CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Quy định kê đơn điều trị ngoại trú 1.1.1.Khái niệm về đơn thuốc : Ðơn thuốc là một chỉ định điều trị của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, nhằm giúp họ có được
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ THỊ LOAN
PHÂN TÍCH ĐƠN THUỐC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI NHÀ THUỐC TÂY LÊ ANH THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
NĂM 2018
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1
HÀ NỘI , 2019
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ THỊ LOAN
PHÂN TÍCH ĐƠN THUỐC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI NHÀ THUỐC TÂY LÊ ANH THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
NĂM 2018
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương
Thời gian thực hiện:02/07/2018 – 02/11/2018
HÀ NỘI , 2019
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới Quý Thầy, Cô, Đồng nghiệp, Gia đình và bạn bè
Với tất cả sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi chân thành cảm ơn:
Cô PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương, Cô là người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tinh thần tôi trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu nhà trường, quý thầy
cô bộ môn Quản lý kinh tế dược, cùng toàn thể Thầy cô trường Đại Học Dược Hà Nội, đã cùng với trí thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho tôi suốt cả thời gian học tập tại trường
Tôi cũng xin bày tỏ cảm ơn đến các bạn làm việc trong nhà thuốc Lê Anh luôn tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, các anh, chị, đồng nghiệp trong lớp CK1 Tổ chức quản lý dược K21 đã giúp đỡ , chia sẻ, động viên và cùng tôi vượt qua khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Biên hòa, tháng năm 2018
Học viên
VŨ THỊ LOAN
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Quy định kê đơn điều trị ngoại trú 3
1.1.1.Khái niệm về đơn thuốc : 3
1.1.2 Nội dung của một đơn thuốc 3
1.1.3 Điều kiện của người kê đơn 6
1.1.4 Quy định về ghi đơn thuốc: 7
1.1.5 Một số nguyên tắc khi kê đơn: 9
1.1.6 Một số chỉ số sử dụng thuốc 11
1.2 TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC VÀ SỬ DỤNG THUỐC: 12
1.2.1 Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc trên thế giới 12
1.2.2 Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc tại Việt Nam 16
1.2.3 Tính cấp thiết của đề tài 21
1.3 Vài nét về nhà thuốc Lê Anh 22
1.3.1 Chức năng nhiệm vụ 22
1.3.2 Cơ cấu nhân lực 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1.Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 24
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 24
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu 24
2.2.2 Các biến số nghiên cứu và chỉ số nghiên cứu: 24
2.2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu: 28
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu: 31
Trang 52.2.5 Phương pháp phân tích, xử lý và trình bày số liệu 32
2.3 CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 35
2.3.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu trong đánh giá thực trạng thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú 35
2.3.2 Phân tích một số chỉ số kê dơn thuốc ngoại trú 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 MÔ TẢ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY ĐỊNH KÊ ĐƠN THUỐC NGOẠI TRÚ TẠI NHÀ THUỐC LÊ ANH: 39
3.1.1 Thực hiện quy định về cách ghi thông tin bệnh nhân 39
3.1.2 Thực hiện quy định về thông tin thuốc 45
3.1.3 Thực hiện cách ghi về hướng dẫn sử dụng thuốc 46
3.1.4 Thuốc được kê theo thành phần 49
3.2 PHÂN TÍCH CÁC CHỈ SỐ KÊ ĐƠN NGOẠI TRÚ CỦA CÁC ĐƠN THUỐC ĐẾN NHÀ THUỐC LÊ ANH 49
3.2.1.Thuốc được kê theo nguồn gốc xuất xứ 49
3.2.2 Kết quả về ghi hướng dẫn sử dụng thuốc 50
3.2.3 Số thuốc trung bình/đơn 50
3.2.4 Phân loại số thuốc trung bình trên 1 đơn theo nhóm bệnh lý 52
3.2.5 Thuốc kê theo tên biệt dược gốc – generic 53
3.2.6 Thuốc được kê theo nhóm 54
3.2.7 Tỷ lệ đơn thuốc có kê vitamin, corticoid và kháng sinh 54
3.2.8 Phối hợp kháng sinh trong kê đơn thuốc 55
3.2.9 Tỷ lệ các nhóm kháng sinh được sử dụng 56
3.2.10 Sử dụng kháng sinh theo nhóm bệnh lý 57
3.2.11 Giá trị trung bình thuốc trong một đơn 58
3.2.12 Chi phí sử dụng kháng sinh, vitamin, corticoid 58
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 60
Trang 64.1 Thực trạng các đơn thuốc ngoại trú tại nhà thuốc Lê Anh thành phố
Biên hòa tỉnh Đồng Nai 60
4.1.1 Thực hiện thủ tục kê đơn thuốc 60
4.1.2 Chỉ tiêu về thông tin thuốc và hướng dẫn sử dụng 60
4.1.3 Ghi thông tin về người kê đơn 62
4.2 Một số chỉ số về kê đơn 62
4.2.1 Phân tích thuốc được kê theo nguồn gốc xuất xứ 62
4.2.2 Thuốc được kê theo đường dùng 63
4.2.3 Thuốc được kê theo thành phần 63
4.2.4 Số chẩn đoán trung bình 64
4.2.5 Số thuốc trung bình trong một đơn 64
4.2.6 Tỷ lệ kê theo tên generic 65
4.2.7 Sử dụng kháng sinh 66
4.2.8.Sử dụng Vitamin 68
4.2.9 Sử dụng corticoid 69
4.2.10 Chi phí một đơn thuốc 70
KẾT LUẬN 71
KIẾN NGHỊ .71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
trang
2.2 Chỉ tiêu nghiên cứu trong thực hiện quy chế kê đơn thuốc 35 2.3 Chỉ tiêu về phân tích đơn thuốc ngoại trú 37 3.1 Thực hiện quy định về cách ghi thông tin bệnh nhân 39 3.2 Tỷ lệ đơn ghi đầy đủ địa chỉ bệnh nhân 39 3.3 Tỷ lệ đơn ghi tuổi bệnh nhân 40 3.4 Tỷ lệ đơn ghi số tháng tuổi cho trẻ dưới 72 tháng tuổi 40 3.5 Tỷ lệ đơn ghi đầy đủ tên và số CMND của bố hoạc mẹ 40 3.6 Tỷ lệ đơn có ghi ngày kê đơn 42 3.7 Tỷ lệ ghi đơn đầy đủ họ tên bác sĩ 42
3.9 Tỷ lệ đơn gạch chéo chỗ còn trống 43
3.11 Tỷ lệ về thuốc có một chữ số 44 3.12 Chỉ tiêu về thuốc đơn thành phần, đa thành phần 45 3.13 Tỷ lệ về số lượt thuốc đơn thành phần 45
Trang 83.14 Tỷ lệ đơn ghi theo tên chung quốc tế (Generic name, INN) 46 3.15 Chỉ tiêu vê ghi chẩn đoán trên đơn thuốc 47 3.16 Chỉ tiêu về thông tin thuốc kê đơn 48 3.17 Tỷ lệ thuốc được kê theo thành phần 49 3.18 Thuốc được kê theo nguồn gốc 49 3.19 Tỷ lệ thuốc được ghi hướng dẫn 50 3.20 Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc 51
3.21 Bảng phân loại số thuốc trung bình trên 1 đơn theo nhóm
bệnh lý
52
3.22 Thuốc kê theo tên biệt dược gốc – generic 53 3.23 Thuốc được kê theo nhóm 54 3.24 Tỷ lệ đơn thuốc có kê vitamin, corticoid và kháng sinh 54 3.25 Bảng phối hợp kháng sinh trong kê đơn thuốc 55 3.26 Tỷ lệ các nhóm kháng sinh được kê đơn 56 3.27 Sử dụng kháng sinh theo nhóm bệnh lý 57 3.28 Tỷ lệ giá trị tiền thuốc trung bình trong một đơn 58 3.29 Chi phí sử dụng kháng sinh, vitamin, corticoid 58
Trang 9DANH MỤC HÌNH
3.1 Số thuốc trung bình trên 1 đơn 41
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, vì vậy chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là mục tiêu và trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội, mang tính cấp thiết của mỗi quốc gia trong đó có ngành y tế đóng vai trò chủ chốt Sử dụng thuốc hợp lý an toàn đã và đang trở thành một vấn đề quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn mang tính toàn cầu
Để đảm bảo nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, Chính sách quốc gia về thuốc, Việt Nam đã quy định rõ: đảm bảo luôn sẵn có, đầy đủ các loại thuốc phòng bệnh và chữa bệnh đáp ứng kịp mô hình, cơ cấu bệnh tật Thầy thuốc và nhân dân được hướng dẫn và thông tin đầy đủ về thuốc nhằm đảm bảo
kê đơn và sử dụng thuốc hợp lí, an toàn có hiệu quả trong các cơ sở điều trị và tại cộng đồng Chuẩn hóa và nâng cao chất lượng kê đơn thuốc, chấm dứt tình trạng lạm dụng trong việc kê đơn của thầy thuốc
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, tình trạng sức khỏe của người dân Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, tuổi thọ trung bình tăng lên Tuy nhiên, vấn đề sử dụng thuốc vẫn còn nhiều bất cập Sử dụng thuốc không an toàn, hợp lý đã và đang gây một áp lực không nhỏ lên y tế thế giới nói chung và y tế Việt Nam nói riêng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, sức lao động, thời gian và sức khỏe người bệnh, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị, tạo áp lực lên kinh tế xã hội
Bên cạnh đó, có nhiều nguồn cung ứng thuốc với nhiều hình thức, cách tiếp thị và ưu đãi khác nhau cũng phần nào tác động đến việc kê đơn thuốc không đúng chỉ định, liều dùng, thời gian dùng, kê quá nhiều thuốc trong một đơn, kê đơn thuốc với tên biệt dược đã gây ra hiện tượng kháng thuốc và gây lãng phí không cần thiết
Trang 12Trước thực trạng đó, với mong muốn tìm hiểu tình trạng thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú, chúng tôi tiến hành đề tài : “Phân tích đơn thuốc điều trị ngoại trú đến mua tại nhà thuốc Lê Anh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai năm 2018” với 2 mục tiêu:
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng việc thực hiện quy chế kê đơn trong các đơn thuốc đến mua tại nhà thuốc Lê Anh Thành phố Biên Hòa Đồng Nai năm 2018
Mục tiêu 2:Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc trong các đơn thuốc đến mua tại nhà thuốc Lê Anh Thành Phố Biên Hòa- Đồng Nai năm 2018
Từ đó đưa ra một số kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện quy chế kê đơn để hướng tới sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả
Chúng tôi hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu thu được và những ý kiến đề xuất sẽ góp phần nâng cao chất lượng kê đơn để việc sử dụng thuốc được an toàn, hợp lí và hiệu quả hơn
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Quy định kê đơn điều trị ngoại trú
1.1.1.Khái niệm về đơn thuốc :
Ðơn thuốc là một chỉ định điều trị của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, nhằm giúp họ có được những thứ thuốc theo đúng phác đồ điều trị Như vậy nói chung với một căn bệnh nào đó, đơn thuốc có những điểm giống nhau
về nguyên tắc và các chủng loại thuốc, nếu có khác chỉ là những tên biệt dược Tuy nhiên, do những khác biệt về tuổi tác, giới tính, tình trạng cơ thể bệnh tật, như phụ nữ mang thai, đang cho con bú, bệnh nhân bị suy gan, suy thận , đặc biệt là người có tiền sử dị ứng với một dược chất nào đó nên việc kê đơn nhiều khi rất khó khăn Từ những thông tin trên, người thầy thuốc có thể suy nghĩ và thay thế bằng những loại thuốc khác có cùng tác dụng dược lý Vì thế, nhiều trường hợp tuy cùng một bệnh nhưng mỗi thầy thuốc lại có những cách kê đơn khác nhau Ðiều hết sức cần tránh đối với người bệnh là không nên dựa vào đơn thuốc của người khác có chung một chẩn đoán hoặc triệu chứng na ná như mình để điều trị
Ðơn thuốc là tổng hợp các loại thuốc, bao gồm cả thuốc bắt buộc phải bán theo đơn và những thuốc có thể mua tự do Ðó là một "y lệnh" hướng dẫn cho các bệnh nhân ngoại trú và cả nội trú cần uống, bôi xoa, phun, dán hay tiêm truyền Ðơn thuốc liệt kê số lượng thuốc, liều lượng, số lần dùng thuốc trong ngày, thời gian dùng thuốc trước hay sau bữa ăn Một đơn thuốc được coi
là tốt phải đạt được các yêu cầu: Hiệu quả chữa bệnh cao, an toàn trong dùng thuốc và tiết kiệm.[1]
1.1.2 Nội dung của một đơn thuốc
Trên thế giới không có một tiêu chuẩn thống nhất nào về kê đơn thuốc
và mỗi quốc gia có quy định riêng phù hợp với điều kiện của đất nước mình
Trang 14Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng đó là đơn thuốc phải thật rõ ràng Đơn thuốc phải hợp lệ và chỉ định chính xác thuốc phải sử dụng Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới thì một đơn thuốc đầy đủ bao gồm các nội dung sau:
- Tên, tuổi và địa chỉ của bệnh nhân, số điện thoại(nếu có)
- Ngày tháng kê đơn
- Tên, địa chỉ, số điện thoại, chữ ký của người kê đơn
- Tên gốc của thuốc, hàm lượng thuốc
- Dạng thuốc, tổng số thuốc
- Nhãn bao thuốc:hướng dẫn, cảnh báo
Ngày 29/12/2017 BYT đã ra thông tư 52/2017/TT – BYT quy định về kê đơn trong điều trị ngoại trú, trong đó có yêu cầu kê đơn thuốc gồm:
- Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh
- Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh
- Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả
Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic
- Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây: + Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hoặc Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS do Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận; Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông
tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện trong trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế
+ Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đi kèm với thuốc đã được phép lưu hành + Dược thư quốc gia của Việt Nam;
Trang 15- Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị được quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều này hoặc đủ sử dụng nhưng tối
đa không quá 30 (ba mươi) ngày, trừ trường hợp quy định tại các điều 7, 8 và 9 Thông tư này
- Đối với người bệnh phải khám từ 3 chuyên khoa trở lên trong ngày thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người được người đứng đầu
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ủy quyền (trưởng khoa khám bệnh, trưởng khoa lâm sàng) hoặc người phụ trách chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau khi xem xét kết quả khám bệnh của các chuyên khoa trực tiếp kê đơn hoặc phân công bác sỹ có chuyên khoa phù hợp để kê đơn thuốc cho người bệnh
- Bác sỹ, y sỹ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến 4 được khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và kê đơn thuốc điều trị của tất cả chuyên khoa thuộc danh mục kỹ thuật ở tuyến 4 (danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt)
- Trường hợp cấp cứu người bệnh, bác sĩ, y sĩ quy định tại các khoản 1,
2 Điều 2 Thông tư này kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu, phù hợp với tình trạng của người bệnh
- Không được kê vào đơn thuốc các nội dung quy định tại Khoản 15 Điều 6 Luật dược, cụ thể:
a) Các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh;
b) Các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam,
c) Thực phẩm chức năng;
d) Mỹ phẩm
Yêu cầu về hình thức kê đơn thuốc:
Trang 16- Kê đơn thuốc đối với người bệnh đến khám bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
Người kê đơn thuốc thực hiện kê đơn vào Đơn thuốc hoặc sổ khám bệnh (sổ y bạ) của người bệnh theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này và số theo dõi khám bệnh hoặc phần mềm quản lý người bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Kê đơn thuốc đối với người bệnh điều trị ngoại trú:
Người kê đơn thuốc ra chỉ định điều trị vào sổ khám bệnh (sổ y bạ) của người bệnh và bệnh án điều trị ngoại trú hoặc phần mềm quản lý người bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Kê đơn thuốc đối với người bệnh ngay sau khi kết thúc việc điều trị nội trú:
+ Trường hợp tiên lượng người bệnh cần tiếp tục sử dụng thuốc từ 01 (một) đến đủ 07 (bảy) ngày thì kê đơn thuốc (chỉ định điều trị) tiếp vào đơn thuốc hoặc sổ khám bệnh của người bệnh và bệnh án điều trị nội trú hoặc phần mềm quản lý người bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
+ Trường hợp tiên lượng người bệnh cần tiếp tục điều trị trên 07 (bảy) ngày thì kê đơn thuốc theo quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc chuyển tuyến
về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để tiếp tục điều trị
- Kê đơn thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất theo thực hiện theo quy định tại các điều 7, 8 và 9 Thông tư này
1.1.3 Điều kiện của người kê đơn
Theo điều 2 của quy chế kê đơn thuốc trong diều trị ngoại trú ban hành kèm theo thông tư 52/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 quy định của người kê đơn như sau:
Trang 17- Bác sỹ có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và có đăng ký hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh
- Y sỹ có chứng chỉ hành nghề và có đăng ký nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến 4 quy định tại Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11 tháng
12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn
kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh
- Cơ sở bán lẻ thuốc, người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược của
cơ sở bán lẻ thuốc theo quy định của Luật Dược
- Người bệnh và người đại diện của người bệnh có đơn thuốc
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến đơn thuốc
và kê đơn thuốc
1.1.4 Quy định về ghi đơn thuốc:
Theo điều 6 của quy chế kê đơn thuốc trong diều trị ngoại trú ban hành kèm theo thông tư 52/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 quy định của việc ghi đơn thuốc như sau:
- Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong đơn thuốc hoặc trong sổ khám bệnh của người bệnh
- Ghi địa chỉ nơi người bệnh thường trú hoặc tạm trú: số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn/ấp/bản, xã/phường/thị trấn, quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh, tỉnh/thành phố
Trang 18- Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi thì phải ghi số tháng tuổi, ghi tên và số chứng minh nhân dân hoặc sổ căn cước công dân của bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ của trẻ
- Kê đơn thuốc theo quy định như sau:
+ Thuốc có một hoạt chất
Theo tên chung quốc tế (INN, generic);
Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol 500mg
Theo tên chung quốc tế + (tên thương mại)
Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg, tên thương mại là A thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol (A) 500mg
+ Thuốc có nhiều hoạt chất hoặc sinh phẩm y tế thì ghi theo tên thương mại
- Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng/thể tích, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc Nếu đơn thuốc có thuốc độc phải ghi thuốc độc trước khi ghi các thuốc khác
- Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa
- Số lượng thuốc chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10) thì viết số 0 phía trước
- Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên cạnh nội dung sữa
- Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía trên chữ ký của người kê đơn theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải;
ký tên, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn
Trang 19Kê đơn thuốc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có ứng dụng công nghệ thông tin
- Đơn thuốc được kê trên máy tính 01 lần và lưu trên phần mềm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Đối với đơn thuốc “N” và đơn thuốc “H” cần phải in ra cho người bệnh và lưu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bảo đảm việc lưu đơn thuốc để trích xuất dữ liệu khi cần thiết
Thời hạn đơn thuốc có giá trị mua, lĩnh thuốc
- Đơn thuốc có giá trị mua, lĩnh thuốc trong thời hạn tối đa 05 ngày, kể
từ ngày kê đơn thuốc
- Đơn thuốc được mua tại các cơ sở bán lẻ thuốc hợp pháp trên toàn quốc
- Thời gian mua hoặc lĩnh thuốc của đơn thuốc gây nghiện phù hợp với ngày của đợt điều trị ghi trong đơn Mua hoặc lĩnh thuốc gây nghiện đợt 2 hoặc đợt 3 cho người bệnh ung thư và người bệnh AIDS trước 01 (một) đến 03 (ba) ngày của mỗi đợt điều trị (nếu vào ngày nghỉ lễ, tết, thứ bảy, chủ nhật thì mua hoặc lĩnh vào ngày liền kề trước hoặc sau ngày nghỉ)
1.1.5 Một số nguyên tắc khi kê đơn:
Theo hướng dẫn thực hành kê đơn thuốc tốt của Tổ chức Y tế Thế giới,
để thực hiện được quá trình kê đơn thuốc tốt, người thầy thuốc cần phải tuân thủ theo quá trình thực hiện kê đơn, điều trị hợp lý gồm 6 bước:
Bước 1: Xác định vấn đề bệnh lý của bệnh nhân Quá trình này cần được thực hiện một cách thận trọng dựa trên sự quan sát kỹ lưỡng của bác sỹ,
mô tả bệnh của bản thân bệnh nhân, tiền sử bệnh, X-quang, kết quả xét nghiệm
và các thăm khám khác
Trang 20Bước 2: Xác định mục tiêu điều trị Việc xác định mục tiêu điều trị giúp
người thầy thuốc tránh được việc sử dụng nhiều thuốc không cần thiết, tập trung vào bệnh lý của bệnh nhân
Bước 3: Xác định phương pháp điều trị đã được chứng minh hiệu quả,
an toàn, kinh tế và phù hợp với bệnh nhân nhất trong số các phương án điều trị
khác nhau, kể cả phương án không dùng thuốc Thẩm định lại sự phù hợp của thuốc đã lựa chọn cho bệnh nhân Sự phù hợp được đánh giá trên 3 khía cạnh: (1) Sự phù hợp giữa tác dụng và dạng dùng của thuốc với bệnh nhân, (2) Sự phù hợp của liều dùng hàng ngày, (3) Sự phù hợp của quá trình điều trị Đối với mỗi khía cạnh cần phải kiểm tra mục đích điều trị, hiệu quả (chỉ định và sự liên quan đến liều dùng) và an toàn (chống chỉ định, tương tác thuốc, nhóm thuốc có nguy cơ cao) có được đảm bảo
Bước 4: Bắt đầu điều trị Cần đưa ra những chỉ dẫn cho bệnh nhân.Ví dụ
như viết một đơn thuốc rõ ràng, cẩn thận, ngắn gọn nhưng dễ hiểu cho bệnh nhân
Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho bệnh
nhân Cần phải cung cấp cho bệnh nhân ít nhất các thông tin sau: Các tác dụng của thuốc; hướng dẫn sử dụng (cách dùng, thời gian dùng, bảo quản ….); cảnh báo (không nên dùng khi nào, liều tối đa, thời gian điều trị đầy đủ); hẹn gặp lần tới, xác minh mọi thông tin có rõ ràng đối với bệnh nhân
Bước 6: Giám sát điều trị Nếu như bệnh được chữa khỏi thì ngừng quá
trình điều trị, hoặc nếu phương pháp điều trị này có hiệu quả nhưng bệnh vẫn chưa khỏi hẳn thì cần xem lại có tác dụng phụ nào nghiêm trọng hay không Nếu có thì cân nhắc lại liều dùng hoặc chọn thuốc khác, nếu không thì tiếp tục điều trị Trường hợp bệnh không được chữa khỏi thì phải nghiên cứu lại tất cả các bước trên
Trang 21Ngoài ra, để đảm bảo một đơn thuốc hợp lý cũng cần phải lưu ý đến tương tác thuốc, vì khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc có tương tác với nhau, tác dụng của thuốc này có thể bị thay đổi bởi thuốc khác, một số trường hợp có thể làm tăng độc tính của thuốc dẫn tới hậu quả bất lợi cho người dùng Trong một số trường hợp kết hợp hai thuốc tương tác để làm tăng hiệu quả của thuốc cũng nên được áp dụng để giảm liều của từng thuốc đơn lẻ [4]
1.1.6 Một số chỉ số sử dụng thuốc
Các chi số sử dụng thuốc trong điều trị ngoại trú được ban hành kèm theo thông tư số 21/TT-BYT ngày 08/08/2013 của Bộ Y Tế [2]
Các chỉ số kê đơn
- Số thuốc trung bình trong một đơn
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê theo tên chung quốc tế (INN)
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm
- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin
- Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc y tế do
bộ y tế ban hành
Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện
- Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc
- Chi phí cho thuốc trung bình của mỗi đơn
- Tỷ lệ % chi phí thuốc dành cho kháng sinh
- Tỷ lệ % chi phí thuốc dành cho vitamin
- Tỷ lệ % đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị
- Tỷ lệ % người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Trang 221.2 TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN THUỐC VÀ SỬ DỤNG THUỐC:
1.2.1 Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc trên thế giới
Trong những năm gần đây nhu cầu thuốc trên thị trường thế giới có sự gia tăng mạnh mẽ do sự phát triển của dân số thế giới và sự gia tăng tuổi thọ, nhu cầu dùng thuốc nhiều, dùng các loại thuốc có tỉ trọng chất xám cao, nên thường rất đắt Khoảng 79% lượng thuốc ở thị trường dược phẩm thế giới là thuộc về các nước dẫn đầu về kinh tế như khu vực Bắc Mỹ, Châu Âu, Nhật
Thị trường dược phẩm các nước ASEAN có một số đặc điểm chung là thuốc thông dụng chiếm thị phần bình quân khoảng 40%, trong đó singapore thấp nhất 9%, Việt Nam cao nhất 70% theo đánh giá IMS Trong các nước ASEAN, thuốc generic chiếm tỷ trọng đáng kể Thuốc generic là thị trường tiềm năng đồng thời là một giải pháp lựa chọn để người dân các nước đang phát triển có khả năng tiếp cận các thuốc thiết yếu
Theo Tổ chức y tế thế giới có 50% thuốc được cấp phát, phân phối hoặc bán không phù hợp, trong khi có tới 50% bệnh nhân sử dụng thuốc không hợp
lý [20] Đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển tối đa chỉ có 40% bệnh nhân trong khu vực công và 30% bệnh nhân trong khu vực tư nhân được điều trị theo hướng dẫn điều trị chuẩn[24] Một nghiên cứu gần đây về tác hại việc sử dụng thuốc không hợp lý tại Mỹ cho thấy sử dụng thuốc không hợp lý là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của Mỹ và ước tính hàng năm đất nước này phải chi từ 30 đến 130 tỷ USD do tác hại của việc sử dụng thuốc không hợp lý gây ra[26]
Một nghiên cứu về sử dụng thuốc tại 35 quốc gia trên thế giới, được đánh giá theo phương pháp chuẩn của WHO, trong giai đoạn 1988 – 2002 hầu hết
Trang 23được tiến hành tại các nước có thu nhập thấp, kết quả thu được đã phản ánh được phần nào thực trạng kê đơn trên thế giới Số thuốc trung bình trong đơn thuốc thu được ở 35 quốc gia là 2,39 thuốc cao nhất là 4,4 thuốc và thấp nhất là 1,3 thuốc Tình trạng lạm dụng kháng sinh khá phổ biến ở các quốc gia với 45% đơn thuốc sử dụng kháng sinh,cá biệt ở một số quốc gia Indonesia (1990), Pakistan (1998) và Tây Bengal, Ấn Độ, (1999) tỷ lệ này đã vượt quá 70% đã được kiểm tra Tại Eritrea, đã được xác nhận rằng 75% người lớn và trẻ em được chẩn đoán viêm đường hô hấp trên được kê kháng sinh mặc dù nguyên nhân của nhiễm trùng có thể là virus[26]
Kết quả từ Indonesia đã chứng minh rằng 46% bệnh nhân ở độ tuổi dưới năm nhận được muối bù nước đường uống (ORS) để điều trị tiêu chảy trong khi 73% số bệnh nhân này cùng được dùng kháng sinh đường uống Trong số các bệnh nhân tuổi từ hơn năm năm,36% nhận được Oresol, 91% được dùng kháng sinh theo đường uống và 25% bệnh nhân tiêm kháng sinh[26]
Pakistan: Tại Pakistan, số thuốc trung bình trong mỗi đơn thuốc là 3,5,
với kháng sinh chiếm 76% đơn thuốc điều tra được Trong đó 74% kháng sinh được dùng bằng đường tiêm Tần suất số đơn thuốc sử dụng kháng sinh với trẻ
em 0 – 1 tuổi là 72% và tần số này là 84% đối với trẻ em từ 1 – 14 tuổi[26]
Tình trạng sử dụng kháng sinh không hợp lý không chỉ xảy ra ở các nước
có thu nhập thấp hoặc trung bình mà xảy ra trên toàn thế giới Ngay tại các nước Châu Âu, với cùng một hồ sơ bệnh tương tự, một số quốc gia đang sử dụng kháng sinh gấp 3 lần kháng sinh theo đầu người so với nước khác và chỉ
có 70% bệnh nhân viêm phổi nhận được một loại kháng sinh thích hợp, khoảng một nữa trong các trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp trên và tiêu chảy là
do virus xong vẫn nhận được một loại kháng sinh không thích hợp[22]
Trang 24Việc sử dụng thuốc kháng sinh quá nhiều và lạm dụng thuốc đã gây ra tình trạng kháng thuốc kháng sinh trên toàn cầu, đó là một thách thức đặc biệt
nghiêm trọng ở tất cả các nước các cấp độ kinh tế, là kết quả chủ yếu của việc
kê đơn và sử dụng kháng sinh không hợp lý
Ước tính có khoảng 28 quốc gia xuất hiện, hiện tượng kháng thuốc trong điều trị lao với tỷ lệ kháng thuốc từ 2% đến 40% các trường hợp.Kháng penicillin chiếm từ 5% đến 98% trong điều trị bệnh lậu và tỷ lệ này là 12% đến 55% đối với viêm phổi và viêm não do vi khuẩn
Ở Bangladesh, kháng ampicillin trong điều trị tiêu chảy shigellosis được
ước tính là hơn 90% Ngoài ra, sức đề kháng với điều trị bằng acid nalidixic tăng từ dưới 10% vào năm 1987 lên trên 90% vào năm 1992 Một nghiên cứu
về thuốc kháng sinh sử dụng tại 13 quốc gia 1992-1996 đã tiết lộ rằng kháng sinh được quy định một cách sai lầm cho khoảng 30% các trường hợp URTI(nhiễm khuẩn đường hô hấp trên) Gần đây, các nghiên cứu ở các nước
có thu nhập thấp, trung bình và thu nhập cao cho thấy kháng sinh được quy định một cách sai lầm trong 50% đến gần 100% các trường hợp URTI Ở những nơi khác, một nghiên cứu lớn ở Mỹ (JAMA 1997) phát hiện ra rằng 51% bệnh nhân bị cảm lạnh và URTI được nhận thuốc kháng sinh và ước tính rằng hơn 20% của tất cả các đơn thuốc kháng sinh là vô dụng trên lâm sàng Theo một điều tra về sử dụng thuốc hợp lý của tổ chức y tế thế giới năm 1999 thực hiện tại 9 quốc gia khác nhau đã chỉ ra rằng tỷ lệ kê đơn phù hợp với hướng dẫn điều trị chuẩn(STGs) của các nước thành viên thuộc WHO chỉ chiếm từ 25% đến 59 % so với hướng dẫn điều trị chuẩn Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cho tình hình kháng thuốc ngày càng trở nên trầm trọng[26]
Trang 25Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy có tới 90% thuốc tiêm là không cần thiết, bởi vì hoàn toàn có thể sử dụng thuốc theo đường khác hợp lý
và phòng tránh được nhiều guy cơ[26] Một số quốc gia tỷ lệ này chiếm khá cao trên 60% bao gồm các nước Indonesia (1988), Pakistan, Uzbekistan và Ghana Đặc biệt tình trạng sử dụng thuốc tiêm gặp nhiều ở các nước có thu nhập thấp, vì vậy gây ra một nguy cơ không nhỏ cho các bệnh lây qua tiêm truyền như viêm gan B,viêm gan C, bệnh HIV.Trong một cuộc khảo sát ở Zaire, 2 tuổi đã nhận được trung bình 24 mũi tiêm ở Moldova, có tới 50% bệnh nhân viêm gan B được tiêm không an toàn, 39 -75% dân số được tiêm ít nhất 1 lần mỗi năm
Trung Quốc: Một nghiên cứu so sánh việc sử dụng kháng sinh trong 35
quốc gia cho thấy tỷ lệ chung cho việc sử dụng kháng sinh trong nhiễm trùng đường hô hấp trên trong năm 1997 là lên tới 97% [26]
Việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý là một vấn đề vô cùng quan trọng không phải của một quốc gia nào mà nó là vấn đề của toàn thế giới Theo tổ chức y tế thế giới cho thấy các sai sót thường gặp phải khi sử dụng thuốc không hợp lý thường là kê quá nhiều loại thuốc cho một bệnh nhân, lạm dụng thuốc tiêm trong khi nếu sử dụng các công thức thuốc uống sẽ hợp lý và tránh được nhiều tai biến hơn
Tình hình sử dụng kháng sinh không hợp lý không chỉ xảy ra ở các nước
có thu nhập thấp hoặc trung bình mà xảy ra trên toàn thế giới Ngay tại các nước Châu Âu, với cùng một hồ sơ bệnh tương tự, một số quốc gia đang sử dụng kháng sinh gấp 3 lần kháng sinh theo đầu người so với nước khác và chỉ
có 70% bệnh nhân viêm phổi nhận được một loại kháng sinh thích hợp, khoảng một nửa trong các trường hợp nhiễm trùng hô hấp trên và tiêu chảy là do virus xong vẫn nhận được một loại kháng sinh không thích hợp[5]
Trang 26Việc sử dụng thuốc không hợp lý đã gây ra nhiều tình trạng kháng thuốc trên toàn cầu, đó là một thách thức đặc biệt nghiêm trọng ở tất cả các nước các cấp độ kinh tế, là kết quả chủ yếu của việc kê đơn và sử dụng kháng sinh không hợp lý
1.2.2 Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc tại Việt Nam
Trong y tế, đơn thuốc có ý nghĩa rất quan trọng cả về chuyên môn (chỉ định điều trị, hướng dẫn liều dùng, cách dùng, khoảng thời gian dùng thuốc sao cho hiệu quả điều trị cao nhất và bảo đảm an toàn cho người bệnh ), lẫn kinh tế (làm cơ sở để tính chi phí điều trị, bảo hiểm y tế) và pháp lý (căn cứ
để giải quyết các khía cạnh pháp lý của hoạt động khám, chữa bệnh và hành nghề dược, đặc biệt trong các trường hợp liên quan đến thuốc độc, thuốc gây nghiện và tai biến y khoa )
Kê đơn thuốc là một việc làm thường xuyên, có tính chuyên nghiệp của bác sỹ Tuy nhiên hoạt động này là một hoạt động trong những quy định
mà BYT yêu cầu nghiêm ngặt nhất đối với thầy thuốc Thế nhưng trên thực
tế, một trong những lỗi thường gặp nhất ở thầy thuốc lại vẫn liên quan đến
kê đơn thuốc Khi kê đơn, nhầm lẫn về liều lượng, đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng thuốc, không nhận định đúng về dạng hàm lượng thuốc, nhầm lẫn
về tần suất dùng thuốc trong ngày, viết chữ quá khó đọc, không thận trọng khi dùng các chữ viết tắt, không chú ý đến tương tác thuốc, không chú ý điều chỉnh liều lượng, không quan tâm đến tiền sử bệnh của người dùng thuốc [11] Về việc thực hiện qui chế kê đơn trong điều trị ngoại trú, theo kết quả khảo sát BV Phổi TW năm 2009, do chưa ứng dụng phần mềm trong kê đơn trên máy tính nên tỷ lệ thực hiện theo quy chế về ghi các thông tin về BN và thông tin về thuốc chưa là cao Có 35% đơn khảo sát ghi rõ, đầy đủ các thông tin về BN như số nhà, đường phố và thôn, xã; 100% ghi đầy đủ họ tên BN; chẩn đoán bệnh cho BN nhưng còn viết tắt nhiều; 62% số đơn ghi tên
Trang 27thuốc theo tên hoạt chất, 83% số đơn ghi đầy đủ, hàm lượng, nồng độ, số lượng thuốc, 99% số đơn ghi đầy đủ HDSD trong đơn 100% số đơn ghi đầy
đủ liều dùng, 95% số đơn ghi thời điểm dùng thuốc [1] Một nghiên cứu khác ở BV Tim Hà Nội năm 2010 cũng cho kết quả khá
tương đồng với 43,5% số đơn ghi rõ ràng, đầy đủ địa chỉ BN chính xác đến
số nhà, đường phố hoặc thôn, xã; 100% số đơn ghi đầy đủ họ tên BN; 100%
số đơn ghi đầy đủ chẩn đoán bệnh nhưng viết tắt khá nhiều, 95% số đơn ghi liều dùng, thời gian dùng nhưng đa số chưa có hướng dẫn cụ thể [13]
Hiện nay, nhiều BV đã ứng dụng phần mềm trong kê đơn nên đã thực hiện kê đơn điện tử cũng giảm được nhiều sai sót trong kê đơn Một nghiên cứu tại BV Nhân dân 115 cho thấy việc áp dụng kê đơn điện tử đã cải thiện
rõ rệt chất lượng kê đơn tại các khoa Số đơn ghi thiếu thông tin về BN đã giảm từ 98% xuống còn 33,6%, các thông tin về họ, tên, tuổi, giới tính giảm
từ 96,25% đến không còn (0%) Các sai sót về ghi chỉ định, tên hoạt chất và tên thuốc đã được hạn chế tối đa (0%) khi áp dụng kê đơn điện tử Tỷ lệ đơn ghi thiếu thông tin về thời điểm dùng thuốc giảm từ 54% xuống còn 33,5% [23]
Tương tự kê đơn thuốc thì tình hình chỉ định thuốc vẫn còn nhiều bất cập, nó không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới, đó là thực trạng lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm, vitamin và khoáng chất và kê quá nhiều thuốc cho một đơn Những bất cập này đã và đang tồn tại trong hệ thống y tế và cần có biện pháp khắc phục cụ thể, kịp thời nhằm hướng tới sử dụng thuốc
an toàn, hợp lý và kinh tế
Kết quả khảo sát về việc bán thuốc kháng sinh ở các cơ sở bán lẻ thuốc ở vùng nông thôn và thành thị các tỉnh phía bắc cho thấy, nhận thức về kháng sinh và kháng kháng sinh của người bán thuốc và người dân còn thấp, đặc biệt
Trang 28ở vùng nông thôn Phần lớn kháng sinh được bán mà không có đơn 88% (thành thị) và 91% (nông thôn) Kháng sinh đóng góp 13,4% (ở thành thị) và 18,7% (ở nông thôn) trong tổng doanh thu của cơ sở bán lẻ thuốc Tuy nhiên, vấn đề kháng thuốc kháng sinh ở Việt Nam đang ngày càng trở nên trầm trọng, đáng báo động, đặc biệt nhiều vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) Việt Nam hiện nay là một trong những nước có tỷ lệ kháng thuốc cao nhất thế giới [27] Theo số liệu nghiên cứu giám sát ANSORP từ tháng 1/2000 đến tháng 6/2001 của 14 trung tâm từ
11 nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam cho thấy tỷ lệ kháng penicillin ở
Việt Nam cao nhất (71,4%) tiếp theo là Hàn Quốc (54,8%), Hồng Kông
(43,2%) và Đài Loan (38,6%) ,Tỷ lệ kháng erythromycin cũng rất cao, ở Việt
Nam là 92,1%, Đài Loan là 86%, Hàn Quốc là 80,6%, Hồng Kông là 76,8% và
Trung Quốc là 73,9% Đây cũng là một trong những quốc gia có có tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất thế giới[26]
Khảo sát 80.175 đơn thuốc điều trị ngoại trú được tiến hành tại bệnh viện
Bạch Mai năm 2013 cho thấy số đơn thuốc sử dụng từ 1 – 5 thuốc chiếm
89,93%, số đơn sử dụng 6 – 10 thuốc chiếm 10,5%, số đơn sử dụng từ 11 – 15 thuốc chỉ chiếm 0,02%;tỷ lệ đơn kê kháng sinh cho bệnh nhân ngoại trú bệnh viện là 29% Trong đó, một số khoa của bệnh viện kê đơn với tỷ lệ cao:Khoa Răng – Hàm – Mặt (92,78%) khoa sản (76,97%); khoa da liễu(51.92%) Sự kết hợp kháng sinh ở bệnh viện Bạch Mai tương đối phổ biến chiếm tỷ lệ (37,06%) trong đó chủ yếu là kết hợp 2 kháng sinh chiếm (94,2%) Kháng sinh được kê đơn ngoại trú tại bệnh viên Bạch Mai phần lớn sử dụng theo
đường uống (88,32%) Tỷ lệ kháng sinh sử dụng theo đường tiêm hoặc đường truyền tĩnh mạch chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,76%), còn lại là đường khác[19]
Trang 29Nghiên cứu tại bệnh viện nội tiết trung ương cho thấy số thuốc trung bình
trong một đơn thuốc là 4,4 thuốc Tỷ lệ đơn kê kháng sinh chỉ chiếm 2,8%, tỷ lệ
đơn kê thuốc tiêm ở mức cao lên đến 40,3% Tại bệnh viện phụ sản Thanh hóa năm 2012 số bệnh nhân điều trị bệnh ngoại trú lên đến 88,5% trong khi đó kê đơn
dựa trên kháng sinh đồ chỉ chiếm 2% có nghĩa là 86,5% là kê đơn dựa vào kinh nghiệm tỷ lệ đơn dùng kháng sinh theo đường tiêm lên đến 76,2%[23]
Kết quả thu được từ nghiên cứu của Ngô Thị Phương Thúy năm 2014 tại
bệnh viện phụ sản trung ương kết quả thu được số đơn ngoại trú kê kháng sinh
đối với đơn tự nguyện 75,25% và 77,25% đối với đơn BHYT Đơn kê thuốc tiêm chiếm tỷ lệ nhỏ 2,25%; đơn kê vitamin và khoáng chất là 23,75% đối với đơn thuốc tự nguyện và tỷ lệ này là 11,25% đối với đơn BHYT[15] Một
nghiên cứu khác tại bệnh xá quân dân y kết hợp trường sĩ quan lục quân II năm
2013 cho thấy số đơn kê kháng sinh chiếm 55,25%; kê vitamin và khoáng chất
là 74%; đơn kê thuốc tiêm chiếm tỷ lệ khá cao 74%[24]
Bệnh viện trung ương quân đội 108 kết quả thu được khi tiến hành nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đơn kê kháng sinh BHYT chiếm 32,5%, đối với đơn khám dịch vụ tỷ lệ này là 26%; đơn kê vitamin, khoáng chất là 30,5% đối với
đơn BHYT và 41,25% đối với đơn tự nguyện[25]
Trong thời gian tới, cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị, công tác bình bệnh án, phân tích sử dụng thuốc trong các ca lâm sàng nhằm hạn chế việc lạm dụng kháng sinh và vitamin, nâng cao chất lượng điều trị Sử dụng thuốc kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Theo tổ chức y tế thế giới Việt Nam hiện nay là một trong những nước có tỷ lệ kháng thuốc cao nhất thế giới Kết quả khảo sát về việc bán thuốc kháng sinh ở các hiệu thuốc vùng nông
Trang 30thôn và thành thị cho thấy nhận thức về kháng sinh và kháng kháng sinh của người bán thuốc
Theo một nghiên cứu tại cộng đồng năm 2007 có 78% kháng sinh được mua trực tiếp từ nhà thuốc mà không cần có đơn Ở khu vực nông thôn, kiến thức về sử dụng kháng sinh còn rất hạn chế, ngay cả các cán bộ cung cấp dịch
vụ CSSK vẫn cung cấp kháng sinh không cần thiết cho các trường hợp cảm cúm thông thường Khi kháng sinh được sử dụng, loại, liều dùng, thời gian điều trị thường không được chú trọng và tuân thủ theo hướng dẫn Do vậy, tình hình lạm dụng kháng sinh ở nước ta đã và đang ở mức cao và không ngừng gia tăng [6]
Vitamin và khoáng chất cũng là hoạt chất thường được các bác sỹ kê đơn Về việc vitamin và khoáng chất từ lâu đã trở thành thói quen của bác sỹ, hoặc đôi khi BN đòi các bác sỹ kê đơn trong khi thực chất BN không cần dùng tới thuốc
Theo nghiên cứu tại BV Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011, về việc thực hiện kê đơn điện tử cũng giảm được nhiều sai sót trong kê đơn 100% đơn thuốc khảo sát đã ghi đúng, đầy đủ các thông tin về họ tên BN, chẩn đoán bệnh, hàm lượng, nồng độ, số lượng, liều dùng của mỗi thuốc Tuy nhiên, vẫn còn 13,7% số đơn chưa ghi rõ thời điểm dùng, cách dùng thuốc 29,5% số đơn chưa ghi đầy đủ địa chỉ BN chính xác đến số nhà, đường phố hoặc thôn xã và vẫn còn một số đơn chưa ghi tuổi bệnh nhân và thiếu chữ ký của bác sĩ kê đơn
và chỉ có 8,5% số thuốc được ghi bằng tên gốc, còn lại hầu hết thuốc được kê bằng tên biệt dược[7] Một nghiên cứu khác của bệnh xá Quân Dân Y kết hợp trường Sỹ Quan Lục Quân II năm 2013 thì tỷ lệ này là 74% đơn có kê kháng sinh [8]
Trang 31Đơn thuốc là căn cứ để dược sĩ cung cấp thuốc, theo đó bệnh nhân sử dụng điều trị bệnh Những sai sót trong kê đơn sẽ gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc cho bệnh nhân Đôi khi thầy thuốc kê đơn chịu áp lực của cả bệnh nhân lẫn gia đình họ muốn dùng nhiều thuốc để chóng khỏi bệnh Ngoài ra, người thầy thuốc còn lạm dụng thuốc vì lợi ích, áp lực kinh tế, sự tác động của trình dược, các công ty dược phẩm giàu quyền lực Mặc dù bác sĩ kê đơn là nhằm mục đích chăm sóc điều trị bệnh nhân nhưng thực tế không có loại thuốc nào khi cho dùng lại không có rủi ro của nó Thách thức chủ yếu của công tác an toàn
sử dụng thuốc là làm sao giảm thiếu tới mức tối đa những tác dụng đối nghịch của thuốc
Vì vậy cần thuyết phục các thầy thuốc và cộng đồng nhận ra rằng chính hoạt động của họ trực tiếp liên quan tới sự kháng thuốc này Trên thực tế, tình trạng kháng thuốc có thể còn trầm trọng hơn so với một số số liệu khảo sát Có những điều ai cũng biết, cũng vi phạm mà không ai xử lý Một trong những vi phạm đó là quy định kê đơn không được tuân thủ
1.2.3 Tính cấp thiết của đề tài
Sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả là một trong các chính sách quốc gia về thuốc tại Việt Nam Việc kê đơn, sử dụng thuốc chưa hợp lý, chưa hiệu quả làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, tăng nguy cơ tương tác thuốc kể cả nguy cơ tử vong
Từ trước đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về kê đơn thuốc ngoại trú đến mua tại các nhà thuốc Vì vậy tôi thực hiện đề tài nghiên cứu ‘Phân tích đơn thuốc điều trị ngoại trú đến mua thuốc tại nhà thuốc Lê Anh thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai năm 2018’ Với mong muốn nghiên cứu sẽ phát hiện
ra các vấn đề tốt, chưa tốt về kê đơn thuốc ngoại trú, sử dụng thuốc xác định
cụ thể các vấn đề kê đơn thuốc chưa hợp lý đồng thời phân tích tìm nguyên
Trang 32nhân của kê đơn thuốc, sử dụng thuốc chưa hợp lý.Trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị các giải pháp can thiệp nhằm cải thiện hơn nữa chất lượng kê đơn thuốc trong thời gian tới
1.3 Vài nét về nhà thuốc Lê Anh
Nhà thuốc Lê Anh giấy phép kinh doanh số 4738042549 ngày 08 tháng
08 năm 2014 tại địa chỉ: P132 b5 khu phố 3 long bình tân thành phố biên hòa tình đồng Nai
Nhà thuốc được mở nhằm đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng và được sự tin tưởng của người tiêu dùng
1.3.1 Chức năng nhiệm vụ
- Bán thuốc theo đơn bác sĩ
- Tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn và họp lý cho người tiêu dùng
Nhà thuốc là một mắt xích quan trọng để đưa thuốc tới tay người tiêu dùng, đóng góp mộtvai trò quan trọng vào sự phát triển chung của ngành y tế
1.3.2 Cơ cấu nhân lực
Nhà thuốc có nhân viên là dược sĩ đại học trực tiếp quản lý tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc cho người tiêu dùng
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU 2.1.Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đơn thuốc ngoại trú đến mua tại nhà thuốc Lê Anh
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Địa điểm: nhà thuốc Lê Anh
Địa chỉ:P132 B5 khu phố 3 Long Bình Tân - Biên Hòa - Đồng Nai Thời gian thực hiện: từ 09/06/2018-13/10/2018
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu
2.2.2 Các biến số nghiên cứu và chỉ số nghiên cứu:
Bảng 2.1.Nhóm biến số cần thu nhập
Stt Tên biến Định nghĩa biến Phân loại Cách thu
nhập
1 Ghi họ tên bệnh nhân
Đơn có/không ghi đầy đủ họ và tên của bệnh nhân
Biến nhị phân Phụ lục 1
2 Ghi tuổi bệnh nhân Đơn có/không ghi
tuổi bệnh nhân
Biến nhị phân Phụ lục 1
Trang 34Biến nhị phân Phụ lục 1
5 Ghi chi tiết địa chỉ
bệnh nhân
Đơn có/không ghi địa chỉ bệnh nhân được ghi chi tiết đến
số nhà, thôn, xóm
Biến nhị phân Phụ lục 1
6 Đơn ghi chẩn đoán
bệnh
Có: đơn có ghi chẩn đoán bệnh rõ ràng
Không: đơn không ghi chẩn đoán bệnh hoặc viết tắt chẩn đoán bệnh, ví dụ VPQ
Biến nhị phân Phụ lục 1
7 Đánh số khoản trong
đơn
Có: đơn có chốt số khoản
Không: đơn không chốt số khoản
Biến nhị phân Phụ lục 1
8 Thông tin ký, họ tên
bác sĩ kê đơn
Có: đơn có đầy đủ chữ ký và họ tên bác
sỹ kê đơn
Không: đơn không
Biến nhị phân Phụ lục 1
Trang 35có đầy đủ chữ ký và
họ tên bác sỹ kê đơn
9 Số thuốc trong đơn
Là tổng số khoản mục thuốc được kê trong đơn
Thuốc đa thành phần là thuốc có từ hai hoạt chất có tác dụng dược lý khác nhau trở lên
Biến phân loại Phụ lục 1
11
Thuốc được kê theo
tên thương mại/tên
gốc
Thuốc kê tên gốc là tên thuốc giống tên hoạt chất
Thuốc kê tên thương mại là tên thuốc khác tên hoạt chất
Biến phân loại Phụ lục 1
12 Thuốc được kê theo
nguồn gốc
Thuốc sản xuất trong nước là thuốc
Biến phân loại Phụ lục 1
Trang 36được sản xuất bởi các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam
Thuốc nhập khẩu là thuốc được sản xuất tại nước ngoài và được nhập vào Việt Nam
13 Đơn thuốc có kê
kháng sinh
Là đơn thuốc có kê
ít nhất 1 loại kháng sinh
Biến nhi phân Phụ lục 1
14 Đơn thuốc có kê
vitamin
Là đơn thuốc có kê
ít nhất 1 loại vitamin
Biến nhị phân Phụ lục 1
15 Đơn thuốc có kê
corticoid
Là đơn thuốc có kê
ít nhất 1 loại corticoid
Biến nhị phân Phụ lục 1
16 Ghi đủ số lượng hàm
lượng của thuốc
Có:tên thuốc có kèm hàm lượng và số lượng
Không: tên thuốc có/không có hàm lượng, không kèm
Biến nhị phân Phụ lục 1
Trang 37số lượng
17 Thuốc có ghi đầy đủ
cách dùng, liều dùng
Có:tên thuốc có kèm cách dùng, liều dùng Không: tên thuốc có/không cách dùng, liều dùng
Biến nhị phân Phụ lục 1
2.2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu:
Áp dụng tính công thức cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ
- P= 0,5 khi đó P.(1 – P) sẽ lớn nhất và cỡ mẫu là tối đa
- Α là mức ý nghĩa thống kê, chọn α =0,05 ứng với độ tin cậy 95%
- Z là độ sai lệch của hệ số giới hạn tin cậy (1-α), với α=0,05, tra bảng
ta có: Z(1-α/2)=1,96
- D: Độ sai lệch giữa tham số mẫu và tham số quần thể Chọn d=0,05
Trang 38Theo công thức trên thì n=384 đơn thuốc, chọn cỡ mẫu là 400 Còn lại 400 đơn thuốc thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đáp ứng tiến hành:
Tiêu chuẩn lựa chọn: Các đơn thuốc đến mua thuốc tại nhà thuốc Lê Anh Cách thức lấy mẫu: lấy toàn bộ các đơn thuốc của bệnh nhân đến mua tại
nhà thuốc Lê Anh từ ngày 09/06/2018 cho đến ngày 13/10/2018
Đặc điểm của mẫu:
Bảng 2.1 Đặc điểm của mẫu
6 Bệnh viện đa khoa đồng nai 147
7 Bệnh viện đa khoa nhi sài gòn 1
10 Bệnh viện nhi đồng 1 1
11 Bệnh viện nhi đồng 2 27
Trang 3912 Bệnh viện nhi đồng Đồng Nai 9
14 Bệnh viện phạm Ngọc Thạch 1
15 Bệnh viện phổi Đồng Nai 1
16 Bệnh viện phụ sản nhi sài gòn 1
24 Bệnh viện đa khoa nhi sài gòn 1
25 Phòng khám đa khoa quốc tế Long
Bình
27
26 Phòng khám Nha khoa Kim Dung 1
27 Phòng khám Nha khoa Minh Tâm 1
28 Phòng khám CTCH Mỹ Quốc 1
Trang 4029 Phòng khám đa khoa Ái Nghĩa 21
30 Phòng Khám Đa Khoa Dân Y 2
31 Phòng khám phụ sản - nhi sài gòn 1
32 Phòng khám đa khoa hoàn hảo 1
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu:
Sau khi lấy đủ thông tin từ 400 đơn thuốc ngoại trú của bệnh nhân xử
lý các thông tin trên đơn thuốc bằng chương trình Microsoft Excel, cụ thể như sau:
Thống kê một số thông tin cơ bản của đơn thuốc theo các cột thông tin được chuẩn bị trong một trang Excel đã được chuẩn bị trước (phụ lục 1), bao gồm:
- Mã đơn, họ tên bệnh nhân, địa chỉ bệnh nhân, tuổi, giới tính, họ tên bác sĩ kê đơn, chẩn đoán bệnh
- Tên thuốc, tên hoạt chất, hàm lượng/nồng độ, số lượng thuốc, cách sử dụng thuốc
- Đơn giá, thành tiền
- Thông tin về ngày kê đơn, ký và ghi (hoặc đóng dấu) họ tên bác sỹ kê đơn, đánh số khoản, sửa chữa đơn, gạch phần đơn trắng, chuyên khoa
- Thông tin về thuốc: số thuốc trong đơn, cách ghi tên thuốc, nồng độ (hàm lượng), số lượng, hướng dẫn sử dụng thuốc(đường dùng, liều dùng 1