1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư vấn lập dự án Trang trại nuôi bò Mỹ Chánh tỉnh Trà Vinh PICC www.lapduandautu.vn | 0903034381

60 70 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, nhu cầu thịt bò của nước ta ngày càng tăng do thu nhập của người dân tăng lên, tuy nhiên nguồn cung trong nước là không đủ do chúng ta chưa có một ngành chăn nuô

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -    -

BÁO CÁO TIỀN KHẢ THI DỰ ÁN TRANG TRẠI NUÔI BÒ

MỸ CHÁNH

Chủ đầu tư:

Địa điểm: Ấp Giồng Trôm, xã Mỹ Chánh, Huyện Châu Thành, Tỉnh Trà Vinh

Tháng 05 năm 2019

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -    -

BÁO CÁO TIỀN KHẢ THI DỰ ÁN TRANG TRẠI NUÔI BÒ

MỸ CHÁNH CHỦ ĐẦU TƯ

Giám đốc

ĐƠN VỊ TƯ VẤN CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ

Giám đốc

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 4

I Giới thiệu về chủ đầu tư 4

II Mô tả sơ bộ thông tin dự án 4

III Sự cần thiết xây dựng dự án 4

IV Các căn cứ pháp lý 5

V Mục tiêu dự án 6

V.1 Mục tiêu chung 6

V.2 Mục tiêu cụ thể 6

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM VÀ QUY MÔ THỰC HIỆN DỰ ÁN 7

I Hiện trạng kinh tế - xã hội vùng thực hiện dự án 7

I.1 Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện dự án 7

I.2 Điều kiện xã hội vùng dự án 8

II Quy mô sản xuất của dự án 15

II.1 Đánh giá nhu cầu thị trường 15

II.2 Quy mô đầu tư của dự án 17

III Địa điểm và hình thức đầu tư xây dựng dự án 18

III.1 Địa điểm xây dựng 18

III.2 Hình thức đầu tư 18

IV Nhu cầu sử dụng đất và phân tích các yếu tố đầu vào của dự án 18

IV.1 Nhu cầu sử dụng đất của dự án 18

IV.2 Phân tích đánh giá các yếu tố đầu vào đáp ứng nhu cầu của dự án 19

CHƯƠNG III PHÂN TÍCH QUI MÔ, DIỆN TÍCH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ 20

I Phân tích qui mô đầu tư 20

II Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ 20

II.1 Công nghệ kỹ thuật nuôi bò 20

Trang 4

II.2 Kỹ thuật trồng cỏ 33

CHƯƠNG IV CÁC PHƯƠNG ÁN THỰC HIỆN DỰ ÁN 40

I Phương án giải phóng mặt bằng, tái định cư và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng 40

II Các phương án xây dựng công trình 40

III Phương án tổ chức thực hiện 41

IV Phân đoạn thực hiện và tiến độ thực hiện, hình thức quản lý dự án 41

CHƯƠNG V ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG – GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ VÀ YÊU CẦU AN NINH QUỐC PHÒNG 43

I Đánh giá tác động môi trường 43

I.1 Giới thiệu chung 43

I.2 Các quy định và các hướng dẫn về môi trường 43

I.3 Các tiêu chuẩn về môi trường áp dụng cho dự án 44

II Các nguồn có khả năng gây ô nhiễm và các chất gây ô nhiễm 44

II.1 Nguồn gây ra ô nhiễm 44

II.2.Mức độ ảnh hưởng tới môi trường 46

II.3 Giải pháp khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của dự án tới môi trường 47

III Kết luận 49

CHƯƠNG VI TỔNG VỐN ĐẦU TƯ – NGUỒN VỐN THỰC HIỆN VÀ HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN 50

I Tổng vốn đầu tư và nguồn vốn của dự án 50

II Nguồn vốn và Tiến độ thực hiện dự án 52

III Hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội của dự án 52

III.1 Nguồn vốn dự kiến đầu tư của dự án 53

III.2 Phương án vay 54

III.3 Các thông số tài chính của dự án 55

KẾT LUẬN 57

I Kết luận 57

Trang 5

PHỤ LỤC: CÁC BẢNG TÍNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DỰ ÁN 58

1 Bảng tổng mức đầu tư, nguồn vốn và tiến độ thực hiện của dự án Error! Bookmark not defined.

2 Bảng khấu hao tài sản cố định của dự án Error! Bookmark not defined.

3 Doanh thu và dòng tiền hàng năm của dự án Error! Bookmark not defined.

4 Kế hoạch trả nợ hằng năm của dự án Error! Bookmark not defined.

5 Mức trả nợ hằng năm của dựa án Error! Bookmark not defined.

6 Bảng phân tích hoàn vốn giản đơn của dự án.Error! Bookmark not defined.

7 Bảng phân tích hoàn vốn có chiết khấu của dự án.Error! Bookmark not defined.

8 Bảng Tính toán phân tích hiện giá thuần (NPV) của dự án Error! Bookmark not defined.

9 Bảng Phân tích theo tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của dự án Error! Bookmark not defined.

Trang 6

II Mô tả sơ bộ thông tin dự án

Tên dự án: Trang trại nuôi bò Mỹ Chánh.

Địa điểm xây dựng : Ấp Giồng Trôm, xã Mỹ Chánh, Huyện Châu Thành, Tỉnh Trà Vinh

Hình thức quản lý: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý điều hành và khai thác dự

III Sự cần thiết xây dựng dự án

Nước ta hiện là một nước nông nghiệp, trong quá trình xây dựng đất nước Đảng và nhà nước ta đang phát triển theo hướng công nghiệp, hiện đại hóa Trong những năm gần đây nền kinh tế- xã hội nước ta đã phát triển một cách mạnh mẻ Các ngành công nghiệp, dịch vụ và công nghệ phát triển đa dạng Tuy nhiên đối với Việt Nam nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng trong đó chăn nuôi đóng vai trò quan trọng thiết yếu Đặc biệt những năm gần đây thời tiết khắc nghiệt, dịch bệnh hoành hành, giá cả mặt hàng nông nghiệp và chăn nuôi bấp bênh Đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, lương thực, thực phẩm đặc biệt

là thịt heo không cung cấp đủ cho thị trường nội địa dẫn đến ảnh hưởng đến vấn

đề an ninh lương thực của đất nước Chính vì vậy, sản xuất nông nghiệp luôn được các cấp lãnh đạo và cơ quan nhà nước quan tâm, đặc biệt là vấn đề đầu tư và tiếp cận các công nghệ, kỹ thuật tiến bộ trong trồng trọt và chăn nuôi từng bước nâng cao năng xuất Đồng thời với nhiều chính sách ưu đãi đầu tư của nhà nước trong

Trang 7

các ngành sản xuất nông nghiệp đã tạo điều kiện cho ngành kinh tế này phát triển

và từng bước đi vào hiện đại

Chăn nuôi bò thịt đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nguồn thịt cho người tiêu dùng, một phần sức kéo trong nông nghiệp, cũng như thu nhập cho người chăn nuôi Chăn nuôi bò thịt đang được coi là một trong những giải pháp quan trọng trong phát triển nông thôn Trong những năm gần đây, nhu cầu thịt bò của nước ta ngày càng tăng do thu nhập của người dân tăng lên, tuy nhiên nguồn cung trong nước là không đủ do chúng ta chưa có một ngành chăn nuôi bò thịt chuyên nghiệp Theo số liệu của Tổng cục Hải quan 2013, năm 2012, Việt Nam mới bắt đầu nhập bò Úc với số lượng khá khiêm tốn, chỉ khoảng 3.000 con Nhưng qua năm 2013 đã tăng vọt lên gần 67.000 con, và như đã đề cập, 7 tháng đầu năm nay là 120.000 con Vượt qua cả Trung Quốc, Việt Nam đã trở thành thị trường nhập khẩu bò Úc đứng thứ 2 sau Indonesia

Chính vì vậy, Công ty chúng tôi đã phối hợp với tiến hành nghiên cứu

và lập dự án " Trang trại nuôi bò Mỹ Chánh" nhằm phát huy thế mạnh của địa phương, kính mong các quý ban ngành giúp đỡ để dự án sớm đi vào hoạt động

IV Các căn cứ pháp lý

Luật Bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm

2004 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam;

Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng;

Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;

Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự

án đầu tư xây dựng;

Trang 8

Quyết định số 79/QĐ-BXD ngày 15/02/2017 của Bộ Xây dựng về việc công

bố định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng;

Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ V/v Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường

- Góp phần phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sống tại địa phương;

- Đạt mục tiêu lợi nhuận trên nguyên tắc 3 bên cùng có lợi: Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; đóng góp cho thu ngân sách một khoản từ lợi nhuận sản xuất thông qua các khoản thuế;

V.2 Mục tiêu cụ thể

Khi dự án đi vào sản xuất với công suất ổn định, thì hàng năm dự án cung cấp cho thị trường trung bình khoảng:

- Bò thịt: khoảng 680 con/năm

Trang 9

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM VÀ QUY MÔ THỰC HIỆN DỰ ÁN

I Hiện trạng kinh tế - xã hội vùng thực hiện dự án

I.1 Điều kiện tự nhiên vùng thực hiện dự án

1.Vị trí địa lý:

Tỉnh Trà Vinh nằm ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long với diện tích

tự nhiên của tỉnh là 2.295,1 km², giữa 2 con sông lớn là sông Cổ Chiên và sông Hậu Vị trí địa lý giới hạn từ: 9°31’46’’ đến 10°04’5” vĩ độ Bắc và 105°57’16” đến 106°36’04” kinh độ Đông Phía Bắc, Tây - Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long; phía Đông giáp tỉnh Bến Tre với sông Cổ Chiên; phía Tây giáp tỉnh Sóc Trăng với Sông Hậu; phía Nam, Đông - Nam giáp biển Đông với hơn 65 km bờ biển Trung tâm tỉnh lỵ nằm trên Quốc lộ 53 , cách thành phố Hồ Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km Trà Vinh nối với thị xã Vĩnh Long bằng quốc

lộ 53, tuyến thông thương đường bộ duy nhất nối Trà Vinh với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Trà Vinh là tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, Trà Vinh có tích tự nhiên hơn 2.215 km2, với địa hình thấp và phẳng, có hệ thống sông rạch phong phú nên đất đai luôn được phù sa bồi đắp Được thiên nhiên ưu đãi nên đã tạo cho Trà Vinh một nền sản xuất nông nghiệp đa dạng và phong phú từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản ở cả 3 vùng nước mặn, lợ và ngọt

Trang 10

Khu vực đất xây dựng dự án là một trong các vị trí đất được hình thành do việc đổ bùn tạo bãi đất sau khi đào kênh đường thủy nhân tạo Quan Chánh Bố Toàn bộ công tác đổ, đắp đất đã tạo ra một mặt bằng khá bằng phẳng với cao độ được nâng lên 4m so với mặt đất tự nhiên nguyên thủy Đây là điểm thuận lợi cho việc khai thác năng lượng và cũng như xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao

3.Đặc điểm địa hình:

Địa hình Trà Vinh mang tính chất vùng đồng bằng ven biển, chịu ảnh hưởng bởi sự giao thoa giữa sông và biển đã hình thành các vùng trũng, phẳng xen lẫn các giồng cát, các huyện phía bắc địa hình bằng phẳng hơn các huyện ven biển, địa hình dọc theo 2 bờ sông thường cao, vào sâu nội đồng bị các giồng cát hình cánh cung chia cắt tạo nên các vùng trũng cục bộ, xu thế độ dốc chỉ thể hiện ở trên từng cánh đồng Cao trình biến thiên của tỉnh từ 0,1 – 1m chiếm 66% diện tích tự nhiên Địa hình cao nhất trên 4 m gồm đỉnh các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (Cầu Ngang); Ngọc Biên (Trà Cú); Long Hữu (Duyên Hải) Địa hình thấp nhất dưới 0,4 m tập trung tại các cánh đồng trũng ở Tập Sơn, Ngãi Xuyên (Trà Cú), Thanh Mỹ, cánh đồng Ôcàđa (Châu Thành); Mỹ Hoà, Mỹ Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải) Nhìn chung địa hình thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp từ 0,6 – 1m thích hợp cho tưới tiêu tự chảy, ít bị hạn cũng như không bị ngập úng

I.2 Điều kiện xã hội vùng dự án

1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh

Trang 11

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2018 theo giá so sánh

2010 ước thực hiện 13.715 tỷ đồng, tăng 7,39% so với cùng kỳ năm 2017 Trong

đó khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 4.641 tỷ đồng tăng 8,23%, đóng góp 2,76 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 4.161 tỷ đồng, tăng 8,24%, đóng góp 2,48 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ đạt 4.913 tỷ đồng, tăng 5,9%, đóng góp 2,15 điểm phần trăm Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 34,48%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 29,54%; khu vực dịch vụ chiếm 35,98%

2 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

2.1 Nông nghiệp

2.1.1 Trồng trọt

Lúa Đông Xuân năm 2018: Kết thúc gieo trồng lúa Đông Xuân năm 2018,

toàn tỉnh Trà Vinh gieo trồng đạt 66.418 ha, đạt 110,69% kế hoạch (kế hoạch 60.000 ha) So với cùng kỳ năm 2017 tăng 10,85% hay tăng 6.502 ha do thời tiết thuận lợi, không bị xâm nhập mặn như những năm trước giúp cây lúa sinh trưởng

và phát triển tốt cho năng suất cao Hơn nữa, giá lúa cũng ổn định trong thời gian gần đây nên ngoài diện tích gieo trồng theo kế hoạch thì diện tích nông dân tự phát gieo trồng cũng tăng lên, trong đó diện tích tự phát gieo trồng nhiều nhất là huyện Cầu Ngang 5.566 ha; huyện Duyên Hải 1.983 ha; huyện Châu Thành 45 ha

và thành phố Trà Vinh 30 ha Tuy nhiên, bên cạnh diện tích trồng lúa tự phát tăng thì một số ít diện tích lúa theo kế hoạch lại giảm do ảnh hưởng của thời tiết và xâm nhập mặn những năm trước nên nông dân chuyển diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây lâu năm cho hiệu quả kinh tế cao hoặc chuyển từ trồng lúa 03 vụ sang 02 vụ để giảm thiểu tổn thất

Trang 12

Đến thời điểm tháng 6/2018, nông dân đã thu hoạch dứt điểm lúa vụ Đông Xuân đạt 100% diện tích gieo trồng, tăng 10,85% hay tăng 6.502 ha so với cùng

kỳ năm trước Năng suất thu hoạch đạt 67,1 tạ/ha, đạt 110,91% kế hoạch (kế hoạch 60,5 tạ/ha), so với cùng kỳ tăng 13,79% hay tăng 8,13 tạ/ha Sản lượng thu hoạch đạt 445.658 tấn, tăng 26,14% hay tăng 92.362 tấn so với cùng kỳ năm trước Năng suất và sản lượng lúa trong vụ Đông Xuân tăng khá so với cùng kỳ do thời tiết thuận lợi, không bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn và tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của cây lúa Hơn nữa, nông dân tuân thủ xuống giống đúng lịch thời vụ và đồng loạt cộng với các kênh nội đồng được cải tạo đảm bảo lượng nước tưới tiêu đầy đủ giúp cây lúa tăng trưởng Bên cạnh đó, một số cánh đồng lớn sử dụng giống lúa đạt chất lượng và áp dụng khoa học kỹ thuật theo chương trình IPM ba giảm ba tăng

Lúa Mùa năm 2018: Kết thúc diện tích gieo trồng lúa vụ Mùa 2018 đạt 1.697

ha, giảm 28,29% hay giảm 670 ha so cùng kỳ năm 2017, chủ yếu là huyện Châu Thành giảm 1.019 ha do nông dân chuyển đổi từ diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm càng xanh cho hiệu quả kinh tế cao, hơn nữa do gieo trồng lúa Mùa dài ngày hơn nên trước đó người dân đã tập trung trồng lúa Thu Đông 2017 Mặt khác, diện tích lúa ở một số địa phương tăng do gieo trồng tự phát hoặc áp dụng phương pháp sản xuất 01 vụ lúa cộng 01 vụ tôm nên làm cho diện tích lúa Mùa tăng như Thành phố Trà Vinh tăng 33 ha, huyện Cầu Ngang tăng 308 ha, huyện Trà Cú tăng 8 ha

Tính đến thời điểm tháng 6/2018, nông dân đã kết thúc thu hoạch lúa vụ Mùa, đạt 100% diện tích gieo trồng Năng suất thu hoạch đạt 43,32 tạ/ha, so với cùng kỳ năm 2017 giảm 4,21% hay giảm 1,91 tạ/ha Sản lượng thu hoạch đạt 7.353 tấn, giảm 31,31% hay giảm 3.352 tấn so với cùng kỳ Nguyên nhân giảm

do diện tích gieo trồng giảm cộng với ảnh hưởng của mưa bão và áp thấp nhiệt đới trong thời gian lúa đồng trổ gây lem lép hạt và lúa bị ngập nước, làm cho cây sinh trưởng và phát triển kém cho năng suất và sản lượng thấp

Lúa Hè Thu năm 2018: trong tháng 6 nông dân trong tỉnh tiếp tục gieo trồng

lúa Hè Thu năm 2018, diện tích xuống giống ước đạt 72.750 ha, đạt 94,48% so với kế hoạch (kế hoạch 77.000 ha), giảm 1,68% hay giảm 1.243 ha so với cùng

kỳ năm 2017 do diện tích gieo trồng tự phát trong vụ Đông Xuân năm 2018 nhiều làm cho thời gian kết thúc thu hoạch chậm hơn và kéo dài sang vụ Hè Thu 2018

* Tình hình sâu bệnh, dịch bệnh:

Trang 13

Trong tháng 6 phát sinh 2.140 ha diện tích lúa Hè Thu bị nhiễm bệnh, chủ yếu là sâu cuốn lá, sâu đục thân gây hại rải rác do mưa nhiều về đêm làm cho độ

ẩm cao nên sâu bệnh dễ phát sinh Tuy nhiên, mật độ sâu bệnh thấp nên không ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa Trong thời gian tới, nông dân cần thường xuyên thăm đồng để phát hiện sâu bệnh, kịp thời phun xịt thuốc để tránh lây lan tren diện rộng

- Cây màu vụ Đông Xuân 2018: Kết thúc gieo trồng cây màu vụ Đông Xuân

năm 2018, toàn tỉnh gieo trồng được 26.116 ha cây màu các loại, so cùng kỳ năm trước giảm 1,99% hay giảm 531 ha Diện tích cây màu giảm so cùng kỳ chủ yếu

là diện tích mía do những tháng trước giá giảm thấp lại không có đầu ra nên nhiều diện tích mía vẫn chưa thu hoạch, từ đó nông dân chưa trồng mới trong vụ Đông Xuân năm 2018 hoặc một số hộ đã chuyển đổi sang trồng các loại cây khác đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Bên cạnh đó, diện tích bắp cũng giảm đáng kể do nhiều hộ bỏ vụ hoặc chuyển sang trồng đậu phộng hoặc loại cây khác

Diện tích một số cây màu vụ Đông Xuân chủ yếu của tỉnh: bắp ước trồng được 2.137 ha, giảm 174 ha so với cùng kỳ năm 2017; khoai lang 615 ha, tăng 23 ha; khoai mì (sắn) 330 ha, giảm 1,47 ha; mía 2.230 ha, giảm 1.036 ha; đậu phộng (lạc) 3.523 ha, tăng 52 ha; lác (cói) 1.169 ha, tăng 5 ha; rau các loại 12.330 ha, tăng 284 ha;…

- Cây màu vụ Mùa 2018: Trong tháng 6 năm 2018, nông dân trong tỉnh tiếp

tục xuống giống cây màu vụ Mùa ước đạt 5.105 ha, nâng tổng số diện tích gieo trồng đến nay ước đạt 9.178 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 9,48% hay tăng 795

ha Diện tích cây màu tăng chủ yếu ở nhóm cây thực phẩm do thời tiết thuận lợi cộng với giá rau các loại tăng nên sau khi thu hoạch vụ Đông Xuân nông dân tiếp tục cải tạo đất tập trung gieo trồng vụ Mùa Bên cạnh đó, diện tích cây mía tăng

so cùng kỳ do trong tháng mưa nhiều, độ ẩm trong đất tăng thuận lợi cho cây sinh trưởng và phát triển nên nông dân tập trung cải tạo đất trồng mía vụ Mùa để giảm chi phí tưới tiêu

Diện tích một số cây màu vụ Mùa chủ yếu của tỉnh: bắp ước trồng được 406

ha, giảm 58 ha so với cùng kỳ năm 2017; khoai lang 91 ha, giảm 11 ha; khoai mì (sắn) 108 ha, giảm 10 ha; mía 2.208 ha, tăng 300 ha; đậu phộng (lạc) 422 ha, tăng

76 ha; lác (cói) 281 ha, tăng 5 ha; rau các loại 5.009 ha, tăng 558 ha;…

- Cây lâu năm: Trong 6 tháng đầu năm 2018, nông dân toàn tỉnh ước trồng

được 39.834 ha cây lâu năm, tăng 2,9% hay tăng 1.124 ha so với cùng kỳ Nguyên nhân diện tích tăng do không chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn và giá cả các

Trang 14

loại trái cây luôn ở mức cao và ổn định nên các nhà vườn tập trung chăm sóc phát triển vườn cây ăn trái Thêm vào đó, nhiều hộ nông dân đã chuyển đổi từ đất trồng lúa và hoa màu kém hiệu quả sang trồng cây lâu năm cho lợi nhuận cao hơn làm cho sản lượng một số cây lâu năm tăng so với cùng kỳ như: dừa ước đạt 129.532 tấn, tăng 6.729 tấn; cam ước đạt 30.044 tấn, tăng 1.663 tấn; bưởi ước đạt 5.551 tấn, tăng 138 tấn; thanh long ước đạt 1.281 tấn, tăng 168 tấn Tuy nhiên có một

số loại cây do ảnh hưởng của dịch bệnh và xâm nhập mặn năm trước đến nay không thể khôi phục được nên nhà vườn phải đốn bỏ vì thế sản lượng thu hoạch giảm như: xoài ước đạt 9.536 tấn, giảm 67 tấn; nhãn ước đạt 6.437 tấn, giảm 103

ha

2.1.2 Chăn nuôi

Bước vào đầu năm 2018, tình hình chăn nuôi khả quan hơn so với cuối năm năm 2017 do thời tiết thuận lợi cho đàn vật nuôi phát triển, nhiều kỹ thuật và công nghệ mới được ứng dụng vào chăn nuôi, nhất là khâu lai tạo giống các loại vật nuôi đáp ứng nhu cầu thị trường Thêm vào đó, từ tháng 3/2018 giá heo hơi đã tăng trở lại, đây là dấu hiệu đáng mừng cho người chăn nuôi heo Bên cạnh những thuận lợi trên, người chăn nuôi trên địa nuôi tỉnh cũng gặp một số khó khăn như: thị trường tiêu thụ thịt hơi không ổn định trong khi nguồn cung thì dồi dào làm cho giá heo hơi và bò hơi biến động thất thường, người nuôi bị thua lỗ nhiều; công nghệ chăn nuôi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chưa được áp dụng rộng rãi trên địa bàn

* Kết quả điều tra chăn nuôi 01/4/2018

Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 01/4/2018, đàn trâu toàn tỉnh hiện

có 634 con, giảm 130 con so với cùng thời điểm năm 2017 do cơ giới hoá nông nghiệp, môi trường chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế thấp

Đàn bò có 208.023 con, so với cùng kỳ tăng 4,21% hay tăng 8.413 con, trong

đó bò lai 198.164 con chiếm 95,26% tổng đàn bò, tăng 6,8% hay tăng 12.613 con Đàn bò tăng so với cùng kỳ do tỉnh đã chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu vật nuôi và cây trồng, tập trung phát triển đàn bò tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng, các giống bò của địa phương được cải tạo dần, đàn bò lai ngày càng phát triển Tuy nhiên, do những tháng đầu năm 2018 giá bò hơi giảm, nhiều hộ chăn nuôi bò bị thua lỗ nên chưa mạnh dạn tái đàn trở lại Sản lượng thịt bò xuất chuồng ước đạt 4.521 tấn, giảm 3,39% hay giảm 159 tấn so với cùng kỳ năm trước, trọng lượng bình quân đạt 178 kg/con

Trang 15

Đàn heo có 261.405 con, so cùng kỳ giảm 29,03% hay giảm 106.921 con Đàn heo giảm do giá heo hơi sụt giảm ở mức thấp trong thời gian dài trong khi các chi phí chăn nuôi lại cao làm cho người nuôi không có lãi nên không mạnh dạn tái đàn trở lại Sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng đạt 28.043 tấn, giảm 0,49% hay giảm 137 tấn so với cùng kỳ, trọng lượng bình quân đạt 87,04 kg/con

Đàn gia cầm có 4.810,4 nghìn con, tăng 13,09% hay tăng 556.894 con so với cùng kỳ, trong đó đàn gà có 3.384,8 nghìn con, chiếm 70,36% tổng đàn gia cầm, tăng 17,36% hay tăng 500,6 nghìn con do thị trường tiêu thụ thịt gà hơi ổn định, giá cao đem lại hiệu quả kinh tế cao nên người nuôi tiếp tục đầu tư mở rộng tăng đàn; đàn vịt 1.264,6 nghìn con, chiếm 26,29%, tăng 4,2% hay tăng gần 51 nghìn con do người nuôi áp dụng mô hình nuôi vịt đẻ trứng kết hợp nuôi cá theo hướng

an toàn sinh học mang lại hiệu quả kinh tế cao

* Tình hình chăn nuôi trong tháng 6/2018

Bước vào đầu tháng 6 năm 2018, tình hình chăn nuôi gia cầm gặp một số khó khăn do ảnh hưởng của những cơn mưa đầu mùa làm cho môi trường chăn thả bị ẩm ướt tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển làm cho gia cầm bị cúm chết

ở một số địa phương chăn nuôi nhỏ, lẻ không tập trung Ngoài ra, tình hình chăn nuôi heo vẫn chưa được cải thiện, tuy giá heo hơi đang trên đà tăng trở lại nhưng người nuôi vẫn chưa mạnh dạn đầu tư tái đàn vì chi phí đầu vào tiếp tục tăng cao Bên cạnh những khó khăn trên, tình hình chăn nuôi của tỉnh cũng nhận được tín hiệu khả quan, giá bò hơi đang tăng trở lại những tháng gần đây nên đàn bò của tỉnh tiếp tục được đầu tư phát triển

Kết quả ước số con gia súc, gia cầm hiện có trên địa bàn tỉnh trong tháng 6 năm 2018 như sau: đàn trâu có 632 con, giảm 122 con so với cùng kỳ do cơ giới hoá nông nghiệp, các cánh đồng sản xuất lúa tăng vụ làm cho môi trường chăn nuôi bị thu hẹp và cho hiệu quả kinh tế thấp; đàn bò có 208.620 con, tăng 6.960 con do tỉnh đang chủ trương thúc đẩy phát triển đàn bò nhằm cung cấp thực phẩm cho xã hội cộng với nông dân đầu tư nuôi bò vỗ béo kết hợp nguồn cỏ dồi dào với thức ăn công nghiệp nên bò phát triển nhanh, hơn nữa trong những tháng gần đây giá bò hơi đã tăng trở lại do đó người nuôi mạnh dạn tái đàn; đàn heo có 310.620 con, giảm 47.600 con do giá heo hơi sụt giảm ở mức thấp trong thời gian dài trong khi các chi phí chăn nuôi lại cao làm cho người nuôi không có lãi nên không mạnh dạn tái đàn trở lại, tuy trong thời gian gần đây giá heo hơi đã tăng trở lại nhưng người nuôi vẫn chưa yên tâm tái đàn trở lại do tâm lý sợ bị thua lỗ; đàn gia cầm

có 4.795,6 nghìn con, tăng 442,4 nghìn con, trong đó đàn gà có 3.259,7 nghìn con,

Trang 16

tăng 302,7 nghìn con do giá gà tăng và một số hộ nghèo, hộ cận nghèo của tỉnh được dự án AMD đầu tư nuôi gà cộng với xu hướng tự nuôi gà, trồng rau phục vụ nhu cầu ăn uống của các hộ gia đình tăng nên số lượng đàn gà cũng tăng lên

2.2 Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp 6 tháng đầu năm 2018 tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ rừng đã trồng trong năm trước, không phát sinh diện tích rừng trồng mới Tính từ đầu năm đến nay, diện tích rừng được chăm sóc ước đạt

713 ha, tăng 13,81%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ ước đạt 5.160 ha, giảm 0,07%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước trồng được 1.484 nghìn cây, giảm 6,82%; ươm giống cây lâm nghiệp 104 nghìn cây, giảm 76,77%

Trong tháng 6 năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 7.889 m3, tăng

653 m3 so với cùng kỳ năm trước; củi khai thác ước tính 41.953 ste, tăng

745 ste củi Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 41.199 m3, tăng 713 m3 so với cùng kỳ năm trước; củi khai thác ước tính 212.549 ste, tăng 1.121 ste củi Sản lượng gỗ khai thác tăng do một số loại cây gỗ đã đến thời kỳ khai thác như tràm bông vàng, còng, mù u, cây bàng cộng với tận thu gỗ phi lao bị sạt lỡ do triều cường, gió bão Riêng sản lượng củi tăng do hộ tận thu củi từ cải tạo vườn tạp kém hiệu quả sang trồng cây ăn trái

Trong tháng, Chi cục kiểm lâm kết hợp với các Trạm hạt kiểm lâm thường xuyên tổ chức tuần tra bảo vệ rừng, phát hiện 03 vụ chặt phá rừng gây thiệt hại 0,13 ha, nâng tổng số đến nay đã phát hiện 4 vụ chặt phá rừng gây thiệt hại 0,21 ha, tăng 01 vụ và 0,13 ha so với cùng kỳ 2017 Ngoài ra, các cơ quan chức năng tiếp tục tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ, chăm sóc và phòng chống cháy rừng

Trang 17

đó: cá đạt 39.206 tấn, giảm 5,51% hay giảm 971 tấn, tôm đạt 21.604 tấn, tăng 29% hay tăng 4.857 tấn

II Quy mô sản xuất của dự án

II.1 Đánh giá nhu cầu thị trường

1 Dự báo ngành thịt Việt Nam

a Tổng quan ngành thịt Việt Nam

Những báo cáo thị trường trong những năm gần đây cho thấy sự gia tăng mạnh mẽ của nhu cầu tiêu thụ các loại thịt tại Việt Nam; dự báo đến năm 2019, tổng sản lượng tiêu thụ thịt tại Việt Nam sẽ vượt mốc 4 triệu tấn Chiếm gần 65% tổng sản lượng tiêu thụ, thịt heo vẫn sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong bữa ăn của người Việt; tuy nhiên mức tăng trưởng đáng kể ước tính đạt 3-5%/năm dự kiến sẽ

mở ra những triển vọng khả quan cho lượng tiêu thụ thịt gia cầm và thịt bò trong thời gian tới

Trái ngược với sự gia tăng mạnh mẽ của nhu cầu tiêu thụ, tăng trưởng trong nguồn cung các loại thịt được giữ ở mức ổn định, dao động trong khoảng 1-3%/năm, dự kiến tổng sản lượng thịt vượt mốc 4.1 triệu tấn vào năm 2019 Mức tăng trưởng này chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường và trong khi nguồn cung cho thịt heo ổn định và đáp ứng đủ nhu cầu nội địa, nguồn cung cho thịt bò và thịt gia cầm lại rơi vào tình trạng thiếu hụt trầm trọng

Có nhiều nguyên nhân để lý giải cho sự thiếu hụt trong nguồn cung các loại thịt tại Việt Nam Đầu tiên phải kể đến diện tích chăn nuôi và đồng cỏ hạn chế tại Việt Nam; trong khi nước ta có 4.5 vạn hecta diện tích đồng cỏ để chăn nuôi bò phát triển, nước Úc có đến 760 vạn hecta diện tích đồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò Thứ hai, sự thiếu đầu tư của doanh nghiệp nội địa trong những ngành liên quan đến chuỗi giá trị chăn nuôi gia súc và gia cầm như thức ăn chăn nuôi hay giống vật nuôi dẫn dến sự lệ thuộc vào nguồn thức ăn chăn nuôi nhập khẩu vốn rất đắt

đỏ Lý do cuối cùng được đề cập đến là mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ tại Việt Nam 85% gia súc ở nước ta được nuôi ở quy mô nhỏ hoặc hộ gia đình, điều này dẫn đến sự thiếu bền vững trong năng suất, giá bán, cũng như chất lượng gia súc

Trang 18

b Tiềm năng, thách thức và tầm nhìn cho ngành thịt

Dựa trên các báo cáo phân tích, Ipsos Business Consulting nhận định triển vọng phát triển của ngành thịt Việt Nam là rất khả quan dựa trên một nền kinh tế

có tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm nhanh nhất châu Á, một cơ cấu dăn số trẻ và gia tăng trong chi tiêu dùng Bên cạnh đó, việc thiếu hụt nguồn cung trong thịt gia cầm và thịt bò tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nội địa phát triển một mô hình kinh doanh bền vững

Tuy nhiên, để thành công trên chính sân nhà của mình, các doanh nghiệp Việt Nam cũng nên cân nhắc những thách thức tiềm ẩn trong ngành; điển hình như những rào cản thuế quan bị dỡ bỏ sau khi các hiệp định thương mại được kí kết gây biến động về giá bán trên thị trường, hay thói quen chuộng hàng nhập khẩu, hàng có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài của một bộ phận người tiêu dùng Việt Nam

Một vài chiến lược và hướng phát triển dành cho các doanh nghiệp nội địa trong ngành thịt như:

+ Phát triển ngang: thiết kể quy mô doanh nghiệp lớn, chịu trách nhiệm nhiều khâu trong chuỗi giá trị với các hộ chăn nuôi gia đình là những đối tác vệ tinh

+ Phát triển dọc: mô hình chăn nuôi và phân phối kín nhằm giảm mức độ cạnh tranh về giá

Trang 19

+ Tập trung phát triển mô hình kinh doanh thức ăn chăn nuôi nhằm làm giảm mức độ lệ thuộc vào các sản phẩm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu

2 Nhu cầu về thịt bò

Dựa trên cơ sở dữ liệu về thị trường tiêu thụ thịt bò trong nước nói chung, cho thấy số lượng tiêu thụ thịt bò hiện nay cũng như dự báo tương lai rất lớn Trong khi đó, số lượng con bò thịt nuôi để cung cấp thịt cho thị trường hiện tại còn rất thiếu, chỉ đáp ứng từ 25 đến 30% lượng thịt bò thị trường đang cần; vì vậy, một số lượng lớn bò thịt cần phải nhập khẩu từ nước ngoài như Úc, Mỹ, Canada

Lý do chính cho sự thiếu hụt con bò thịt để cung cấp cho thị trường là công nghệ

và phương pháp nuôi bò cổ truyền hiện đang áp dụng một cách rộng rãi trong nước Trong phương pháp nuôi bò này, con bò được nuôi bằng những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng thấp như cỏ tươi (cỏ voi), hoặc những phụ phẩm dư thừa

từ qui trình sản xuất nông nghiệp như rơm, cây bắp già đã được thu hoạch trái, cơm dừa, vv… kết quả cho ra con bò lớn chậm và cho ít thịt, qui trình nuôi kéo dài Một cách đặc biệt hơn, hầu hết gần 100% số lượng thức ăn cần cung cấp cho con bò hàng ngày là phải được đi tìm và mang về từ những nguồn thiên nhiên, nên số lượng rất giới hạn, chưa kể số lượng thức ăn này còn bị giới hạn bởi mùa

và thời tiết, nhất là vào mùa khô Do đó, số lượng con bò được nuôi bò giới hạn bởi số lượng thức ăn kiếm được Cho nên, qui trình nuôi thường là nhỏ lẻ và giới hạn trong từng hộ gia đình (chủ nuôi bò) với một vài ba con bò đưc, mà không thể nuôi nhiều con bò như trong những qui trình nuôi công nghiệp mà con bò được cung cấp thức ăn đã được chế biến sẵn

II.2 Quy mô đầu tư của dự án

STT Nội dung lượng Số ĐVT Diện tích

Trang 20

STT Nội dung lượng Số ĐVT Diện tích

III Địa điểm và hình thức đầu tư xây dựng dự án

III.1 Địa điểm xây dựng

Dự án đầu tư “Trang trại nuôi bò Mỹ Chánh” được xây dựng tại Ấp Giồng Trôm, xã Mỹ Chánh, Huyện Châu Thành, Tỉnh Trà Vinh.

III.2 Hình thức đầu tư

Dự án đầu tư theo hình thức xây dựng mới

IV Nhu cầu sử dụng đất và phân tích các yếu tố đầu vào của dự án

IV.1 Nhu cầu sử dụng đất của dự án

Bảng cơ cấu nhu cầu sử dụng đất của dự án

TT Nội dung Diện tích (m²) Tỷ lệ (%)

Trang 21

IV.2 Phân tích đánh giá các yếu tố đầu vào đáp ứng nhu cầu của dự án

Các vật tư đầu vào như: cây giống, vật tư nông nghiệp, con giống và xây dựng đều có bán tại địa phương và trong nước nên nguyên vật liệu các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình thực hiện dự án là tương đối thuận lợi và đáp ứng kịp thời Đối với nguồn lao động phục vụ quá trình hoạt động của dự án sau này, dự kiến sử dụng nguồn lao động dồi dào tại địa phương Nên cơ bản thuận lợi cho quá trình thực hiện dự án

Trang 22

CHƯƠNG III PHÂN TÍCH QUI MÔ, DIỆN TÍCH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN KỸ THUẬT CÔNG

NGHỆ

I Phân tích qui mô đầu tư

Bảng tổng hợp danh mục đầu tư của dự án

II Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ

II.1 Công nghệ kỹ thuật nuôi bò

 Giống và đặc điểm giống:

Bò thịt có đặc điểm chung là giống bò cao sản, ngoại hình, khối lượng lớn,

cơ bắp, nhiều thịt, tỷ lệ xẻ thịt cao và nhiều thịt lọc (thịt tinh) Đặc điểm nổi bật của giống bò chuyên dụng thịt là to con, con cái trưởng thành nặng từ 500–800

Trang 23

nghi với nuôi chăn thả và vỗ béo Về ngoại hình, chọn con có thân hình vạm vỡ, mình tròn, mông và vai phát triển như nhau, nhìn tổng thể bò có hình chữ nhật Trọng lượng phổ biến của bò thịt dao động từ 250 kg đến 350 kg/con và cao hơn,

từ 400 kg đến nửa tấn/con

Thớ thịt bò cái nhỏ hơn bò đực, mô giữa các cơ ít, thịt vị đậm, vỗ béo nhanh hơn bò đực Ngược lại, bò đực có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn bò cái cùng độ tuổi Bò nuôi từ 16-24 tháng tuổi có thể giết mổ Tuy nhiên, tuổi giết mổ khác nhau thì chất lượng thịt cũng khác nhau Thịt bê và bò tơ có màu nhạt, ít mỡ, mềm và thơm ngon Thịt bò lớn tuổi màu đỏ đậm, nhiều mỡ, dai hơn và không thơm ngon bằng thịt bê tơ Trong quy trình vỗ béo, có thể thiến bò đực khi nuôi được 7-12 tháng tuổi, bò thiến sớm sẽ béo nhanh hơn và thịt cũng mềm hơn.[

Bò là một trong những động vật được thuần hoá sớm nhất và được nuôi phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới Bò thích nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau

 Chọn và phối giống:

Chọn giống:

Muốn chăn nuôi bò thịt đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, cần quan tâm đến những vấn đề cơ bản như: Giống, tuổi, giới tính, khối lượng lúc giết mổ, dinh dưỡng và phương thức vỗ béo Giống là một trong những vấn

đề quan trọng nhất Giống khác nhau thì tốc độ sinh trưởng, phát triển, tích lũy thịt, mỡ khác nhau Bò nuôi lấy thịt, mục tiêu chung là làm sao để bò ở giai đoạn tuổi thích hợp đạt trọng lượng cao, kết cấu ngoại hình vững chắc, tỷ lệ thịt xẻ cao, khả năng chuyển hóa thức ăn tốt và đạt hiệu quả kinh tế cao

Chọn bò dùng để nuôi thịt hoặc dùng để sản xuất giống thịt, cần chọn bò có những đặc điểm như sau:

 Có tầm vóc lớn, khung xương to nhưng xương nhỏ, nhiều thịt

 Da bóng mượt, hơi nhăn đùn (lỏng lẻo)

 Háo ăn, chịu đựng được điều kiện ăn khó khăn, dễ nuôi, ít bệnh

 Hiền lành, dễ khống chế

 Kiểm tra độ mập ốm trong trường hợp muốn vỗ béo chúng trong thời gian nhất định bằng cách quan sát từ xa, quan sát gần, dùng tay xoa những góc xương để xác định mập ốm hay là nhéo ở góc xương

Trang 24

Trong chăn nuôi bò thịt, công tác chọn đúng giống, giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng Đây là yếu tố chính quyết định tới năng suất

Vì vậy chúng tôi kiến nghị lựa chọn những giống bò sau:

1-Giống bò Brahman

- Nguồn gốc:

Bò Brahman là một loại bò thịt thuộc giống bò Zebu có nguồn gốc từ Ấn

Độ (Bos primigenius indicus) Bò được đặt tên theo vị thần Bà La Môn tôn kính của tôn giáo Ấn Độ Đây là loại bò thịt nhiệt đới, được nuôi rộng rãi ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới trong đó có Việt Nam

- Ðặc điểm:

+ Màu sắc: trắng, xám nhạt, đỏ, đen hoặc trắng đốm đen, đực trưởng thành màu lông sậm hơn con cái Lông cổ, vai, đùi, hông sậm màu hơn các vùng khác Ở ÚC, người dân nuôi bò Brahman màu trắng là chủ yếu để sản xuất thịt, còn nuôi Brahman màu đỏ chủ yếu để xuất cho các nước Châu Á do các nước này chuộng màu đỏ

+ Là giống lớn con, ngoại hình đẹp, thân dài, lưng thẳng, tai to, u, yếm phát triển

+ Tính mắn đẻ, dẽ đẻ, lành tính, nuôi con giỏi

+ Kháng ve, ký sinh trùng đường máu, không mắc các bệnh về mắt, móng

Bò Brahman có thể lực tốt, thích nghi cao với điều kiện nhiệt đới, khô hạn Khả năng sinh sản, sản xuất vẫn duy trì ở nhiệt độ cao, thời tiết khắc nghiệt

Trang 25

cũng như vùng đồng cỏ khô hạn khi mà các giống bò khác bị giảm năng suất Việc đầu tư chăm sóc ở mức tối thiểu

+ Tốc độ tăng trưởng nhanh: 650 – 800 gram/ngày

+ Giai đoạn vỗ béo bò tăng trưởng: 1200 - 1500 gram/ngày

Trang 26

- Nguồn gốc:

Bò được nhập về từ bang Queensland, Australia Giống phát triển tốt ở vùng Bắc

Mĩ, thích hợp với điều kiện nóng bức Tận dụng đồng cỏ nghèo nàn rất tốt

- Đặc điểm:

+ Thích hợp với điều kiện nóng bức Tận dụng đồng cỏ nghèo nàn rất tốt

Là giống lớn con trung bình, thân dài, tròn, lông ngắn, thưa, mượt, da mỏng, đàn hồi tốt

+ Màu lông từ màu vàng nhạt đến đỏ sậm

+ Phần lớn bò đều không sừng, u lưng nhỏ, chân và móng chắc, khỏe

+ Không bị trúng nắng, mò mắt, ung thư mắt, kháng ve, kí sinh trùng

+ Dễ đẻ, lành tính, nuôi con tốt

- Tính năng sản xuất

+ Trọng lượng bê sơ sinh đạt : 20 - 25 kg/con

+ Trọng lượng 6 tháng tuổi: 150 - 170 kg/con

+ Trọng lượng 12 tháng tuổi : 240 - 270 kg/con

+ Trọng lượng 24 - 36 tháng tuổi : 450 - 600 kg/con

+ Trọng lượng lúc giết mổ (24 - 27 tháng tuổi) : 500 - 550 kg

+ Ðẻ lần đầu : 12 - 16 tháng

+ Khoảng cách giữa 2 lần đẻ : 11 - 12 tháng

+ Tỉ lệ thịt xẻ (móc hàm): 58 - 60%

3-Bò Angus

Trang 27

Bò Angus đỏ hay còn gọi là bò Red Angus hay còn gọi là bò Úc hoặc gọi là bò cọp, vì bò có hình dáng giống như con cọp con là một giống bò thịt có nguồn gốc

từ Tô Cách Lan, đây là giống bò được lại tạo trên nền tảng của giống Bò Angus

Là loại giống chăn nuôi ít tốn kém, ít bệnh tật, có lợi ích kinh tế lớn cho người chăn nuôi

+ Màu sắc: Toàn thân bò có màu đen hoặc màu đỏ, vằn vàng đỏ nhạt

+ Là giống có ngoại hình, thể chất chắc chắn, khỏe mạnh

+ Bò thường không có sừng và thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nước ta + Là loại giống chăn nuôi ít tốn kém, ít bệnh tật, có lợi ích kinh tế lớn cho nhà chăn nuôi

+ Bò Red Angus chủ yếu được biết đến như một loại thực phẩm tươi giá trị cao và là loại thịt bò chất lượng cao

+ Bò có chất lượng thịt tốt, có vân mỡ trắng xen kẽ trong những thớ thịt giúp thịt mềm và và có vị béo rất dễ chịu

+ Thịt bò Red Angus có màu đỏ tươi sáng, ngoài ra bò Red Angus có khả năng sinh sản cao và trưởng thành sớm bò red angus

+ Giống bò Red Angus con đực trưởng thành nặng đến 1 tấn và tỷ lệ thịt nạc chiếm 70% trọng lượng cơ thể

+ Tốc độ tăng trưởng nhanh: 1000 gram/ngày

+ Tốc độ tăng trưởng lúc vỗ béo: 1000 – 2000 gram/ ngày

+ Tỷ lệ xẻ thịt: trên 70% ( 60% thịt + 40% xương)

Trang 28

từ 60-70 ngày Có thể phối giống cho bò cái bằng thụ tinh nhân tạo hoặc trực tiếp Một bò đực giống có khả năng phối giống cho 25-30 bò cái Phải có sổ sách theo ngày phối giống, ngày đẻ…

 Chăm sóc nuôi dưỡng:

 Xây dựng chuồng trại:

Cũng như một số kỹ thuật xây chuồng trại cho các loài vật nuôi khác Điểm cần lưu ý là hướng chuồng, nên làm theo hướng Đông Nam để tránh gió lùa và giữ ấm cho mùa lạnh và mát cho mùa hè

Vật liệu xây chuồng cho bò không quá đắt, có thể tận dụng gỗ, tre, nứa để làm

Xây theo từng ô để dễ quản lý và chăm sóc Mật độ trung bình 3 – 4 m2/con Thiết kế hệ thống thoát nước hoạt động hiệu quả tránh tồn đọng nước trên nền chuồng, phải đảm bảo nền chuồng luôn khô ráo, thông thoáng

Trang bị máng ăn với diện tích 0,6 x 1,2m, máng uống 0,6×0,6×0,4m

Thiết kế lắp đặt hầm biogas để xử lý chất thải

Trang 29

 Nuôi bò cái sinh sản để có bê nuôi thịt

Trong kỹ thuật nuôi bò thịt, nuôi bò cái sinh sản và nuôi bê lấy thịt có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau, vì muốn có đàn bê nuôi thịt phải có đàn bò cái sinh sản có tỷ lệ đẻ cao, nuôi con tốt, có nhiều bê đưa vào nuôi thịt thì hiệu suất sản xuất thịt của một bò cái sinh sản mới cao, vì vậy trong tổ chức nuôi bò thịt cũng phải chú ý đến cơ cấu đàn

Nếu trong trang trại vừa nuôi bò mẹ vừa nuôi bê thịt thì cơ cấu đàn ít nhất phải có trên 40% bò cái sinh sản và 10 - 12% bò cái hậu bị Nếu bê sinh ra nuôi đến 6 tháng hoặc 7 - 8 tháng tuổi, bán giống hoặc chuyển qua nơi khác nuôi thịt, thì trong cơ cấu đàn phải có 55 - 60% bò cái sinh sản và 12 - 15% bò cái hậu bị Tất cả những bò già, ốm yếu đẻ ít nên loại khỏi đàn

Đực giống có vai trò quyết định trong phát triển tăng đầu con, nếu cần được nuôi dưỡng tốt (ngoài cỏ tươi, mỗi ngày mỗi đực giống ăn 4 - 6kg thức ăn tinh hoặc cám) và sử dụng hợp lý Đực giống trưởng thành một ngày cho phối giống

2 - 3 lần với thời gian nghỉ 1 - 2 ngày Đực giống to cho phối 1 - 2 lần trong ngày với khoảng cách 2 ngày

Sau mỗi lần phối giống phải cho bò ăn bồi dưỡng thêm thức ăn tinh Mỗi đực giống dùng phối giống không quá 40 - 50 con bò cái sinh sản trong một mùa phối giống

Nuôi bò sinh sản cho sữa hay nuôi bò sinh sản lấy thịt, muốn có năng suất sữa và thịt cao, bò mẹ phải được phối giống có chữa sau khi đẻ 2 - 3 tháng

Trang 30

Nuôi bò mẹ trong thời kỳ có chữa: Sinh trưởng của bê sau cai sữa phụ thuộc rất nhiều vào việc nuôi dưỡng, chăm sóc bò mẹ lúc có chữa Tiêu chuẩn và khẩu phần ăn cho bò cái được xây dựng dựa trên cơ sở nhu cầu dinh dưỡng cho duy trì, nuôi thai, tiết sữa và khả năng cung cấp thức ăn hiện có của từng vùng

Nhu cầu dinh dưỡng của bò cái sinh sản

Khối lượng bò (kg) Tăng trọng

(g/ngày) VCK ăn vào (kg) Quy ra cỏ tươi

Khẩu phần nuôi dưỡng bò cái 200 - 220kg như sau :

- Chăn thả hàng ngày: 7 - 8 giờ

- Cỏ xanh: 10kg

- Bột sắn hoặc cám: 1kg

- Khô dầu lạc: 0.2kg

- Premix khoáng - vitamin 20g

Khi bò có chữa hoặc nuôi con nên cho ăn thay thế khô dầu bằng bột cá nhằm tăng lượng protein trong khẩu phần để bò cái nuôi thai và tạo sữa cho con

Ngày đăng: 20/02/2020, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w