghiên cứu về ông không nhiều nhưng đều có những đánh giá há nhất quán về phong cách thơ

ông Tác giả Nguyễn Xuân Nam trong Thơ tìm hiểu và thưởng thức (1985)

cũng nhấn mạnh đến sức mạnh của trường liên tưởng và chiều sâu văn h a

quá khứ trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm: “Thơ Nguyễn Khoa Điềm không

đặc sắc về tạo hình, về màu sắc nhưng anh có sức liên tưởng mạnh Anh thường dẫn người đọc đi từ quá khứ đến tương lai, từ khổ đau đến hạnh phúc,

từ sách vở đến đời sống” [6] Trong luận văn thạc sỹ Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm của Nguyễn Thị Nhung, tác giả đã dẫn ra những ý kiến của các

nhà nghiên cứu và đưa ra nhận định thông qua nhận xét của Tôn Phương Lan:

“Năm 1976 Tôn Phương Lan đã khẳng định tiềm năng của nhà thơ trẻ qua bài giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng Bài viết có cái nhìn khái quát bao trùm cả Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng để nhận

ra cái riêng của Nguyễn Khoa Điềm giữa các gương mặt khác” [8] Trên

trang Văn nghệ Quân đội có bài viết Những gía trị văn hóa truyền thống

trong thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nêu ra nhận xét: “Thơ ca Nguyễn Khoa Điềm chứa đựng nhiều chất hiện thực và văn hóa dân gian Câu thơ dù ở thể thơ truyền thống hay thể tự do bao giờ cũng phảng phất phong vị của ca dao,

Trang 8

tục ngữ Chất hiền minh của trí tuệ dân gian thấm đẫm trong từng từ” [15]

Thật vậy, điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận ra trong các tác phẩm của

Nguyễn Khoa Điềm Cùng với đ , Mai Bá Ấn đã cho r ng: “Chính những

người dân quê ấy, chứ không phải ai khác, theo Nguyễn Khoa Điềm họ đã làm nên Đất Nước Đất Nước hình thành qua những sinh hoạt mang đậm nét văn hóa làng (xã) truyền thống Việt Nam” [15] Khi nói về một trong những

tác phẩm thành công nhất trong Đất ngoại ô chính là bài Khúc hát ru những

em bé lớn trên lưng mẹ, trong chuyên mục Nhân vật và sự kiện thứ sáu ngày

12/08/2011 của trường Đại học Sư phạm Hà Nội có nhận xét: “Hình

ảnh "Lưng núi thì to mà lưng mẹ thì nhỏ" và ''Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi/ Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng" là những hình ảnh hết sức bình

dị mà vô cùng sâu sắc Nhà thơ chia sẻ với nỗi vất vả của những người mẹ miền núi A Lưới và tình thương, ước mơ của mẹ dành cho cu Tai Cả bài thơ toát lên tinh thần yêu nước của những người dân lao động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” [16] Chính những cảm xúc trong bài thơ và các nhận xét

của các nhà nghiên cứu đã hơi nguồn cảm hứng để tôi chọn đề tài: “Thơ

Nguyễn Khoa Điềm trong trường Trung học từ góc nhìn văn hóa”

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm văn hoá, các thành t văn hoá và m i quan hệ giữa văn hoá và văn học, khóa luận đi sâu vào nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm từ g c nhìn văn hoá Do huôn hổ của khóa luận có hạn, chúng tôi chỉ tập trung tiến hành khảo sát thơ Nguyễn Khoa Điềm được đưa vào giảng dạy chính trong nhà trường Trung học

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp;

- Phương pháp so sánh, th ng kê;

- Phương pháp liên ngành: dưới g c độ văn hoá, văn học soi chiếu tương tác

Trang 9

5 Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của khóa luận

- Khóa luận là công trình khảo sát về thơ Nguyễn Khoa Điềm trong nhà trường Trung học từ g c nhìn văn hoá Nghiên cứu văn học dưới g c nhìn văn hoá

là một cách tiếp cận m giúp ta hiểu thêm về những giá trị nghệ thuật của tác phẩm

- Kết quả nghiên cứu của khóa luận hy vọng sẽ đem lại một cái nhìn khái quát, đầy đủ hơn về thơ Nguyễn Khoa Điềm, từ đ thấy được những tìm tòi, đổi mới, vận động và phát triển của thơ Nguyễn Khoa Điềm Kết quả nghiên cứu của khóa luận góp phần khẳng định một hướng nghiên cứu văn học mới nhiều triển vọng đ là từ g c độ văn hoá - văn học, sự giao lưu, giao thoa và ảnh hưởng qua lại để nhìn cho thấu đáo từ nhiều chiều ích, phương diện

6 Cấu trúc của khóa luận

Trang 10

NỘI DUNG CHƯ NG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Những tiền đề khoa học

1.1.1 Khái niệm văn hóa, văn học

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa

Từ văn hóa c rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt, văn h a được dùng theo

nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn h a), l i s ng (nếp s ng văn

h a); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn

h a Đông Sơn) Trong hi theo nghĩa rộng thì văn h a bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, l i s ng, lao động Chính với cách hiểu rộng này, văn hoá mới là đ i tượng đích thực của văn h a học Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu rộng này trên thế giới cũng c hàng trăm định nghĩa hác nhau nhưng tựu chung lại, ta c thể nêu ra một định nghĩa văn hoá như sau:

Văn hóa là một hệ th ng hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con

người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Phan Ngọc đã th ng kê được gần 400 định nghĩa hác nhau về văn h a Nhà nghiên cứu Trần Ngọc

Thêm đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh

thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn thông qua các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội” [12, tr25] Theo Unesco: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội, văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục

và những tín ngưỡng” [14, tr23,24]

Trang 11

1.1.1.2 Khái niệm văn học

“Văn học là loại hình nghệ thuật sáng tạo b ng ngôn từ” 4,129], nh m

sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời s ng xã hội và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ Khái niệm văn học đôi hi c nghĩa tương tự như hái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường c nghĩa rộng hơn hái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời

s ng Văn học có các thể loại hác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản, lí luận phê bình Văn học có lịch sử phát triển từ lâu đời, là sự phát triển của văn học dân gian (hay văn học truyền miệng) và văn học viết

1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa – văn học

Hiểu theo nghĩa rộng, văn h a là tổng thể những thành tựu, những giá trị vật chất và tinh thần do các cộng đồng dân tộc sáng tạo ra trong quá trình cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội, nh m đảm bảo nhu cầu cuộc s ng con người Dân tộc học chia văn h a ra làm ba loại: văn h a vật chất (bao gồm công cụ sản xuất, phương tiện đi lại, làng mạc, nhà cửa, quần áo, giày dép, đồ trang sức, các thức ăn, thức u ng…); văn h a xã hội (bao gồm các thiết chế xã hội, gia đình, dòng họ, làng bản và m i quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng); văn h a tinh thần ( bao gồm các tri thức khoa học, phong tục tập quán, tôn giáo, xã hội, văn học, nghệ thuật, dân gian…) Chính từ đặc trưng của văn hóa, các thuộc tính của văn h a, văn học, có thể xem xét m i quan hệ giữa chúng ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau như thế nào Văn học là một bộ phận của văn h a, n m trong văn h a, vì thế chịu sự chi ph i của văn h a Những nhân t như: ngôn ngữ, hoạt động kinh tế, lao động sản xuất, ăn, mặc,

Trang 12

ở, đi lại, sự phát triển của khoa học ĩ thuật… đều là điều kiện quan trọng trong môi trường nảy sinh, hình thành những tác phẩm văn học

Thực ra, bất kì một công trình nghiên cứu văn học nào cũng đều ít nhiều,

xa gần viện dẫn tri thức văn h a hoặc đề cập đến vấn đề văn h a trong việc bình luận, giải thích tác phẩm Ở Việt Nam, nghiên cứu, phê bình văn học từ

văn h a, cũng xuất hiện đã lâu Với tác phẩm Truyện Kiều đã được Trần

Trọng Kim nghiên cứu từ quan điểm Phật giáo, Thơ Mới được Hoài Thanh

trong Thi nhân Việt Nam phần Một thời đại thi ca khảo sát từ luồng gió mới

của văn h a phương Tây Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu trên chỉ vận dụng một s kiến thức văn h a mà họ cho là cần thiết để đọc văn học chứ chưa c ý thức xây dựng một hệ th ng vấn đề mang tính chất lí thuyết cho việc đọc tác phẩm văn học b ng văn h a

Gần đây, nhờ Unesco phát động những thập kỉ phát triển văn h a, người

ta bắt đầu nhận thức được văn h a là động lực của phát triển, thì nghiên cứu, phê bình văn học từ văn h a càng được chú ý nhiều hơn Đặc biệt, khi bộ môn văn h a học và nhân học văn h a xuất hiện ở Việt Nam thì văn h a bắt đầu được coi như là một nhân t chi ph i văn học

Những thành tựu của văn h a học ngày nay cho phép chúng ta nhìn nhận văn h a như một tổng thể, một hệ th ng bao gồm các yếu t như ngôn ngữ, phong tục tập quán, luật pháp, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn, văn học… Trong hệ th ng văn h a, nhất là văn h a Việt Nam, yếu t chủ đạo thường là văn học Yếu t này không phải là bất biến mà nó thường xuyên thay đổi qua những thời đại văn h a, tức một hệ th ng văn h a

Là một yếu t mạnh, văn học luôn biết tiếp thu những gì ngoài hệ th ng để phát triển Tiếp thu những cái ngoài hệ th ng đến một mức độ nào đ , yếu t văn học sẽ không còn phù hợp với hệ th ng văn h a nữa, nó ch ng lại hệ

th ng, làm cho hệ th ng phải thay đổi cùng với nó Ví dụ, văn học trung đại,

Trang 13

nhất là bộ phận của các nhà nho tài tử, dưới sự ảnh hưởng của văn h a đô thị

và ý thức cá nhân thức tỉnh, đã làm rạn nứt hệ th ng văn h a trung đại, góp phần đưa n chuyển đổi lên từ văn h a trung đại sang văn h a hiện đại Lịch

sử văn h a chính là lịch sử của những thay đổi các hệ th ng văn h a, tức các thời đại văn h a

Văn h a với tư cách là một bộ phận của tổng thể văn h a, một yếu t của

hệ th ng văn h a thì hông thể và không có quyền qua mặt hệ th ng để tiếp xúc thẳng hoặc tác động trực tiếp đến hệ th ng xã hội, mà phải gián tiếp qua

hệ th ng văn h a như là các hệ th ng đồng đẳng với nhau

Từ đ c thể thấy, nếu văn học có chức năng phản ánh hiện thực thì cũng không thể phản ánh trực tiếp được, mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng ính” văn h a, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn h a Nhờ thế mà văn học tránh được sự phản ánh “gương”, phản ánh một cách trần trụi Và, có lẽ, cũng nhờ thế mà văn học có một l i phản ánh đặc trưng, một phản ánh, như người ta thường nói, có nghệ thuật, c “nghiền ngẫm”

Như vậy, một hi văn học chỉ là một yếu t của hệ th ng văn h a và chỉ

“quan hệ” được với hệ th ng xã hội thông qua văn h a, thì hung nghiên cứu văn học cũng phải là hung văn h a Trong một thời gian dài, nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam thường chỉ được vận hành trên một khung duy nhất là năm hình thái inh tế - xã hội Chính sự đ ng hung này mà nhiều hiện tượng văn học chưa được lí giải một cách thấu đáo Ví dụ, theo hệ quy chiếu này thì văn học ở hình thái cao hơn phải hay hơn, hoặc ít nhất cũng phát triển hơn, nhưng văn học Việt Nam sau 1945 có lẽ không hay hoặc phát triển b ng văn học 1932-1945; hoặc trong cùng một hình thái thì văn học ở giai đoạn xã hội thịnh trị phải phát triển hơn lúc xã hội suy tàn (nhưng văn học Việt Nam thời Hồng Đức dường như hông sánh được với thời Nguyễn Du?)… Nhưng chúng ta có thử tiếp cận từ g c độ văn h a để lí giải các hiện tượng trên Thực

Trang 14

tế là, cùng ở vào một thời đại quân chủ nông nghiệp Nho giáo, nhưng thời Hồng Đức là văn h a thuần nông nghiệp, còn thời Nguyễn Du đã chớm văn hóa đô thị, dẫu r ng đô thị phương Đông trung đại Văn học đô thị phát triển nhờ nhu cầu hưởng thụ thẩm mĩ của thị dân, nhờ ý thức cá nhân thức tỉnh, và,

cu i cùng, nhờ sự xuất hiện của một lớp tác giả mới: nhà nho tài tử Còn giai đoạn 1932-1945 thì đã là văn h a đô thị hiện đại Sản phẩm văn h a hông còn là quà tặng nữa mà đã là hàng h a Ý thức cá nhân phát triển Chủ thể của văn h a này là các trí thức Tây học Văn học 1932-1945 là tiếng nói mới, tưng bừng của văn h a đô thị hiện đại Sau 1945, do nhu cầu của hai cuộc kháng chiến nên phải đề cao dân tộc, đề cao truyền th ng, đề cao nông thôn, nông dân (là quân chủ lực) Văn h a đô thị, vì thế, chùng xu ng hơn; văn h a nông thôn phục hưng và phát triển Như vậy, đọc một tác phẩm văn học theo quan điểm văn h a học là vận dụng những tri thức về văn h a để nhận diện và giải

mã các yếu t thi pháp của tác phẩm Một cách tổng quát, phương pháp tiếp cận văn học từ g c nhìn văn h a ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn h a trong đ tác phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi ph i của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mĩ, quan niệm về con người cũng như sự chi ph i của các phương tiện hác nhau trong đời

s ng sinh hoạt xã hội s ng động hiện thực…từng tồn tại trong một không gian văn h a xác định đ i với một tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, môtip, hình tượng, cảm xúc, ngôn ngữ… Phương pháp này tuy c tính chất tổng hợp, trung gian giữa những phương pháp đọc văn bản hác nhau nhưng vẫn c đặc trưng riêng N thiên về nhiệm vụ giải mã các hiện tượng nghệ thuật, tìm ra nền tảng văn h a lịch sử của chúng, đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự liên tục, đến tính chất mở của chúng trong không gian và thời gian Điểm khác biệt của các tiếp cận văn h a học so với thi pháp học là ở chỗ, tiếp cận văn h a học không chủ trương miêu tả thế giới nghệ thuật của tác phẩm

Trang 15

như một vũ trụ khép kín, có giá trị tự thân mà đặt ra nhiệm vụ đ i chiếu, so sánh truy nguyên các quan niệm văn h a của thời đại nơi tác phẩm được sản sinh để tìm nguồn g c các dạng thức quan niệm về con người – thời gian –không gian trong tác phẩm Tiếp cận văn h a học thực chất là tiếp cận liên ngành

1.2 Nguyễn Khoa Điềm và quá trình sáng tác

1.2.1 Tác giả Nguyễn Khoa Điềm

Nguyễn Khoa Điềm xuất thân trong một gia đình trí thức cách mạng Ông thuộc dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, cháu nữ sĩ Đạm Phương, con trai nhà văn Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn) Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15/04/1943 tại thôn Ưu Điềm (Phong Hòa, Phong Điền, Thừa Thiên - Huế) Cái tên Ưu Điềm không ngờ lại ứng với bản tính Nguyễn Khoa Điềm – một người hay ưu tư, suy nghĩ, điềm đạm và trầm lặng Lên mười một tuổi, Nguyễn Khoa Điềm đã mồ côi cha Ngay từ nhỏ ông đã s ng và chứng kiến cảnh vất vả, h hăn của những người dân nghèo hàng ngày vật lộn với cuộc s ng mưu sinh, những hình ảnh thường ngày ấy từ lâu đã ám ảnh Nguyễn Khoa Điềm Cũng có lẽ vì thế mà ông hay suy tư về cuộc s ng của những người dân lao động nghèo khổ T t nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng một lứa với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Nguyễn Khoa Điềm được trở về quê hương, hoạt động ở chiến trường Thừa Thiên - Huế Trong một trận càn ông bị địch bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ

su t mấy tháng trời Mãi đến chiến dịch Mậu Thân (1968), ông mới được giải thoát, tiếp tục trở lại hoạt động Chính thời điểm này, Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu làm thơ

Sau giải phóng Miền Nam (1975), Nguyễn Khoa Điềm tham gia công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản; rồi đảm nhận các chức vụ như: Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Ph bí thư thường trực tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế Năm

Trang 16

1994, Nguyễn Khoa Điềm ra Hà Nội, giữ chức thứ trưởng Bộ Văn h a – Thông tin Năm 1995, được bầu làm Tổng Thư í Hội Nhà văn Việt Nam

h a 5 Năm 1996, được Đại hội Đảng toàn qu c lần thứ 8 bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, Đại biểu Qu c hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa X), Bộ trưởng Bộ Văn h a Thông tin Năm 2001, giữ chức Trưởng ban Văn h a, tư tưởng Trung ương Ông được giải thưởng Hội Nhà

văn Việt Nam với tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, giải thưởng Nhà nước

năm 2001 về văn học nghệ thuật

So với các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến ch ng Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một giọng điệu

riêng Qua các tập thơ Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (Trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi

lặng (2007), ta bắt gặp những suy tư của ông đ i với nhân dân, đất nước;

những chiêm nghiệm về đời s ng xã hội, nhân tình thế thái N i đến Nguyễn Khoa Điềm, ai cũng dễ dàng hình dung ra một phong cách thơ đậm chất triết luận xuất phát từ v n tri thức uyên bác và bề sâu văn h a trong m i liên tưởng vừa sâu sắc triết lí vừa huyền ảo thấp thoáng b ng dáng văn h a cổ xưa của hồn dân tộc Nguyễn Khoa Điềm lại được sinh ra và lớn lên giữa lòng chiếc nôi văn h a Huế Chính cái chất Huế thâm trầm, thơ mộng đã hiến thơ Nguyễn Khoa Điềm sâu kín và loáng thoáng chút bí ẩn mơ hồ Lí giải điều này, Nguyễn Khoa Điềm khẳng định: M i quan hệ giữa văn h a và thơ là m i quan hệ máu thịt, đặc biệt là đ i với cái thời mà k thù mu n hủy diệt chúng

ta cả về văn h a: “trong cái không khí sặc mùi khói sương ấy, giữa cái giáp

ranh giữa sự sống và cái chết, tôi muốn đưa vào bài thơ những hình ảnh đậm chất văn hóa nhất của quê hương, đất nước mình”

Gắn bó với c đô, với dòng Hương Giang nên văn h a Huế ảnh hưởng

rất rõ trong các tác phẩm thơ ca của ông: “Tôi thường nhìn thấy Huế trong

Trang 17

dáng vẻ u trầm Những rêu phong cổ kính ở đó đều mang nét u trầm và buồn… Huế cũng đã một lần “tiêu thổ kháng chiến” và Huế Mậu Thân đã bị bom đạn tàn phá ghê gớm Thân phận hoài nhớ vàng son của người Huế đã khiến cho xứ này trầm xuống Người ta sống với chiều sâu tâm linh Có lẽ vì thế mà nhiều nhà thơ gặp Huế đã để lại những bài thơ hay, ảo diệu và sâu sắc… Huế đẹp và gian khổ luôn ám ảnh tôi”

Hầu hết đề tài trong thơ Nguyễn Khoa Điềm đều được rút ra từ mảnh đất Huế, ngoại ô Huế và “ngoại ô mở rộng” của chiến trường Trị Thiên Nguyễn Khoa Điềm có ý thức về điều đ , và ngược lại, điều đ đến với ông một cách

tự nhiên Nguyễn Khoa Điềm sinh ra ở đấy, lớn lên ở đấy, chiến đấu ở đấy và trở về sinh s ng cũng tại đấy Lịch sử Huế, nền văn h a Huế, hơi thở đời s ng hàng ngày của c đô thấm vào máu thịt của ông và cảm xúc về Huế chan chứa trong thơ ca Chính điều này đã g p phần quan trọng tạo nên bản lĩnh riêng cho thơ Nguyễn Khoa Điềm

1.2.2 Quá trình sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm

Là một con người của xứ Huế, Nguyễn Khoa Điềm cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của bề dày và bề sâu lịch sử, văn h a, tình cảm của một vùng đất c

đô để trở thành một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của thế hệ thơ tr xuất hiện trong những năm chiến tranh ch ng Mỹ Đặc biệt là được s ng trong không khí cách mạng sôi sục của đồng bào miền Nam và tinh thần chiến đấu ch ng Mỹ của nhân dân cả nước Đào tạo ở miền Bắc, lại sớm tiếp xúc một cách có chọn lọc văn học đô thị miền Nam, thông qua các bạn văn: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao điều đ g p phần hình thành phong cách của ông ngay trong những sáng tác đầu tay Ông

đánh vật với bài thơ Đất ngoại ô su t một năm trời (từ tháng 4-1968 đến tháng 4-1969) Giọng thơ của Nguyễn Khoa Điềm ở Đất ngoại ô khá mới m

Các câu thơ được kéo dài một cách tự do phóng khoáng, không quá câu nệ

Trang 18

vào vần điệu Lời thơ tự nhiên, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày Những câu

thơ, những đoạn thơ trong Đất ngoại ô chứa đầy suy tư Từ quá khứ, ông đ i chiếu với hiện tại: “Vườn thơ xưa không có gã áo trắng đi về/ Ngơ ngẩn đọc

thơ buồn trong tiếng guốc cạo râu/ Chỉ còn người phu xe cũ/ Nghiêng cốc rượu chiều nhòe những mái tôn.” Nhà thơ nhìn thấy trong cái nắng tháng

năm "run rẩy những oan hồn" Và tự hỏi: "Ôi mùa phượng hay lòng tôi cháy

đỏ?" Ngọn lửa căm thù của đồng bào miền Nam đã biến thành giông bão:

“Sức trăm năm rung chuyển xuống lòng đường/ Cả ngoại ô làm chiến lũy

sông Hương” Trước đây, ông từng lấy bút danh Mặc Hữu, Hướng Dương

ý dưới những bài báo, nhưng lần này ông dùng tên thật của mình khi quyết

định gửi Đất ngoại ô ra Hà Nội Bài thơ được đăng trang trọng trên báo Văn

nghệ Bạn đọc yêu thơ bắt đầu biết đến cái tên Nguyễn Khoa Điềm từ đ Đất ngoại ô chiếm một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp thi ca của ông Nó mở cho

ông một hướng đi riêng, một cách n i năng, một giọng điệu riêng trong dòng thơ ch ng Mỹ Thơ của ông hay chính là ở những suy tư của tác giả về cuộc

s ng lam lũ của người dân lao động (Những đồng tiền ngoại ô); về tình cảnh đau thương của đất nước (Nơi Bác từng qua); về tình bạn bè, đồng đội (Bếp

lửa rừng) Bài Con gà đất, cây kèn và khẩu súng là một bài thơ c sự liên

tưởng hết sức độc đáo Người lính Giải ph ng quân đã đi từ: “Con gà đất /

Cây kèn/ Và Khẩu súng/ Để nhận lấy tình yêu của thuở ban đầu” Nhưng

thành công nhất trong Đất ngoại ô chính là bài Khúc hát ru những em bé lớn

trên lưng mẹ Báo Văn nghệ giới thiệu bài thơ này ở ngay trang nhất - một

trường hợp hi hữu đ i với những cây bút tr từ trước đến nay Khúc hát ru đã được Trần Hoàn phổ nhạc, trở thành bài hát nổi tiếng một thời Tất nhiên, không phải bài thơ nào của ông viết trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này

cũng thành công Một s bài thơ trong Đất ngoại ô, theo tôi là còn quá dàn trải, thiếu sự cô đọng cần thiết Bước sang trường ca Mặt đường khát

Trang 19

vọng, Nguyễn Khoa Điềm vẫn tiếp tục mạch suy tư về nhân dân, đất nước

b ng l i thể hiện tự nhiên, bình dị, phóng khoáng, hiện đại v n có của mình

Không ai nói về đất nước dễ hiểu như ông: “Đất là nơi anh đến trường/

Nước là nơi em tắm” Ông giải thích đất nước đến tận cội nguồn: “Đất là nơi chim về/ Nước là nơi Rồng ở” Sự hình thành Đất Nước cũng được ông trình

bày b ng những sự vật, hiện tượng hết sức gần gũi, thân thiết: “Đất Nước bắt

đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn/ Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc/ Tóc mẹ thì bới sau đầu/ Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay, muối mặn/ Cái kèo, cái cột thành tên/ Hạt gạo phải một nắng hay sương xay, giã, giần, sàng/ Đất Nước có từ ngày đó” Chính nhân dân: “sống và chiến đấu/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt, đặt tên/ Nhưng họ đã làm

ra Đất Nước” Bản trường ca này ông viết trong những tháng ngày địch bắn

phá vùng chiến khu Trị Thiên vô cùng ác liệt Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân kể

r ng bản thảo đầu tiên của trường ca này bị bom thả bay tung hết Nguyễn Khoa Điềm tiếc đứt ruột, ông phải ngồi viết lại từng chương một, hoàn thành vào năm 1971 và mãi đến 1974 mới ra mắt bạn đọc Thanh niên trí thức yêu nước ở các đô thị miền Nam lúc bấy giờ rất tâm đắc với bản trường ca này vì

họ tìm được ở đ những tâm tư sâu ín của mình

Sau ngày nước nhà th ng nhất, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lần lượt được giao nhiều trọng trách: Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Văn h a - Thông tin; Tổng Thư ý Ban chấp hành Hội Nhà văn h a V; y viên Bộ Chính trị,

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng - Văn h a Trung ương nên

ít có thời gian làm thơ Tuy vậy, vào năm 1986, ông vẫn cho ra đời tập Ngôi

nhà có ngọn lửa ấm Chỉ một thời gian ngắn sau khi nghỉ hưu, ông đã hoàn

thành tập thơ Cõi lặng (Nxb Văn học - 2007) gây xôn xao dư luận Trong Ngôi nhà có ngọn lửa ấm và Cõi lặng, Nguyễn Khoa Điềm nghiêng về

chiêm nghiệm đời s ng xã hội, nhân tình thế thái Bên cạnh những cái hay,

Trang 20

cái đẹp ông còn nhận thấy những cái chưa hay, chưa đẹp trong cuộc s ng hiện tại Để có được những giây phút bình thản, thoải mái, thanh tịnh, nhà thơ tìm cách hòa mình và thiên nhiên, ông khâm phục và thèm sự ung dung của nó

(Chiều Hương Giang, Cỏ ngọt, Cây vú sữa trước sân nhà, Trong đêm) Làm bạn và học hỏi thiên nhiên, ông đúc rút thành những châm ngôn: “Nhiều

khi đá dạy ta mềm mỏi / Sự tàn nhẫn nhắc ta điều lành/ Nỗi buồn đánh thức

hi vọng” Và: “Giữa thế giới không nhiều may mắn/ Ta học cách vừa lòng với mình/ Chia sẻ sự bình tâm của cỏ” (Hy vọng) Những chiêm nghiệm này

không chỉ cần thiết cho bản thân tác giả mà còn là những bài học hết sức quý giá cho tất cả mọi người

Thơ phải góp phần làm đẹp tâm hồn Sau hơn b n mươi năm vừa đảm

nhiệm những chức vụ quan trọng vừa cầm bút, Nguyễn Khoa Điềm đã đ ng

góp cho nền thơ ca nước nhà một s thành tựu đáng ể Những tác phẩm: Đất

ngoại ô, Mặt đường khát vọng và Ngôi thà có ngọn lửa ấm của ông đã nhận

được Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật Bài thơ Khúc hát ru

những em bé lớn trên lưng mẹ và chương Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của ông đã được tuyển chọn vào sách giáo khoa Ngữ văn

giảng dạy trong nhà trường

Trang 21

1.3 Khảo sát sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm trong chương trình Ngữ văn THCS và PTTH

Bảng 1 Những tác phẩm được giảng dạy trong chương trình THCS

Trang 22

Như vậy ta thấy các sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm được đưa vào trong chương trình Trung học hông nhiều và để nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm với những đặc điểm nổi bật nhất, trong phạm vi h a luận này chúng tôi chỉ đi nghiên cứu những tác phẩm của ông được đưa vào trong

chương trình giảng dạy chính của trường Trung học đ là hai tác phẩm Khúc

hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Ngữ văn 9) và Đất nước (Ngữ văn 12)

Trang 23

CHƯ NG 2 KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ

CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM T G C NH N VĂN H A

2.1 Hát ru từ cội nguồn văn hóa

2.1.1 Hát ru trong truyền thống văn hóa dân tộc

Âm nhạc truyền th ng Việt Nam phong phú, đa dạng với nhiều thể

loại hác nhau, trong đ hát ru là một trong những thể loại âm nhạc dân gian

ra đời sớm nhất, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân loại, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành di sản văn h a tinh thần riêng của người Việt Nam

Hát ru là loại hình nghệ thuật ra đời sớm nhất trong gia đình âm nhạc dân gian Việt Nam, là một l i phổ nhạc của những bài ca dao lục bát, đồng dao,

hò vè dân gian Hát ru là l i hát đơn giản nhất mà hầu như người phụ nữ Việt Nam nào cũng biết và có thể hát Từ bao đời, tiếng mẹ hát ru con bên cánh võng luôn là hình ảnh thân thương, chan chứa tình mẫu tử thiêng liêng:

Đố ai ngồi võng không đưa

Ru con không hát, đò đưa không chèo

Hình ảnh người mẹ trong tiềm thức của tr thơ thường gắn liền với lời ru, tiếng hát:

Ru em, em ngủ cho lâu

Để mẹ đi cấy đồng sâu chưa về

Hát ru có nguồn g c lịch sử lâu đời Từ thời này qua thời khác, từ miền ngược đến miền xuôi, hông nơi nào hông c tiếng mẹ ru con ngủ Tiếng hát

ru không thể thiếu được trên cánh võng, bên vành nôi đong đưa, trên đôi tay trìu mến của mẹ Mỗi dân tộc có một làn điệu hát ru của riêng mình Nhưng

dù thuộc dân tộc nào, con người đều lớn lên trong tiếng hát ru dịu ngọt của

mẹ hiền

Trang 24

Mỗi vùng miền trên đất nước đều c các làn điệu hát ru quen thuộc, phía

Bắc c làn điệu: “Con cò mà đi ăn đêm” với những câu từ sâu sắc nói lên

thân phận vất vả của người nông dân đồng thời ca ngợi l i s ng trong

sạch: “À ơi…Con cò mày đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao À

ơi…Ông ơi, ông vớt tôi nao, tôi có lòng nào ông hãy xáo măng À ơi Có xáo thì xáo nước trong, đừng xáo nước đục đau lòng cò con ” Hoặc vùng đất

Nam bộ có: “Ầu ơ Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu treo lắc lẻo, gập ghềnh

khó qua Ầu ơ Khó qua mẹ dắt con qua, con đi trường học, mẹ đi trường đời ”

Người ta có thể lấy bất cứ bài ca dao lục bát nào để ru Ở đây, âm điệu được lặp đi lặp lại b ng những chuỗi hư từ (à ơi, ầu ơ…) Hát ru còn được nâng cao b ng những làn điệu dân ca khắp các vùng đất nước Lúc này, lời ca không còn là những câu ca dao lục bát nữa mà trở nên phong phú hơn và âm điệu cũng hoàn chỉnh hơn

Dù là hát ru theo hình thức ngâm ngợi (à ơi, ầu ơ ) hay theo các làn điệu dân ca, hoặc hát những ca khúc mới, đặc điểm chung là tạo nên những âm điệu êm ả, thanh bình với tiết tấu chậm rãi, dàn trải để đưa tr thơ nhanh chóng chìm vào một giấc ngủ nồng nàn Người hát càng có ý thức trong việc

ru tr , nghĩa là càng bộc lộ tình cảm trong giọng hát thì đứa tr càng dễ dàng đến với giấc ngủ và ngủ càng sâu

Nghiên cứu về hát ru cho thấy m i quan hệ giữa văn h a truyền

th ng và sự giáo dục tình cảm, đạo đức t t đẹp có tính chất truyền th ng giữa những thành viên trong gia đình và làng x m, giữa làng xóm và qu c gia Hát

ru luôn hướng cho tr vươn tới cái đẹp, những giá trị cao quý trong cuộc đời

và tinh thần ngày thêm toàn vẹn, người mẹ mang lại cho con chất thơ và nguồn cảm hứng, sáng tạo Rõ ràng lời ru của mẹ là nguồn văn h a nuôi dưỡng và hình thành nên tâm hồn, tình cảm cho tr Qua lời ru của mẹ đã làm

Trang 25

nảy sinh trong tâm hồn con tr biết bao điều mới lạ Hát ru không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là ru cho tr ngủ mà nó còn có giá trị độc đáo trong giáo dục đạo đức, nhân cách con người, đặc biệt hát ru chính là cái nôi tạo nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ Vì vậy, ngay từ những ngày tháng còn n m trong bụng mẹ tr đã c thể nhận ra được giọng nói quen thuộc của mẹ và cảm nhận được tình thương của mẹ

Mẹ và con là m i quan hệ bản năng và hăng hít nhất không gì có thể chia cắt được, đ là tình máu mủ, tình mẫu tử thiêng liêng nhất mà bất cứ con người nào cũng phải quý trọng Từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ đến khi lớn lên, tr đã được nghe rất nhiều lời ru ngọt ngào êm ái Người xưa cho r ng

“Cha mẹ sinh con trời sinh tính”, điều đ chứng tỏ r ng nhân cách của con

người đã được hình thành ngay sau khi lọt lòng mẹ Trên thực tế, tr hình thành nhân cách dần dần từ tuổi lên ba đến lên năm, đây là hoảng thời gian

t t nhất tạo nên sự ổn định nhân cách con người

Tr thơ ngay từ khi lọt lòng mẹ, thậm chí từ hi còn là bào thai đã được sớm tiếp xúc với hát ru, một mặt sẽ nhanh chóng nảy nở năng hiếu âm nhạc

vì do sớm được làm quen với những âm trầm bổng khoan nhặt trong lời ru, mặt khác sẽ tạo ngay cho tr những yếu t dịu dàng, nhân hậu của tính cách, tâm hồn

N i đến hát ru là n i đến lòng bao dung, nhân hậu, đến khát vọng được

s ng hoà bình hạnh phúc, đến lòng mong mỏi cho tr thơ được yên ấm trong

sự chở che của cuộc đời Những câu hát ru giàu nhạc điệu gợi sự tưởng tượng của bé thêm phong phú, mở cho bé thấy thiên nhiên bao la, nhiều điều mới lạ cũng rất gần gũi thân thích

Đ i với tr thơ, hát ru là một trong những yếu t hình thành nên bản sắc văn hoá dân tộc, là nguồn sữa nuôi dưỡng thế giới tinh thần, là nhịp cầu n i tâm thức tr với mọi bài học về cuộc s ng xã hội bởi vì nó có sức hấp dẫn, lôi

Trang 26

cu n mạnh mẽ nhất đ i với các em nh m phát triển tình cảm, đạo đức, tình đoàn ết, mở rộng nhận thức, tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, qua đ g p phần giáo dục tr về truyền th ng văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Lời ru của mẹ là nguồn văn h a nuôi dưỡng và hình thành tâm hồn, tính cách con tr , lời ru cứ lặp đi, lặp lại tr cảm nhận và thấm dần Vì vậy, hát ru

là cái nôi hình thành nên nhân cách con người B ng tiếng hát ru, người mẹ đã dạy dỗ con những điều hay lẽ phải, tình thương yêu, lòng tự trọng, ý chí kiên cường và những kinh nghiệm của cuộc s ng với ước vọng con tr sẽ lớn khôn thành người, mai sau sẽ là những tài năng c ng hiến cho Tổ qu c, để mang lại

v vang cho gia đình

Thông qua hát ru những người “ngoài cuộc” cũng c cơ hội để thấu hiểu

người thân trong gia đình

Hát ru châu thổ Bắc Bộ là loại hát ru mang phong cách hát nói, ngâm ngợi, thường phổ nhạc dựa vào những câu thơ lục bát (6/8) hoặc lục bát biến thể Vì vậy, thể loại âm nhạc hát ru luôn hình thành cho tr khả năng thẩm mỹ

và nhanh nhậy đ i với nền âm nhạc truyền th ng, hát ru được coi là trường nghệ thuật đầu tiên của tr Không những thế, hát ru được xem như một thành

t cơ sở, tiền đề trong việc hình thành và phát triển nhân cách của tr em Lời ru của người mẹ là nét truyền th ng của mỗi gia đình Việt Nam, những bài hát ru, những câu hát nhẹ nhàng, những bài hát đồng dao gắn liền với trò chơi và các câu hát ru c nội dung giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho tr Những điều đ còn phản ánh tính giáo dục của dân gian được đúc ết từ thế

hệ này sang thế hệ khác Những bài hát ru có lịch sử từ rất lâu đời, nhưng nhìn chung luôn gần gũi với đời s ng gia đình, luôn c xu hướng vượt qua mọi ước định về thời gian, nên hát ru cũng c những bước phát triến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Đ chính là sự bảo tồn và phát huy văn

Trang 27

hóa dân tộc một cách sinh động, bền vững, bởi vì những câu hát ru mang nhiều yếu t giáo dục Người xưa thường chăm lo xây dựng những thói quen văn h a, ý thức gắn ết cộng đồng và rèn luyện tài năng cá nhân để hun đúc thành cái v n văn h a chung của cộng đồng dân tộc

Giá trị bền vững của truyền th ng văn h a gia đình mà hát ru mang lại,

nh m góp phần giúp các em hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam Vì vậy, nội dung giáo dục của gia đình phải đảm bảo cho các em có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người, có kỹ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về nghệ thuật

Có thể nói, hát ru là một trong những yếu t góp phần hình thành và phát triển nhân cách, giúp tr cảm thụ về giá trị âm nhạc dân gian truyền th ng và tác dụng của hát ru đ i với đời s ng xã hội, bồi đắp ý thức trân trọng, gìn giữ

và phát huy những giá trị nghệ thuật trong nền văn h a dân gian của dân tộc

Từ đ , giúp tr hiểu biết và phân biệt được rõ hơn những nét đặc trưng của các làn điệu dân ca Ngoài ra, hát ru còn giáo dục tình đoàn ết yêu thương nhau, kính thầy mến bạn; yêu quý thiên nhiên, yêu chuộng hòa bình và nhất là giáo dục các em tình yêu gia đình, quê hương, đất nước và lòng yêu mến Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, giúp các em ngày càng yêu thích và trân trọng những giá trị của các loại hình dân ca độc đáo của dân tộc

Lời ru cất lên bên nôi đã nuôi dưỡng trưởng thành biết bao vĩ nhân, những người con ưu tú của đất nước, của nhân loại cần lao Các giai điệu đã tạo thành những di sản văn h a đi vào thơ ca, nhạc họa, nghệ thuật và trường tồn cùng với lịch sử văn h a của dân tộc Kỳ diệu thay, tất cả những làn điệu hát ru, dân ca, cổ truyền được truyền tải b ng cả tấm lòng được ăn sâu trong

Trang 28

tiềm thức của người phụ nữ, những người bà, người mẹ, người chị, người vợ

và trở nên s ng động, dạt dào chứa bao sức s ng, đi vào lòng người như những giọt mật thật tự nhiên hồn hậu, nhẹ nhàng, êm dịu, du dương, trìu mến

vỗ về theo nhịp đu đưa, lời ca phong phú giàu hình tượng tạo thành hành trang không thể thiếu cho mỗi con người, cho cả dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển

Có thể nói, hát ru, hát dân ca cổ truyền là v n quý, thời gian qua đã được các đơn vị Thông tin lưu động, các Đoàn nghệ thuật biểu diễn quan tâm trong phong trào sáng tác, dàn dựng trở thành một hoạt động sinh hoạt văn h a, văn nghệ rộng khắp, thực sự hơi dậy được tình yêu quê hương, đất nước, con người Việt Nam góp phần quan trọng vào việc bảo tồn, gìn giữ trao truyền kho tàng các giá trị văn h a truyền th ng các dân tộc cho thế hệ tr , góp phần quan trọng trong việc giáo dục phẩm chất văn hóa, nghệ thuật truyền th ng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại h a đất nước, cổ vũ các tầng lớp nhân dân chung tay xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp dệt nên những tác phẩm giàu hình tượng chân thực sinh động thể hiện qua nghệ thuật biểu diễn

hát ru, hát dân ca cổ truyền ngọt ngào sâu lắng để mãi mãi xanh tươi Đất

nước lời ru

2.1.2 Hát ru trong văn hóa Tà-ôi

Dân tộc Tà-ôi hay còn gọi là dân tộc Pa Cô, Pa Hi có khoảng 30.000 người, sinh s ng chủ yếu ở huyện Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế Người Tà-

ôi có nhiều tập tục hay, nhiều sinh hoạt đẹp

Người Tà-ôi ở Việt Nam thật sự đã c một ho tàng văn học dân gian rất

phong phú với các thể loại: Ca dao (Pracăm), câu đ (Pralau), truyện cổ dân gian (Axoar), tục ngữ và dân ca, trong đ hát ru là một thành phần quan trọng

trong hệ th ng ca dao, dân ca của dân tộc Tà-ôi

Trang 29

Trong ho tàng văn học dân gian Tà-ôi, thể loại ca dao có một vị trí rất quan trọng trong sự hình thành nền văn hoá bản địa, đặc biệt là những khúc hát ru Hát ru của văn h a dân tộc Tà-ôi có l i thể hiện b ng các ngôn từ đ m thắm nh m gửi gắm những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình qua từng lời n i như:

Ngủ ngon A-kay ơi! Ngủ ngon A-kay hỡi Mai sau khôn lớn được ở nhà dài

họ lại đưa vào trong những khúc hát ru và câu ca dao các hình ảnh về núi đồi, rượu, nương rẫy và cồng chiêng:

Nghe tiếng trống, tiếng chiêng hay quá Nhà bạn dù nhỏ, cũng xin được vào chơi Mình sang chơi mà chưa thấy ai mời

Có hội hè, mình muốn cùng vui có được không?[17]

Không gian và thời gian trong ca dao Tà-ôi thường lấy cảnh núi đồi, nương rẫy, lấy thời gian buổi sáng là chủ đạo, tiếp đến là thời gian lễ hội và thời gian hi đêm về:

Buổi sáng em ra rẫy Lấy lá môn múc nước suối trong

Em đứng soi bóng mình Sao em thấy cả bóng anh [17]

Ngày đăng: 21/02/2020, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Khoa Điềm (1972), Đất ngoại ô, Nxb Giải phóng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất ngoại ô
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Giải phóng
Năm: 1972
2. Nguyễn Khoa Điềm (2000), “Đất nước” (trả lời phỏng vấn), Tác giả nói về tác phẩm, Nxb Tr , Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước"” (trả lời phỏng vấn), "Tác giả nói về tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Tr
Năm: 2000
3. Nguyễn Khoa Điềm (1995), Mặt đường khát vọng, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt đường khát vọng
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1995
4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
5. Phan Trọng Luận chủ biên (2008), Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12
Tác giả: Phan Trọng Luận chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
6. Nguyễn Xuân Nam (1985), Thơ tìm hiểu và thưởng thức, Nxb Tác phẩm Mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tìm hiểu và thưởng thức
Tác giả: Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Tác phẩm Mới
Năm: 1985
7. Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn h a thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn h a thông tin
Năm: 1998
8. Nguyễn Thị Nhung (2009), Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm
Tác giả: Nguyễn Thị Nhung
Năm: 2009
9. Nguyễn Khắc Phi chủ biên (2003), Ngữ Văn 9, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 9
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
10. Nguyễn Kim Phong chủ biên (2008), Kỹ năng đọc hiểu văn bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng đọc hiểu văn bản
Tác giả: Nguyễn Kim Phong chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
11. Trần Ngọc Thêm (2002), Cơ sở văn hóa, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
12. Trần Ngọc Thêm (2004), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2004
13. Nguyễn Quang Thiều chủ biên (2000), Tác giả nói về tác phẩm, Nxb Tr , Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả nói về tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Quang Thiều chủ biên
Nhà XB: Nxb Tr
Năm: 2000
14. Trần Qu c Vƣợng chủ biên (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Qu c Vƣợng chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w