1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về nhà nước của ch montesquieu trong tác phẩm “bàn về tinh thần pháp

99 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN *** PHẠM THỊ THU PHƯƠNG QUAN NIỆM VỀ NHÀ NƯỚC CỦA CH.MONTESQUIEU TRONG TÁC PHẨM BÀN VỀ TINH THẦN PHÁP LUẬT... Là m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***

PHẠM THỊ THU PHƯƠNG

QUAN NIỆM VỀ NHÀ NƯỚC CỦA CH.MONTESQUIEU

TRONG TÁC PHẨM BÀN VỀ TINH THẦN PHÁP LUẬT

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***

PHẠM THỊ THU PHƯƠNG

QUAN NIỆM VỀ NHÀ NƯỚC CỦA CH.MONTESQUIEU

TRONG TÁC PHẨM BÀN VỀ TINH THẦN PHÁP LUẬT

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VỀ NHÀ NƯỚC CỦA CH MONTESQUIEU TRONG TÁC PHẨM BÀN VỀ TINH THẦN PHÁP LUẬT 8

1.1 Bối cảnh lịch sử Pháp và châu Âu thế kỉ XVII - XVIII 8

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành của Ch Montesquieu về nhà nước 12

1.3 Cuộc đời, sự nghiệp của Ch Montesquieu và tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật 26

Kết luận chương 1 36

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN NIỆM VỀ NHÀ NƯỚC CỦA CH MONTESQUIEU TRONG TÁC PHẨM BÀN VỀ TINH THẦN PHÁP LUẬT 37

2.1 Quan niệm của Ch Montesquieu về nguồn gốc nhà nước 37

2.2 Quan niệm của Ch Montesquieu về các hình thức nhà nước 43

2.3 Quan niệm của Ch.Montesquieu về pháp luật và nhà nước 53

2.4 Quan niệm của Ch Montesquieu về tam quyền phân lập 65

2.5 Đánh giá về những đóng góp và hạn chế trong quan niệm của Ch Montesquieu về nhà nước trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật 77

Kết luận chương 2 88

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 4

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Nhà nước luôn là một vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà tư tưởng, chính trị Hơn nữa trong giai đoạn hiện nay trước những biến đổi lớn của nền kinh tế thế giới đòi hỏi mọi nhà nước, không phân biệt hình thức cần phải nhìn lại những vấn đề căn bẳn về tổ chức quyền lực nhà nước, về mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và xã hội, về vai trò nhà nước trong sự phát triển kinh tế Nghiên cứu những tư tưởng triết học chính trị sẽ cho chúng ta chìa khóa để hiểu sâu sắc hơn vấn đề “nhà nước”, từ đó cho chúng ta những định hướng về một mô hình nhà nước đúng đắn

Ch Montesquieu – Đệ nhất Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, sinh ra trong dòng dõi quý tộc nhưng suốt cuộc đời Montesquieu đã có những đóng góp tích cực nhằm chống lại chế độ phong kiến, thiết lập những nguyên tắc căn bản cho việc xây dựng thể chế chính trị mới Montesquieu cùng với J.J Rousseau đã góp phần tạo nên một thời kỳ Khai sáng huy hoàng trong lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử văn hóa Pháp nói riêng Là một chính trị gia, nhà văn, triết học Pháp Montesquieu để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như;

Những lá thư Ba Tư, đặc biệt là tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật Tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật cũng truyền cảm hứng cho các nhà lập quốc

Hoa Kỳ, yếu tố kỹ trị và tinh thần phân quyền rõ rệt để họ thiết lập nên bản Hiến pháp Montesquieu không chỉ là nhà luật học với tư duy sắc sảo, mà còn

để lại dấu ấn sâu sắc trong tư duy nhân loại với tư cách là một triết gia pháp quyền Đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm về nhà nước trong

tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật góp phần khẳng định giá trị tư tưởng triết

học chính trị của Ch Montesquieu

Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dần và vì dân Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang đặt ra những vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã

Trang 5

hội như: tham nhũng, quan liêu…Đó là những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực nhà nước Việc khắc phục tha hóa quyền lực là vấn đề cấp bách của chế

độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng Để thực hiện được nhiệm vụ đó là một quá trình lâu dài và đòi hỏi có sự nghiêm túc tổng kết cả về lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền Bởi vậy, việc nghiên cứu vấn đế nhà nước của Montesquieu trên tinh thần tiếp thu có phê phán tinh hoa tư tưởng nhân loại góp phần nhận thức và tìm phương hướng cho những vấn đề thực tiễn chính trị, xã hội ở nước ta, cũng như nhận thức những vấn đề học thuật của triết học chính trị nói chung

Với những lí do trên người viết đã quyết định chọn “Quan niệm về nhà

nước của Ch.Montesquieu trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật” làm đề

tài luận văn thạc sĩ của mình

2.Tình hình nghiên cứu

hình thức:

-Thứ nhất là hình thức nghiên cứu về vấn đề nhà nước từ trước cho đến nay

- Thứ hai là hình thức nghiên cứu liên quan tới nhà nước pháp quyền của các triết gia và của Ch Montesquieu

Ở hình thức nghiên cứu thứ nhất, các nghiên cứu liên quan đến quan niệm về nhà nước phải kể đến các công trình của nghiên cứu sau:

Tác phẩm Lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý của Hoàng Thị Kim Quế,

Nguyễn Đăng Dung đồng chủ biên (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2015) Trong phần đầu cuốn sách khái quát lịch sử chính trị, pháp lý một cách tổng quan ở một số nước tiêu biểu từ phương Đông đến phương Tây Trong phần hai tác phẩm tập trung đi vào tư tưởng chính trị- pháp lý Việt Nam, từ khi khai sinh nước Văn Lang- Âu Lạc đến tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước

Ở hình thức nghiên cứu thứ hai là các nghiên cứu liên quan tới nhà nước pháp quyền của các triết gia trong đó có Ch Montesquieu

Trang 6

Tác phẩm Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước của Nguyễn Thị Hồi (Nxb Tư Pháp Hà Nội

,2005) Tác phẩm trình bày một cách cụ thể và có hệ thống về lịch sử ra đời

và phát triển của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước Tư tưởng này có tư thời cổ đại, được thể hiện trong việc tổ chức bộ máy nhà nước Hy Lạp, La Mã

và được thể hiện trong tư tưởng của Aristote và một số tác giả khác Sau đó

nó được phát triển khá mạnh mẽ trong thời kỳ Cách mạng tư sản bởi John Locke, Montesquieu, Rousseau và có ảnh hưởng lớn tới việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản kể từ ngày đầu của Cách mạng tư sản cho đến ngày nay, mặc dù sự áp dụng có mức độ khác nhau tùy theo điều kiện hoàn cảnh của mỗi quốc gia Cũng như sự thể hiện và áp dụng tư tưởng này trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước trên thế giới và có sự liên hệ ở mực

độ cần thiết thực tiễn tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam nhằm tìm ra mô hình nhà nước và cơ chế thực hiện có hiệu quả sự phân công

và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lập pháp, hành pháp

Trang 7

phương tiện của cả chủ thể và khách thể quyền lực” [39, 89] Đồng thời, tác giả Lê Tuấn Huy còn đưa ra nhiều phân tích về nhà nước pháp quyền, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu triết học pháp quyền của Montesquieu

Trên tạp chí Khoa học chính trị số 2 năm 2006, tác giả Lê Thị Anh Đào

với bài viết về: Về khái niệm nhà nước pháp quyền.Trong đó, tác giả đã làm

rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của khái niệm nhà nước pháp quyền, phân tích những dấu hiệu đặc trưng về nhà nước pháp quyền và từ sự phân tích đó tác giả đưa ra quan niệm của mình về nhà nước pháp quyền

Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế (2012) Nhà nước pháp quyền – một

số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tác phẩm là tập

hợp những nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước về nhà nước pháp quyền được trình bày trong hội thảo Giúp cho người đọc có cái nhìn xuyên suốt lịch sử nhà nước pháp quyền từ phương Đông đến phương Tây, từ lý luận đến thực tiễn, cũng như các vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay

Triết học chính trị Jean Jacques Rousseau và ý nghĩa lịch sử của nó là

đề tài luận án tiến sĩ triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 của Dương Thị Ngọc Dung Tác giả đã lấy điểm khởi đầu của triết học Chính trị J.J Rousseau là phê phán bất bình đẳng và tha hóa con người Sau đó đi đến quan niệm thống nhất quyền lực

nhà nước và những tư tưởng về nhà nước của dân, do dân, vì dân trong Bàn

về khế ước xã hội, cũng như triết lý kiến tạo mẫu người công dân tự do cho xã hội dân chủ lý tưởng trong Emile, hay vấn đề giáo dục Cuối cùng tác giả luận

án tiến sĩ phân tích giá trị và ảnh hưởng của triết học chính trị J J Rousseau tới sự vận động của cách mạng thế giới và mối liên hệ lịch sử tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với triết học chính trị J.J Rousseau

Trang 8

Tác giả Nguyễn Thị Hoàn với Quan niệm về nhà nước pháp quyền của Montesquieu trong Bàn về tinh thần pháp luật và ý nghĩa của nó với xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ

triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, năm 2009 Luận văn làm rõ quan niệm cơ bản về nhà nước pháp quyền của Montesquieu

trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã bước đầu đưa ra các cách hiểu khác nhau về nhà nước và nhà nước pháp quyền, cũng như việc ứng dụng mô hình Nhà nước pháp quyền vào việc xây dựng Nhà nước Pháp quyền

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên chưa có đề tài nào đi nghiên cứu chuyên sâu quan niệm chung về Nhà nước của Montesquieu mà người viết chọn làm đề tài nghiên cứu trong công trình khoa học của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích: Luận văn làm rõ những quan niệm cơ bản về nhà nước

nước của Montesquieu trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật, từ đó chỉ ra

những giá trị và hạn chế của quan niệm đó

* Nhiệm vụ:

- Làm rõ hoàn cảnh và nội dung chính trong tác phẩm của Montesquieu

- Phân tích những nội dung viết về Nhà nước trong tác phẩm của Montesquieu

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm của Ch Montesquieu về nhà nước

* Phạm vi nghiên cứu: Với những mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn tập trung nghiên cứu dưới góc độ triết học những nội dung cơ

bản của quan niệm về nhà nước Ch Montesquieu trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật

Trang 9

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Luận văn thực hiện dựa trên cơ sở lý luận Marx – Lenin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước, xã hội

* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng cá phương pháp nghiên cứu cụ thể như thống nhất lịch sử - logic, phân tích với tổng hợp, quy nạp với diễn dịch, trừu tượng hóa, đối chiếu, so sánh, đánh giá…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng của Ch Montesquieu về vấn

đề nhà nước, qua đó góp phần khẳng định những giá tị tư tưởng triết học của

Ch Montesquieu trong lịch sử tư tưởng nhân loại

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập môn lịch sử triết học phương tây và những ai tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn

có 2 chương, 8 tiết Trong đó:

Chương 1: Bối cảnh, tiền đề cho sự hình thành quan niệm về nhà nước

của Ch Montesquieu trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật

Chương 2: Nội dung cơ bản của quan niệm về nhà nước của Ch

Montesquieu trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật

Trang 10

NỘI DUNG Chương 1: BỐI CẢNH, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VỀ NHÀ NƯỚC CỦA CH MONTESQUIEU TRONG TÁC

PHẨM BÀN VỀ TINH THẦN PHÁP LUẬT

1.1 Bối cảnh lịch sử Pháp và châu Âu thế kỉ XVII - XVIII

Thế kỉ XVII – XVIII ở Châu Âu là thời kỳ hình thành và phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, cùng với nó vai trò của giai cấp tư sản cũng được thừa nhận trong xã hội Do yêu cầu phát triển công trường thủ công và các ngành công nghiệp, yêu cầu phát triển kỹ thuật chế tạo tàu biển và kỹ thuật quân sự mà các ngành như đóng tàu, in ấn, luyện kim… đã ra đời Đáp ứng nhu cầu phát triển lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản, khoa học đặc biệt là khoa học

tự nhiên, với những phát minh về kính hiển vi, kính viễn vọng, máy hút khí…

đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thực nghiệm Trong đó những thành tựu có ảnh hưởng lớn đến tư duy lý luận như thuyết nhật tâm của Nicolas Copernic được coi là hành vi đầu tiên của con người chống lại uy quyền của nhà thờ phong kiến, từ đó trở đi khoa học tự nhiên được giải phóng khỏi thần học Isaac Newton là nhà vật lý vĩ đại của thế kỉ XVIII, đóng góp nổi bật nhất của ông là định luật vạn vật hấp dẫn, qua đó chứng minh mọi sự vật hiện tượng trên thế giới đều vận động và phát triển theo quy luật cơ học này Trong sinh học Wiliam Harvey đã tìm ra sự tuần hoàn của máu trong cơ thể người, từ đó trong triết học hình thành quan điểm về mối quan hệ chặt chẽ giữa thể xác và ý thức Toán học gắn với các phát minh của R Decesscartes

và Leibniz, các thành tựu khoa học này có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất, đồng thời chúng là cơ sở thực tiễn để triết học duy vật giải thích thế giới, chống lại những tư tưởng bảo thủ tôn giáo Cùng với nó những phát hiện địa

lý đã đem lại không gian thương mại mới cho các nước châu Âu trên phạm vi

Trang 11

toàn thế giới, khiến cho sự thông thương được tăng cường, tạo điều kiện phát triển hơn nữa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Khát khao trở dậy vươn mình trong ánh bình minh của nền văn minh công nghiệp ấy của người châu Âu cùng với ước muốn giải phóng mình đã dẫn đến việc nổ ra nhiều cuộc cách mạng tư sản lớn, hình thành nên các quốc gia tư sản ở Tây Âu với tiềm lực về mọi mặt Cuộc cách mạng tư sản đầu tiên

nổ ra ở Hà Lan, sau đó cuộc cách mạng tư sản Anh (1642 -1648) báo hiệu giờ cáo chung của chế độ phong kiến châu Âu đã đến Tiếp theo, đại cách mạng Pháp (1789 -1794) nổ ra đã có ảnh hưởng lớn tới lịch sử thế giới nói chung và lịch sử triết học châu Âu cận đại nói riêng Các cuộc cách mạng tư sản đã làm cho giai cấp tư sản chính thức bước lên vũ đài chính trị và giành chính quyền thống trị ở các nước Sự mở rộng giao lưu trao đổi hàng hóa góp phần phá vỡ những quan hệ phong kiến chật hẹp của nền kinh tế tự cung tự cấp Sự giao lưu về kinh tế kéo theo sự giao lưu về văn hóa tư tưởng giữa các nước cũng ngày càng mở rộng Phong trào văn hóa phục hưng phát triển đến đỉnh cao vào thế kỉ XVI và lan mạnh ra các nước tạo thành một làn sóng rộng lớn làm biến đổi xã hội sâu sắc Một loạt các trào lưu tư tưởng mới ra đời nhằm phản bác lại thực tiễn xã hội, trong phong trào này những giá trị văn hóa, tinh hoa của thời kỳ cổ đại ở Tây Âu được khôi phục Có thể nói, sự quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư sản chủ nghĩa là nền tảng thực tiễn xã hội của triết học Tây Âu thế kỉ XVII – XVIII Nền tảng thực tiễn ấy đã đưa tới một thế giới quan mới cho các nhà triết học thời kỳ này như: F Becon, T Hobbes, J Locke và sau này là Ch Montesquieu và J.J Roussau

Trước cuộc cách mạng 1789, Pháp là một nước quân chủ phong kiến Nhà vua nắm trong tay mọi quyền lực và không chịu bất kỳ sự kiểm soát nào Trong suốt thế kỉ XVIII, mặc dù là nước đứng thứ hai ở châu Âu sau Anh, song nhìn chung Pháp vẫn là nước nông nghiệp lạc hậu với phần đông dân số

là nông dân Công cụ và phương pháp sản xuất canh tác thô sơ, năng xuất lao

Trang 12

động thấp Đất đai tập trung chủ yếu trong tay các lãnh chúa phong kiến Các đời vua Lonis thay thế nhau đều tiếp tục tăng cường cách cai trị độc đoán và cuộc sống xa hoa lãng phí của các đời vua trước Triều đình ra sức bóc lột dân chúng bằng thuế khóa nhằm phục vụ cho cuộc sống xa xỉ của tầng lớp quý tộc

và không hề chú ý tới phát triển sản xuất Hệ quả tất yếu của tình trạng đó là nạn mất mùa, đói kém xảy ra hàng năm liên tiếp ở khắp mọi nơi Cũng trong thế kỉ XVIII ở Pháp có một số địa chủ đã tổ chức sản xuất theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trên đất đai của mình Họ tập trung đất đai lại, xua đuổi những nông dân đang canh tác lâu đời trên mảnh đất đó đi nơi khác Đồng thời họ ứng dụng các thành tựu kỹ thuật du nhập từ Anh vào quá trình sản xuất Tuy nhiên, đó là công việc diễn ra hiếm hoi ở một vài nơi và cũng chưa có vai trò đáng kể trong nền kinh tế - xã hội Pháp Đại bộ phận người dân Pháp lúc bầy giờ vẫn canh tác theo phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu

Do ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp diễn ra sôi nổi ở eo biển Măng sơ, công nghiệp Pháp đến nửa cuối thế kỉ XVIII đã có sự phát triển Ở một số nơi, người ta đã xây dựng nhà máy đường, xưởng đóng tàu, xưởng dệt,

mỏ khai thác kim loại tương đối lớn Ngoài ra, việc mua bán với nước ngoài cũng ngày một mở rộng “dọc theo biên giới từ phía bắc xuống đến tây nam, người ta thấy nhiều trung tâm kinh tế quan trọng: Ruăng và Havrơ, nơi tập trung công nghiệp vải sợi; hải cảng Năngtơ và Boođô trông ra Đại Tây Dương, nơi buôn bán hương liệu sầm uất với các đảo phương Đông: phố Lyông sản xuất hàng tơ lụa và nhung nổi tiếng châu Âu Về phía đông giáp giới nước Đức có Anhat và Lôren, trù phú nguyên liệu với những lò luyện kim lớn.” [43, 64] Tình hình thương nghiệp cũng khá phát triển, Pháp mở rộng buôn bán với nhiều nước ở châu Âu, châu Mỹ và phương Đông Buôn bán nô lệ da đen đã đem lại lãi xuất lớn cho ngành thương nghiệp Pháp Tuy nhiên, chế độ phong kiến áp dụng quy chế khắt khe như thuế nặng, sự kiểm soát chặt chẽ, sản xuất theo khuôn mẫu bắt buộc đã ngăn cản sự phát triển của

Trang 13

công thương nghiệp Và nhìn chung, nửa cuối thế kỉ XVIII những yếu tố tư bản chủ nghĩa đã nảy sinh và phát triển khá rõ trong lòng chế độ chuyên chế Pháp Song với tính chất bảo thủ trì trệ, nhà nước quân chủ phong kiến đã tìm mọi biện pháp để ngăn cản sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Và do đó, việc xóa bỏ sợi dây ràng buộc của phong kiến với sự phát triển của lực lượng sản xuất đang đi lên đã trở thành một yêu cầu khách quan và tất yếu của lịch sử nước Pháp khi đó

và “đẳng cấp thứ ba” bao gồm tất cả những tầng lớp còn lại: tư sản, nông dân, bình dân thành thị Trong ba đẳng cấp đó, tăng lữ là đẳng cấp trên, được hưởng mọi đặc quyền đặc lợi của xã hội, và có liên hệ chặt chẽ về dòng họ, tuy chiếm một số ít trong xã hội nhưng bản thân họ lại giữ vị trí thống trị nước Pháp phong kiến Đẳng cấp thứ ba họ là những người chiếm số đông trong xã hội nhưng lại không có chút quyền lực chính trị nào Sự phân biệt ba đẳng cấp trong xã hội Pháp lúc đó được quy định theo công thức: tăng lữ phục

vụ nhà vua bằng lời cầu nguyện, quý tộc bằng lưỡi kiếm, đẳng cấp thứ ba phục vụ tăng lữ và quý tộc bằng của cải

Cùng với sự phát triển của công thương nghiệp, bước sang thế kỉ XVIII, giai cấp tư sản ngày càng có thế lực hơn về kinh tế Họ nắm trong tay nhiều xí nghiệp, nhà máy, các ngành nội – ngoại thương, thậm chí cả một số ruộng đất nhất định Bọn quý tộc thiếu tiền ăn chơi phải vay nợ của các nhà tư sản mới Giai cấp tư sản vừa giàu có lại có tri thức nên họ nhanh chóng trở thành những người đại diện cho phương thức sản xuất mới tiến bộ trong xã hội Giai cấp tư sản mong muốn tham gia chính quyền, xóa bỏ sự ngặt nghèo các luật lệ của đất nước chuyên chế để phát triển công thương nghiệp Những mong muốn của giai cấp tư sản hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của đa số nhân dân trong xã hội Pháp lúc bấy giờ Vì thế, giai cấp tư sản Pháp nhanh chóng chiếm đa số dân chúng ủng hộ làm cách mạng chống lại chế độ phong kiến

Trang 14

Có thể thấy khá rõ tình hình xã hội Pháp lúc đó tồn tại những mâu thuẫn mà tính chất của chúng phức tạp hơn so với các nước khác cùng thời ở châu Âu Hầu hết các nhà Khai sáng Pháp như Montesquieu, Vonte, Rousseau đều sinh thời trong điều kiện lịch sử này Và chính yếu tố thời đại đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của các triết gia Cuộc đại cách mạng năm

1789 là tiếng chuông cáo chung với chế độ phong kiến Pháp và mở ra một thời đại mới trong lịch sử nước Pháp Đây là cuộc cách mạng tư sản sâu sắc

và toàn diện nhất trong lịch sử nhân loại chống lại chế độ phong kiến Thắng lợi của cuộc cách mạng đó phải kể tới vai trò tích cực của giai cấp tư sản – những người đại diện cho phương thức sản xuất mới tiến bộ khi ấy Đồng thời, người ta cũng không quên ơn những nhà triết học Khai sáng Chính những tư tưởng của họ đã trở thành tiền đề lý luận mở đường cho cuộc cách mạng năm 1789 đi tới thắng lợi, đập tan xiềng xích của chế độ phong kiến tồn tại lâu đời ở Pháp

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành của Ch Montesquieu về nhà nước

Quan niệm về nhà nước của Montesquieu không phải ra đời trên mảnh đất trống mà nó là sự tiếp nối dòng chảy chung của lịch sử tư tưởng nhân loại Ngay từ thời kỳ cổ đại, những mầm mống tư tưởng về nhà nước đã xuất hiện Lúc đầu nó chỉ được thể hiện dưới dạng những ý tưởng, những quan niệm còn đơn giản về vâ đề tổ chức quyền lực nhàn nước và việc giải quyết mối quan

hệ giữa nhà nước và pháp luật Theo tiến trình lịch sử thì những ý tưởng về nhà nước ngày càng được các nhà triết học định hình một cách rõ nét

Khi nói đến hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây, nhiều nhà khoa học vẫn hay dẫn câu thơ nổi tiếng của Joseph Rudyard Kipling:

“Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ Cho đến một khi Đất và Trời chưa về ngày phán xử

Nhưng sẽ chẳng có Đông và Tây, không quê hương, bộ tộc, giống nòi

Khi hai người đàn ông lực lưỡng từ đường biên mặt đối mặt không thôi.”

[Dẫn theo 74]

Trang 15

Sự khác biệt Đông – Tây là có thật và nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hóa và văn minh của hai khu vực lớn này Do quy định bởi những điều kiện riêng về kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội, nên phương Đông và phương Tây có những đặc thù khu vực riêng đồng thời qua hàng nghìn năm lịch sử, do điều kiện cách biệt về chủng tộc và địa lý, giữa phương Đông và phương Tây đã hình thành những khác biệt không khó nhận ra Đối với triết học dù rằng tất cả đều đi đến mục đích là nắm được tri thức về thế giới quan, nhân sinh quan, thì sự khác biệt về tư duy, khuynh hướng nhận thức cũng tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây Dẫu rằng quan niệm về nhà nước được xuất hiện từ rất sớm có cả ở hai đầu văn hóa Đông – Tây Nhưng bởi những khác biệt đã nêu mà người viết chỉ xin lược khảo một số quan niệm về nhà nước của các tác gia phương Tây, đó không chỉ là sự đồng điệu trong mạch suy tư mà còn có sự kế thừa nhau một cách trực tiếp

1.2.1 Quan niệm của Platon về nhà nước

Platon (427 – 347 TCN) là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất nhất thời cổ đại, là người sáng lập chủ nghĩa duy tâm khách quan Ông là học trò nổi tiếng của Socrates, là một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp cổ đại Cũng như Socrates, mối quan tâm hàng đầu của Platon trong triết học xã hội là vấn đề phẩm hạnh Bốn phẩm hạnh thường xuyên được nhắc đến là tiết độ, can đảm, khôn ngoan, công bằng, dựa theo cách phân tầng linh hồn, phân tầng xã hội và quan hệ giữa người với người Platon đưa ra các kiểu thị quốc Hy Lạp cổ đại :

Thứ nhất là quân chủ - sự cai trị của một người tốt, và hình thức xuyên tạc của nó - bạo chính

Thứ hai là quý tộc - sự cai trị của một số người tốt, và hình thức xuyên tạc là - hoạt đầu, hay tập đoàn thống trị bằng những phương tiện không hợp lòng dân

Trang 16

Thứ ba là dân chủ - sự cai trị của nhiều người, hay của toàn thể dân chúng Tất cả những hình thức nhà nước tốt đẹp nhất trong lịch sử vẫn chưa phải là nhà nước công bằng lý tưởng Vậy thế nào là một nhà nước công bằng

lý tưởng? Thì theo Platon, trước hết nhà nước đó phải được xây dựng từ những thành tố công dân khác nhau, chiếm những địa vị xã hội khác nhau, thực hiện đúng những chức phận của mình tùy theo năng lực cá nhân Công bằng không có nghĩa là cào bằng, mà “phù hợp với trật tự tự nhiên” của sự vật Sự xác định các đẳng cấp của xã hội dựa trên sự phân chia cơ cấu linh hồn: a) các triết gia - cai trị gia, hay đẳng cấp vàng, tương ứng với phần lý trí của linh hồn; b) các chiến binh, hay đẳng cấp bạc, tương ứng với phần ý chí của linh hồn; c) những người lao động chân tay và buôn bán, hay đẳng cấp đồng và sắt, tương ứng với phần dục vọng của linh hồn Tiếp theo, nhà nước

lý tưởng là nhà nước mà trong đó mọi người luôn được sống êm đềm, hạnh phúc, đầy đủ và thỏa mãn bởi những gì họ đã tạo ra Ông viết: “họ sẽ sản xuất thóc lúa và rượu, dệt may quần áo và giày dép Về lương thực, họ sẽ chuẩn bị bột mì và lúa mạch để làm bột và bánh, có những chiếc bánh nướng to và ngon…, rồi họ sẽ ngả mình trên những chiếc giường bằng gỗ hương, vui đùa với vợ con họ, uống rượu sau bữa tiệc với những chiếc vương miện bằng hoa trên đầu và ca hát tán dương các thần.” [27, 78] Nhà nước lý tưởng của Platon là một chế độ cộng đồng khắt khe không những cho các nhà cầm quyền mà còn cho cả binh lính Tất cả mọi thứ đều là của chung, tất cả nhà cầm quyền và binh lính đều ăn chung, sống chung trong những doanh trại, không có tư hữu ngoài những gì thiết yêu nhất cho cuộc sống Tuy không giàu

có, nhưng không phải vì vậy mà họ không hạnh phúc, vì mục đích của cộng đồng là hạnh phúc cho toàn dân chứ không phải cho riêng một giai cấp nào Chế độ cộng đồng không những được áp dụng trong khuôn khổ kinh tế, mà còn được áp dụng cả trong khuôn khổ nhân sự, gia đình Platon viết: “đàn bà

là của chung mọi người, không một đàn bà nào sống riêng tư với một đàn ông

Trang 17

nào riêng tư cả” và “con cái phải là của chung, không người cha nào được biết

đến con đẻ của mình, cũng như không đứa con nào được biết đến cha đẻ của

mình” [27, 138] Sau khi những đứa trẻ được sinh ra, chúng sẽ được giao cho

những người có chuyên môn trông coi, những người này có thể là nam hay

nữ Những người này sẽ chăm sóc chúng và “sẽ đưa các bà mẹ của chúng đến

cho chúng bú vào lúc căng sữa, nhưng không được cho những bà mẹ biết đứa

con nào là của họ”

Platon gắn liền nhà nước lý tưởng với quyền tối thượng của luật pháp

Mọi công dân của nhà nước, không phụ thuộc vào địa vị của họ, đều phải

phục tùng pháp luật như nhau Trong tác phẩm Luật pháp Platon đã xây dựng

một hệ thống luật pháp chặt chẽ chưa từng có, với sự cấm đoán mọi tự do, với

sự tôn vinh thực tiễn Ai Cập dường như bất động trong suốt mười nghìn năm

Tính hà khắc của những hình phạt vì những tội lỗi nhỏ nhất vốn đặc trưng cho

toàn bộ thực tiễn lập pháp và hành pháp của nhà nước lý tưởng mà Platon

nghĩ ra đã vượt quá tất cả các chế độ hà khắc nhất trong lịch sử nhân loại Để

bảo vệ pháp luật, Platon đòi hỏi tất cả mọi người phải thường xuyên hát ca và

nhảy múa Nội dung duy nhất của các bài hát và điệu múa cần phải là những

lời ngợi ca hệ thống pháp luật, những lời tán dương pháp luật, những người

làm luật và các nhà sách lược Thực chất, các bài hát và điệu nhảy toàn nhân loại

kiểu đó được Platon đưa vào chỉ để che dấu sự hà khắc dã man của nhà nước mà

ông muốn xây dựng Như vậy, Platon đòi hỏi sự phục tùng tuyệt đối của cá nhân

đối với nhà nước Sự phục tùng như vậy thực sự “tước mất quyền có cuộc sống

riêng tư của công dân trong nhà nước mà ông phác họa ra, tự do cá nhân chỉ

được thừa nhận ở mức độ cần thiết cho nhà nước” [22, 150] Như vậy nhà nước lý tưởng mà Platon hình dung là một tổ chức đạo đức

– chính trị hoàn hảo, giải quyết các nhiệm vụ cơ bản như đảm bảo an ninh xã

hội và chủ quyền thị quốc, các nhu cầu vật chất thiết yếu và phúc lợi cho xã

hội, định hướng hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học Nguyên lý của

Trang 18

nhà nước lý tưởng là công bằng, mục tiêu của nó - cái thiện, phương tiện của

nó – giáo dục Platon chủ trương một nền văn hóa đề cao cái đẹp tinh thần, lý tưởng Có thể nhận thấy trong nhà nước lý tưởng của Platon tư tưởng nhân văn – khai sáng đan xen với một số yếu tố của chủ nghĩa cộng sản không tưởng thô thiển và chủ nghĩa quý tộc thượng lưu Platon phê phán nền dân chủ trong thời kỳ khủng hoảng của nó, với bốn biểu hiện là tính mâu thuẫn, tính man rợ hóa, tính thiếu quyết đoán và tính thái quá, đồng nhất bản chất của dân chủ với những biểu hiện nhất thời, đối lập dân chủ với mô hình nhà nước lý tưởng mà thực chất là sự dung hợp tinh thần Hy Lạp thời đại anh hùng ca với chế độ quả đầu quân sự hóa tại Xpacto Với những hạn chế của nhà nước không tưởng đó, sau này đã được chính học trò của ông là Aristotle phê phán Tuy vậy, Platon đã đưa ra quan niệm chính trị pháp lý đại diện cho lý tưởng cao đẹp với sự gắn kết của hai yếu tố nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, Platon cũng cảnh báo về nguy cơ lạm dụng quyền lực của các chế độ nhà nước như: Chế độ quân chủ, chế độ quý tộc Sự biến chất này diễn ra vì các nhà cầm quyền có xu hướng quan tâm đến lợi ích vị

kỷ nhiều hơn là vì nhân dân Chính những điểm này làm cơ sở cho các triết gia về sau, cũng như Montesquieu trong việc xây dựng các học thuyết về nhà nước và sự cần thiết của pháp luật trong đời sống chính trị

1.2.2 Quan niệm của Aristotle về nhà nước

Aristotle (384 – 322 TCN), một trong những nhà triết học vĩ đại nhất thời cổ Hy Lạp Ông là nhà triết học có kiến thức uyên thâm trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực chính trị Trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp của 158

nhà nước đơn nhất và liên bang, Aristotle đã viết hai tác phẩm Chính trị hay Luận về chính quyền

Ông là học trò của Platon, tuy vậy ông có nhiều điểm không nhất trí với người thầy của mình Với phương châm “Platon là người thầy nhưng chân lý quý hơn” [Dẫn theo 71, 195] Aristotle phê phán quan niệm về nhà nước lý

Trang 19

tưởng của Platon Ông cho rằng “có rất nhiều khó khăn trong một cộng đồng

mà mọi người đều chung vợ con” và đó là một mô hình không thực tế Vì theo Aristotle, nếu một quốc gia có chung vợ con, nghĩa là quốc gia đó sẽ tiến tới sự đồng nhất, và nếu để quốc gia đạt đến sự đồng nhất như vậy thì sẽ phá hoại quốc gia Aristotle đã đưa ra quan niệm của mình về nhà nước Theo ông, con người là “một động vật chính trị” thì nhu cầu quần tụ gắn bó với nhau nhằm hướng đến những cái tốt là điều rất tự nhiên Con người khác động vật ở chỗ có ngôn ngữ, có giao tiếp và có nhu cầu muốn gắn bó, đoàn kết với nhau Đó là nhu cầu chính đáng, nó cũng thể hiện một quy luật rất tự nhiên từ khi con người sinh ra Quy luật đó là con người sinh ra tất yếu phải

tụ họp nhau lại Kết quả của quy luật này chính là việc con người xây dựng nên cho mình những cộng đồng chung Những hình thức cộng đồng ban sơ rồi đến cao hơn, hoàn thiện hơn đó chính là Nhà nước Nhà nước đem lại sinh khí cho mỗi gia đình, mỗi quần cư và từng con người trong xã hội Aristotle coi hình thức tổ chức gia đình kiểu chiếm hữu nô lệ - trong đó mối quan hệ giữa chồng và vợ, bố và con tựa như quan hệ giữa ông chủ và

nô lệ, là hình thức sống cộng đồng tự nhiên và vĩnh viễn Nhà nước ra đời trên cơ sở gia đình, chính quyền nhà nước là sự tiếp tục chính quyền trong gia đình Thể chế chính trị là trật tự làm cơ sở để phân bố chính quyền nhà nước Thể chế chính trị điều hành và quản lý xã hội về ba phương diện: lập pháp, hành chính và phân xử

Aristotle xem khả năng phụng sự lợi ích chung là tiêu chuẩn xác định nhà nước kiểu mẫu Theo ông, ba hình thức cai trị đúng đắn là : 1 Quân chủ, nơi mà quyền lực trong tay một người nhưng không bị lạm dụng, 2 Quý tộc, quyền lực thuộc về một số người ưu tú, được xã hội thừa nhận và 3 Cộng hòa, nơi quyền lực thuộc về số đông Tương ứng với ba hình thức này, khi đã biến chất, là ba hình thức cai trị lệch lạc: 1 Nền bạo chính, độc tài, 2 Nền chính trị hoạt đầu, quyền lực nắm trong tay một tập đoàn thiếu tư cách, trọng

Trang 20

sức mạnh và tiền bạc, và 3 Dân chủ, một chế độ mà quyền lực trong tay số đông dốt nát, nghèo khổ Aristotle ca ngợi nền quân chủ như hình thức nhà nước hoàn thiện nhưng cũng dành nhiều thiện cảm cho hình thức cộng hòa, và ông cũng khao khát một nhà nước mà trong đó mọi người có thể làm chủ Ông muốn hướng tới một nhà nước thống nhất trong sự uyển chuyển Sau khi tìm ra được đâu là mô hình nhà nước lý tưởng, tác giả đã nghiên cứu thêm các vấn đề liên quan đến nhà nước lý tưởng từ đặc điểm cơ cấu bộ máy, cơ chế vận hành và những biện pháp để xây dựng nhà nước đó Về cơ cấu bộ máy nhà nước, theo Aristotle “Sau khi đã đặt được căn bản vững chắc để thảo luận, ta sẽ bàn về những điểm kế tiếp trong chương này Ta sẽ xem xét vấn đề không những một cách tổng quát mà còn đi vào từng loại hiến pháp đặc thù Mọi hiến pháp đều có ba phần tử, nhà lập pháp giỏi phải là người biết lợi thế của mỗi loại hiến pháp là gì Khi ba phần tử này được sắp xếp khéo léo, thì hiến pháp cũng được thiết lập đúng đắn, còn nếu có sự khác biệt giữa các phần tử này thì hiến pháp cũng sẽ khác nhau Phần tử thứ nhất chịu trách nhiệm nghiên cứu, thảo luận và quyết nghị về những vấn đề công cộng chung cho cả nước; thứ hai, là phần tử chịu trách nhiệm về hệ thống viên chức chính quyền – những ai đủ tiêu chuẩn, những giới hạn của thẩm quyền chính trị, và cách thức bổ nhiệm viên chức chính quyền; cuối cùng là bộ phận chịu trách nhiệm về quyền tư pháp” [1, 246 – 247]

Những điều kiện để xây dựng nhà nước lý tưởng, theo Aritotle đó là: dân số, lãnh thổ, cảng biển, đường biên giới, thành phần xã hội và mối quan

hệ giữa các giai cấp… Về dân số, Aristotle cho rằng không nên quá ít cũng không nên quá đông, mà tốt nhất là số dân vừa đủ lớn Tuy nhiên, ông lại chưa chỉ ra được bao nhiêu số dân là vừa, và dựa vào đâu để xác định được con số đó Về lãnh thổ, theo Aristotle một đất nước nên xây dựng trên những khu vực như, “địa thế phải đủ hiểm trở để ngăn cản quân giặc, nhưng cũng phải thuận tiện cho dân cư đi lại Thứ hai, như đã bàn ở trên là vấn đề kiểm kê

Trang 21

dân số phải dễ dàng, thì vấn đề lãnh thổ cũng vậy, phải dễ quan sát mới dễ bảo vệ Về vị trí của thủ đô quốc gia, nếu ta có thể chọn lựa được, nên chọn ở chỗ thuận đường giao thông, đường bộ cũng như đường thủy Điều này liên quan đến hai nguyên tắc Thứ nhất, vị trí của thủ đô cũng là trung tâm quân

sự của cả nước phải thuận lợi cho việc điều quân bảo vệ toàn lãnh thổ; thứ hai, phải thuận lợi cho việc thương mại, vận chuyển cùng phân phối lương thực cũng như sản vật của cả nước.” [1, 367] Về công dân của quốc gia thì tính chất mà người dân của một nhà nước lý tưởng phải có đó là tính chất

“trung dung”, vừa có sự hăng hái nhiệt tình, vừa có sự khôn ngoan, vừa can đảm Những người dân này sẽ dễ dàng được nhà lập pháp hướng tới đời sống hạnh phúc nhất

Như vậy, Aristotle là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên đề cập tới vân đề phân chia quyền lực Tuy nhiên, ông chưa xây dựng được thành hệ thống lý thuyết phân quyền mà chỉ là ý tưởng phân công quyền lực trong nhà nước, cũng như chưa chỉ được ra nguyên nhân phải chia quyền lực thành các nhánh quyền lực như vậy Đây cũng chính là tiền đề để các nhà tư tưởng về sau hoàn thiện những khúc mắc đó

1.2.3 Quan niệm của Thomas Hobbes về nhà nước

Thomas Hobbes (1588 – 1679), là một nhà triết học duy vật tiêu biểu ở Anh thế kỉ XVII, ông đã khẳng định mạnh mẽ quyền tự nhiên của con người,

với hai tác phẩm tiêu biểu Công dân và Leviathan Xuất phát từ quan niệm

nền tảng, quan niệm về con người và bản tính con người mà các nhà triết học phương Tây cận đại đã có các cách luận giải khác nhau về nhà nước và quyền lực nhà nước Hobbes xây dựng học thuyết chính trị của mình xuất phát từ việc xem xét bản tính con người Hobbes khẳng định: trong trạng thái tự nhiên con người tự do và bình đẳng Con người có nhu cầu được bảo vệ và sống trong trạng thái hòa bình, đó là cơ sở để khẳng định quyền tự nhiên của con người Con người sinh ra vốn tự do và về bản tính con người là độc ác vì

Trang 22

ban đầu ai cũng có nhu cầu, ước vọng, dẫn tới tự do của người này xâm phạm

tự do của người khác, nên họ có thể vì quyền lợi của mình mà chà đạp lên

quyền của người khác: “con người là một động vật độc ác và ranh ma hơn cả

chó sói, gấu và rắn” [Dẫn theo 61, 35]

Theo Hobbes, con người luôn muốn thỏa mãn lợi ích cá nhân của mình

hơn là lợi ích của xã hội Do đó, bản tính con người theo ông là ích kỷ, khi

tính ích kỷ ấy của con người phát triển mà không có sự kiểm soát thì hậu quả

sẽ như thế nào? Hobbes cho rằng chính sự ích kỷ, tư lợi ấy của con người đẩy

họ vào một trạng thái chiến tranh hỗn loạn, làm cho luật tự nhiên của con

người bị phá vỡ, xã hội là “cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả” Viết

về trạng thái xã hội này, trong tác phẩm Leviathan ông khẳng định: Trong

một môi trường như thế, cuộc sống quả là cô độc, nghèo nàn, ghê tởm, tàn

bạo và ngắn ngủi Về sau Montesqueiu đã phê phán quan điểm này của

Hobbes: “Hobbes cho rằng, ngay từ đầu con người đã kẻ này chinh phạt

người khác Nói thế là không đúng Tư tưởng về đế quốc và sự thống trị là

một tư tưởng phức tạp, phụ thuộc vào nhiều tư tưởng khác chứ không phải là

tư tưởng phát sinh ban đầu” [Dẫn theo 40, 42] Từ bản tính của con người và

từ trong chính cuộc đấu tranh của con người, để bảo vệ tính mạng và cuộc

sống của mình, con người thỏa mãn với nhau và đi đến kí kết khế ước xã hội,

kết quả là nhà nước xuất hiện Khế ước xã hội đã đưa xã hội chuyển từ giai

đoạn tự nhiên sang giai đoạn xã hội công dân (trạng thái có nhà nước) Nhà

nước là sự thỏa mãn chung theo khế ước do bản thân nhân dân sáng tạo ra

Nhà nước – con quái vật khổng lồ Leviathan nắm trọn quyền lực tối cao có

được từ sự chuyển nhượng của nhân dân Nhân dân nhượng lại một phần

quyền tự do của mình và nhà nước sẽ làm giảm những khát vọng tự nhiên thái

quá của con người nhằm đưa đến một trật tự xã hội ổn định Với tư cách là một tổ chức chính trị xã hội đặc biệt, nhà nước đóng vai trò

quan trọng đối với sự phát triển xã hội, thậm chí còn can thiệp sâu vào mọi

Trang 23

lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy hay cản trở quyền tự do bình đẳng của

xã hội bằng một hệ thống luật lệ gọi là luật pháp Hobbes quan niệm về các hình thức nhà nước: chính thể quân chủ, chính thể cộng hòa và chính thể quý tộc, trong đó ông ủng hộ chính thể quân chủ

Hobbes cũng là một trong những người đầu tiên đề cập đến tư tưởng về

chủ quyền nhân dân Ở trong tác phẩm Leviathan, Hobbes cho rằng một khi

nhà nước không đảm bảo được an ninh cho công dân – nguyên nhân duy nhất cho sự tồn tại của nó, thì người dân có quyền tách ra khỏi sự ràng buộc bởi khế ước xã hội, giành lại quyền tự nhiên cho mình, đó chính là sự giành lại chủ quyền của mình Để được bảo vệ, người dân có quyền tìm kiếm một hình thức nhà nước khác có khả năng đáp ứng độ tin cậy của họ Có thể nói công lao to lớn của Hobbes là ông đã đưa ra quan điểm về “khế ước xã hội” Theo Hobbes, việc con người biết sử dụng luật pháp và cơ quan quyền lực công cộng là nhà nước để kìm nén thú tính cá nhân, nhờ vậy có được một đời sống tốt đẹp hơn, thật sự là một bước chuyển của lịch sử nhân loại từ trạng thái sống theo bản năng thành sống theo lý trí, từ cộng đồng thành xã hội công dân Quan niệm về nhà nước của Hobbes đã kéo nhà nước từ trên thượng giới xuống trần gian, nhà nước là sản phẩm của con người “khế ước xã hội”, phê phán mạnh mẽ quan niệm của nhà thờ tôn giáo Theo ông, nhà nước có quyền lực tối thượng và khi nhà nước đảm bảo được trật tự, an ninh xã hội thì mọi người đều phải tuân lệnh không ai được chống lại cho dù có thấy bị đối xử bất công Kẻ cầm quyền có thể trấn át, kết án, bỏ tù, thậm chí xử tử người vô tội nếu thấy có lợi cho việc trị an Nghĩa vụ vâng lời của người dân chỉ kết thúc khi nhà nước không làm tròn nhiệm vụ của mình Như vậy, Hobbes chủ trương tập trung quyền lực tối cao và bất khả phân chia vào nhà nước, hay nói theo cách khác ông đã ủng hộ cho chế độ quân chủ chuyên chế Loại hình chính thể này là một giải pháp chính trị của Hobbes để kiểm soát bản tính ác của con người Hạn chế của Hobbes được khắc phục ở các nhà triết học về

Trang 24

sau Các nhà triết học từ Locke, đến Montesquieu đã đi tìm câu trả lời cho câu hỏi làm thế nào để tránh sự lạm dụng quyền lực từ phía nhà nước

1.2.4 Quan niệm của John Locke về nhà nước

John Locke (1632 – 1704) là một trong các nhà triết học vĩ đại nhất ở châu Âu vào cuối thế kỉ XVII Locke lớn lên và sống qua một thế kỉ đầy biến động trong lịch sử nước Anh Đó là một thế kỉ đầy rẫy các cuộc xung đột giữa Vua và Nghị viện và các cuộc xung đột chồng chéo giữa người Tin Lành, Anh giáo và Công giáo hòa quyện vào cuộc nội chiến trong thập niên 40 của thế kỉ XVII

Locke cho rằng lịch sử phát triển của con người trải qua từ trạng thái tự nhiên tiến lên trạng thái xã hội công dân, trong mỗi trạng thái đó lại có những đặc trưng riêng và một trong những đặc trưng quan trọng nhất để phân biệt giữa chúng là sự hiện hữu của nhà nước Như vậy, theo Locke sự hình thành nhà nước không đồng nhất với sự xuất hiện của xã hội loài người

Ở trạng thái tự nhiên – giai đoạn đầu tiên của xã hội loài người với những đặc trưng cơ bản là chưa có sự khác biệt rõ rệt giữa mọi người về kinh

tế, địa vị xã hội và đẳng cấp, con người được hưởng một cuộc sống bình yên

và hạnh phúc trong một thời gian dài Con người ở trong trạng thái này có quyền tự do và bình đẳng một cách hoàn hảo Sự tự do và bình đẳng này là những quyền được tất cả mọi người thừa nhận, nó giống như một bản năng tự nhiên để mọi người tự giác thực hiện Theo Locke, trạng thái tự nhiên “… là một trạng thái bình đẳng khi mà tất cả quyền lực và quyền thực thi công lý có tính hỗ tương, không một ai có nhiều hơn người khác Không có gì hiển nhiên hơn là những sinh vật của cùng một loài và một hạng, được sinh ra một cách ngẫu nhiên với cùng những thuận lợi tự nhiên, sử dụng cùng những năng lực, cũng phải là những sinh vật bình đẳng với nhau mà không có sự lệ thuộc hay khuất phục” [31, 33] Locke cho rằng, mỗi người với tư cách là một cá nhân riêng lẻ có được sự bình đẳng mà không phải do ưu thế quyền lực hay tài sản

Trang 25

do đó tất cả mọi người đều phải tôn trọng quyền bình đẳng của nhau Con người sinh ra có quyền tự do vô hạn có quyền làm bất kỳ điều mình muốn nhưng vẫn phải nằm trong khuôn khổ của luật tự nhiên Chính luật tự nhiên

đã có tác dụng kiểm soát hành động của con người không đi quá giới hạn tự

do cho phép Điều này khiến cho trạng thái tự nhiên dù là rất tự do nhưng vẫn

có quy tắc và trật tự nhất định chứ không phải là trạng thái thù địch, “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả” như Th Hobbes quan niệm bởi nó luôn được những quyền hạn và nghĩa vụ tự nhiên điều chỉnh

Như vậy, theo Locke trong trạng thái tự nhiên con người có đầy đủ các quyền tự nhiên căn bản, có cuộc sống tự do và hạnh phúc Tuy nhiên trạng thái tự nhiên của con người không thể tồn tại lâu dài và xã hội loài người cần tiến tới trạng thái xã hội thứ hai – trạng thái xã hội công dân, sự ra đời của nhà nước cũng nằm trong trạng thái này Khi lí giải mục đích của việc hình thành nhà nước, J Locke khẳng định, mục đích cao quý và chủ yếu trong việc hợp nhất của con người thành cộng đồng quốc gia và đặt chính họ dưới một chính quyền, là sự bảo toàn đối với sở hữu của họ Ông đã giải thích rõ, mục đích con người chuyển sang xã hội dân sự là để tránh những phiền phức mà trạng thái tự nhiên gây ra cho con người và vì “cuộc sống tiện lợi, an toàn

và thanh bình… trong sự thụ hưởng một cách đảm bảo với sở hữu của họ,

và một sự an ninh lớn hơn” [31, 137] Và mục đích cao quý, chủ yếu nhất của việc hợp thành cộng đồng và đặt dưới một chính quyền sự bảo toàn đối với sở hữu của họ Như vậy theo Locke, mục đích của việc thiết lập nhà nước đó là hướng tới hạnh phúc của nhân dân hay hạnh phúc của nhân dân

là luật tối cao của mọi chính quyền

Trong Khảo luận thứ hai về chính quyền, John Locke đã dành một nội

dung lớn để biện luận cho sự phát triển của nhà nước như là một hình thái khác của gia đình và quyền lực chính trị của vua hay người lãnh đạo cao nhất của chính quyền được ông gán với quyền lực gia trưởng của người cha Trách

Trang 26

nhiệm của người cha là giữ gìn sự gắn bó của gia đình và mang lại hạnh phúc cho các thành viên, còn trách nhiệm của bậc quân vương là bảo toàn chính quyền và bảo đảm hạnh phúc cho nhân dân

Khi luận giải về bản chất của nhà nước, Locke cho rằng nhà nước hoàn toàn mang bản chất “phi giai cấp”, bởi vì nhà nước được thành lập dựa trên ý chí chung của toàn dân, vì thế nó sẽ bảo vệ lợi ích của tất cả mọi người Trong trạng thái tự nhiên, con người có quyền tự nhiên để bảo vệ an ninh cho mình,

và trong trạng thái tự nhiên điều đó được thể hiện với tư cách cá nhân, tự phát, và bằng bạo lực vô tổ chức Khi tham gia khế ước xã hội, con người đã trao cả sự an toàn tính mạng và tài sản của mình cho xã hội công dân, lúc này nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm sự an ninh đó, nếu nó muốn duy trì sự tồn tại của mình như một thiết chế chính đáng mà không để người dân quay lại trạng thái vô chính phủ trước đây Do vậy, trong quan niệm của Locke, chỉ có nhân dân mới là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước Bởi theo sự luận giải của Locke, nhà nước là do con người thỏa thuận lập nên, do đó, quyền lực của nhà nước không phải là quyền lực tự thân mà là quyền lực được ủy thác và phải chịu sự kiểm soát từ nhân dân Mục đích hoạt động của nhà nước không gì khác ngoài việc bảo đảm một cách tốt nhất quyền lợi của người dân Chính vì vậy, hoạt động của nhà nước không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ một tầng lớp, giai cấp nào trong xã hội, mà nhà nước chính là sự đảm bảo cho chủ quyền của nhân dân, mà trên hết là quyền “tự do, bình đẳng và sở hữu”

Locke đưa ra quan niệm cần phải giới hạn quyền lực nhà nước là một đòi hỏi khách quan và phù hợp với sự phát triển của xã hội đương thời lúc bấy giờ Về mặt lịch sử, đây là sự phát triển tất yếu, chống lại sự chuyên chế của các mô hình nhà nước cực quyền, xây dựng một quyền lực nhà nước mới, có

sự kiểm soát Giới hạn quyền lực cũng tức là nhà nước bị chế ước quyền lực, khi đó quyền lực của nhà nước không còn vô hạn định, mà nhà nước chỉ có quyền lực trong một phạm vi nhất định được quy định rõ ràng trong luật

Trang 27

Cơ sở cho việc cần phải giới hạn quyền lực nhà nước không chỉ nằm ở

chỗ chống lại sự lạm dụng quyền lực nhà nước mà còn ở chỗ chống lại sự tùy

tiện của nhà nước thông qua các hành vi của các quan chức thay mặt nhà

nước đảm trách các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước

Không khẳng định một cách cực đoan như Hobbes rằng bản tính người là ác

nhưng Locke cũng nhận thấy một thực tế là con người có lòng tham quyền

lực bởi vì khi có quyền lực con người dễ có khả năng buộc người khác phải

làm theo những ý muốn đam mê của mình, con người cũng có lúc vì lợi ích

cá nhân mà hành động gây tổn hại đến lợi ích của người khác Do vậy, mục

đích của việc giới hạn quyền lực nhà nước theo Locke là nhằm bảo vệ

quyền lợi của nhân dân, quyền con người Quyền lực nhà nước từ chỗ vô

hạn của chế độ chuyên chế nay được giới hạn lại và mọi hoạt động của nhà

nước cũng như của các quan chức trong bộ máy nhà nước đều phải tuân

theo các quy định của luật pháp

Theo Locke, muốn giới hạn quyền lực nhà nước thì nhà nước phải được

tổ chức theo nguyên tắc phân quyền Mọi thiết chế quyền lực nhà nước phải

được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Locke thấy được

rằng, cần phải vạch ra giới hạn giữa quyền lực nhà nước và quyền tự do của

công dân với phương châm: đối với người dân thì cho phép làm tất cả những

gì mà pháp luật không cấm, còn đối với cơ quan nhà nước chỉ được phép làm

những gì mà pháp luật quy định Pháp luật của nhà nước phải hướng đến mục

tiêu vì con người, vì quyền con người Đây chính là một trong những biện

pháp hữu hiệu nhất nhằm giới hạn quyền lực của nhà nước Có thể thấy rằng,

toàn bộ lý luận phân quyền của J Locke đều hướng đến mục đích giới hạn,

hạn chế sự tham lam quyền lực, bằng cách tước bỏ những điều kiện hiện thực

về mặt nhà nước khả dĩ cho phép sự tham quyền này có cơ sở phát triển

Lý thuyết của Locke đã đặt nền móng cho sự ra đời của học thuyết về

nhà nước pháp quyền tư sản Tư tưởng phân quyền của Locke rõ ràng, cụ thể

Trang 28

và có hệ thống hơn so với Aristotle song vẫn chưa toàn diện và triệt để Tuy ông chia làm ba quyền, song chủ thể nắm giữ lại chỉ có hai và ông không đề cập đến quyền tư pháp, một quyền lực không thể thiếu của nhà nước Locke đưa hoạt động xét xử thuộc phạm vi của quyền hành pháp, nhưng trên thực

tế quyền tư pháp lại có những đòi hỏi khác biệt với quyền hành pháp, nên giữa hai quyền này cần phải có sự chia tách và điều này đã được khắc phục

ở Montesquieu

Như vậy, cùng với các nhà triết học cận đại khác, Locke đã phác họa ra những nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền và luận chứng cho nguyên tắc phân quyền Mặc dù, ủng hộ cho chế độ quân chủ lập hiến ở nước Anh lúc bấy giờ nhưng những tư tưởng tiến bộ của Locke đã đặt nền móng cho chế độ nhà nước dân chủ tự do, đối lập với chế độ quân chủ chuyên chế Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và tất cả mọi người phải phục tùng nhà nước một cách tuyệt đối, thông qua phục tùng pháp luật Nhiều từ tưởng của Locke

về nhà nước đã được Ch Montesquieu kế thừa, tiếp thu và phát triển

1.3 Cuộc đời, sự nghiệp của Ch Montesquieu và tác phẩm Bàn về tinh

thần pháp luật

1.3.1 Cuộc đời của Ch Montesquieu

Ch Montesquieu sinh ngày 18/01/1689 trong một gia đình dòng dõi quý tộc lâu đời tại Bóocđô ở Tây Nam nước Pháp Cha ông là một quý tộc sa sút, không giàu có và sống nhờ hoa lợi bên vợ Mẹ ông xuất thân từ một dòng dõi quý tộc họ Penel người Anh Mẹ của ông là một phụ nữ thông minh, rất sùng đạo và có thiên hướng bí ẩn Bà mất năm Montesquieu mới lên 7 tuổi Người có ảnh hưởng tới Montesquieu nhiều hơn cả là người chú ruột của ông – Giăng đơ Sơcongđơ – người đã từng là Chủ tịch Nghị viện Bóocđô

Montesquieu được học luật từ nhỏ Khi còn là học sinh trung học, ông

tỏ ra khá say mê văn học và triết học cổ điển Ngay sau khi tốt nghiệp đại học luật năm 1714, ông vào làm tại Nghị viện Bóocđô do thừa hưởng chức vụ từ

Trang 29

người chú của mình Cũng năm đó ông trở thành thành viên của viện Hàn lâm Pháp Chế độ phong kiến ở châu Âu nói chung và ở Pháp nói riêng trong giai đoạn này đang bước vào thời kỳ suy tàn Nhà nước chuyên chế lúc đó trở thành lực cản cho sự phát triển xã hội Chính điều kiện sống và đặc biệt hơn

10 năm trên cương vị Chủ tịch Tòa án Bóocđô đã giúp cho Montesquieu hiểu sâu sắc hơn về thực chất chế độ chuyên chế phong kiến đương thời ở Pháp Năm 1728, Montesquieu quyết định từ bỏ các chức vụ để dành thời gian chuyên tâm vào công việc nghiên cứu lý luận Ông đi tới nhiều nước châu Âu

và lưu tại Anh hai năm cuối Trong thời gian ở Anh, ông có điều kiện tìm hiểu trực tiếp nền quân chủ lập hiến - một chính thể khác hẳn với chính thể quân chủ chuyên chế ở Pháp Và quả thực “Một nước Anh mới hiện thực trực tiếp hiện diện trong đời sống cộng đồng của Montesquieu trong thời gian đó, đã là chất liệu thực tiễn quý báu nữa cho công việc của tư tưởng gia này” [39, 85] Montesquieu say sưa tìm hiểu và tỏ ra khá thích thú với nền quân chủ lập hiến ở Anh lúc bấy giờ Điều khá thú vị là “tại Nghị viện Anh, người ta cho phép ông có mặt trong các cuộc tranh luận giữa Chính phủ và phe đối lập kéo dài tới 12 giờ Các tư tưởng về phân quyền của ông chín muồi ở Anh” [53, 688 - 689] Năm 1731, ông trở lại lâu đài Brét tại Pháp và hoạt động nghiên cứu lý luận cho tới cuối đời Montesquieu mất vào ngày 10/02/1755 khi đó ông 66 tuổi

Nghiên cứu về cuộc đời Montesquieu, có nhiều ý kiến cho rằng: so với các nhà triết học trước đó cũng như với các nhà triết gia đương thời thì cuộc đời Montesquieu tương đối “thành đạt và suôn sẻ”, bản thân ông cũng không trở thành đối tượng đàn áp của nhà nước chuyên chế Nhưng cũng như tác giả

Lê Tuấn Huy cho rằng có lẽ tất cả những điều may mắn đó “chỉ nói lên được một điều, là điều kiện xuất thân của ông, mà không thể hiện những gì mà triết gia đầu tiên của thế hệ Khai sáng thứ nhất này đã đóng góp cho Khai sáng, với xuất phát điểm không chỉ là tinh thần phê phán đối với xã hội

Trang 30

chuyên chế, mà còn là thái độ khai sáng công nhiên và có ý thức” [24, 89] Trong suốt hơn 60 năm của cuộc đời mình, Montesquieu đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị không chỉ trên lĩnh vực triết học, luật học mà cả trên lĩnh vực khoa học tự nhiên và văn chương

Tác phẩm đầu tiên đánh dấu con đường nghiên cứu lý luận của

Montesquieu phải kể đến Những bức thư Ba Tư năm 1721 Đây là tác phẩm

văn chương thể hiện sâu sắc triết lý về con người, đạo đức, tôn giáo và nhà nước Tác phẩm ra đời gây chấn động dư luận không chỉ ở Pháp mà còn cả ở châu Âu đương thời Thông qua câu chuyện trao đổi thư của hai người Ba Tư gửi về quê nhà, Montesquieu đã cho công chúng thấy được bộ mặt của ông vua thế kỉ XIV Đó là một ông vua sống xa hoa trên xương máu của nhân dân, ông vua đó tuy “không có mỏ vàng như vua Tây Ban Nha láng giềng nhưng lại có của cải nhiều hơn, bởi vì của cải của ông được khai thác trong các hư danh của thần dân, là một thứ kho vô tận hơn cả mỏ vàng” [62, 161] Chi tiết thú vị trong tác phẩm chính là thân phận người thái giám – người bị xã hội chuyên chế phương Đông tước đoạt quyền công dân của mình theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng Thông qua nhân vật này, Montesquieu đã đề cập tới những con người “mà trước quyền lực và phong tục, định kiến cổ hủ, thực tế

đã bị làm cho kém đi, bị tước bỏ những quyền tự nhiên của mình, luôn lo sợ

bị trừng phạt, không giám phản kháng” [24, 86] Mặc dù dưới hình thức văn chương với hình ảnh ẩn dụ độc đáo nhưng ở tác phẩm này Montesquieu đã bước đầu gián tiếp đề cập tới quyền tự nhiên của con người dù chưa nhiều Ông đã thể hiện sự phê phán gay gắt nhà nước chuyên chế phong kiến tồn tại lâu đời ở cả phương Đông và phương Tây Nhà nước đó không chỉ là lực cản đối với sự phát triển của xã hội mà còn là chế độ tước đoạt quyền công dân của con người bằng những tư tưởng bảo thủ và phản động Điều này thật đáng trân trọng, bởi lẽ không phải bất kỳ nhà quý tộc nào cũng có đủ bản lĩnh đứng lên phê phán chính chế độ sản sinh ra họ

Trang 31

Năm 1734, Montesquieu cho xuất bản Bàn về nguyên nhân hưng thịnh

và suy vong của Rome Trong tác phẩm này, Montesquieu lý giải về nguyên

nhân hưng thịnh của người La mã Theo ông: “Những chiến thắng, việc chấp nhận các phong tục nước ngoài mà dân Rome cho là thích hợp với mình; khả năng của các đạo luật; những thắng lợi mà các vị tổng tài chấp chính theo đúng phong cách quân tử nên giành được” [39, 304] Sau này D’Alambert phân tích nhận định nguyên nhân hưng thịnh của Rome trong tư tưởng của Montesquieu khái quát lên chính là “tình yêu tự do, lao động và tổ quốc” Montesquieu cũng nhấn mạnh tới việc sử dụng khôn khéo các đường lối quân

sự, chính trị với các nước láng giềng để củng cố quyền lực của mình Nguyên nhân dẫn tới tình trạng suy thoái của người La Mã theo Montesquieu là do:

“Các cuộc chiến tranh ở những vùng xa xôi; Sự nhượng “quyền trưởng giả” của công dân Rome cho các đồng minh của họ; sự bất lực của luật pháp trong tình trạng đất nước đã bành trướng” [39, 305] Điều này về sau D’Alembert cho rằng Montesquieu đã tìm thấy những nguyên nhân suy thoái của Rome ngay trong sự bành trướng của đất nước này Khi phân tích nguyên nhân dẫn tới suy thoái ở Rome, Montesquieu trình bày quan điểm về quy luật diễn biến của lịch sử Ông cho rằng: “Một nước cộng hòa thông minh thì chớ nên phó mặc số phận tốt hay xấu của mình cho những điều ngẫu nhiên” [39, 308] Ở đây Montesquieu đã thể hiện quan điểm duy vật khi phủ nhận quan điểm cho rằng sự vận động của lịch sử dân tộc là sự sắp đặt của thần linh, do ý muốn chủ quan của cá nhân hay do ngẫu nhiên chi phối Tuy nhiên do những hạn chế của thời đại nên Montesquieu chỉ thấy được yếu tố tinh thần mà chưa nhận thấy đấu tranh giai cấp là một trong những động lực thúc đẩy sự vận động lịch sử của xã hội có đối kháng giai cấp – điều mà sau này chính K Marx và F Engels đã nhận thấy khi phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp

công nhân Nghiên cứu tác phẩm Bàn về nguyên nhân hưng thịnh và suy vong của Rome chúng ta cũng thấy có sự khác nhau trong quan điểm của

Trang 32

Montesquieu với nhà Khai sáng sau ông hai mươi năm J Rousseau (1712 1778) Sự khác nhau ở chỗ: khi nghiên cứu về nền cộng hòa Rome theo

-Lê Tuấn Huy “Rousseau say sưa nói một triệu công dân của Rome họp đại hội thường xuyên, có khi một tuần mấy lần, để thực hiện quyền lực tối cao bằng cách giải quyết các công việc, bàn thảo vấn đề Việc này, ông nói: “từ hiện thực đến khả năng, tôi thấy hệ quả rõ ràng là tốt” trong khi Montesquieu xem đó là một trong những nguyên nhân suy vong của

Rome” [24, 113] Tuy vậy, giới nghiên cứu vẫn khẳng định tác phẩm Bàn

về nguyên nhân hưng thịnh và suy vong của Rome là một trong ba tác

phẩm thành công trong sự nghiệp của Montesquieu Tác phẩm không chỉ

có giá trị về lịch sử tư tưởng mà còn có giá trị về triết học

Bàn về tinh thần pháp luật được Montesquieu cho xuất bản năm 1748

Ông đã dành thời gian hai mươi năm của cuộc đời mình để viết tác phẩm này

Từ trước khi cuốn sách này được xuất bản, tình trạng sức khỏe của Montesquieu bị suy giảm nghiêm trọng, ông làm việc nhiều tới nỗi gần như hai mắt bị lòa Và cũng bởi sự khổ công nghiên cứu miệt mài ấy mà sau này

Bàn về tinh thần pháp luật được xem là công trình khoa học kết tinh toàn bộ

tài năng trí tuệ và con người Montesquieu Trong tác phẩm này, Montesquieu không nghiên cứu luật pháp như một nhà luật học thuần túy mà nghiên cứu cái hồn, cái tinh thần cốt lõi của pháp luật Montesquieu muốn khám phá quy luật bên trong luật pháp của mọi thời đại Đồng thời, tác phẩm cũng thể hiện thái độ phê phán gay gắt của Montesquieu với nền chuyên chính tồn tại ở Pháp lúc bấy giờ Chính thái độ khách quan, khoa học ấy của Montesquieu

mà ngay khi ra đời, tác phẩm bị công kích dữ dội từ phía quan phương và bị liệt vào danh mục sách cấm Tuy nhiên, cuốn sách vẫn lọt qua sự kiểm soát gắt gao của giáo hội để tới độc giả Năm 1750, Montesquieu viết tác phẩm

luận chiến Bảo vệ tinh thần pháp luật để khẳng định lập trường kiên định của

mình với tác phẩm đã xuất bản Nhiều học giả đã tìm tới lâu đài “để mong

Trang 33

được nói chuyện với Montesquieu hoặc dù chỉ nhìn thấy ông” [53, 690] Một

số nhà khoa học đã công khai bảo vệ mãnh liệt cuốn Bàn về tinh thần pháp luật của Montesquieu, trong đó có giáo sư La-Boomen Sau đó vị giáo sư này

bị bắt giam với tội danh khả nghi về chính trị Năm 1754 Montesquieu hăng hái tới Pari để xin giúp cho vị giáo sư bất hạnh, sử dụng các mối quan hệ có thế lực của mình và giải thoát được cho ông ta Trong thời gian đó, ông cũng phải chịu sự hành hạ thân xác khủng khiếp do bệnh tật ngày một trầm trọng

Vào những năm cuối đời, Montesquieu sống tại lâu đài La Brét, nghiên

cứu và viết thêm một vài tác phẩm khác nữa như Lyđim (1751), Atxat và Ixmêni (1754) Trước khi qua đời Montesquieu còn để lại nhiều di cảo trong

đó có tập Những tư tưởng của tôi

Montesquieu là người tiên phong trong phong trào Khai sáng Pháp thế

kỉ XVIII Tuy không phải là một người đứng đầu, một nhà lãnh đạo nhưng ông lại là “con người đầu tiên khởi phát cả một cuộc vận động văn hóa và tư duy Montesquieu đã lần đầu tiên chính thức sử dụng khái niệm “Khai sáng”

để nói đến một chương trình học thuật, để rồi sau đó trở thành tên gọi của cả một giai đoạn triết học và của cả một thời đại” [24, 93]

1.3.2 Tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật

Tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật được Montesquieu hoàn thành

năm 1748 sau chuyến đi tìm hiểu phong tục, tập quán, các thể chế chính trị của nhiều nước châu Âu Trên thực tế, tác phẩm này là kết quả hai mươi năm ông nghiên cứu các thể chế chính trị trước đó Tác phẩm gồm 31 quyển với

hơn 600 chương Bản dịch Bàn về tinh thần pháp luật của Hoàng Thanh Đạm

tương đối đầy đủ Cấu trúc tác phẩm được chia thành sáu phần:

Phần thứ nhất: Từ quyển I tới quyển VII: Montesquieu bàn về pháp luật, nguyên nhân của sự nảy sinh, hình thành pháp luật và tương quan với các chỉnh thể

Trang 34

Phần thứ hai: Từ quyển IX đến quyển XIII: Montesquieu tiếp tục nghiên cứu các yếu tố chính trị bằng việc phân tích những luật lệ nào phù hợp với ba chính thể mà ông khảo sát trong lịch sử Trong phần này, Montesquieu bàn nhiều hơn cả về lý thuyết tam quyền phân lập và việc phân định ba quyền

đó áp dụng ở Anh quốc

Phần thứ ba: Từ quyển XIV tới quyển XIX: Montesquieu phân tích các nguyên nhân với tính cách vật chất – khách quan (tính chất của khí hậu, đất đai) hay tinh thần (tập quán hay phong tục của mỗi nước) ảnh hưởng tới luật pháp

Phần thứ tư: Từ quyển XX tới quyển XXIII: Montesquieu tiếp tục nghiên cứu nguyên nhân với tính cách kinh tế và nhân khẩu ảnh hưởng tới pháp luật

Phần thứ năm: Từ quyển XXIV tới quyển XXVI: Montesquieu trình bày những nguyên nhân tâm linh có ảnh hưởng tới pháp luật Ông phân tích khá sâu sắc mối quan hệ giữa tôn giáo và pháp luật Đồng thời trong phần này, Montesquieu cũng xem xét mối quan hệ giữa luật pháp và các đối tượng

Trang 35

quyển sau Montesquieu phân tích những yếu tố phụ của pháp luật như khí hậu, phong tục, tôn giáo… các quyển sau là sự khảo cứu tư liệu lịch sử chứng minh cho tinh thần pháp luật Trong toàn bộ tác phẩm, Montesquieu luôn quán triệt quan điểm toàn diện và tư duy duy lý chặt chẽ, logic rất đặc trưng cho tư duy văn hóa Pháp nói riêng và châu Âu nói chung

Ngay trong lời tựa Montesquieu đã tóm tắt nội dung tác phẩm và lưu ý những điểm chủ yếu về mặt phương pháp Ông đã khảo cứu và suy xét kỹ lưỡng hệ vấn đề chính của luật pháp ở châu Âu do đó khi nghiên cứu tác phẩm Montesquieu đã đề nghị nghiên cứu trong “tính toàn vẹn của tư duy và tính chỉnh thể” của tác phẩm Để có thể nắm được ý đồ của tác phẩm và toàn

bộ cuốn sách chứ không phải là các tiểu tiết của nó Nội dung bao quát toàn

bộ tác phẩm được ông khái quát như sau:

1 Lịch sử các quốc gia dân tộc không chỉ là những lịch sử cá biệt, tồn tại trong tính đơn nhất của nó mà nó còn là một quá trình liên tục, có sự kế thừa tiếp biến và phát triển Do đó tìm ra điểm chung và khái quát nó thành các nguyên tắc, xem xét sự việc “bản chất của sự việc” đó là tinh thần mà ông đã nghiên cứu tác phẩm

2 Từ sự xem xét đó không tránh khỏi việc chúng ta phải bỏ qua một số tiểu tiết để nắm lấy cái chính yếu, cái bản chất từ khía cạnh chính trị đối với quốc gia dân tộc – đó là quyền lực chính trị tối cao, biểu hiện thông qua hiến pháp của quốc gia trong quan hệ với thể chế chính trị - pháp luật

3 Pháp luật không thể nảy sinh bên ngoài xã hội mà nó gắn với xã hội, đời sống xã hội và hành động của nó Vì thế nhân dân cần được soi sáng Bởi

vì một mặt nhà cầm quyền thường có ý đồ lợi dụng pháp luật cho sự cai trị của mình, thế nhưng sự cai trị không chỉ dựa trên sự ngu dốt hay cưỡng chế

mà cần đòi hỏi tính tự nguyện, sự tự ý thức của người bị cai trị vì thế trong mối tương quan này nhà cai trị và người bị cai trị đều cần được soi sáng tức là

Trang 36

nắm được tinh thần pháp luật và quan hệ của chúng xét từ mối tương tác giữa thể chế chính trị - pháp luật với công dân

4 Với điểm tựa đó Montesquieu tin rằng con người là một thực thể có lý tính thông qua giáo dục chúng ta có thể làm thay đổi định kiến của họ từ đó giáo dục và tự giáo dục làm thay đổi bản chất và đưa con người tới một xã hội tốt đẹp hơn mà ở đó họ ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình

Theo Montesquieu trong khi khảo cứu về tinh thần pháp luật, yếu tố đầu tiên mà chúng ta lưu ý là quan hệ pháp luật và thể chế chính trị Theo tác giả nên xuất phát từ đạo đức để khảo cứu vấn đề này, cố nhiên ở đây không đạo đức hóa nền chính trị mà chỉ xem đó là một chiều cạnh mà thôi Montesquieu xét về lập trường chính trị ngả về thể chế cộng hòa đặc biệt là Cộng hòa dân chủ - Liên bang mà theo ông nơi đó là “Tình yêu Tổ quốc và tình yêu đối với

sự bình đẳng” – sự hiện tồn của nó là yếu tố quan trọng nhất cấu thành phẩm hạnh chính trị của người cai trị và công dân trong thể chế đó

Trước khi đi vào chương chính của luận văn nói về những nội dung

trong quan niệm về nhà nước của Montesquieu trong Bàn về tinh thần pháp luật, trước hết cần làm rõ khái niệm “tinh thần pháp luật” theo cách hiểu của Montesquieu là như thế nào? Nghiên cứu Bàn về tinh thần pháp luật, chúng ta

có thể thấy Montesquieu không đặt ra mục đích nghiên cứu về luật nói chung hay nghiên cứu luật pháp với tư cách một nhà luật học thuần túy Tác giả đi sâu nghiên cứu cái hồn, cái tinh thần của pháp luật Xét về mặt thuật ngữ, theo

từ điển tiếng Việt: “Tinh thần” được hiểu là “tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm… những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm con người” [46, 961] Nhưng ở đây, chữ Tinh thần mà Montesquieu dùng theo nghĩa là bản chất chứ không phải là yếu tố tinh thần thuộc về ý thức Và do đó, chữ Tinh thần của Montesquieu cũng không đồng nhất với cái ý niệm của Platon đã dùng hay ý niệm tuyệt đối của Hegel sau này dùng Montesquieu viết: “tôi không soạn luật mà chỉ nghiên cứu cái tinh thần của luật Tinh thần đó tồn tại

Trang 37

trong quan hệ giữa pháp luật với các sự vật Tôi bám vào các mối quan hệ ấy hơn là viết theo các lớp tự nhiên của các luật” [39, 45]

Tinh thần pháp luật ở đây cần phải hiểu đó là bản chất của hệ thống pháp luật Và bản chất của hệ thống pháp luật đó chính là cái hồn, cái cốt lõi của tác phẩm mà Montesquieu muốn luận bàn Trong mở đầu của chương 1, Montesquieu có đưa ra cách hiểu về Luật nói chung Theo ông, Luật theo nghĩa rộng nhất là “những quan hệ tất yếu trong bản chất sự vật” Với nghĩa đầy đủ như thế Montesquieu cho rằng mọi vật đều có luật, thế giới thần linh, thế giới vật chất, những trí tuệ siêu việt đến các loài vật và loài người đều có luật của mình Nhưng cần lưu ý, Luật ở đây là quan hệ trong tương quan với bản chất sự vật Và pháp luật chỉ là một thành tố trong Luật nói chung mà thôi Nhưng Montesquieu cũng giải thích luôn rằng: ông không đi vào nghiên cứu Luật nói chung, Montesquieu chỉ tập trung vào cái tinh thần của pháp luật Đó là cái bản chất, cái cốt lõi bên trong của hệ thống pháp luật mà ông muốn luận bàn trong nghiên cứu của mình Xuất phát từ điều này Montesquieu triển khai khảo sát ba chính thể trong lịch sử và các nguyên tắc

cơ bản của các chính thể đó Đồng thời ông cũng phân tích mối tương quan giữa luật pháp với các nhân tố khác như: đất đai, phong tục, khí hậu, tôn giáo,… và các nhà nước trong lịch sử để thấy trọn vẹn tinh thần của pháp luật

Trang 38

Kết luận chương 1

Ch Montesquieu sinh ra trong bối cảnh nước Pháp và châu Âu đang trải qua những biến đổi quan trọng trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội… tạo ra những thay đổi sâu sắc của lịch sử châu Âu

Nước Pháp thế kỷ XVII-XVIII với những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, xã hội, với thực tế qua quá trình hoạt động chính trị của bản

thân đã được Ch Montesquieu phản ánh vào trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật Montesquieu – một trí thức lại được trực tiếp tiếp xúc với thực tế

chính trị chuyên quyền, ngay chính từ bên trong guồng máy của nó, đã sớm nung nấu nhiệt huyết và đó cũng chính là tác nhân quan trọng định hình nên

quan niệm về nhà nước được thể hiện trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật ra đời là sản phẩm tất yếu của một thực tại ở thời kỳ mà Ch Montesquieu

sống và trên cơ sở đó mà ông xây dựng nên một mô hình nhà nước, trong đó

có ba nhánh quyền lực ngang bằng và kiềm chế lẫn nhau để tránh sự lạm

quyền trong nhà nước Bởi vậy, Bàn về tinh thần pháp luật là cuốn sách có

ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị châu Âu đương thời và nền chính trị nhân loại sau này Tác phẩm còn là sự phản ánh khát vọng của giai cấp tư sản đương thời muốn phá tan sự chuyên quyền của chế độ phong kiến đương thời Đưa ra quan niệm về tư tưởng tam quyền phân lập của Ch Montesquieu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo đảm sự phát triển kinh tế, xã hội cũng như tránh sự lạm quyền trong nhà nước Pháp lúc bấy giờ, đây cũng chính là những điều trăn trở của cả thời đại Ch Montesquieu

Quan niệm về nhà nước của Ch Montesquieu còn bị chi phối và ảnh hưởng từ tư tưởng của các nhà tư tưởng trước đó như: Platon, Aristotle, Hobbes, Locke… Montesquieu đã phát triển các tư tưởng của các bậc tiền bối trên cơ sở kế thừa một cách có chọn lọc và phê phán

Trang 39

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN NIỆM VỀ NHÀ NƯỚC

CỦA CH MONTESQUIEU TRONG TÁC PHẨM BÀN VỀ TINH THẦN

PHÁP LUẬT

2.1 Quan niệm của Ch Montesquieu về nguồn gốc nhà nước

Quan niệm về nhà nước xuất hiện từ rất sớm trong triết học Hy la cổ đại, ban đầu khi mới xuất hiện những tư tưởng này còn ảnh hưởng từ thần thoại, chưa tách khỏi thần thoại và chưa trở thành một ngành tri thức khoa học độc lập Đến Socrates, ông mới tạo nên một bước ngoặt, một cuộc cách mạng nói chung và tư tưởng nhà nước nói riêng Socrates là người đầu tiên, tiên phong trong triết học đề cập đến con người với tính độc lập tự chủ tách rời khỏi thần thánh, ông cho rằng việc tìm hiểu và nhận thức vũ trụ rộng lớn là việc của thần linh, còn con người nên “tự tìm hiểu chính bản thân mình”, chính từ đó, Socrates đã đặt nền tảng cho triết học nghiên cứu về nhà nước ở phương Tây Quan niệm về nguồn gốc nhà nước có nhiều lập trường Trong đó phải kể đến: thứ nhất, đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử ta thấy rằng,

tư tưởng về nhà nước chỉ xuất hiện khi mà xã hội đã phân chia giai cấp và đã xuất hiện nhà nước Bởi vậy, các tư tưởng về nhà nước đều xuất hiện khi mà chế độ Cộng sản nguyên thủy chuyển sang giai đoạn Chiếm hữu nô lệ, xuất hiện các nhà nước thành bang Thứ hai, đứng trên lập trường duy tâm và thần học, mọi quan niệm thống trị ở đây đều xuất phát từ quan niệm về nguồn gốc thần thánh của các quan hệ quyền lực và trật tự hiện tồn Họ cho rằng nhà nước là do Thượng đế sinh ra để quản lý xã hội, quyền lực nhà nước là vĩnh cửu và vô tận nên việc phục tùng quyền lực ấy là cần thiết và tất yếu Sau này diễn ra một cuộc khước từ hệ tư tưởng thần thoại, quá trình đó diễn ra theo con đường: dần vứt bỏ những vỏ bọc tôn giáo và đạo đức của nhà tư tế, đưa vấn đề nhà nước và pháp luật vào các cuộc tranh luận rộng rãi và tự do hơn Quá trình này diễn ra khác nhau ở những nước khác nhau, nó phụ thuộc vào

Trang 40

việc tổ chức của nhà nước dẫn đến kết quả cũng như hậu quả khác nhau Xu hướng chuyển từ thần thoại sang quan niệm duy lý hơn về thế giới chung, về

xã hội – chính trị nói riêng đã bộc lộ ở khắp mọi nơi vào thế kỉ VIII – VI TCN Xu hướng này được thể hiện trong các học thuyết ở nhiều nước, phương Đông thì có Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, phái Pháp gia của Trung Quốc, Phật giáo ở Ấn Độ, phái Luật học ở La Mã, các nhà thông thái, các nhà ngụy biện, các nhà triết học ở Hy La Lập trường thứ ba, cũng là lập trường

mà tác giả Bàn về tinh thần pháp luật hướng đến, coi nhà nước là một sản

phẩm của một bản hợp đồng xã hội giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước Khi đó nhà nước phải phục tùng xã hội, phục vụ mọi thành viên của xã hội Khi mà nhà nước không thực hiện được chức năng của nó, các thành viên trong xã hội sẽ hủy bỏ khế ước cũ lập ra một khế ước mới, một nhà nước tiến bộ hơn sẽ ra đời

Xuất phát điểm trong quan niệm về nhà nước của Montesquieu là sự hình thành về vũ trụ, giới tự nhiên rồi đến con người Montesquieu quan niệm sự hình thành của thế giới, cũng như các nhà duy vật cho rằng thế giới hình thành từ vật chất và sự vận động của vật chất Tác giả tuy chỉ nói rất ngắn gọn trong một câu, nhưng nó hàm chứa một giá trị tiến bộ, mang tính đột phá so với các quan niệm trước về thế giới Để về sau, Marx - Engels, đến Lenin đã luận giải luận điểm này sâu hơn trong chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong một tác phẩm Engels viết: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ,

kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” [Dẫn theo 13, 157]

Chưa dừng lại ở đó, Montesquieu còn cho rằng thế giới vận động tuân theo những quy luật bất biến, mà chúng ta gọi là những quy luật khách quan Ông khẳng định: “Các quy luật có mối quan hệ tất yếu Giữa hai vật vận động khác nhau đều phải theo những quan hệ về khối lượng tốc độ mà mọi sự vận

Ngày đăng: 20/02/2020, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w