1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giảng dạy kiến thức sinh học 9 theo phương pháp chuyên gia

17 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 731,11 KB
File đính kèm ppcdsinhoc9.rar (703 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện nghị quyết các Đại Hội VI, VII của Đảng và nghị quyết Trung ương 4 Khóa VII, nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII. Sau 15 năm đổi mới đất nước ta đã có những chuyển biến hết sức quan trọng về phát triển kinh tế xã hội cũng như giáo dục. Giáo dục nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn còn những yếu kém, bất cập. Nhìn chung chất lượng và hiệu quả nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của đất nước trong giai đoạn mới.Thực hiện quyết định số 2012001QĐ TTg ngày 28122001 của Thủ tướng chính phủ về chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 20012010, Bộ GDĐT đã xác định: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động trong quá trình tiếp nhận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, hoạt động tự quản trong nhà trường và tham gia các hoạt động xã hội”, là một trong những giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, khối lượng kiến thức của nhân loại chỉ trong khoảng sáu năm đã tăng gấp đôi so với trước, kiến thức bị “lão hóa” rất nhanh; các phương tiện nghe nhìn và thông tin đại chúng đã phát triển đến mức giúp cho con người tiếp thu thuận lợi và nhanh chóng nhiều thông tin bổ ích. Khái niệm” Giáo dục suốt đời” trở thành đòi hỏi và cam kết của mỗi quốc gia. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy phải đổi mới theo hướng góp phần đắc lực hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh để từ đó bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, hình thành khả năng học tập suốt đời là một nhu cầu tất yếu. Chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 162006BGDĐT ngày 0552006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT đã nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện đổi mới PPDH. Bộ GDĐT đã chỉ đạo các Sở GDĐT và các trường THPT thực hiện đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; tổ chức các hoạt động nhận thức của học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên, hướng dẫn phương pháp tự học cho học sinh; ứng dụng CNTT, sử dụng thiết bị dạy học hiện đại, khai thác các thiết bị sẵn có và tự làm đồ dùng dạy học để giảng dạy. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tích cực trong học tập của học sinh, đào tạo ra con người tự chủ, năng động sáng tạo có năng lực giải quyết vấn đề, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh. Tuy nhiên việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở nước ta còn chậm. Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII đã nhận định “Phương pháp giáo dục và đào tạo ở nước ta chậm đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học”. Chính điều này đã làm hạn chế chất lượng dạy và học ở trường phổ thông hiện nay. Trong quá trình giảng dạy, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học hợp lý là cần thiết. Song điều quan trọng là giáo viên phải có kiến thức vững vàng về cả mảng kiến thức cần truyền đạt. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, bởi lẽ muốn học sinh học tập tốt, nắm kiến thức một cách chắc chắn và bền lâu, trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh tri thức. Vấn đề cần quan tâm ở đây chính là đa phần các em học sinh thường “học vẹt”, mà kiến thức sinh học thì nhiều và khó khi nghiên cứu sâu về bản chất, cơ chế bên trong, với lại các em học nhiều môn, và ngày ngày đều đi học. Do đó, không có thời gian học tập đều các môn, các em chỉ chú trọng những môn chính, những môn chủ yếu hoặc có chăng là học để đối phó với những bài kiểm tra, tư tưởng học để lấy điểm chớ không lấy kiến thức. Và đa số các em trong trường chủ yếu là học sinh yếu kém, còn gia đình khó khăn, phụ huynh ít quan tâm đến việc học của các em. Bên cạnh đó, khi giáo viên đứng lớp dạy, các em có thắc mắc cũng ngại hỏi lại những vấn đề chưa được tường tận, các em còn tâm lý sợ sệt giáo viên, hoặc không muốn hỏi sợ các bạn chế nhiễu, hay các em nghĩ đây chỉ là môn phụ, chỉ cần chép bài đầy đủ, về học thuộc là xong, nên không quan trọng vấn đề học để hiểu rõ, để có thể áp dụng những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống. Thêm nữa, cái chính ở đây để quá trình đổi mới để đạt được hiệu quả và đồng bộ trong giai đoạn hiện nay khi mà khoa học kỹ thuật, CNTT ngày càng phát triển ưu việt thì tất yếu cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy về máy móc, phòng ban….phải được đảm bảo.Như vậy, để hoạt động học tập của học sinh đạt chất lượng và hiệu quả, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, hoạt động thứ yếu, còn học sinh hoạt động chủ yếu và tích cực trong tiết học: tự khai thác kiến thức và tự lĩnh hội kiến thức đó. Chính nhờ cách truyền đạt này là điều kiện bên trong để học sinh biến khả năng học tập thành kết quả cụ thể và làm cho học sinh tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập của học sinh. Vì vậy trong quá trình giảng dạy môn sinh học cấp THCS ở trường trong những năm vừa qua, tôi đã chú trọng tìm kiếm, tự bản thân mạnh dạn đổi mới PPDH từ phương pháp cũ: “Giáo viên là trung tâm”, chuyển đổi sang phương pháp giảng dạy mới: “Học sinh là trung tâm” , và đã áp dụng phương pháp này vào giảng dạy; cũng đã đạt được một số kết quả tích cực và rút ra được một số kinh nghiệm cho bản thân. Tôi xin trình bày sáng kiến kinh nghiệm của bản thân về việc “Giảng dạy kiến thức Sinh học 9 theo phương pháp chuyên gia có ứng dụng công nghệ thông tin”. Với kinh nghiệm này, tôi mong muốn sẽ giúp đỡ các em học sinh để các em nhớ rõ hơn và khắc sâu kiến thức đã học ở một thời gian lâu hơn do những kiến thức đó các em tự tìm kiếm và chiếm lĩnh nó, đồng thời rèn cho các em tinh thần .....................................

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Trường THCS TT Tri Tôn Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Tri Tôn, ngày 10 tháng 12 năm 2018

BÁO CÁO SÁNG KIẾN (Giảng dạy kiến thức sinh học 9 theo phương pháp chuyên gia

có ứng dụng công nghệ thông tin).

I Sơ lược lý lịch tác giả:

- Họ và tên: DƯƠNG THỊ KIM OANH Nữ

- Ngày tháng năm sinh: 22/08/1985

- Nơi thường trú: số 1- Thái Quốc Hùng- Khóm 4-Thị Trấn Tri Tôn - An Giang

- Đơn vị công tác: Trường THCS TT Tri Tôn

- Chức vụ hiện nay: Giáo viên

- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Sinh

- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy môn Sinh học

II Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:

*Thuận lợi :

- Được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Ban Gíam Hiệu và tổ chức đoàn thể trong nhà trường

Sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng nghiệp đã giúp cho quá trình nghiên cứu của tôi thuận lợi hơn

- Hầu hết học sinh đều có Sách giáo khoa Sách giáo khoa rõ, đẹp có đầy đủ kênh hình và biểu mẫu

- Mỗi lớp đều có số học sinh ham học, tích cực phát biểu xây dựng bài trong giờ học

- Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối tốt, đảm bảo cho các tiết thực hành

- GV trong tổ có tinh thần đoàn kết cao.Đây cũng là điều kiện tốt để các thành viên trong

tổ học hỏi chuyên môn giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng như tham gia đầy đủ các phong trào do ngành đề ra

- Có nhiều lớp học cùng khối nên dễ rút kinh nghiệm khi giảng dạy

- Đa số học sinh là người kinh nên ít bất đồng ngôn ngữ, thuận lợi trong giảng dạy

- ĐDDH đầy đủ nên việc giảng dạy của GV có nhiều thuận lợi

* Khó khăn

- Học lực của HS phân hóa không đồng đều nên việc áp dụng phương pháp còn nhiều hạn chế

- Một số học sinh còn lười học chưa tích cực trong học tập

- HS lớp 9 chưa quen với việc vận dụng lý thuyết làm bài tập dẫn đến không hiểu bài, chán học

*Tên sáng kiến: Giảng dạy kiến thức sinh học 9 theo phương pháp chuyên gia có ứng dụng công nghệ thông tin.

* Lĩnh vực: chuyên môn(sinh học)

III Mục đích yêu cầu của sáng kiến:

1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:

- Khi giảng dạy theo phương pháp: “Giáo viên là trung tâm”, thường giáo viên dạy

hết các nội dung kiến thức có trong bài học, bất luận nội dung kiến thức đó có phù hợp với học sinh của lớp mình hay không Vì vậy, trong giờ giáo viên thường tập trung vào một số học sinh khá, ít quan tâm đến học sinh yếu kém vì sợ làm mất thời gian, cháy giáo

án (Nếu chỉ định học sinh yếu kém, em có thể đứng im không trả lời được hoặc có thể

Trang 2

không làm được bài, ảnh hưởng đến kết quả của giờ học) Như vậy, HS yếu, kém thường

bị bỏ rơi, có thể dẫn tới chán học, bỏ học

Giáo viên thường áp dụng phương pháp dạy áp đặt một chiều, máy móc: hỏi -đáp hoặc đọc - chép hoặc giải thích bằng lời, làm cho không khí lớp học nặng nề, không thoải mái, giữa giáo viên và học sinh không được gần gũi thân thiện, kéo theo tiết học không sinh động, dễ gây nhàm chán cho học sinh, dẫn đến hiệu quả tiết học không cao

Vì vậy học sinh thụ động trong quá trình lĩnh hội tri thức nên thiếu tự tin, không phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của bản thân bằng cách tìm ra một phương pháp học tập phù hợp cho bản thân Giáo viên thường lúng túng trong việc xử lí tình huống khi nhiều học sinh không trả lời được câu hỏi hoặc không thực hiện được bài tập Nội dung dạy học phụ thuộc vào sách giáo khoa

- Giáo viên giảng dạy thực hiện đúng thời gian đã dự định cho mỗi hoạt động Các câu hỏi đặt ra thường yêu cầu học sinh phải trả lời theo đúng đáp án đã dự kiến trong giáo án

- Kiến thức về sinh học là kiến thức gần gũi nhưng khó với học sinh về các thuật ngữ, với lại học sinh cảm thấy chán nản khi gặp kiến thức của bài học nhiều Do đó, khi hướng dẫn về nhà xem trước kiến thức, đa số các em không chuẩn bị trước

- Một số giáo viên chưa biết tận dụng triệt để khả năng sáng tạo, tư duy, nghệ thuật lên lớp của mình thông qua việc đầu tư soạn giảng qua loa chiếu lệ, còn lệ thuộc vào sách thiết kế nhiều chưa có tính sáng tạo, chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với từng thời điểm, từng đối tượng học sinh

- Thông thường trong tiết học, học sinh không hiểu vấn đề giáo viên vừa truyền đạt, các em cũng e ngại không dám hỏi lại, rồi lơ đãng bỏ qua kiến thức Do vậy, giáo viên cần tạo độ an toàn, thân thiết để góp phần gỡ các nút thắc trong suy nghĩ của học sinh

- Phần lớn học sinh ở trường là học sinh yếu, gia đình khó khăn, ít quan tâm đến việc học tập của các em với lại kiến thức bài học nhiều, làm cho học sinh không ham thích học bộ môn

- Các nguồn lực hỗ trợ cho việc giảng dạy theo hướng đổi mới ứng dụng công nghệ thông tin như cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, máy chiếu… vừa thiếu vừa chưa đồng bộ

2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến:

Thực hiện nghị quyết các Đại Hội VI, VII của Đảng và nghị quyết Trung ương 4 Khóa VII, nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII Sau 15 năm đổi mới đất nước ta đã có những chuyển biến hết sức quan trọng về phát triển kinh tế- xã hội cũng như giáo dục Giáo dục nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn còn những yếu kém, bất cập Nhìn chung chất lượng và hiệu quả nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của đất nước trong giai đoạn mới

Thực hiện quyết định số 201/2001/QĐ TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng chính phủ về chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010, Bộ GD-ĐT đã xác định: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động trong quá trình tiếp nhận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, hoạt động tự quản trong nhà trường và tham gia các hoạt động xã hội”, là một trong những giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010

Trang 3

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, khối lượng kiến thức của nhân loại chỉ trong khoảng sáu năm đã tăng gấp đôi so với trước, kiến thức bị “lão hóa” rất nhanh; các phương tiện nghe nhìn và thông tin đại chúng đã phát triển đến mức giúp cho con người

tiếp thu thuận lợi và nhanh chóng nhiều thông tin bổ ích Khái niệm” Giáo dục suốt đời”

trở thành đòi hỏi và cam kết của mỗi quốc gia Việc đổi mới phương pháp giảng dạy phải đổi mới theo hướng góp phần đắc lực hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh để từ đó bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, hình thành khả năng học tập suốt đời là một nhu cầu tất yếu

Chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/BGD&ĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT đã nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện đổi mới PPDH Bộ GDĐT đã chỉ đạo các Sở GDĐT và các trường THPT thực hiện đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; tổ chức các hoạt động nhận thức của học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên, hướng dẫn phương pháp tự học cho học sinh; ứng dụng CNTT, sử dụng thiết bị dạy học hiện đại, khai thác các thiết

bị sẵn có và tự làm đồ dùng dạy học để giảng dạy

Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tích cực trong học tập của học sinh, đào tạo ra con người tự chủ, năng động sáng tạo có năng lực giải quyết vấn đề, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh Tuy nhiên việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở nước ta còn chậm Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII đã nhận định “Phương pháp giáo dục và đào tạo ở nước ta chậm đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học” Chính điều này đã làm hạn chế chất lượng dạy và học ở trường phổ thông hiện nay

Trong quá trình giảng dạy, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học hợp lý là cần thiết Song điều quan trọng là giáo viên phải có kiến thức vững vàng về cả mảng kiến thức cần truyền đạt Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, bởi lẽ muốn học sinh học tập tốt, nắm kiến thức một cách chắc chắn và bền lâu, trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh tri thức

Vấn đề cần quan tâm ở đây chính là đa phần các em học sinh thường “học vẹt”,

mà kiến thức sinh học thì nhiều và khó khi nghiên cứu sâu về bản chất, cơ chế bên trong, với lại các em học nhiều môn, và ngày ngày đều đi học Do đó, không có thời gian học tập đều các môn, các em chỉ chú trọng những môn chính, những môn chủ yếu hoặc có chăng là học để đối phó với những bài kiểm tra, tư tưởng học để lấy điểm chớ không lấy kiến thức Và đa số các em trong trường chủ yếu là học sinh yếu kém, còn gia đình khó khăn, phụ huynh ít quan tâm đến việc học của các em

Bên cạnh đó, khi giáo viên đứng lớp dạy, các em có thắc mắc cũng ngại hỏi lại những vấn đề chưa được tường tận, các em còn tâm lý sợ sệt giáo viên, hoặc không muốn hỏi sợ các bạn chế nhiễu, hay các em nghĩ đây chỉ là môn phụ, chỉ cần chép bài đầy đủ,

về học thuộc là xong, nên không quan trọng vấn đề học để hiểu rõ, để có thể áp dụng những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống

Thêm nữa, cái chính ở đây để quá trình đổi mới để đạt được hiệu quả và đồng bộ trong giai đoạn hiện nay khi mà khoa học kỹ thuật, CNTT ngày càng phát triển ưu việt thì tất yếu cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy về máy móc, phòng ban….phải được đảm bảo

Như vậy, để hoạt động học tập của học sinh đạt chất lượng và hiệu quả, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, hoạt động thứ yếu, còn học sinh hoạt động chủ yếu

và tích cực trong tiết học: tự khai thác kiến thức và tự lĩnh hội kiến thức đó Chính nhờ

Trang 4

cách truyền đạt này là điều kiện bên trong để học sinh biến khả năng học tập thành kết quả cụ thể và làm cho học sinh tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập của học sinh

Vì vậy trong quá trình giảng dạy môn sinh học cấp THCS ở trường trong những năm vừa qua, tôi đã chú trọng tìm kiếm, tự bản thân mạnh dạn đổi mới PPDH từ phương pháp cũ: “Giáo viên là trung tâm”, chuyển đổi sang phương pháp giảng dạy mới: “Học sinh là trung tâm” , và đã áp dụng phương pháp này vào giảng dạy; cũng đã đạt được một

số kết quả tích cực và rút ra được một số kinh nghiệm cho bản thân Tôi xin trình bày

sáng kiến kinh nghiệm của bản thân về việc “Giảng dạy kiến thức Sinh học 9 theo phương pháp chuyên gia có ứng dụng công nghệ thông tin”.

Với kinh nghiệm này, tôi mong muốn sẽ giúp đỡ các em học sinh để các em nhớ

rõ hơn và khắc sâu kiến thức đã học ở một thời gian lâu hơn do những kiến thức đó các

em tự tìm kiếm và chiếm lĩnh nó, đồng thời rèn cho các em tinh thần đoàn kết cùng nhau học tập; tự tin vào bản thân hơn, mạnh dạn đóng góp ý kiến và phát biểu trước đám đông; đồng thời cũng nhằm nâng cao chất lượng của bộ môn sinh học và có thể áp dụng các kiến thức sinh học đã biết vào thực tiễn trong mọi tình huống bất kì của đời sống bản thân

3 Nội dung sáng kiến:

a Tiến trình thực hiện:

a1 Cách thức tổ chức: Có 2 cách

+ Cách 1: Giáo viên dạy lớp và 1 học sinh trong lớp sắm vai chuyên gia

+ Cách 2: Giáo viên dạy lớp, 1 học sinh trong lớp sắm vai chuyên gia và 1 học sinh là người dẫn chương trình (MC)

* Bản thân tôi đã áp dụng phương pháp này vào giảng dạy các năm học trước, nhưng do học sinh sắm vai chuyên gia chưa quen để dẫn dắt các bạn cùng nhau khai thác kiến thức Do đó, để tiết dạy có hiệu quả, tôi đã đề ra và áp dụng cách 2 để tổ chức giảng dạy và tôi xin trình bày quá trình tổ chức giảng dạy theo phương pháp “chuyên gia”

a2 Số lượng thành viên tổ chức tiết dạy :

+ Giáo viên bộ môn

+ 1 chuyên gia

+ 1 MC

* Lưu ý:

+ Học sinh sắm vai chuyên gia, giáo viên nên chọn học sinh có học lực khá, giỏi trong lớp và thay phiên nhau mỗi tiết mỗi bạn

+ MC: học sinh nói chuyện lưu loát, có thể dẫn dắt được các bạn khác tập trung làm theo mình và trình bày chữ viết, bảng một cách rõ ràng, khoa học MC có thể giữ nguyên các tiết dạy, không cần thay đổi

a3 Nhiệm vụ của từng thành viên:

+ Giáo viên: trình chiếu các slide thể hiện trong giáo án; chụp hình các nhóm khi thảo luận hoàn thành phiếu học tập; chốt lại kiến thức khó cho học sinh và giải đáp thắc mắc của học sinh khi chuyên gia không trả lời được

+ Chuyên gia: Dẫn dắt các học sinh khác khai thác kiến thức mới thông qua hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn và quan trọng là giải đáp thắc mắc của các bạn, nếu không giải đáp được nhờ giáo viên phụ giúp, còn học sinh đặt câu hỏi cho chuyên gia mà chuyên gia không trả lời được, mà HS đó trả lời được câu hỏi của mình sẽ được điểm tốt

và tới tiết sau bạn đó sẽ thay thế, sắm vai chuyên gia

Trang 5

+ MC: ghi các kiến thức trọng tâm trên bảng và cùng với chuyên gia động viên các bạn tích cực tham gia trả lời các câu hỏi của chuyên gia, đồng thời khuyến khích các bạn nếu có thắc mắc thì có thể hỏi ngược lại chuyên gia, để cùng nhau khai thác hết kiến thức bài học và các kiến thức có liên quan

a4 Vị trí của từng thành viên:

+ Giáo viên: ngồi góc trên bên trái hoặc bên phải lớp học theo hướng từ dưới học sinh nhìn lên, thường thì góc trái của lớp

+ Chuyên gia: ngồi giữa lớp, quay mặt xuống các bạn trong lớp

+ MC: đứng trên ở 1 phía bên phải hay bên trái bục giảng

a5 Quá trình tổ chức:

a5.1 Chuẩn bị của giáo viên:

- Giáo án không chỉ bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng, phải dự trù được các kiến thức có liên quan, để học sinh có những thắc mắc khi tiếp thu kiến thức, phải giải quyết kịp thời cho học sinh

- Giáo án có lồng ghép rèn kĩ năng sống cho học sinh, tích hợp việc tiết kiệm năng lượng và giáo dục bảo vệ môi trường…

- Máy chiếu

- Máy chụp hình, bảng phụ (nếu có)

- Hướng dẫn trước cho “chuyên gia” các bước khai thác thông tin, để học sinh đó dẫn dắt các bạn còn lại trong lớp khai thác và tiếp thu kiến thức mới

- Hướng dẫn cho MC dẫn chương trình tiết học, hỗ trợ cho chuyên gia và ghi bảng

a5.2 Tiến trình tiết dạy.

- Giáo viên:

+ Kiểm diện sĩ số của lớp

+ Kiểm tra bài cũ

+ Giới thiệu chuyên gia và MC cho lớp biết Có thể nói: Cùng khai thác kiến thức mới trong nội dung của bài học hôm nay, tiết học này Cô có mời đến một chuyên gia để cùng với các em khai thác và lĩnh hội kiến thức mới Và 1 bạn sẽ làm MC dẫn chương trình tiết học này của chúng ta

- Chuyên gia và MC từ dưới chỗ ngồi của mình bước lên đúng vị trí của mình

- Chuyên gia: Giới thiệu bài mới vừa xong, MC sẽ ghi tựa bài lên giữa bảng

- Sau đó, chuyên gia dẫn dắt các bạn cùng nhau khai thác từng nội dung trong bài học qua hệ thống câu hỏi chuẩn bị sẵn, các bạn trả lời, nếu có thắc mắc hay đánh đố chuyên gia để được điểm hồng và tiết sau sẽ sắm vai làm chuyên gia thì đặt câu hỏi ngược lại cho chuyên gia các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học Chuyên gia trả lời các câu hỏi, nếu trả lời không được, lúc đó giáo viên trả lời thay cho chuyên gia

- Song song với đó,

+ GV chiếu các hình ảnh, thông tin phù hợp với từng nội dung khai thác và quan sát việc học của từng học sinh để có thể điều chỉnh hay hỗ trợ kịp thời, hoặc chụp hình phiếu học tập của từng nhóm chiếu lên thay cho việc dùng bảng phụ

+ MC ghi từng tiêu đề, nội dung chính của bài học lên bảng theo dạng tóm

tắt kiểu sơ đồ tư duy, tương ứng với từng kiến thức ở từng giai đoạn mà chuyên gia và

các bạn khai thác, đồng thời cùng với chuyên gia phát động tinh thần tích cực xây dựng bài của các bạn: gọi các bạn trả lời câu hỏi, hay hỏi các thắc mắc để chuyên gia giải đáp + Các bạn khi được yêu cầu thảo luận nhóm (2 bạn ngồi chung bàn thành 1 nhóm) thì tích cực thảo luận, và khi được mời cho ý kiến thì cả 2 bạn của nhóm cùng đứng lên, 1 bạn đọc câu hỏi và 1 bạn trả lời Làm như thế sẽ tránh được 1 phần không tập

Trang 6

trung của các em, đặc biệt ở các em học sinh yếu kém, dần dần hình thành khả năng tự tin vào bản thân cho các em

- Nội dung bài học xong, giáo viên kiểm tra đánh giá học sinh các kiến thức vừa lĩnh hội

- Hướng dẫn về nhà cho các em chuẩn bị trước nội dung bài học sau

- Cám ơn chuyên gia và MC tiết học này Thông báo chuyên gia của tiết học sau: Thường là học sinh đặt câu hỏi mà chuyên gia trả lời không được, bản thân em đó trả lời được, nếu không có thì giáo viên chỉ định 1 bạn khác trong lớp MC có thể giữ nguyên

* Lưu ý: Tuy tiết học này là các em cùng nhau khai thác kiến thức và có thể lập luận

lẫn nhau, nhưng giáo viên hướng dẫn cho MC và chuyên gia điều khiển tiết học vẫn đảm

bảo thời gian là 45 phút/ 1tiết.

 Điểm mới của đề tài so với các phương pháp trước.

- Chuyên gia và HS là trung tâm của tiết học, cùng nhau trao đổi, thảo luận để lĩnh hội kiến thức, còn GV là người hỗ trợ và giải đáp những thắc mắc của HS ngoài khả năng của chuyên gia

- Quan hệ trong tiết học chủ yếu là HS  HS

- Vị trí GV ở bên góc lớp, chuyên gia ở giữa lớp, MC trên bụt giảng ghi bảng

- Có ứng dụng CNTT làm cho tiết học sinh động hơn, khả năng ghi nhớ kiến thức của HS tốt hơn thông qua việc phân tích kênh hình, xem các đoạn video…

b Thời gian thực hiện sáng kiến:

Năm học: 2014-2015 đến nay

c Biện pháp tổ chức:

- Ví dụ cụ thể, áp dụng phương pháp này vào quá trình giảng dạy Bài 9: Nguyên phân- Sinh học 9.

- Cách thức tổ chức và các bước giảng dạy được tiến hành giống như từng nội dung thể hiện trong giáo án dưới đây

c.1 Chuẩn bị của GV:

- File giáo án trình chiếu bằng chương trình PowerPoint

- Máy chiếu, loa, máy chụp hình

- Hướng dẫn các bước khai thác và nội dung bài học cho 1 HS sắm vai chuyên gia;

và cách ghi bảng, cách hỗ trợ chuyên gia cho MC

- Các câu hỏi kiểm tra bài cũ, kiểm tra đánh giá và hướng dẫn về nhà cho HS

- Phiếu học tập

Các kì Những diễn biến cơ bản của NST

Kì đầu

Kì giữa

Kì sau

Kì cuối

c.2 Chuẩn bị của HS: Hoàn thành bảng 9.2 trang 29 trước ở nhà dựa vào các

hình trong bảng và thông tin trang 28

c.3 Các bước thực hiện:

- GV kiểm diện lớp và kiểm tra bài cũ

- GV giới thiệu chuyên gia và MC cho lớp biết: Cùng khai thác kiến thức mới trong nội dung của bài học hôm nay, tiết học này Cô có mời đến một chuyên gia để cùng với các em khai thác và lĩnh hội kiến thức mới Và 1 bạn sẽ làm MC dẫn chương trình tiết học này của chúng ta Đề nghị cả lớp hoan nghênh 2 bạn

- Chuyên gia giới thiệu bài mới: Cơ thể của tất cả các sinh vật lớn lên được

là do sự phân chia của tế bào (sự phân bào) trong cơ thể, làm số lượng tế bào ngày càng

Trang 7

tăng lên Tiết học này chúng ta cùng tìm hiểu quá trình phân chia tế bào diễn ra như thế nào? Và quá tình này có diễn ra suốt đời sống cá thể hay không? Hôm nay chúng ta cùng

tìm hiểu bài 9: NGUYÊN PHÂN Lúc đó, MC ghi tựa bài lên giữa bảng, góc bên tay

trái

- Chuyên gia giới thiệu hoạt động 1: Biến đổi hình thái NST trong chu

kì tế bào, MC ghi tiêu đề lên bảng và HS ghi tiêu đề vào vở

Hoạt động của GV, Chuyên gia và MC Hoạt động của HS

- GV chiếu hình:

- Chuyên gia nêu câu hỏi và hỏi ý kiến các bạn:

(?) Chu kì tế bào gồm những giai đoạn nào?

(?) Quá trình NP gồm mấy kì?

(?) Khi kết thúc quá trình phân bào, ở tế bào

diễn ra quá trình gì?

(?) Nêu kết quả của 1 chu kì tế bào?

- GV chiếu hình:

- Chuyên gia nêu câu hỏi và hỏi ý kiến các bạn:

(?) Mức độ đóng, duỗi xoắn của NST diễn ra

qua các kì của chu kì tế bào? Từ đó hoàn thành

bảng 9.1 trang 27

- Chuyên gia: Qua bảng chúng ta thấy, NST

duỗi xoắn có dạng sợi ở kì trung gian và đóng

xoắn cực đại có dạng đặc trưng ở kì giữa

- Qua từng nội dung các bạn khai thác, MC ghi

- HS quan sát hình

- HS tham gia ý kiến:

 Chu kì tế bào gồm 2 giai đoạn: kì trung gian và quá trình phân bào nguyên nhiễm gọi tắt là nguyên phân được lặp lại nhiều lần

 NP gồm 4 kì: kì đầu, kì giữa, kì sau và

kì cuối

 Kết thúc quá trình phân bào là sự phân chia chất tế bào

 Từ 1 tế bào mẹ tạo ra 2 tế bào mới

- HS quan sát

- HS hoàn thành bảng

Trang 8

lên bảng các ý của nội dung bài (như phần tiểu

kết mà GV cung cấp trước).  Rút ra kết luận

Bảng 9.1: Mức độ đóng, duỗi xoắn của NST diễn ra qua các kì

Hình thái NST Kì trung

gian

Kì đầu Kì giữa Kì sau Kì cuối

-Mức độ duỗi xoắn

-Mức độ đóng xoắn Nhiều nhất Ít Ít Nhiều Rất ít Cực đại Ít Nhiều Nhiều Ít

- Chuyên gia giới thiệu hoạt động 2: Những diễn biến cơ bản của NST trong quá trình NP, MC tiêu đề lên bảng và HS ghi tiều đề vào vở

Hoạt động của GV, Chuyên gia và MC Hoạt động của HS

- Giáo viên chiếu video về quá trình nguyên

phân theo địa chỉ (có thể chiếu bỏ 1 phần

đoạn đầu)

http://www.youtube.com/watch?

v=59wmHUYDS50

- Chuyên gia mời các bạn xem đoạn video và

ghi nhận kiến thức để có thể hoàn thành bảng

9.2 xem có giống như mình hoàn thành trước

ở nhà hay không? để kiểm tra lại cách nhìn

nhận, tư duy vấn đề

- Chuyên gia: Sau khi xem xong, nhờ MC

phát phiếu học tập cho các nhóm, mời các bạn

thảo luận nhóm 3 phút để thống nhất ghi nhận

của mình vào phiếu học tập

- GV: chụp hình đại diện 1 phiếu học tập của

1 nhóm và chiếu lên cho cả lớp xem

- Chuyên gia: Mời đại diện từng nhóm nhận

xét

- Chuyên gia cùng các bạn nhận xét, rút ra kết

luận đúng qua từng kì: kì trung gian và các kì

của quá trình NP như bảng 9.2, MC ghi lên

bảng các ý chính của từng giai đoạn

† Chuyên gia nhấn mạnh: Ở kì sau có sự

phân chia tế bào chất, các bào quan và ở kì

cuối có sự hình thành màng nhân, khác nhau

giữa tế bào động vật và thực vật

- Ý này chuyên gia chỉ nói đến đây, nếu các

bạn có thắc mắc thì giải thích tiếp.

+ Ở tế bào động vật: phân chia tế bào chất

bằng eo thắt ở giữa tế bào.

+ Ở tế bào thực vật: phân chia tế bào chất

bằng vách ngăn.

- Chuyên gia mời các bạn cho ý kiến tiếp:

- HS ghi tiêu đề của II

- HS quan sát, lắng nghe và ghi nhận

- Thảo luận nhóm, hoàn thành phiếu học tập

- Tất cả các nhóm đều quan sát, theo dõi

- Đại diện từng nhóm nhận xét, bổ sung, hay nêu những ý kiến khác

- Qua từng kì, HS ghi nhận kiến thức vào tập

- HS lắng nghe và ghi nhận

- HS nêu ý kiến:

Trang 9

(?) Kết quả của quá trình nguyên phân?

- Chuyên gia mời HS khác nhận xét và rút ra

kết luận đúng

- Qua từng nội dung các bạn khai thác, MC

ghi lên bảng các ý của nội dung bài (như phần

tiểu kết)

 Từ 1 tế bào mẹ ban đầu tạo ra 2 tế bào con có bộ NST giống nhau và giống tế bào

mẹ (2n NST)

- HS nhận xét, thống nhất ý kiến và ghi nhận kiến thức

Bảng 9.2: Những diễn biến cơ bản của NST ở các kì của NP.

Các kì Những diễn biến cơ bản của nhiễm sắc thể

Kì đầu - NST bắt đầu đóng xoắn và co ngắn, có hình thái rõ rệt. - Các NST kép dính vào sợi tơ của thoi phân bào ở tâm động.

Kì giữa - Các NST kép đóng xoắn cực đại. - Các NST kép xếp thành 1 hàng ở mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào.

Kì sau - Từng cặp NST kép chẻ dọc ở tâm động thành 2 NST đơn phân li về 2 cực của

tế bào

Kì cuối - Các NST đơn duỗi xoắn, dạng sợi mảnh nằm gọn trong 2 nhân mới được tạothành.

- Chuyên gia giới thiệu hoạt động 3: Ý nghĩa của nguyên phân, MC tiêu đề lên bảng và HS ghi tiều đề vào vở

Hoạt động của GV, Chuyên gia và MC Hoạt động của HS

- Chuyên gia mời các bạn đọc thêm thông tin

SGK và cho ý kiến:

(?) Do đâu mà số lượng NST của tế bào con

giống tế bào mẹ?

(?).Trong NP số lượng tế bào tăng mà bộ NST

không đổi  điều đó có ý nghĩa gì?

(?) Nêu ý nghĩa của quá trình NP?

- Chuyên gia nhờ 1 số bạn nhận xét và đóng góp

ý kiến  Rút ra kết luận

- MC ghi nội dung lên bảng như hình dưới đây

- HS đọc thông tin và nêu ý kiến:

 Do NST nhân đôi 1 lần và chia đôi 1 lần

 Bộ NST của loài được ổn định

NP là hình thức sinh sản của tế bào và

sự lớn lên của cơ thể

- NP duy trì sự ổn định bộ NST đặc trưng của loài qua các thế hệ tế bào

- Thống nhất ý kiến và ghi nhận kiến thức

Trang 10

- Sau đó, GV kiểm tra lại kiến thức HS thu nhận và hướng dẫn các em về nhà chuẩn bị kiến thức mới

- Cuối cùng, GV cám ơn chuyên gia và MC, giới thiệu chuyên gia mới ở tiết sau, còn MC có thể giữ nguyên

IV Hiệu quả đạt được:

1 Những điểm khác biệt trước và sau khi áp dụng sáng kiến.

* Qua quá trình áp dụng phương pháp “chuyên gia” vào thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy ở phương pháp này có điểm tích cực so với giảng dạy theo phương pháp cũ: “Giáo viên là trung tâm”, có thể khái quát lại một số ý như sau:

Phương pháp

“Giáo viên là trung tâm” Phương pháp “chuyên gia”

- GV không có thời gian quan tâm đến việc

học từng đối tượng học sinh ngay trong tiết

học

- GV có có cơ hội quan sát đến việc học của từng em, có thể hỗ trợ, giải quyết kịp thời

- GV không có cơ hội để nâng cao năng lực,

trình độ, nghiệp vụ sư phạm của mình do là

người tự chủ, tự quyết các hoạt động trong

tiết dạy

- Năng lực, trình độ, nghiệp vụ sư phạm của

GV được nâng cao, do thường xuyên đối mặt trước các câu hỏi của học sinh

- Quan hệ giữa GV- HS ít được gần gũi, thân

thiện - Do thường xuyên quan tâm đến HS nênquan hệ giữa GV- HS, tình thầy – trò ngày

càng gần gũi hơn, khắng khích hơn

- HS thụ động trong việc lĩnh hội tri thức - HS tích cực, chủ động khai thác kiến thức

để thu nhận

- Có HS không hiểu vấn đề GV truyền đạt do - HS dễ hiểu vấn đề hơn dưới sự hướng dẫn

Ngày đăng: 20/02/2020, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w