Trong đó, tự đánh giá là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong công tácquản lý chất lượng; đó là quá trình nhà trường căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá chấtlượng giáo dục do Bộ Giáo dục và
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ ANH TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ ANH TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở TỈNH LÀO CAI Ngành: Quản lý giáo dục
Mã ngành: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG VĂN DƯƠNG
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN h t t p : / / l r c t nu.edu v n
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kếtquả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳmột công trình nào khác
Lào Cai, tháng 11 năm 2019
Người viết
Lê Anh Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin cảm ơn Khoa Tâm lý giáo dục, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học
Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các Thầy Cô giáo đã tham gia giảng dạy vàgiúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo - TS Hoàng Văn Dương, người đã tận tìnhgiúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn sự quan tâm của Hiệu trưởng và quý thầy cô giáo các trường THPTcủa tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp số liệu, tư vấn khoa học chotôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn tấm lòng của tất cả những người thân yêu, bạn bè vàđồng nghiệp đã động viên, khích lệ và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiêncứu
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn luận văn tốt nghiệp không tránhkhỏi những sai sót, kính xin được góp ý và chỉ dẫn thêm
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN h t t p : / / l r c t nu.edu v n
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước 6
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 11
1.2.3 Chất lượng, chất lượng giáo dục, quản lý chất lượng giáo dục 14
1.2.4 Kiểm định chất lượng giáo dục 17
1.3 Kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông 22
1.3.1 Cơ sở pháp lý về kiểm định chất lượng giáo dục trung học phổ thông
22 1.3.2 Mục đích kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông
23 1.3.3 Quy trình và chu trình kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông 24 1.3.4 Tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo trong đánh giá chất lượng giáo dục trường
Trang 6trung học phổ thông 28
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN h t t p : / / l r c t nu.edu v n
1.3.5 Kiểm định viên 30
1.4 Quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông
31 1.4.1 Phân cấp quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông 31
1.4.2 Lập kế hoạch kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông 33
1.4.3 Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông 35
1.4.5 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông 37
1.4.6 Quản lý hoạt động cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục sau hoạt động đánh giá ngoài 38
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường trung học phổ thông 39
1.5.1 Yếu tố khách quan 39
1.5.2 Yếu tố chủ quan 40
Kết luận chương 1 40
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH LÀO CAI 42
2.1 Sơ lược về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục phổ thông tỉnh Lào Cai 42
2.1.1 Tình hình kinh tế và xã hội 42
2.1.2 Tình hình giáo dục phổ thông 42
2.1.2 Số liệu phát triển giáo dục trung học phổ thông 43
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 46
2.2.1 Mục đích của nghiên cứu thực trạng 46
2.2.2 Nội dung khảo sát thực trạng 46
2.2.3 Địa bàn và đối tượng khảo sát thực trạng 47
2.2.4 Phương pháp khảo sát thực trạng 47
2.3 Thực trạng hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông ở tỉnh Lào Cai 49
2.3.1 Công tác tham mưu và ban hành văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ 49
Trang 82.3.2 Nhận thức của cán bộ quản lý Sở GD&ĐT, trường THPT và các đoàn đánh
giá ngoài về vai trò, mục đích và quy trình kiểm định chất lượng giáo dục
phổ thông 49
2.3.3 Thực trạng tự đánh giá tại trường THPT theo tiêu chuẩn 51
2.3.4 Thực trạng hoạt động đánh giá ngoài trường THPT theo tiêu chuẩn 58
2.3.5 Thực trạng về việc duy trì và cải tiến chất lượng sau đánh giá ngoài 61
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông ở tỉnh Lào Cai 62
2.4.1 Xây dựng kế hoạch KĐCLGD (tự đánh giá và đánh giá ngoài) 62
2.4.2 Chỉ đạo và tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục 63
2.4.3 Kiểm tra, đánh giá hoạt động KĐCLGD 66
2.4.4 Quản lý hoạt động cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường trung học phổ thông 67
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông ở tỉnh Lào Cai 70
2.5.1 Ưu điểm 70
2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 71
Kết luận chương 2 72
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH LÀO CAI 74
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 74
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và khách quan 74
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 74
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 74
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 75
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT ở tỉnh Lào Cai 75
3.2.1 Biện pháp 1: Tạo sự đồng thuận trong xã hội và tổ chức nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên về công tác kiểm định chất lượng giáo dục 77
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN h t t p : / / l r c t nu.edu v n
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch kiểm định chất lượng giáo dục gắn với
lộ trình xây dựng trường chuẩn quốc gia 78
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới quản lý, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để hướng tới xây dựng đội ngũ kiểm định viên chuyên nghiệp 81
3.2.4 Biện pháp 4: Quản lý đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục 85
3.2.5 Biện pháp 5: Nâng cao hiệu quả quản lý kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT bằng cách sử dụng kết quả kiểm định chất lượng vào đánh giá nhà trường 87
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục 90
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp mới đề xuất 94
3.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 94
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 94
3.4.2 Đối tượng và nội dung khảo nghiệm 95
3.4.3 Cách thức khảo nghiệm 95
3.4.4 Thang đánh giá khảo nghiệm 95
3.3 Kết quả khảo nghiệm 96
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN h t t p : / / l r c t nu.edu v n
DANH MỤC CÁC BẢNG
Sơ đồ 1.1 Các chức năng của quản lý 11
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu về số học sinh, số lớp, số trường 43
Bảng 2.2 Thông tin về cán bộ quản lý trường THPT tỉnh Lào Cai 44
Bảng 2.3 Thông tin về trình độ giáo viên trường THPT tỉnh Lào Cai 44
Bảng 2.4 Kết quả học tập của học sinh THPT 45
Bảng 2.5 Kết quả hạnh kiểm học sinh THPT 45
Bảng 2.6 Kết quả thi tốt nghiệp THPT trong 3 năm gần đây 45
Bảng 2.7 Vai trò của công tác KĐCLGD đối với việc thực hiện công tác quản lý trong nhà trường THPT và với các cấp quản lý giáo dục 49
Bảng 2.8 Thực trạng mục đích của kiểm định chất lượng giáo dục đối với trường THPT tỉnh Lào Cai 50
Bảng 2.9 Thực trạng quy trình kiểm định chất lượng giáo dục đối với trường THPT tỉnh Lào Cai 51
Bảng 2.10 Thực trạng thực hiện tự đánh giá tại trường THPT tỉnh Lào Cai hiện nay 52
Bảng 2.11 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của trưởng đoàn đánh giá ngoài 58
Bảng 2.12 Bảng khảo sát năng lực làm việc của đoàn đánh giá ngoài 59
Bảng 2.13 Bảng khảo sát năng lực làm việc của đoàn đánh giá ngoài 59
Bảng 2.14 Khảo sát việc lập kế hoạch KĐCLGD (tự đánh giá và đánh giá ngoài) 62
Bảng 2.15 Khảo sát việc tổ chức thực hiện tự đánh giá và đánh giá ngoài 64
Bảng 2.16 Khảo sát việc chỉ đạo thực hiện tự đánh giá và đánh giá ngoài 65
Bảng 2.17 Khảo sát việc kiểm tra, đánh giá hoạt động KĐCLGD 66
Bảng 2.18 Kết quả cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục sau KĐCL 68
Bảng 2.19 Kết quả yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục 69
Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 96
Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 97
Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động KĐCLGD ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai 99
Trang 121 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trước xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và sự phát triển của cách mạngcông nghiệp 4.0 đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải cung cấp được nguồn nhân lực chấtlượng cao đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước Để thực hiện nhiệm vụnày, giáo dục nói chung, giáo dục trung học phổ thông của nước ta nói riêng phảikhông ngừng nâng cao chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dục và quản lý chấtlượng giáo dục là vấn đề được Đảng, Nhà nước và xã hội rất quan tâm, đã có nhiềucông trình nghiên cứu về vấn đề này ở các cấp độ khác nhau và đã có đề xuất nhiềugiải pháp, biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục Một trong những biện pháp quantrọng đó là xây dựng và triển khai hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục(KĐCLGD) Vấn đề này đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục 2005, quy định tại
Điều 17 “Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi
cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát” [30].
KĐCLGD không những mang lại cho cộng đồng bằng chứng về chất lượngđào tạo mà còn mang lại cơ hội và động cơ để nâng cao chất lượng cho các nhàtrường đã qua kiểm định Chính điều này là một trong những đặc điểm làm nên sựkhác biệt giữa KĐCLGD với các mô hình quản lý chất lượng giáo dục khác (thanh tragiáo dục…) Tính chất, nhiệm vụ chủ yếu của đánh giá ngoài là đánh giá đồng cấp,đánh giá kết quả tự đánh giá, giúp cơ sở giáo dục nhận thấy rõ hơn các điểm mạnh,điểm yếu và đưa ra kế hoạch cải tiến chất lượng của mình hợp lý, thiết thực hơn Đây
là một đặc điểm hết sức quan trọng làm cho kiểm định chất lượng giáo dục nhanhchóng hoà nhập được vào các hoạt động của cơ sở giáo dục trong một không khí làmviệc thân thiện, cởi mở
Để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác KĐCLGD cơ sở giáo dục phổthông, cần phải thực hiện tốt bốn (04) khâu của quy trình kiểm định, đó là tự đánh giácủa cơ sở giáo dục phổ thông; đăng ký kiểm định; đánh giá ngoài; công nhận cơ sở
Trang 13giáo dục phổ thông đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục và cấp giấy chứng nhậnKĐCLGD Trong đó, tự đánh giá là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong công tácquản lý chất lượng; đó là quá trình nhà trường căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá chấtlượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tự kiểm tra, tự xem xét, để báocáo về tình trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, nhânlực, cơ sở vật chất và các vấn đề liên quan khác, tạo cơ sở cho bước tiếp theo là đánhgiá ngoài Đánh giá ngoài là bước quan trọng tiếp theo sau tự đánh giá, trong quytrình KĐCLGD; đánh giá ngoài là hoạt động đánh giá của cơ quan quản lý nhà nướcnhằm xác định mức độ đạt được tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục của trườngphổ thông; đánh giá ngoài để tạo cơ sở cho việc ra quyết định công nhận kết quả kiểmđịnh và là một bằng chứng về uy tín và mức độ đạt được các chuẩn mực chất lượng.
Trong những năm qua, công tác KĐCLGD ở các cơ sở giáo dục trong tỉnh LàoCai nói chung, ở các trường THPT nói riêng đã đạt được những kết quả khả quan.Tuy nhiên, công tác KĐCLGD trường THPT còn tồn tại một số khó khăn và hạn chế:
- Một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên trường THPT chưa nhận thức đầy
đủ về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác KĐCLGD đối với yêu cầu nângcao chất lượng giáo dục trường phổ thông nên chưa có sự quan tâm đúng mức;
- Một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên ở các trường tuy được tập huấn,nhưng chưa nắm chắc quy trình, kỹ thuật tự đánh giá, vì vậy việc triển khai hoạt độngnày chưa đáp ứng yêu cầu đạt ra;
- Công tác lưu trữ hồ sơ, văn bản, tài liệu của các trường không đầy đủ, thiếukhoa học là trở ngại lớn, mất nhiều thời gian cho việc thu thập thông tin minh chứng.Việc sử dụng, sắp xếp, bố trí thông tin minh chứng của báo cáo tự đánh giá chưa phùhợp với yêu cầu của chỉ báo;
- Chất lượng báo cáo tự đánh giá của nhiều trường chưa đạt yêu cầu, chưaphản ánh được chất lượng và thực tiễn của nhà trường;
- Chưa có đội ngũ đánh giá ngoài chuyên trách, tất cả đánh giá viên đều thựchiện đánh giá ngoài theo điều động của Sở GD&ĐT như là công tác kiêm nhiệm nên
bị động về thời gian cũng như hạn chế về năng lực khi thực hiện công việc đánh giángoài;
- Việc tổ chức thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng của nhà trường sau tựđánh giá và đánh giá ngoài chưa được kiểm tra, theo dõi thường xuyên nên hiệu quảcủa công tác KĐCLGD chưa thực sự rõ nét
Trang 14Xuất phát từ thực tế nêu trên tại địa phương, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT ở tỉnh Lào Cai” làm hướng
nghiên cứu, đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác KĐCLGDtrường THPT ở tỉnh Lào Cai nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diệngiáo dục theo nghị quyết 29, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động KĐCLGD, từ đó
đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác KĐCLGD trường THPT
ở tỉnh Lào Cai; giúp các trường THPT xác định được mức độ đáp ứng mục tiêu giáodục trong từng giai đoạn để chủ động xây dựng kế hoạch cải tiến, nâng cao chấtlượng các hoạt động giáo dục trong nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động KĐCLGD trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động KĐCLGD trường THPT ở tỉnh Lào Cai
3.3 Khách thể điều tra
- Cán bộ quản lý ở cơ quan Sở GD&ĐT: 05
- Cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên các trường trung học phổ thông: 240
- Thành viên các Đoàn đánh giá ngoài: 40
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về KĐCLGD và hoạt động KĐCLGD trường THPT
4.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động KĐCLGD trường THPT
ở tỉnh Lào Cai
4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động KĐCLGD trường THPT ở tỉnhLào Cai
5 Giả thuyết khoa học
Hoạt động KĐCLGD trường THPT ở tỉnh Lào Cai hiện nay đã đạt đượcnhững kết quả khả quan, tuy nhiên còn một số hạn chế như việc lập kế hoạch, chỉ
Trang 15chức thực hiện, đội ngũ kiểm định viên chưa được đào tạo bài bản, việc kiểm tra vàgiám sát chưa thường xuyên Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt độngKĐCLGD phù hợp và vận dụng các biện pháp này một cách đồng bộ thì sẽ nâng caohiệu quả công tác KĐCLGD, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THPT của tỉnhLào Cai.
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt độngKĐCLGD trường THPT theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của Bộ GD&ĐT
- Về không gian: Nghiên cứu trên 25 trường THPT ở tỉnh Lào Cai, trong đó:
04 trường ở khu vực thành phố, 07 trường ở khu vực thị trấn, 07 trường ở khu vực nông thôn và 07 trường ở khu vực vùng cao đặc biệt khó khăn
Về thời gian: Số liệu điều tra từ năm học 2015 2016 đến hết năm học 2018
-2019 Thời gian nghiên cứu từ năm 2017 đến năm -2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu khoahọc về KĐCLGD và quản lý hoạt động KĐCLGD trường THPT để hoàn thiện cơ sở
lý luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát, điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng hệ thống câu hỏiđiều tra để thu thập ý kiến đánh giá về thực trạng hoạt động kiểm định chất lượnggiáo dục và quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT trên địabàn nghiên cứu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Từ kết quả thực tế về quản lý công tácKĐCLGD trường THPT, đưa ra các ý kiến đánh giá để làm cơ sở cho việc đề xuấtcác biện pháp
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia để đánh giá tính cần thiết vàkhả thi của các biện pháp mới đề xuất
7.3 Phương pháp bổ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý, phân tích các số liệu điềutra, khảo sát nhằm đưa ra kết luận phục vụ công tác nghiên cứu
Trang 168 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động KĐCLGD trường THPT Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động KĐCLGD trường THPT ở tỉnh Lào Cai Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động KĐCLGD trường THPT ở tỉnh
Lào Cai
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Có nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, đặc biệt là công trình củacác nhà khoa học thuộc các nước phát triển về KĐCLGD như Mỹ, Anh, Úc, Canada,
Ấn độ, Philipin Điển hình có thể kể đến một số công trình tiêu biểu của các tác giả:
Elain El Khawas (2001) - Kiểm định chất lượng ở Mỹ: Nguồn gốc, sự diễn biến và triển vọng cho tương lai (Accreditation in the USA: Origin, developments
and future prospect) Nghiên cứu đã chỉ ra cách thức tiến hành quá trình kiểm địnhbao gồm thực hiện báo cáo tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận mức độ đáp ứngcủa nhà trường hay chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn Ngoài ra, công trình đã nêulên được những cơ hội và thách thức cho lĩnh vực KĐCLGD, những tác động củakiểm định chất lượng đến việc nâng cao chất lượng của nhà trường đồng thời rút ranhững bài học cho lĩnh vực này [38]
Các tác giả LazrVLSCEANU, Laura GRÜNBERG, và DanPÂRLEA(UNESCO 2007) - Những thuật ngữ và định nghĩa cơ bản trong đảm bảo chất lượng
và kiểm định chất lượng giáo dục (Quality Assurance and Accreditation: A Glossary
of BasicTerms and Definition) Nghiên cứu đưa ra một cách đầy đủ các thuật ngữ,định nghĩa chuyên dùng trong lĩnh vực KĐCLGD như: Kiểm định chất lượng, kiểmđịnh cơ sở giáo dục, kiểm định chương trình giáo dục, kiểm định vùng, kiểm toán,đánh giá chất lượng, tự đánh giá, đánh giá ngoài, đối sánh, tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số,xếp hạng hay công nhận cơ sở giáo dục đạt chuẩn [39]
Nhóm tác giả Janet Fairman, Brendra Peirce và Walter Harris (2009) với công
trình “Kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Maine: Nhận thức về chi phí
và lợi phí” (High school accreditation in Maine: Perception of cost and benefits)
thuộc trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá giáo dục và Phát triển con người thuộc Đạihọc Maine - Mỹ Nhóm tác giả đã trình bày rất rõ quy trình kiểm định chất lượng giáo
Trang 18dục trường THPT, gồm tự đánh giá, đánh giá ngoài theo bộ tiêu chuẩn và công nhậnkiểm định chất lượng thông qua các nghiên cứu điển hình, thực tế từ 40 trườngTHPT Đồng thời nhóm tác giả cũng chỉ ra Đoàn đánh giá ngoài gồm những người có
ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục và họ đều đến từ các trường phổthông khác [19]
KĐCLGD trường THPT, Mỹ là quốc gia có bề dày lịch sử nhất Có 3 loại kiểmđịnh là: Kiểm định quốc gia, kiểm định vùng và kiểm định chuyên ngành Kiểm địnhchất lượng giáo dục Mỹ có tính độc lập cao, tuân thủ chính sách và các bộ tiêu chuẩnngay cả khi không có giám sát Việc kiểm định chất lượng giáo dục các trường phổthông ở Mỹ nhằm mục tiêu đảm bảo chất lượng, nâng cao vị thế và uy tin nhà trườnggắn với cải thiện chất lượng trường Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường phổthông ở Mỹ, khác biệt nhau theo từng vùng và lãnh thổ Nhưng vẫn có một số điểmcốt lõi giống nhau: Sứ mạng; Kế hoạch và đánh giá; Tổ chức và quản trị; Chươngtrình đào tạo; Giáo viên; Học sinh; Thư viện và các nguồn thông tin khác; Cơ sở vậtchất và công nghệ; Nguồn tài chính Chu kỳ kiểm định chất lượng từ 3 đến 5 năm,gồm các bước: Tự đánh giá theo tiêu chuẩn; đăng ký đánh giá ngoài; đánh giá ngoài;công nhận
Ở Canada việc kiểm định trường phổ thông được giao cho các tỉnh dưới sự chỉđạo của Bộ Giáo dục Bộ tiêu chuẩn kiểm định các trường THP ở Canada gồm 12 tiêu
chuẩn (Tầm nhìn, sứ mạng, chiến lược; Chương trình ngoại khóa và môi trường học tập; Chương trình chính khóa trên lớp học; Lãnh đạo nhà trường; Đội ngũ giáo viên, nhân viên; Trường học và cộng đồng; Tiến trình tuyển sinh và chất lượng học sinh đầu vào; Quản lý; Tài chánh; Môi trường, sức khỏe và sự an toàn; Các nhiệm vụ, hoạt động để cải tiến nhà trường; Tiêu chuẩn chương trình đáp ứng với khu vực dân
cư tại địa phương) và quy trình được thống nhất ở các tỉnh, nhưng vẫn được linh
hoạt, thay đổi và bổ sung hằng năm tùy theo từng vùng miền Kết quả kiểm địnhđược công khai để người học, cha mẹ cũng như xã hội biết
Ở Singapore hệ thống giáo dục tư thục (Pricate Education Instutitions viết tắt
là PEIs) phát triển mạnh mẽ bên cạnh hệ thống các trường công lập Chính phủ thànhlập một cơ quan quản lý để quản lý hệ thống trường này (CPE) Để quản lý các
Trang 19dung cơ bản như: Trách nhiệm và cam kết lãnh đạo; Quản trị liên hiệp; Bộ phận tuyển dụng bên ngoài; Các dịch vụ hỗ trợ và bảo vệ học sinh; Quá trình học tập và đánh giá học sinh; Đảm bảo chất lượng, kiểm soát và kết quả thu được Quy trình
kiểm định có Quy trình bắt buộc có tên là Khung tăng cường đăng ký (EnhanceRegistration Framework - ERF) và Quy trình tự nguyện có tên là Quy trình đảm bảochất lượng giáo dục (Edu Trust)
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về KĐCLGD ở nước ta phải kể đến một số công trình của các tác giả: Trần Khánh Đức (2004) với công trình “Quản lý và kiểm định chất lượngđào
tạo nhân lực” đã phân tích kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục hay kiểm định chươngtrình giáo dục chỉ thực hiện được một cách có hiệu quả khi việc xây dựng hệ thốngđảm bảo chất lượng trong nhà trường được giải quyết Tác giả cho rằng kiểm địnhchất lượng là một khâu trong quá trình quản lý chất lượng, và chính kiểm định chấtđịnh chất lượng là phương pháp, là công cụ để đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượngcủa tổ chức đó Về Qui trình kiểm định chất lượng, tác giả cho rằng có các khâu:Đăng ký tự đánh giá, tự đánh giá, đánh ngoài và đến công nhận kiểm định chất lượng[17]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2006 với mã số B2004-80-06 “Xâydựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT và triển khai đánhgiá thí điểm tại một số tỉnh, thành phố” (đơn vị chủ trì là Viện Nghiên cứu Phát triểnGiáo dục) do Nguyễn An Ninh chủ nhiệm đã xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giáchất lượng giáo dục trường THPT Bộ tiêu chí được xây dựng trên cơ sở của mô hìnhCIPO (Context- Input-Process- Output) do UNESCO đề xuất, gồm có 42 tiêu chí,mỗi tiêu chí có 03 chỉ số Bộ tiêu chí đã thể thể hiện bao quát được các hoạt độngtrường THPT Tuy nhiên, trong công trình này không đề cập đến kỹ thuật tự đánh giánhà trường theo tiêu chí [25]
Lê Đức Ngọc (2009) “Tổng quan về kiểm định và đảm bảo chất lượng giáodục phổ thông” đã cho rằng kiểm định chất lượng là một giải pháp quản lý chất lượng
và hiệu quả nhằm các mục tiêu sau: Đánh giá hiện trạng của cơ sở giáo dục đáp ứngcác tiêu chuẩn đề ra như thế nào? Hiện trạng cơ sở giáo dục có chất lượng và hiệu
Trang 20quả ra sao? Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với các tiêu chuẩn
đề ra của cơ sở giáo dục Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với các
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn
tiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiệnđược so với các tiêu chuẩn đề ra, định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phụcđiểm yếu để phát triển [24]
Ngoài các công trình trên, có một số luận án, luận văn và các bài báo nghiêncứu về KĐCLGD hoặc là đảm bảo chất lượng giáo dục, như Nguyễn Mạnh Cường(2009) với luận án tiến sĩ “Phát triển nhà trường THPT theo quan điểm nhà trườnghiệu quả” tại Đại học Giáo Dục thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đặng Văn Toàn vớibài viết “Kinh nghiệm xây dựng trường trung học đạt chuẩn kiểm định chất lượnggiáo dục ở huyện Hương Khê - Hà Tĩnh” đăng trên Tạp chí Dạy và học ngày nay số 5/2005
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu, các tác giả đều đánh giá cao vai trò của KĐCLGD nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Công tác KĐCLGD trường THPT ở Việt Nam hiện nay cơ bản cũng như các nước, tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về công tác ngày Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lào Cai vẫn chưa có công trình nào đề cập đến công tác quản lý hoạt kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT Do đó, việc lựa chọn vấn đề quản lý hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai là vấn đề cần thiết, cần được nghiên cứu nhằm góp phân nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường THPT tại tỉnh.
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phức tạp và phong phú Chính vì
sự phong phú đó nên khi nói đến QL đã có rất nhiều khái niệm khác nhau và tư tưởng
QL cũng khác nhau
* QL theo quan niệm của tác giả nước ngoài:
Theo Harold Koontz (nhà QL người Mỹ) cho rằng: “Quản lý là một yếu tố cầnthiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân” Do vậy, QL với tư cách thực hànhthì nó là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức làm cơ sở cho nó có thể coi như làmột khoa học [19]
Nói đến hoạt động QL, người ta không thể không nhắc tới C Mác C.Mácquan niệm quản lý là điều khiển: “Một nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển mình, còn giànnhạc thì cần có nhạc trưởng”
Trang 22* QL theo quan niệm của các tác giả trong nước:
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến” [27].
Theo tác giả Nguyễn Hữu Long - 2009: “Quản lý là một phạm trù của khoa học quản lý, có sự tác động qua lại của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, trong
đó chủ thể quản lý đóng vai trò chủ đạo" Đây là một định nghĩa làm cho hoạt động
QL vừa mang tính khoa học, vừa mang tính công nghệ, đặc biệt là đảm bảo nguyêntắc tập chung dân chủ
Ngoài ra, theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) đã
lột tả được bản chất hoạt động QL trong thực tiễn Nó gồm hai quá trình tích hợp vào
nhau: Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “Lý” gồm sự tự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào hệ thống phát triển Nếu người đứng đầu chỉ chăm lo đến việc“Quản”tức là chăm lo đến việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức ấy sẽ trì trệ, không phát triển Tuy nhiên, nếu chỉ chăm lo đến việc “Lý”
tức là chỉ lo đến việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới, mà không đặt trên nền tảng của sự
ổn định thì sự phát triển của tổ chức sẽ không bền vững Vậy, để hoạt động QL có
hiệu quả thì nên cân bằng giữa hai quá trình “Quản” và “Lý”.
Có thể khái quát: QL là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể QLlên đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của hệ thống để đạt đượcmục tiêu định ra trong điều kiện biến động của môi trường
Ngày nay, QL được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế xã hội:Vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và QL Trong đó, QL có vaitrò mang tính chất quyết định thành công
* Chức năng quản lý:
Chức năng QL có thể hiểu một cách khái quát là một dạng hoạt động QLchuyên biệt mà thông qua đó chủ thể QL tác động lên đối tượng QL nhằm đạt mụctiêu đề ra Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể QL phải tiến hànhtrong quá trình QL Thực chất của các chức năng QL chính là sự tồn tại của các hoạtđộng QL bao gồm các chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn
Chức năng lập kế hoạch: Là công tác xác định trước mục tiêu của tổ chức
đồng thời chỉ ra các phương pháp, biện pháp để thực hiện mục tiêu, trong điều kiệnbiến động của môi trường
Chức năng tổ chức: Là việc sắp xếp, phân công các nhiệm vụ, các nguồn lực
“con người, các nguồn lực khác” một cách tối ưu, nhằm làm cho tổ chức vận hành
theo kế hoạch, đạt được mục tiêu đặt ra
Chức năng chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể QL nhằm điều hành
tổ chức vận hành đúng theo kế hoạch, thực hiện được mục tiêu QL
Chức năng kiểm tra: Là phương thức hoạt động của chủ thể QL lên đối tượng
QL nhằm thu thập thông tin phản hồi, đánh giá và xử lý các kết quả vận hành của tổchức, từ đó ra các quyết định QL điều chỉnh nhằm thực hiện được mục tiêu đề ra.Bốn chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình QL
Thông tin liên lạc là công cụ không thể thiếu trong hoạt động QL, nó được coi
là “mạch máu” của hoạt động QL Trong QL, để có thể ra các quyết định chính xác
và kịp thời đòi hỏi phải thu thập thông tin chuẩn xác
Quan hệ giữa các chức năng của hoạt động QL thể hiện trong sơ đồ sau:
Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức
Chỉ đạo
Sơ đồ 1.1 Các chức năng của quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
Quản lý giáo dục
Trong lịch sử phát triển của khoa học thì khoa học quản lý giáo dục ra đờimuộn hơn khoa học quản lý kinh tế Vì thế, trong các nước Tư bản chủ nghĩa người tathường vận dụng lý luận quản lý một xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trườnghọc) và coi quản lý cơ sở giáo dục như quản lý một xí nghiệp đặc biệt
Trang 24Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, nóxuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Với cách tiếp cận khác nhau, cácnhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm quản lý giáo dục như sau:
Theo M.I Kônzacov: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâucủa hệ thống (từ bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục chủ nghĩaCộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ Trên cơ
sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của CNXH, cũng như các quyluật khách quan của quá trình dạy học - giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm
lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanh niên”
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc khái quát: “Quản lý giáo dục là quản lýtrường học, là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm củamình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêugiáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”[18]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ýthức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệthống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [27]
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu khái quát như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống vận hành tối ưu Đảm bảo sự phát triển mở rộng
cả về số lượng và chất lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục.
Quản lý nhà trường
Nhà trường là một dạng thiết chế tổ chức chuyên biệt và đặc thù của xã hội,được hình thành do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội, nhằm thực hiện chức năngtruyền thụ các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trongcộng đồng và xã hội Nhà trường là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sởcủa hệ thống Giáo dục quốc dân Do đó, quản lý nhà trường là một bộ phận trongquản lý giáo dục, nhà trường (cơ sở giáo dục) chính là nơi tiến hành giáo dục - đào
Trang 25Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động
đa dạng, phức tạp khác đều hướng vào hoạt động trung tâm này Do vậy, quản lý nhàtrường chính là: Quản lý hoạt động dạy - học, làm sao đưa hoạt động đó từ trạng tháinày sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu đào tạo
Tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra nội dung khái quát về khái niệm quản lýnhà trường như sau: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảngtrong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lýgiáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, vớithế hệ trẻ và với từng học sinh” [18]
Quản lý nhà trường chính là những công việc mà người cán bộ quản lý nhàtrường thực hiện chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình Đóchính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lýtác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
mà tiêu điểm là quá trình dạy học
Như vậy ta có thể hiểu, công tác quản lý nhà trường bao gồm sự quản lý cácquan hệ nội bộ của nhà trường và quan hệ giữa nhà trường với xã hội
Trong bối cảnh hiện đại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chếchuyên biệt của xã hội để giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ thành công dân hữu ích chotương lai Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, được cung ứng cácnguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chức năng của mình mà không một thiết chếnào có thể thay thế được Bản chất giai cấp của nhà trường đã được khẳng định bởitính mục đích cũng như cách thức vận hành của nó
Ở tất cả những định nghĩa về quản lý nhà trường đều nổi bật lên cái chung, cáibản chất của quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạchcủa chủ thể quản lý làm cho nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lý giáodục của Đảng để thực hiện thắng lợi mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục giao phócho mỗi nhà trường Vì vậy, quản lý nhà trường là quản lý toàn diện Bao gồm:
Quản lý đội ngũ nhà giáo
Quản lý học sinh
Quản lý quá trình dạy - học
Trang 26Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Quản lý tài chính trường học
Quản lý mối quan hệ giữa con người và cộng đồng
Tận dụng các nguồn lực đầu tư cũng như các lực lượng xã hội đóng góp, xâydựng hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường đạt được mục tiêu, kếhoạch đào tạo, đưa nhà trường đến một trạng thái mới
Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà trường là hệ thống tác động sư phạm hợp lý
và hướng đích của chủ thể quản lý đến các hoạt động của nhà trường do tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác thực hiện nhằm đạt được mục tiêu giáo dục có chất lượng và hiệu quả.
1.2.3 Chất lượng, chất lượng giáo dục, quản lý chất lượng giáo dục
Chất lượng:
Nhìn chung, có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về chất lượng tùy theo mụctiêu, sản phẩm đầu ra của từng tổ chức Chất lượng không có điểm dừng mà chỉ đạtmục tiêu mong đợi của kế hoạch đặt ra vì chất lượng luôn đòi hỏi phải được cải tiếnliên tục, nếu nói cái này chất lượng thì sẽ có cái khác chất lượng hơn Điều này nghĩa
là nói chất lượng phải nói trong hệ tham chiếu nào Chất lượng phù hợp hơn hết là sựhài lòng của khách hàng hay sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Harvey và Green (1993) kết luận rằng: “Thứ nhất, chất lượng có ý nghĩa khácnhau đối với những người khác nhau Thứ hai, chất lượng có liên quan đến các quátrình hoặc kết quả” Chất lượng “là sự đáp ứng với mục tiêu đã đặt ra và mục tiêu đóphải phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội” (Lê Đức Ngọc, 2008), chất lượng “làmột khái niệm động, đa chiều và gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữangười và người” (Trần Khánh Đức, 2009)
Ngoài ra, có các phát biểu đáng chú ý của các tác giả về khái niệm chất lượng
“Chất lượng là trách nhiệm của tất cả mọi người” (Deming W Edwards), “Chấtlượng đầu tiên cần thiết là sự táo bạo” (Winston Churchill)
AUN (2009) xác định chất lượng là sự xuất sắc, phù hợp với mục đích, thỏamãn khách hàng, đáng giá đồng tiền, giá trị gia tăng và ngưỡng tối thiểu Lewis(2012) còn nhận định thêm chất lượng là sự nâng cao hoặc cải tiến (theo đuổi sự cải
Trang 27Trong các định nghĩa trên, có thể thấy “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” có ý nghĩa hơn cả đối với việc xác định chất lượng giáo dục và cả việc đánh giá
nó Mục tiêu ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm sứ mạng, mục đích; còn sựphù hợp với mục tiêu có thể là đáp ứng mong muốn của những người quan tâm, là đạthay vượt qua các tiêu chuẩn đặt ra Đây là định nghĩa thích hợp và thông dụng nhấtkhi xem xét các vấn đề của giáo dục
Chất lượng giáo dục:
Ngoài các quan điểm nêu trên, Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại họcQuốc tế INQAAHE đã đưa ra 2 định nghĩa về chất lượng giáo dục: “i) Tuân theo cácchuẩn quy định; ii) Đạt được các mục tiêu đề ra”
Theo định nghĩa thứ nhất, cần có bộ tiêu chí chuẩn cho giáo dục về tất cả cáclĩnh vực và việc KĐCLGD một trường sẽ dựa vào bộ tiêu chí chuẩn đó Khi không có
bộ tiêu chí chuẩn, việc KĐCLGD sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá.Những mục tiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế - xã hội củađất nước và những điều kiện đặc thù của nhà trường
Như vậy, để đánh giá chất lượng giáo dục của một trường cần dùng bộ tiêu chí
có sẵn; hoặc dùng các chuẩn đã quy định; hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mụctiêu đã định sẵn từ đầu của trường
Ngày nay, từ định nghĩa “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”, có thể xem
“Chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục” Mục tiêu giáo dục thểhiện những đòi hỏi của xã hội đối với con người, cấu thành nguồn nhân lực mà giáodục có nhiệm vụ phải đào tạo
Chất lượng giáo dục thường liên quan đến thành tích học tập, sự đáp ứng cácchuẩn mực và giá trị, sự phát triển cá nhân của người học, lợi ích của những đầu tư và
sự phù hợp với những mục tiêu đề ra Chất lượng giáo dục thường được xác định vàđược đánh giá bởi những tiêu chí trong các lĩnh vực như cơ hội tiếp cận, sự nhập học,
tỷ lệ tham dự học tập, tỷ lệ lưu ban, bỏ học, kết quả các bài kiểm tra, tỷ lệ đầu tư chogiáo dục trong ngân sách nhà nước …
Có thể nói, là sự đáp ứng mục tiêu của cấp học, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật giáo dục, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.
Trang 28Quản lý chất lượng giáo dục:
Theo Sallis (1993), có 3 cấp độ quản lý chất lượng giáo dục đó là: Kiểm soátchất lượng, Đảm bảo chất lượng và Quản lý chất lượng tổng thể
Kiểm soát chất lượng giáo dục
Kiểm soát chất lượng (Quality control) bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ cácthành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thỏa mãn các tiêu chuẩn đề ra trước đó.Đây là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm được làm xong có liên quan đến việcloại bỏ hoặc từ chối các hạng mục hay sản phẩm có lỗi Việc này thường kéo theo sựlãng phí tương đối lớn vì phải loại bỏ hay làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu.Điều này đã tạo nên sự khác biệt lớn trong kiểm soát chất lượng hàng hóa và kiểmsoát chất lượng giáo dục Bởi lẽ, trong giáo dục không thể có sản phẩm phế thải màchúng ta chỉ được phép phân loại và chọn phương thức khác để giáo dục
Kiểm soát chất lượng giáo dục bao gồm việc kiểm tra sản phẩm giáo dục ở đầu
ra (học sinh, học sinh tốt nghiệp) để xác định những vấn đề tồn tại và yếu kém củagiáo dục, hoạt động được thực hiện sau khi các hoạt động giáo dục đã kết thúc Cáchoạt động như thanh tra từ bên ngoài, giám sát của xã hội, các kỳ thi, kiểm tra kiếnthức, các báo cáo hàng năm đều có thể xem là các hoạt động kiểm soát chất lượnggiáo dục Minh hoạ cho hình thức quản lý chất lượng này là những kỳ thi: tốt nghiệp,tuyển sinh rất khắt khe khi học sinh hoàn thành khoá học, cấp học Kiểm soát chấtlượng là một hoạt động hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục
Đảm bảo chất lượng giáo dục
Theo ISO - 9000, đảm bảo chất lượng (Quality assurance) là các hoạt động có
kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ thống và được chứng minh là đủ mứccần thiết để tạo sự thỏa đáng rằng người tiêu dùng sẽ thỏa mãn các yêu cầu chấtlượng Trong sản xuất, kinh doanh bảo đảm chất lượng bao gồm các yếu tố bên trong
và bên ngoài doanh nghiệp nhằm mục đích tạo lòng tin của bản thân doanh nghiệp vàkhách hàng Bảo đảm chất lượng là cơ sở của nguyên lý quản lý chất lượng TheoA.I Vroeijenstijn (2002), đảm bảo chất lượng được hiểu như là sự chú ý có hệ thống,
có cấu trúc liên tục vào chất lượng nhằm duy trì và cải tiến chất lượng Quan tâm đếnchất lượng một cách liên tục là điều kiện thiết yếu cho đảm bảo chất lượng
Trang 29Trong giáo dục, khái niệm bảo đảm chất lượng có thể được coi như là "hệthống các biện pháp, các hoạt động có kế hoạch được tiến hành trong và ngoài nhàtrường và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo ra sự tin tưởng thoả đáng rằngcác hoạt động và sản phẩm đào tạo (học sinh, sinh viên tốt nghiệp) sẽ thoả mãn đầy
đủ các yêu cầu về chất lượng giáo dục theo mục tiêu đào tạo dự kiến"
Quản lý chất lượng tổng thể trong giáo dục
Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management viết tắt là TQM) làhình thức quản lý chất lượng có xuất xứ từ thương mại công nghiệp Năm 1994 Tổchức tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) đã đưa ra định nghĩa về TQM “TQM là mộtphương pháp quản lý của một tổ chức, tập trung về chất lượng, dựa trên sự tham giacủa tất cả thành viên của mình và nhắm đến thành công lâu dài thông qua sự hài lòngcủa khách hàng, và lợi ích cho tất cả các thành viên của tổ chức và cho xã hội” Triết
lý của quản lý chất lượng tổng thể là tất cả mọi người ở cương vị nào, vào bất kỳ thờiđiểm nào cũng đều là người quản lý chất lượng của phần việc mình được giao vàhoàn thành nó một cách tốt nhất, với mục đích tối cao là thỏa mãn khách hàng
Trong giáo dục, quản lý chất lượng tổng thể là mọi người trong nhà trường dù
ở cương vị nào, chức vụ gì, làm nhiệm vụ gì cũng là người quản lý Thực chất củaquản lý chất lượng tổng thể là cải tiến liên tục, cải tiến từng bước nhằm tạo ra mộtnền văn hoá chất lượng, trong đó mỗi người đều cố gắng đáp ứng tối đa yêu cầu họctập của người học và các đòi hỏi của xã hội Quản lý tổng thể có thể đạt được khinhững người thực hiện nhận thức được các khái niệm và công cụ đo lường, đánh giáchất lượng và có ý thức về việc nâng cao chất lượng
Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi định nghĩa: “Quản lý chất lượng giáo dục về thực chất là quá trình định hướng và kiểm soát chất lượng quá trình giáo dục, với những tác động liên tục nhằm duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động của toàn
hệ thống giáo dục quốc dân và từng nhà trường”.
1.2.4 Kiểm định chất lượng giáo dục
Thuật ngữ Kiểm định chất lượng giáo dục (Accreditation) bắt nguồn từ hơn
100 năm trước ở Mỹ Ngày nay, người ta vẫn dùng rộng rãi trên khắp thế giới để nói
về việc đánh giá, công nhận chất lượng cho một chương trình giáo dục hay cơ sở giáodục nào
Trang 30đó Thuật ngữ KÐCLGD được khái niệm bởi nhiều khía cạnh khác nhau Hội đồngkiểm định chất lượng đại học của Hoa Kỳ (CHEA) cho rằng: kiểm định chất lượnggiáo dục là “một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đại học sửdụng nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng” Theo bảng thuật ngữ giải thích của Uỷban trường cao đẳng thuộc Hội các trường cao đẳng miền Tây Bắc nước Mỹ, có địnhnghĩa sau đây: "Kiểm định chất lượng giáo dục là quá trình một tổ chức tư nhân, phichính phủ đánh giá một cơ sở hoặc một chương trình đào tạo và công nhận chính thứcrằng cơ sở hoặc chương trình đó đạt được các tiêu chí hoặc tiêu chuẩn đã định trước.Kèm theo quá trình này là việc tự đánh giá lần đầu hoặc định kỳ về sau và việc đánhgiá từ bên ngoài Kiểm định hàm ý động viên việc nâng cao chất lượng để đạt đượccác tiêu chuẩn tối thiểu mà tổ chức kiểm định đã xác định".
Theo tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO): kiểmđịnh chất lượng giáo dục được xác định là “một quá trình đánh giá từ bên ngoài nhằmđưa ra quyết định công nhận một trường học hay một chương trình đào tạo của nhàtrường đáp ứng các chuẩn mực quy định Theo Stanley & Patrick (1998), kiểm địnhđược hiểu là "Chứng nhận cơ sở đào tạo đạt được những tiêu chuẩn cơ bản về nguồnlực và các chỉ số thực hiện để củng cố chất lượng, khuyến khích tự đánh giá, tăngcường tự quản và bảo đảm với công chúng rằng cơ sở đào tạo đạt được những chuẩnmực chất lượng cơ bản" Theo tài liệu về kiểm định các trường kỹ thuật và dạy nghềcác nước Tiểu vùng sông Mê Công, có quan niệm sau đây: "Kiểm định là một hệthống nhằm công nhận các cơ sở và chương trình đào tạo của các cơ sở đó đạt đượcmột mức độ về hiệu quả, chất lượng và sự hoàn chỉnh trong đào tạo để có được sự tincậy của cộng đồng giáo dục và công chúng mà họ phục vụ" Có thể hiểu kiểm địnhchất lượng là một hệ thống tổ chức và giải pháp để đánh giá và công nhận chất lượngđào tạo (đầu ra) và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo theo các chuẩn mựcđược quy định Những chương trình giáo dục và cơ sở giáo dục đạt chuẩn sau khikiểm định, được thông báo công khai cho người học, phụ huynh và toàn xã hội nhưmột bằng chứng bảo đảm cho chất lượng giáo dục của các cơ sở và các chương trìnhgiáo dục đó Việc kiểm định chất lượng giáo dục của một cơ sở giáo dục có nội dungquan trọng là đánh giá hệ thống quản lý chất lượng của cơ sở giáo dục đó và chứng
Trang 31phẩm được quản lý trong hệ thống đúng với những đăng ký chất lượng đã được cơ sởcam kết thực hiện trước khách hàng Kiểm định chất lượng giáo dục có hai mục đích
cơ bản, một là đánh giá, xác nhận hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục của mộttrường hoặc một chương trình giáo dục theo bộ tiêu chuẩn do cơ quan kiểm định đề ra
và được nhà trường thừa nhận và cam kết thực hiện Hai là trợ giúp nhà trường cảithiện, nâng cao chất lượng giáo dục của mình để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
xã hội bảo đảm lợi ích chung của xã hội, phụ huynh, người sử dụng lao động và củangười học
Theo Luật Giáo dục 2005, tại Điều 17, kiểm định chất lượng giáo dục được định nghĩa như sau: Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường
và cơ sở giáo dục khác.
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục 2009, kiểm địnhchất lượng giáo dục được làm rõ hơn bởi Điều 110a, Điều 110b, Điều 110c về nộidung quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục, nguyên tắc kiểm định chấtlượng giáo dục, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục, Theo đó, kiểm định chất
lượng giáo dục có hai mức, một là kiểm định chương trình giáo dục, hai là kiểm định
cơ sở giáo dục Hai loại này có một số khác biệt song giữa chúng cũng có những mối
quan hệ mật thiết với nhau, sự khác nhau giữa hai loại là ở trọng tâm chú ý của côngviệc đánh giá Khi kiểm định nhà trường, trọng tâm chú ý là các điều kiện bảo đảmchất lượng đào tạo và hệ thống quản lý chất lượng của nhà trường Với một logic hiểnnhiên là với các điều kiện bảo đảm chất lượng và một hệ thống quản lý chất lượng tốttất yếu sẽ cho ra những sản phẩm có chất lượng Như vậy, các chương trình đào tạochỉ được xem xét như là một bộ phận trong việc kiểm định chất lượng của nhàtrường Khi kiểm định chất lượng của chương trình giáo dục, trọng tâm của sự chú ýlại tập trung ở hệ thống quản lý chất lượng trong quá trình đào tạo: mục tiêu, nội dungchương trình giáo dục của các môn học có được xác định hợp lý, phù hợp với trình độkhoa học và công nghệ và các nhu cầu của xã hội hay không, tổ chức quá trình đàotạo theo chương trình giáo dục có đảm bảo để đạt được mục tiêu đề ra hay không
Kiểm định chất lượng là một giải pháp quản lý chất lượng nhằm các mục tiêusau đây:
Trang 32- Đánh giá hiện trạng của cơ sở giáo dục đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra như thếnào? Tức là hiện trạng cơ sở giáo dục có chất lượng và hiệu quả ra sao?
- Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với các tiêu chuẩn đề
ra của cơ sở giáo dục
- Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với các tiêu chuẩn đề racủa cơ sở giáo dục
- Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện được so với các tiêu chuẩn đề ra,định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển
Kiểm định chất lượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là người học sự đảmbảo chắc chắn một cơ sở giáo dục đã được chứng minh thoả mãn các yêu cầu và tiêuchí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng cơ sở giáo dục này sẽ tiếp tục đạt các yêucầu và tiêu chí đã đề ra
Theo Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của BộGiáo dục và Đào tạo: “KĐCLGD trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông
và trường phổ thông có nhiều cấp học là hoạt động đánh giá (bao gồm tự đánh giá vàđánh giá ngoài) để xác định mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáodục và việc công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của cơ qua quản lý nhànước”
KĐCLGD là một giải pháp quản lý chất lượng nhằm các mục tiêu: đánh giáhiện trạng của cơ sở giáo dục có chất lượng và hiệu quả như thế nào, những điểmmạnh, điểm yếu của cơ sở giáo dục so với các tiêu chuẩn quy định; trên cơ sở đó định
ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển
KĐCLGD nhằm xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giaiđoạn của cơ sở giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; thông báo công khai vớicác cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục; để cơ quanchức năng đánh giá và công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
KĐCL giáo dục trường THPT là một hình thức ĐBCL giáo dục trường THPTnhằm mục đích xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn củanhà trường, thông qua sự đánh giá tổng thể về tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến CLGD
Trang 33được những gì, còn thiếu những gì để điều chỉnh, bổ sung các điều kiện và tổ chứcgiáo dục, nhằm đạt chuẩn chất lượng Kết quả KĐCL giáo dục sẽ được công khai với
cơ quan chức năng quản lí và xã hội Ðiều đó sẽ thúc đẩy tích cực các trường THPTphải tìm nhiều giải pháp, giải bài toán đảm bảo và nâng cao CLGD của mình
Theo UNESCO (2007), KĐCLGD được định nghĩa là một quá trình bao gồm
tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận mức chất lượng của một cơ sở giáo dục dựatrên chuẩn mực do cơ quan quản lý giáo dục ban hành
Quản lý KĐCL giáo dục trường THPT
Công tác quản lý KĐCL giáo dục trường THPT ở các quốc gia khác nhau,điều này thể hiện rõ trong phần tổng quan nghiên cứu vấn đề
Ở Mỹ, việc quản lý các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục được 2 tổchức kiểm định chất lượng giáo dục không trực tiếp kiểm định các cơ sở giáo dục màchỉ làm nhiệm vụ công nhận (recognizing agencies) các tổ chức kiểm định chất lượnggiáo dục khác Đó là Bộ Giáo dục liên bang (United State Department of Educationviết tắt là USDE) và Hội đồng Kiểm định chất lượng giáo dục đại học (Council forhigher Education Accreditation viết tắt là CHEA), trong đó USDE là cơ quan chínhphủ và CHEA là cơ quan phi chính phủ Hai cơ quan này không trực tiếp kiểm địnhcác trường mà cấp phép kiểm định cho các tổ chức kiểm định có đủ điều kiện hànhnghề Như vậy, việc kiểm định các tổ chức kiểm định là một hình thức để quản lý cáchoạt động kiểm định chất lượng giáo dục
Ở Việt Nam, theo Luật Giáo dục 2005, ở điều 99 về nội dung quản lý nhà
nước về giáo dục có nêu “Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục” Điều này cho thấy công tác quản lý KĐCL đã được quan
tâm và thực tế Bộ GD&ĐT đã có thông tư hướng dẫn công tác KĐCL trường THPT,ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Công tác kiểm định trường THPT ở ViệtNam tương tự các nước phát triển: Tự đánh giá, đăng ký đánh giá ngoài, đánh giángoài và công nhận đạt kiểm định; công tác ngày được phân cấp cho Sở GD&ĐT vàcác trường THPT thực hiện
Dựa trên nghiên cứu, xem xét các hoạt động KĐCL giáo dục như là một hoạtđộng giáo dục khác trong trường, cũng như các nghiên cứu về các lý luận quản lý,quản
Trang 34lý giáo dục, kết hợp với khái niệm về KĐCL giáo dục ở trên, có thể hiểu quản lý
KĐCL giáo dục trường THPT là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến hoạt động KĐCL giáo dục trường THPT thông qua các hoạt động xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện tự đánh giá, đánh giá ngoài, công nhận và cấp giấy chứng nhận về KĐCL giáo dục trường THPT theo tiêu chuẩn chất lượng do cơ quan quản lý giáo dục ban hành nhằm mục đích nâng cao CLGD.
1.3 Kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông
1.3.1 Cơ sở pháp lý về kiểm định chất lượng giáo dục trung học phổ thông
Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: "Kiểmđịnh chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mụctiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác Việckiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đốivới từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố côngkhai để xã hội biết và giám sát" [tr10]; Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường là:
"Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơquan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục" [tr25]
Nghị định số 75/2006/NĐ-CP, ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục quy định: "Kết quảkiểm định chương trình giáo dục, kiểm định cơ sở giáo dục là căn cứ để công nhậnhoặc không công nhận cơ sở giáo dục, chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chấtlượng Kết quả kiểm định được công bố công khai để xã hội biết và giám sát"
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Báocáo chính trị nêu nhiệm vụ: "Phát triển hệ thống kiểm định và công bố công khai kếtquả kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo; tổ chức xếp hạng cơ sở giáo dục, đàotạo" Cũng tại Đại hội này, Đảng ta đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xãhội năm 2011 - 2020, trong đó chỉ rõ: "Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đàotạo ở tất cả các bậc học" Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trungương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo cũng qui định: "Hoànthiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục Định kỳ kiểm định chất lượng các cơ
sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo; công khai kết quả kiểm định"
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn
Gần đây nhất năm 2018 có Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8năm 2018 Ban hành quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạtchuẩn quốc gia đối với trường THCS, THPT và phổ thông có nhiều cấp học
Công văn số 5932/BGDĐT-QLCL ngày 28 tháng 12 năm 2018 V/v hướng dẫn
tự đánh giá và đánh giá ngoài cơ sở giáo dục phổ thông Công văn này được BộGDĐT hướng dẫn triển khai công tác tự đánh giá và đánh giá ngoài trường tiểu học,trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấphọc (sau đây gọi tắt là cơ sở giáo dục phổ thông)
1.3.2 Mục đích kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông
KĐCLGD là một hoạt động quan trọng trong đảm bảo chất lượng giáo dục củanhà trường KĐCLGD thể hiện tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trườngtrong toàn bộ hoạt động giáo dục theo chức năng, nhiệm vụ được giao
KĐCLGD nhằm xác định trường trung học đạt mức đáp ứng mục tiêu giáo dụctrong từng giai đoạn; lập kế hoạch cải tiến chất lượng, duy trì và nâng cao chất lượngcác hoạt động của nhà trường; thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước
và xã hội về thực trạng chất lượng của trường trung học; để cơ quan quản lý nhà nướcđánh giá, công nhận hoặc không công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục
Công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học nhằm khuyến khíchđầu tư và huy động các nguồn lực cho giáo dục, góp phần tạo điều kiện đảm bảo chotrường trung học không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
KĐCLGD giúp cho các nhà quản lý giáo dục nhìn lại toàn bộ hoạt động củanhà trường một cách có hệ thống để từ đó điều chỉnh các hoạt động giáo dục của nhàtrường theo một chuẩn mực nhất định Thông qua hoạt động KĐCLGD, bao gồmhoạt động tự đánh giá và đánh giá ngoài, lãnh đạo trường THPT sẽ xác định đượcmức độ đáp ứng các mục tiêu giáo dục theo các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáodục trong từng giai đoạn Kết quả KĐCLGD phản ánh chất lượng đào tạo của nhàtrường, từ đó lãnh đạo nhà trường nắm được những điểm mạnh, điểm yếu của đơn vịmình, làm căn cứ để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, nâng cao chấtlượng các hoạt động giáo dục, đảm bảo chất lượng giáo dục
KĐCLGD giúp cho trường THPT định hướng và xác định chuẩn chất lượngnhất định Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào
Trang 36tạo quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳKĐCLGD, trường THPT được kiểm định và đánh giá toàn diện các mặt hoạt độngcủa trường với năm tiêu chuẩn Mỗi tiêu chuẩn gồm nhiều tiêu chí cụ thể Các tiêuchuẩn này là quy định tối thiểu mà các trường cần đạt được nhằm đảm bảo chất lượngđào tạo, từ đó mỗi trường THPT sẽ từng bước xác định chuẩn cho từng hoạt độnggiáo dục nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra.
KĐCLGD tạo ra cơ chế đảm bảo chất lượng vừa linh hoạt vừa chặt chẽ baogồm tự đánh giá và đánh giá ngoài Đây là hai hoạt động có mối quan hệ biện chứngvới nhau, luôn có thông tin phản hồi giữa đảm bảo chất lượng nội bộ và đảm bảo chấtlượng bên ngoài, giúp cho các trường THPT kịp thời cải tiến những điểm yếu và pháthuy những điểm mạnh Kết quả KĐCLGD các trường THPT đạt được hay không đạt
so với tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ góp phần định hướng chocác hoạt động sau đây của xã hội:
- Giúp phụ huynh và học sinh lựa chọn trường để dự tuyển vào lớp 10;
- Làm cơ sở để các trường THPT kêu gọi đầu tư từ các tổ chức xã hội
- Định hướng phát triển cho các trường THPT nhằm tăng cường năng lực cạnhtranh trên tất cả các lĩnh vực về giáo dục
Trong quá trình kiểm định chất lượng khâu quan trọng là hoạt động tự đánh giá
1.3.3 Quy trình và chu trình kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông
Theo một số tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trên thế giới, qui trình
kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục như sau: 1 Đăng ký kiểm định; 2 Tự đánh giá theo chuẩn; 3 Đánh giá ngoài (chuyến viếng thăm của đồng nghiệp từ bên ngoài) theo chuẩn; 4 Công nhận mức chất lượng theo chuẩn.
Theo Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ GD&ĐT, qui
trình KĐCLGD trường THPT như sau: 1 Tự đánh giá; 2 Đánh giá ngoài; 3 Công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia.
Qua so sánh quy trình kiểm định chất lượng giáo dục của thế giới và ViệtNam, có sự khác biệt: Ở thế giới đăng ký kiểm định rồi mới tự đánh giá Ở Việt Nam
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn
cũng gần giống nhau Tuy nhiên, bằng lý luận và thực tiễn của mình tác giả đưa ra
quy trình KĐCLGD trường THPT như sau: 1 Trường THPT thực hiện tự đánh giá theo tiêu chuẩn; 2 Đăng ký đánh giá ngoài; 3 Đánh giá ngoài trường THPT theo tiêu chuẩn; 4 Công nhận trường đạt kiểm định chất lượng và trường chuẩn quốc gia theo quy định; 5 Duy trì và cải tiến chất lượng sau đánh giá ngoài.
* Tự đánh giá
Theo ISO, tự đánh giá (Self evaluation) hay đánh giá nội bộ một tổ chức, haydoanh nghiệp là quá trình do chính con người của tổ chức, doanh nghiệp đó thực hiệntheo quy định của yêu cầu đánh giá nội bộ nhằm xác định mức độ thực hiện và hiệuquả của hệ thống quản lý chất lượng đang được vận hành tại tổ chức, doanh nghiệp
Theo Herbert J Walberg and Geneva D.Haertel, tự đánh giá của cá nhân và
tổ chức là một quá trình tìm ra các điểm mạnh và điểm yếu của cá nhân hay tổchức và do cá nhân hay tổ chức đó tự tiến hành nhằm nâng cao năng lực của cánhân hay tổ chức
Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018, Tự đánh giá là quá trìnhtrường trung học dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá do Bộ Giáo dục và Đào tạo banhành, tự xem xét, đánh giá thực trạng chất lượng các hoạt động giáo dục, cơ sở vậtchất, các vấn đề liên quan khác của nhà trường để điều chỉnh các nguồn lực và quátrình thực hiện nhằm đạt tiêu chuẩn đánh giá trường trung học
Phạm vi tự đánh giá là theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường THPT
Tự đánh giá được thực hiện theo kế hoạch chặt chẽ nhằm sử dụng có hiệu quả thờigian và các nguồn lực của nhà trường để đảm bảo đạt được mục tiêu tự đánh giá Đểthực hiện được việc này, hiệu trưởng nhà trường là chủ tịch hội đồng tự đánh giá, vàphân công các thành viên trong trường là phó chủ tịch, là thư ký, là ủy viên của hộiđồng tự đánh giá Trên cơ sở bộ tiêu chuẩn, hiệu trưởng phân công cho các thành viênmột cách hợp lý giữa công việc thực tế tại trường và tiêu chuẩn tương thích Tiếnhành đánh giá các hoạt động của trường theo từng tiêu chí Thông qua tự đánh giá,nhà trường phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường theo từng nội hàm (yêucầu) của chỉ số, tiêu chí và đề ra kế hoạch hành động cải tiến chất lượng một cách khảthi cho từng công việc cụ thể Chính vì vậy, nhà trường đã có dịp ra soát toàn bộ hoạt
Trang 38động của nhà trường một cách chi tiết, đầy đủ theo chuẩn mực và tự đánh giá mìnhtheo chuẩn xem thử trường mình đang ở đâu? Đạt mức nào? Làm sao để cải thiệnnhững điểm yếu? Làm sao để phát huy điểm mạnh Sản phẩm của tự đánh giá là báocáo tự đánh giá cùng với các hoạt động của nhà trường được trình bày trong báo cáo
tự đánh giá
* Đánh giá ngoài trường trung học phổ thông
Theo ISO, đánh giá ngoài (External evaluation) là đánh giá của đại diện kháchhàng hoặc là đánh giá do các tổ chức đánh giá độc lập bên ngoài tiến hành để đánhgiá xác định mức độ thực hiện và hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượng đangđược vận hành tại tổ chức, doanh nghiệp và cấp giấy chứng nhận cho tổ chức, doanhnghiệp đó
Trong giáo dục, đánh giá ngoài là bước quan trọng tiếp theo sau tự đánh giátrong quy trình kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục Đánh giá ngoài là cơ sở để
ra quyết định công nhận kết quả kiểm định và là bằng chứng về uy tín và mức độ đạtđược các chuẩn mực chất lượng của nhà trường Theo UNESCO (2007), đánh giángoài là một khâu trong tiến trình kiểm định cơ sở giáo dục được tiến hành bởi cácchuyên gia, đồng nghiệp, đánh giá viên, … do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quiđịnh hay do các tổ chức kiểm định độc lập nhằm xem xét, phân tích dữ liệu, minhchứng của cơ sở giáo dục được đánh giá trong báo cáo tự đánh giá để đề xuất mứcchất lượng của cơ sở giáo dục đó theo tiêu chuẩn đã ban hành Cũng theo UNESCO(2007), đánh giá ngoài được tiến hành bởi ba giai đoạn: một là xem xét, phân tích báocáo tự đánh giá; hai là viếng thăm trường hay chuyến khảo sát thực tế đến trường; ba
là viết báo cáo đánh giá ngoài
Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018, Đánh giá ngoài trườngTHPT là quá trình khảo sát, đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước đối với trườngtrung học để xác định mức đạt được tiêu chuẩn đánh giá theo quy định của BộGD&ĐT
* Công nhận mức chất lượng
Theo UNESCO (2007), kết quả kiểm định được công bố chính thức trên cáckênh thông tin đại chúng Giấy chứng nhận kết quả KĐCLGD cấp cho cơ sở giáo dục
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn
do cơ quan chủ quản hay chủ tịch các hiệp hội kiểm định ký Kết luận về kết quảkiểm định là cuối cùng Không giải quyết các khiếu nại sau khi văn bản kết luận đãđược công bố chính thức Kết quả kiểm định có giá trị từ 5-6 năm tùy thuộc vào quiđịnh của mỗi nước Sau khi đã được công nhận kết quả kiểm định, hằng năm nhàtrường đó vẫn phải gửi báo cáo tự đánh giá tới hội đồng kiểm định, và hội đồng kiểmđịnh có thể gửi đoàn đánh giá ngoài tới trường khi cần thiết
Theo Bộ GD&ĐT (2018), trường THPT được đánh giá và công nhận đạt tiêuchuẩn chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THPTvới bốn cấp độ:
a) Cấp độ 1: Trường được đánh giá đạt Mức 1 theo quy định tại khoản 1 Điều
6 của Thông tư 18;
b) Cấp độ 2: Trường được đánh giá đạt Mức 2 theo quy định tại khoản 1 Điều
6 của Thông tư 18;
c) Cấp độ 3: Trường được đánh giá đạt Mức 3 theo quy định tại khoản 1 Điều
6 của Thông tư 18;
d) Cấp độ 4: Trường được đánh giá đạt Mức 4 theo quy định tại khoản 1 Điều
6 của Thông tư 18
Chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục và thời hạn công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học
1 Chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục và thời hạn công nhận đạt chuẩnquốc gia đối với trường trung học là 05 năm
2 Trường trung học được công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục theoquy định tại khoản 2 Điều 34 của Quy định này, sau ít nhất 02 năm kể từ ngày đượcđăng ký đánh giá ngoài và đề nghị công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục ởcấp độ cao hơn
3 Trường trung học được công nhận đạt chuẩn quốc gia Mức độ 1, sau ít nhất
02 năm kể từ ngày được công nhận, được đăng ký đánh giá ngoài và đề nghị công nhận trường đạt chuẩn quốc gia Mức độ 2
Trang 401.3.4 Tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo trong đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông
* Tiêu chuẩn (standard)
Tiêu chuẩn theo định nghĩa của Anh, tiêu chuẩn là tài liệu kỹ thuật được công
bố, trong đó có các tiêu chí kỹ thuật hay các tiêu chí giá trị được thiết kế sử dụng như
là các nguyên tắc, chỉ dẫn hay định nghĩa Như vậy, tiêu chuẩn chứa đựng các tiêu chí
kỹ thuật để xử lý và đánh giá kết quả khi so sánh chất lượng của một sự việc, mộtngười hay một tổ chức với chuẩn và các tiêu chí thể hiện giá trị cần có của sự việc,người hay tổ chức đó Chuẩn là điều mà người ta mong đợi
* Tiêu chí (Criterion)
Theo Andrea Leskes (2002), tiêu chí là những chỉ dẫn, các nguyên tắc, các tínhchất hay đơn vị đo để đánh giá chất lượng thực hiện của người học, trường học Cáctiêu chí là cái mà chúng ta dùng để đo giá trị của các câu trả lời, các sản phẩm hayhoạt động của người học, trường học Chúng có thể là tổng quát, toàn thể hay đặctrưng Theo Sadler (1987), tiêu chí là những yêu cầu về tính chất, đặc trưng của sựviệc hay tổ chức mà những yêu cầu đó dùng để đánh giá chất lượng của sự việc hay
tổ chức đó
* Chỉ số (Indicator) - chỉ báo
Chỉ số là phương tiện đánh giá và thể hiện các yêu cầu của tiêu chí Chỉ số cóthể bao gồm một loạt các hành động cung cấp các bước cho đánh giá Trong kế hoạchđánh giá, các chỉ số còn bao gồm phương tiện đánh giá và các chiến lược dùng đểđánh giá Chỉ số là yêu cầu đạt được của tiêu chí
Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 Ban hành quy định về kiểmđịnh chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường THCS,THPT và phổ thông có nhiều cấp học, thì mức độ đáp ứng phải đảm bảo các yêu cầutrong các tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường (10 tiêu chí, 30 chỉ báo)
Các tiêu chí của tiêu chuẩn này quy định: cơ cấu tổ chức bộ máy của nhàtrường theo quy định của Điều lệ trường trung học; lớp học, điểm trường; tổ chứcĐảng Cộng sản Việt Nam, Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội