1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giúp học sinh trung học cơ sở nhận biết phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ

20 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 3,41 MB
File đính kèm anduhoadu.rar (3 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học văn chương nói chung là vừa dạy môn khoa học vừa dạy môn nghệ thuật bởi văn học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Đối với phân môn tiếng Việt nói riêng, đặc biệt các biện pháp tu từ người giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện được: cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng các phép tu từ trong khi nói và viết, từ đó giúp các em cảm nhận được giá trị và ý nghĩa của tiếng Việt. Quá trình dạy học phân môn tiếng Việt chúng tôi còn gặp nhiều khó khăn mà nhất là đối với học sinh Khmer. Đối với giáo viên: Một số giáo viên khi dạy các phép tu từ còn gặp nhiều khó khăn, nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: dạy chưa hết bài, hướng dẫn học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng trong bài dạy chưa sâu sắc, thuyết phục. Các em chưa biết dùng đoạn văn mẫu để tự học tập, chưa phát huy hết khả năng của học sinh. Từ thực trạng đó, trong quá trình dạy các bài về biện pháp tu từ. Tôi nghĩ rằng đối với một giáo viên dạy Ngữ Văn, khi dạy phần này cần chú ý những yêu cầu sau: Phải khơi gợi hứng thú cảm nhận cho các em, tạo điều kiện để các em phát huy cảm nhận về giá trị của các biện pháp tu từ. Phải hướng dẫn học sinh một cách cụ thể, tỉ mỉ về cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật. Học sinh biết vận dụng kiến thức vào bài viết của mình và lời nói hằng ngày. Đối với học sinh: Do điều kiện kinh tế cũng như sự quan tâm của phụ huynh chưa cao, cùng với ý thức tự học của các em còn thấp: lười học, không chịu suy nghĩ, động não…Chính vì thế trong quá trình học tập chưa đạt được kết quả tốt. Học các phép tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, các em chưa xác định được khái niệm của mỗi phép tu từ, còn lẫn lộn giữa các phép tu từ, chưa phân biệt được sự giống nhau và khác nhau giữa các phép tu từ đó, nên dẫn đến việc hiểu sai hoặc hiểu chưa rõ về giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của mỗi phép tu từ. Trong mỗi bài kiểm tra tiếng Việt các em còn lúng túng khi xác định hai phép tu từ này và việc phân tích ý nghĩa trong mỗi đoạn thơ, đoạn văn.........

Trang 1

MỤC LỤC

2 II Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị Trang 2

4 1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến Trang 3

5 2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến Trang 3

Trang 2

PHÒNG GD & ĐT TRI TÔN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯƠNG THCS NÚI TÔ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Núi Tô, ngày 01

tháng 01 năm 2019

BÁO CÁO Kết quả thực hiện sáng kiến

I Sơ lược lí lịch tác giả:

- Họ và tên: Khưu Thị Xuân Nghiêm Nữ

- Ngày tháng năm sinh: 16/9/1976

- Nơi thường trú: ấp cây Me, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

- Đơn vị công tác: Trường Trung học cơ sở Núi Tô

- Chức vụ hiện nay: giáo viên

- Lĩnh vực công tác: giảng dạy Ngữ Văn

II Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị: Nêu tóm tắt tình hình đơn vị, những thuận

lợi, khó khăn của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ

* Tóm tắt tình hình đơn vị

Nhìn chung phong trào học tập còn rất thấp, ý thức học tập của học sinh chưa cao, hơn nữa việc quan tâm đôn đốc con em học tập của phụ huynh còn hạn chế, vẫn còn tình trạng phụ huynh bắt con em làm việc nhà, hoặc đi làm thêm phụ giúp gia đình dẫn đến các

em mệt mỏi, không tiếp thu được kiến thức ở lớp, buổi tối lại buồn ngủ không chịu học bài

cũ Mặt khác phương pháp học của các em theo kiểu học vẹt, học thuộc lòng, có thể ở nhà học thuộc nhưng đến lớp lại quên nên kết quả kiểm tra chưa cao

- Thuận lợi:

+ Được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Phòng GD – ĐT, BGH nhà trường và chính quyền địa phương

+ Nhà trường đã trang bị kịp thời sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo và mọi cơ sở vật chất khác để phục vụ cho việc dạy và học

+ Đồ dùng dạy học đầy đủ nên việc giảng dạy của giáo viên có nhiều thuận lợi

- Đa số học sinh ngoan hiền biết vâng lời thầy cô, chấp hành tốt nội qui của nhà trường

Trang 3

- Khó khăn:

+ Đa số là học sinh người khmer nên việc tiếp thu bài còn chậm

+ Nhiều học sinh mất căn bản ở lớp dưới nên việc tiếp thu kiến thức còn hạn chế

- Tên sáng kiến: “Giúp học sinh Trung học cơ sở nhận biết phép tu

từ ẩn dụ và hoán dụ ”

- Lĩnh vực: Phương pháp giảng dạy tiếng Việt (phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ trong

chương trình THCS)

III Mục đích yêu cầu của sáng kiến:

1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến

- Dạy học văn chương nói chung là vừa dạy môn khoa học vừa dạy

môn nghệ thuật bởi văn học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Đối với phân môn tiếng Việt nói riêng, đặc biệt các biện pháp tu từ người giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện được: cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng các phép tu từ trong khi nói và viết, từ

đó giúp các em cảm nhận được giá trị và ý nghĩa của tiếng Việt

- Quá trình dạy học phân môn tiếng Việt chúng tôi còn gặp nhiều khó khăn mà nhất là

đối với học sinh Khmer

* Đối với giáo viên:

- Một số giáo viên khi dạy các phép tu từ còn gặp nhiều khó khăn, nhiều tiết dạy chưa

đạt hiệu quả cao như: dạy chưa hết bài, hướng dẫn học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật,

cách vận dụng tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng trong bài dạy chưa sâu sắc, thuyết phục Các em chưa biết dùng đoạn văn mẫu để tự học tập, chưa phát huy hết khả năng của học sinh Từ thực trạng đó, trong quá trình dạy các bài về biện pháp tu từ Tôi nghĩ rằng đối với một giáo viên dạy Ngữ Văn, khi dạy phần này cần chú ý những yêu cầu sau:

- Phải khơi gợi hứng thú cảm nhận cho các em, tạo điều kiện để các em phát huy cảm nhận về giá trị của các biện pháp tu từ

- Phải hướng dẫn học sinh một cách cụ thể, tỉ mỉ về cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật

- Học sinh biết vận dụng kiến thức vào bài viết của mình và lời nói hằng ngày

* Đối với học sinh:

- Do điều kiện kinh tế cũng như sự quan tâm của phụ huynh chưa cao, cùng với ý thức tự học của các em còn thấp: lười học, không chịu suy nghĩ, động não…Chính vì thế trong quá trình học tập chưa đạt được kết quả tốt

- Học các phép tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, các em chưa xác định được khái niệm của mỗi phép tu từ, còn lẫn lộn giữa các phép tu từ, chưa phân biệt được sự giống nhau và khác nhau giữa các phép tu từ đó, nên dẫn đến việc hiểu sai hoặc hiểu chưa rõ về giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của mỗi phép tu từ

- Trong mỗi bài kiểm tra tiếng Việt các em còn lúng túng khi xác định hai phép tu từ này

và việc phân tích ý nghĩa trong mỗi đoạn thơ, đoạn văn

2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến

Là giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn, mà kết quả đạt được chưa như mong muốn, nên

lúc nào tôi cũng nghĩ rằng làm thế nào để có phương pháp dạy học tốt nâng

cao chất lượng giảng dạy cho học sinh Vì thế bản thân tôi luôn muốn

Trang 4

đóng góp một số kinh nghiệm để tìm ra biện pháp thiết thực, khả thi nhất, mục đích của đề tài này là giúp học sinh không những hiểu đúng các biện pháp tu từ mà còn giúp các em yêu thích tiếng Việt hơn

3 Nội dung sáng kiến

3.1 Tiến trình thực hiện

- Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài, ghi nhận những công việc đã thực hiện trong

thực tiễn (biện pháp, các bước tiến hành, kết quả cụ thể ), thu thập các số liệu để dẫn chứng

- Trong quá trình thu thập tài liệu, tiếp tục xem xét chỉnh sửa đề cương chi tiết cho phù hợp với tình hình thực tế

3.2 Thời gian thực hiện

1 Từ 01/8/2017

đến 01/10/2017 Xác định đề tài nghiên cứuThu thập tài liệu và nghiên cứu đề tài

2 Từ 02/8/2018

đến 03/9/2018

Xây dựng đề cương chi tiết Hoàn thành đề tài

3 Từ 02/10/2018

đến 27/2/2019 Tiến hành đánh giá kết quả và áp dụng cho năm học 2018-2019

3.3 Biện pháp tổ chức

3.3.1 Phép tu từ ẩn dụ

a Cách nhận biết.

Bước 1: hình thành khái niệm ẩn dụ ( phương pháp: qui nạp, động não)

Học sinh quan sát ví dụ và trả lời câu hỏi:

Anh đội viên nhìn Bác

Càng nhìn lại càng thương

Người Cha mái tóc bạc

Đốt lửa cho anh nằm.

(Minh Huệ)

Hỏi: Trong khổ thơ trên, ai được ví như Người Cha? Dựa vào đâu để ví như vậy?

Gợi ý: Bác Hồ được ví như Người Cha Tình cảm của Bác Hồ đối với các anh đội

viên cũng giống như tình cảm của một người cha dành cho các con vậy Nhà thơ đã bộc lộ

cảm nhận của mình về sự giống nhau ấy và thể hiện bằng hình ảnh ẩn dụ Người Cha mái

tóc bạc.

Hỏi: So sánh hình ảnh Người Cha trong đoạn thơ trên với Người Cha trong câu sau

và cho biết sự giống và khác nhau giữa ẩn dụ và so sánh

- Bác Hồ yêu thương các anh đội viên như một Người Cha.

Gợi ý: Xem xét bảng sau:

Vế A

(cái được so sánh)

Phương diện

so sánh

Từ so sánh

Vế B

(cái dùng để so sánh - cái

so sánh)

Bác Hồ Yêu thương các anh

đội viên

như một Người Cha

Trang 5

Trong đoạn thơ của Minh Huệ, chỉ xuất hiện Vế B (Người Cha), còn Vế A (Bác Hồ)

được ngầm hiểu Cho nên, người ta còn nói "ẩn dụ là phép so sánh ngầm", tức là chỉ có vật dùng để so sánh còn vật so sánh thì ẩn đi Để có thể sử dụng ẩn dụ, giống như so sánh, người viết cũng phải dựa trên mối liên hệ giống nhau giữa các sự vật, sự việc

Hỏi: Vậy Ẩn dụ là gì?

Học sinh trả lời, giáo viên chốt lại

- Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

- Khi dạy bài này, giáo viên cần phân tích rõ mối quan hệ giữa ẩn dụ và so sánh đã học ở tiết trước để học sinh dễ hình dung Ẩn dụ là một loại so sánh ngầm, trong đó ẩn đi

sự vật, sự việc được so sánh (Vế A), phương diện so sánh, từ so sánh chỉ còn sự vật, sự việc được dùng so sánh (Vế B) Vậy muốn tìm được phép

ẩn dụ và hiểu được cái hay, hàm súc của ẩn dụ thì phải xuất phát từ từ ngữ ẩn dụ (Vế B) để tìm đến vế A (Sự vật, sự việc được so sánh).Thông thường học sinh chỉ tìm được phép ẩn dụ mà ít tìm được giá trị nghệ thuật của nó, nếu tìm được cũng chỉ sơ sài, chung chung, nhiều khi còn sai lệch

về nội dung Để khắc phục được điều đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh hiểu được các kiểu ẩn dụ thường gặp:

Bước 2: hình thành các kiểu ẩn dụ (phương pháp: qui nạp, vấn đáp,

động não, thảo luận)

Giáo viên hình thành cho học sinh 4 kiểu ẩn dụ thường gặp:

Ví dụ 1 Về thăm nhà Bác làng Sen,

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.

(Nguyễn Đức Mậu)

GV cho HS xem tranh hàng rào râm bụt:

Từ lửa hồng được dùng để chỉ những hiện tượng hoặc sự vật nào? Vì sao có thể ví

như vậy?

Trang 6

Gợi ý :

- “Lửa hồng”: chỉ màu đỏ của hoa râm bụt ( dựa vào ngữ cảnh)

- Giữa lửa hồng và màu đỏ (của hoa râm bụt) có sự tương đồng về hình thức.

 Ẩn dụ hình thức

Vậy ẩn dụ hình thức là gì?

-Ẩn dụ hình thức được hình thành trên cơ sở nét tương đồng về hình thức giữa các

đối tượng.tức là những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng (màu đỏ - lửa hồng) (danh từ)

Con đường hình thành ẩn dụ hình thức có thể xuất phát từ nét tương đồng giữa hình thức của sự vật, hiện tượng và con người

Ví dụ 2 Về thăm nhà Bác làng Sen,

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.

(Nguyễn Đức Mậu)

Từ thắp được dùng để chỉ những hiện tượng hoặc sự vật nào? Vì sao có thể ví như

vậy?

Gợi ý: thắp là chỉ sự nở hoa của cây râm bụt

- Giữa thắp và nở hoa có sự tương đồng về cách thức.

Vậy ẩn dụ cách thức là gì?

- Ẩn dụ cách thức được hình thành trên cơ sở nét tương đồng về

cách thức thực hiện hành động giữa các đối tượng tức khai thác sâu về hành động hơn, về chiều sâu hơn so với hình thức

GV lưu ý : ẩn dụ hình thức do danh từ thực hiện, ẩn dụ cách thức là do động từ chỉ hành động thực hiện

Ví dụ 3 Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

Trang 7

Hỏi: Câu tục ngữ trên đề cập đến mấy hình ảnh, hình ảnh đó tương đồng với điều gì?

+ mực - đen tương đồng với cái tối tăm, cái xấu (tương đồng về phẩm chất)

+ đèn - sáng tương đồng với cái sáng sủa, cái tốt, cái hay, cái tiến bộ (tương đồng về

phẩm chất);

Dựa vào phân tích ví dụ trên, hãy cho biết ẩn dụ phẩm chất là gì?

- Ẩn dụ phẩm chất là dựa vào sự tương đồng về phẩm chất giữa các sự vật hiện

tượng.: tức là nói về tính cách, phẩm chất của một người, sự vật nào đó và sẽ sử dụng biện pháp ẩn dụ phẩm chất này để nói rõ hơn về phẩm chất đó, dễ hiểu hơn là dùng kiểu ẩn dụ phẩm chất này để tôn cao, hay là hạ thấp phẩm chất của một người, sự vật nào đó

Ví dụ như: Người Cha - Bác Hồ trong câu “ Người cha mái tóc bạc” hay là dùng hình

ảnh "mặt trời" để nói về Bác Hồ với những phẩm chất cao đẹp trong câu “ Ngày ngày mặt

trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Ví dụ 4 Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui

như nối lại chiêm bao đứt quãng

(Nguyễn Tuân)

Trang 8

GV cho học sinh quan sát tranh

Hỏi: Cụm từ nắng giòn tan trong câu trên có gì đặc biệt? ( Dựa vào tranh trả lời)

Gợi ý: Chúng ta vẫn thấy nắng bằng cơ quan cảm giác nào, thường thì nắng được thấy qua thị giác Còn giòn tan là cái chúng ta không thể nghe qua thính giác (không thể nhìn thấy giòn tan) mà thường là qua xúc giác (sờ, cầm, nắm, ) và cả vị giác Dùng những

hình ảnh vốn được nhận biết bằng những cơ quan cảm giác khác nhau để kết hợp thành một hình ảnh dựa trên những nét tương đồng nào đó, kiểu này thuộc ẩn dụ chuyển đổi cảm giác Vậy ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là gì?

- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là dựa vào sự tương đồng về cảm giác ( thị giác, thính

giác, khứu giác, vị giác, xúc giác.)

Ngoài ra giáo viên cho học sinh tham khảo cách thực hiện câu văn có ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

Ẩn dụ cảm giác được chia ra một số loại như sau:

+ Thị giác + nhiệt: Cái màu xanh này mát quá

+ Thính giác + vị giác: Câu chuyện nhạt phèo

+ Thị giác + khứu giác: Thấy thơm rồi đó

+ Khứu giác + vị giác: Một mùi đăng đắng

+ Thính giác + xúc giác: Một tiếng sắc nhọn

Hỏi: Mỗi kiểu tương đồng (như đã phân tích trong các ví dụ trên) là một kiểu ẩn dụ, vậy chúng ta có thể rút ra được những kiểu ẩn dụ nào?

Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại các kiểu ẩn dụ và chốt lại

* Ẩn dụ hình thức, ẩn dụ cách thức, ẩn dụ phẩm chất, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

b/ Vận dụng

Tìm các ẩn dụ trong những câu sau bằng cách nêu nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh ngầm với nhau và cho biết nó thuộc kiểu ẩn dụ nào?

b.1 Các quan chức tham lam đã lách qua khe hở của luật pháp để thủ lợi

b.2 Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam

b.3 Một tia hy vọng lóe lên trong đầu.

b.4 Cô ấy có giọng hát ngọt làm sao

Trang 9

Gợi ý: Trong câu 1, ta dùng “lách qua kẽ hở” với nghĩa ẩn dụ để thay thế cho ý tưởng

tìm và áp dụng những điều không được đề cập đến: Các quan chức tham lam đã tìm những

điều mà luật pháp không đề cập đến để thủ lợi

 Ẩn dụ phẩm chất

Trong câu 2, ta dùng “trái tim” để thay thế cho “nơi quan trọng nhất”: Hà Nội là nơi quan trọng nhất của nước Việt Nam

 Ẩn dụ hình thức

Trong câu 3, ta dùng “tia” để thay thế cho “chút” (hay “ít”), “lóe lên” để thay thế cho “có”: Một “chút” hy vọng “có” trong đầu

 Ẩn dụ cách thức

Trong câu 4, ta dùng từ “ngọt” thay cho giọng hát “hay” chuyển đổi từ thính giác sang vị giác

 Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

Trong lúc đó, các cụm từ “lách qua kẽ hở”, “trái tim” hay “tia”, “ngọt” nếu đặt vào trong một câu khác phù hợp với nghĩa bình thường của chúng thì tính ẩn dụ sẽ biến mất

Chẳng hạn: “ Chú gấu đã lách qua kẽ hở của hàng rào để rời khỏi vườn bách thú” “Món chè

này rất ngọt” ,…Câu nói diễn tả một điều cụ thể, hoàn toàn không mang tính ẩn dụ Vì vậy

ẩn dụ phải đặt trong ngữ cảnh cụ thể

** Lưu ý:

Học sinh quan sát những sự vật xung quanh mình để viết những câu văn có ẩn dụ nhưng phải đặt trong ngữ cảnh

Tham khảo ví dụ (từ gạch dưới là ẩn dụ)

- Tất cả chúng tôi nguyện là người lái đò thầm lặng đưa khách đến bến bờ hạnh phúc

- Bạn có điều kiện hơn tôi

- Tiền bạc là vật phù du

Tóm lại: Giữa hai sự vật, hiện tượng của phép tu từ ẩn dụ có mối quan hệ tương

đồng, tức giống nhau về phương diện nào đó.(hình thức; cách thức thực hiện; phẩm chất; cảm giác)

Cơ sở của ẩn dụ dựa trên sự liên tưởng giống nhau của hai đối tượng bằng so sánh ngầm

Về mặt nội dung(cấu tạo bên trong), ẩn dụ phải rút ra nét giống nhau giữa hai đối tượng vốn là khác loại, không cùng bản chất

3.3.2 Phép tu từ hoán dụ

a Cách nhận biết

Bước 1: hình thành khái niệm ( phương pháp: qui nạp, động não, thảo luận)

Ví dụ Áo nâu liền với áo xanh

Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.

Hỏi: Các từ in đậm trong 2 câu thơ trên có gì đặc biệt? Chúng được dùng để chỉ ai?

GV yêu cầu học sinh quan sát tranh trả lời

Trang 10

Gợi ý: Các từ in đậm được dùng để biểu thị những đối tượng có mối quan hệ gần gũi

với nó

- Áo nâu: chỉ người nông dân; áo xanh: chỉ người công nhân;

- Nông thôn: chỉ những người ở nông thôn; thành thị: chỉ những người sống ở thành

thị

Hỏi: Dựa vào gợi ý trên, hãy điền các từ in đậm và đối tượng mà nó biểu thị vào bảng sau:

Sự vật, hiện tượng dùng để biểu thị Sự vật, hiện tượng được biểu thị

HS phát hiện và điền vào bảng

GV chốt:

Sự vật, hiện tượng dùng để biểu thị Sự vật, hiện tượng được biểu thị

áo nâu, áo xanh (áo nâu cùng với áo xanh)

Nông thôn, thành thị (Nông thôn cùng với thị thành đứng lên)

người nông dân, người công nhân

những người nông thôn, những người thành thị

Hỏi: Các từ in đậm trên được dùng theo phép hoán dụ Các từ này có quan hệ với cái

mà nó biểu thị như thế nào, có giống với ẩn dụ không?

Ngày đăng: 20/02/2020, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w