1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về đạo đức và pháp quyền trong triết học immanuel kant

123 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó tư tưởng về đạo đức và pháp quyền là một trong những vấn đề cốt yếu trong triết học thực tiễn của Kant.. Trên cơ sở tài liệu mà nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu về nhiều vấn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 7

7 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP QUYỀN CỦA KANT 8

1.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội 8

1.2 Những tiền đề lý luận hình thành quan niệm đạo đức và pháp quyền của Kant 11

1.3 Giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Kant 21

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC, PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC KANT 27

2.1 Quan niệm của Kant về đạo đức 27

2.1.1 “Tự do” phạm trù trung tâm trong đạo đức học của Kant 29

2.1.2 Các quy luật hay định lý xác định hành vi đạo đức 36

2.1.3 Mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức học của Kant 43

2.1.4 Sự thiện tối cao trong đạo đức học của Kant 50

2.2 Quan niệm của Kant về pháp quyền 56

2.2.1 Mục đích của triết học pháp quyền 57

2.2.2 Trách nhiệm pháp lý 65

2.2.3 Các quyền cơ bản trong triết học pháp quyền 76

2.2.4 Quan niệm của Kant về pháp quyền trong nhà nước 81

Trang 4

CHƯƠNG 3 MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC KANT 90 3.1 Đạo đức - cơ sở hình thành pháp quyền 90 3.2 Triết học pháp quyền của Kant - sự tiếp tục triển khai những nguyên

lý của triết học đạo đức trong thực tiễn 95

3.3 Gía trị và hạn chế trong quan niệm về đạo đức và pháp quyền của Kant 99

3.3.1 Gía trị và hạn chế trong quan niệm về đạo đức của Kant 99 3.3.2 Gía trị và hạn chế trong quan niệm về pháp quyền của Kant 101

3.4 ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tưởng về đạo đức và pháp quyền

trong triết học Kant đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 104 KẾT LUẬN 110 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kant người sáng lập triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng vĩ đại mà cho đến ngày nay những tác phẩm của Kant vẫn đang được các nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu Các bài báo, các công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn, luận án tiến sĩ, các sách chuyên khảo về ông vẫn đều đặn được in ra Bởi di sản của ông để lại hết sức phong phú và phức tạp đi vào nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, nêu lên những ý tưởng mới, trừu tượng, nhiều mâu thuẫn Cho đến nay dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về Kant nhưng không phải

ai cũng hiểu ông một cách hoàn toàn giống nhau, người ta có thể chấp nhận hoặc phê phán ông từ nhiều phía khác nhau Nhưng dù phê phán thế nào thì người ta cũng đều thừa nhận rằng Kant là nhà triết học, nhà văn hóa vĩ đại của nhân loại Nhiều tư tưởng của ông từng là cơ sở cho không ít quan niệm triết học

và các cuộc tranh luận trên thế giới Trong đó tư tưởng về đạo đức và pháp quyền là một trong những vấn đề cốt yếu trong triết học thực tiễn của Kant

Kant đã đặt ra và giải quyết hàng loạt các vấn đề thực tiễn không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển tư tưởng triết học Châu Âu mà còn trên khắp thế giới và cho đến ngày nay vẫn là vấn đề cấp thiết và cần được nghiên cứu Trên cơ sở tài liệu mà nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu về nhiều vấn đề trong đó có những vấn đề thuộc lĩnh vực triết học thực tiễn của Kant như đạo đức và pháp quyền Tác giả luận văn muốn đi sâu vào tìm hiểu vấn đề đạo đức và pháp quyền trong triết học của Kant

Trong thời đại ngày nay với sự bùng nổ của tri thức khoa học con người đang đứng trước nghịch lý, mâu thuẫn không dễ giải quyết Cùng với

sự phát triển của tri thức khoa học, phương tiện công nghệ mới, đời sống vật chất tuy được đảm bảo, nhưng con người ngày càng xuống cấp suy thoái về

Trang 6

mặt đạo đức, bất chấp pháp luật Mất phương hướng trong nhiều vấn đề của cuộc sống, sinh thái môi trường, chiến tranh, xung đột sắc tộc, khoảng cách giàu nghèo, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, con người dùng chính những thành tựu khoa học công nghệ để chống lại loài người

Vì vậy vấn đề đạo đức và pháp quyền càng cần được nghiên cứu và là vấn đề vô cùng cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng mang tính thời đại Pháp quyền hiện thân của nó là nhà nước ấn định trình độ tổ chức thực tiễn đạo đức Với những ai phủ nhận sạch trơn pháp quyền, thì sự rao giảng đạo đức sẽ mất đi những cầu nối và điểm tựa trong môi trường thực tế Từ những lý do

nhận thức và thực tiễn đó tôi chọn đề tài“Quan niệm về đạo đức và pháp quyền trong triết học Immanuel Kant”để làm luận văn thạc sĩ triết học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quan niệm của Kant

về đạo đạo và pháp quyền

Nhóm các công trình bàn về vấn đề đạo đức phải kể đến“Triết học cổ

điển Đức:Những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học” Đây là những bài

viết của nhiều tác giả được in thành “Kỷ yếu hội thảo quốc tế”, kỷ niệm 200 năm ngày mất của Kant Kỷ yếu có nhiều bài viết về đạo đức học, tiêu biểu

phải kể đến“Đạo đức học của Cantơ và ý nghĩa hiện thời của nó” của Nguyễn Trọng Chuẩn.“Triết học đạo đức của Cantơ và ảnh hưởng của nó đối với nền triết học phương Tây” của Ngô Thị Mỹ Dung, “Chủ nghĩa nhân đạo trong đạo đức học của I.Cantơ:Aỏ tưởng hay hiện thực?(Qua phân tích ý tưởng của I.Cantơ về một nền hòa bình vĩnh cửu) của Nguyễn Quang Hưng hay “Thế giới đạo đức trong triết học thực tiễn của Cantơ” của Nguyễn Kim Lai.“Đạo đức học Cantơ và tư tưởng văn hóa hòa bình” của Vũ Thị Thu Lan

“I.Cantơ và phạm trù nghĩa vụ đạo đức” của Võ Minh Tuấn Những bài viết

này đã tập trung làm rõ những nội dung và ý nghĩa của đạo đức học Kant như:

Trang 7

Bổn phận và nghĩa vụ đạo đức, mệnh lệnh tuyệt đối, lý tưởng về một nền hòa bình vĩnh cửu, tự do ý chí Đó là những đóng góp có giá trị cho việc nghiên cứu có tính hệ thống hơn quan niệm về đạo đức của Kant

Bên cạnh đó cũng có nhiều công trình khác nghiên cứu về đạo đức học

của Kant như cuốn sách mang tên“Triết học Kant” của Trần Thái Đỉnh được

nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm 1972 Ở đây Trần Thái Đỉnh đã trình bày toàn bộ hệ thống triết học Kant một cách cụ thể, sâu sắc, thông qua các tác phẩm của triết gia này, nội dung cuốn sách đề cập đến là quan niệm của Kant về nguyên tắc, động cơ, đối tượng, mệnh lệnh của lý tính thực hành

Tiếp theo là công trình của Nguyễn Văn Huyên mang tên“Triết học Imanuen Cantơ” được nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1996, học

giả đã hệ thống lại toàn bộ triết học Kant Ngoài ra còn kể đến các nghiên cứu

của Nguyễn Huy Hoàng với tác phẩm “Chân dung triết gia Đức” (2000)

Hay những nghiên cứu về đạo đức học của Kant của tác giả Vũ Thị Thu Lan

được thể hiện trong luận văn thạc sỹ với đề tài “Mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức học của Cantơ” (2004) Lê Công Sự trong tác phẩm“Triết học cổ điển Đức” (2006) của nhà xuất bản Thế giới Nhìn chung các tác phẩm này đã

đánh giá khá toàn diện và sâu sắc về đạo đức học của Kant

Gần đây luận án tiến sỹ của Vũ Thị Thu Lan với đề tài “Đạo đức học của Kant và những giá trị, hạn chế của nó” (2010) Trong luận án trên Vũ

Thị Thu Lan đã khái quát những phạm trù cơ bản của đạo đức học Kant như: Thiên hướng, ý chí, lý tính thực tiễn, nguyên tắc Tác giả đi sâu làm rõ vấn

đề mệnh lệnh tuyệt đối, thấy được Kant xây dựng đạo đức học như một khoa học, làm sâu sắc hơn hệ thống các phạm trù

Nhóm các công trình nghiên cứu về pháp quyền của triết học Kant

có“Một số quan niệm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng phương Tây”của Nguyễn Vũ Hảo, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế, được

Trang 8

nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2012 Tác giả đã khái quát các tư tưởng về nhà nước pháp quyền từ thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại tới thời kỳ cận hiện đại ở phương Tây trong đó nêu lên đóng góp của Kant cho việc xây dựng và phát triển học thuyết về nhà nước pháp quyền

“Quan niệm của I.Kant về pháp quyền trong nhà nước với tư cách cộng đồng luật pháp” của Đặng Hữu Toàn được in trong Kỷ yếu hội thảo

khoa học quốc tế (2012) Tác giả đi sâu phân tích nhiều khía cạnh vấn đề nhà nước với tư cách cộng đồng luật pháp về vai trò của pháp quyền trong nhà nước, quan niệm của Kant về một nhà nước lý tưởng

Cùng bàn về vấn đề triết học pháp quyền cuốn sách“Triết học chính trị

xã hội của I Kant, J.G Fichte và G.W.F Hegel” của Nguyễn Quang Hưng

được nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2013 Tác giả đã làm rõ nhiều vấn đề nêu lên tư tưởng quan trọng trong quan niệm về pháp quyền của Kant, phân tích các quyền riêng tư, quyền con người, luật công, trình bày rõ các hình thức quyền lực nhà nước mà Kant đã kế thừa từ các bậc tiền bối nhất là các nhà khai sáng Pháp Montesquieu và Rousseau về phân chia quyền lực trong cơ cấu bộ máy nhà nước

“Lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX”,được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật ấn hành năm 2016 của Ngô

Thị Mỹ Dung Trong đó tác giả đã cố gắng trình bày và phân tích một cách có

hệ thống tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX, tác giả phân tích một cách cơ bản vấn đề nhà nước và pháp luật, triết học pháp quyền Theo tác giả, Kant đã khẳng định quyền tự nhiên, nghĩa vụ của con người cũng như hình thức và quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo cho những quyền và nghĩa vụ đó được thực thi Con người trong triết học pháp quyền của Kant được hiểu là chủ thể độc lập, chủ thể tự quyết và tự ban hành luật

Trang 9

Nhóm những công trình bàn về mối quan hệ giữa pháp quyền và đạo đức có: “Mối quan hệ giữa triết học đạo đức và triết học pháp quyền trong triết học Immanuel Kant” của Ngô Thị Mỹ Dung được đăng trên Tạp chí

Khoa học xã hội, Viện KHXH vùng Nam bộ, số 05, 2007, tr.17 -21 Trong bài viết này, tác giả trình bày nội dung cơ bản triết học đạo đức và triết học pháp quyền của Kant Theo tác giả triết học pháp quyền của Kant là sự tiếp tục triển khai những nguyên lý của triết học đạo đức trong thực tiễn

Tiếp theo là “Quan hệ giữa đạo đức với các lĩnh vực đời sống xã hội khác trong quan điểm đạo đức học của Kant” của Nguyễn Văn Sanh In trong

tác phẩm “Triết học cổ điển đức những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học” Ở đây tác giả khái quát quan niệm của Kant về mối quan hệ giữa đạo đức với các lĩnh vực đời sống xã hội như quan hệ giữa đạo đức và tôn giáo, đạo đức và văn hóa, đặc biệt là mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật để thấy Kant đã làm sáng tỏ tính đặc thù của đạo đức theo sự phân định với pháp luật, động lực bên ngoài và bên trong của hành vi xã hội

Trong luận văn có phần giới thiệu về điều kiện, tiền đề, sự ra đời triết học Kant cũng như tiểu sử của ông Về vấn đề này luận văn chủ yếu khai thác

các tài liệu như “I.Cantơ người sáng lập nền triết học cổ điển Đức” của Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên) Will Durant (1994), “Tuyển tập danh tác triết học từ Plato đến Derrida”, Ted Honderich (chủ biên) (2002) Câu

chuyện triết học (qua chân dung Plato Aristote Bacon Kant Spinoza Volttaire

Spencer), Samuel Enoch Stumpf (2004), “Lịch sử triết học và các luận đề”, Nxb lao động Forrest E Baird (2006), Hành trình cùng triết học, Nhà xuất bản văn hóa thông tin Hà Nội Phần cuối tập 2 của “Phê phán lý tính thuần túy” của Immanuel Kant do Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải xuất bản

2014

Trang 10

Các công trình, bài viết của các tác giả trước đó về Kant có ưu điểm đã phân tích và chỉ rõ thế nào là đạo đức, bản chất, đặc điểm trong quan niệm của Kant Bàn về triết học thực tiễn của Kant có rất nhiều đề tài, nhưng chưa

có đề tài nào nghiên cứu sâu, hệ thống hóa cả về đạo đức và pháp quyền trong triết học Kant, đặc biệt là mối quan hệ giữa chúng, vì lý do đó nên tác giả luận văn muốn góp phần làm rõ hơn quan niệm của Kant về triết học đạo đức và triết học pháp quyền làm cơ sở giải quyết các vấn đề đời sống xã hội Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích của luận văn là: Phân tích những điều kiện, tiền đề hình thành quan niệm đạo đức và pháp quyền, làm rõ những nội dung cơ bản về đạo đức và pháp quyền, mối quan hệ giữa chúng trong triết học Kant, qua đó chỉ ra giá trị và hạn chế của nó

- Để thực hiện được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:

+ Phân tích điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng đạo đức và pháp quyền trong triết học Kant

+ Phân tích những quan niệm cơ bản về đạo đức và pháp quyền, mối quan hệ giữa chúng trong triết học Kant

+ Chỉ ra giá trị và hạn chế trong quan niệm về đạo đức và pháp quyền của Kant

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Quan niệm về đạo đức và pháp quyền trong triết học Kant

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là các nội dung cơ bản về đạo đức và pháp quyền trong triết học Kant

Trang 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

+ Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác -

Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh để qua đó tiếp cận nghiên cứu nội dung đạo đức và pháp quyền trong triết học Kant

+ Luận văn tiếp cận vấn đề trên cơ sở phân tích quan điểm của Kant về đạo đức và pháp quyền trong các tác phẩm chủ yếu như: Phê phán lý tính thực hành, Phê phán lý tính thuần túy, Phê phán khả năng suy diễn, Hướng tới một

nền hòa bình vĩnh cửu

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Luận văn sử dụng cách tiếp cận khách quan, biện chứng

+ Luận văn vận dụng phương pháp triết học chủ yếu như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống nhất logic và lịch sử, phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa, phương pháp thống nhất giữa quy nạp và diễn dịch

6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn cho thấy rõ ràng, sâu sắc hơn quan niệm của Kant về đạo đức và pháp quyền, những điều liên quan trực tiếp tới cuộc sống hiện thực, thêm vào đó cũng thấy con người ngày càng đánh mất tự do, đạo đức, bất chấp pháp luật Luận văn phân tích rõ mối quan hệ, sự tác động giữa đạo đức và pháp quyền, chỉ ra những giá trị và hạn chế chủ yếu trong quan niệm về đạo đức và pháp quyền của Kant

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập

và nghiên cứu các môn lịch sử triết học, triết học Mác - Lênin

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 8 tiết

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN

NIỆM ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP QUYỀN CỦA KANT 1.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội

Triết học Kant ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nước Đức hết sức rối ren

và đầy mâu thuẫn Lịch sử châu Âu đã cho thấy, cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX điều kiện kinh tế - xã hội có sự chuyển biến rõ rệt, khẳng định sự thắng lợi của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đưa tầng lớp tư sản lên nắm quyền thống trị, quan hệ phong kiến tồn tại dai dẳng trong lịch sử đã trở nên lỗi thời

Chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập ở một số nước Tây Âu như Anh, Pháp đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử Những thành tựu kinh tế mà đỉnh cao là cách mạng công nghiệp ở Anh càng khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới cùng với cuộc cách mạng tư sản Pháp làm rung chuyển cả châu Âu, đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại Những thành tựu

về kinh tế, chính trị, xã hội và giáo dục tạo điều kiện, tiền đề quan trọng cho

sự phát triển khoa học nói chung, triết học nói riêng Những tiến bộ của khoa học với việc phát minh ra điện tạo bước nhảy vọt từ công trường thủ công tới công nghiệp cơ khí Bên cạnh sự phát triển của khoa học như một nhu cầu lịch sử, triết học thâm nhập vào cuộc sống, tìm tòi và khám phá sức mạnh lý tính con người, trong đó triết học I.Kant là một ví dụ điển hình cho khuynh hướng đó

Trong khi nhiều nước Tây Âu đang có những thay đổi nhảy vọt, thì ở nước Đức cho đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu, sự phân tán về kinh tế và chính trị là lực cản lớn của nước Đức trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa Nước Đức nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, nghèo nàn, suốt từ năm 1618 đến năm

Trang 13

1648 xảy ra liên tiếp các cuộc chiến tranh với nước láng giềng làm tình hình đất nước kiệt quệ, trì trệ Bộ máy nhà nước cồng kềnh, hà khắc, tư tưởng dân chủ, tiến bộ bị chèn ép Nước Đức so với các nước châu Âu khác như Anh lạc hậu hơn 200 năm, với Pháp 50 năm

Về kinh tế, nền kinh tế bị ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, ruộng đất tập trung chủ yếu trong tay các địa chủ, những tàn dư của chế độ nông nô khiến cho năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân hết sức bấp bênh, khốn khổ và cùng cực

Về chính trị, triều đình Phổ đứng đầu là Vua Friedrich Wilhem II rất bảo thủ và ngoan cố tăng cường quyền lực, duy trì chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc, dã man

Về tư tưởng, hệ tư tưởng thần học chiếm vị trí độc tôn trên vũ đài lý luận Thần học là khoa học cơ bản trong các trường đại học tổng hợp, triết học thỏa hiệp với tôn giáo

Trước một thực trạng xã hội rối ren, phức tạp và mâu thuẫn chồng chất, mặc dù kinh tế, chính trị nước Đức thời kỳ này còn lạc hậu, nhưng triết học, nghệ thuật và văn hóa đã đạt được nhiều thành tựu Nước Đức là nơi sinh ra nhiều nhà tư tưởng nhà văn nổi tiếng như Gớt, Sinlơ, Hécđơ…Fichte những tác phẩm của họ toát lên tinh thần bất thuận và thái độ phẫn nộ đối với sự bất công trong xã hội đương thời Giai cấp tư sản Đức ra đời muộn hơn so với nước khác cho nên đã tiếp thu được kinh nghiệm của các dân tộc đi trước, kế thừa có chọn lọc, phát triển trong điều kiện của mình, bất chấp sự khó khăn về vật chất, tri thức và tư tưởng có sự tiến bộ xa hơn Mặc dù bị nước Anh và Pháp vượt xa về kinh tế, song nước Đức với cuộc cách mạng trong lĩnh vực lý trí đạt nhiều thành tựu về văn hóa triết học

Trang 14

Thời kỳ này mâu thuẫn xã hội bị đẩy lên cao, mâu thuẫn giữa lý tưởng

và hiện thực xã hội Nước Đức tuy lạc hậu hơn hẳn về kinh tế và chính trị dẫn đến mâu thuẫn xã hội càng khó giải quyết Một mặt các triết gia Đức thừa nhận tiến trình lịch sử là không thể đảo ngược nhưng mặt khác các triết gia Đức không chấp nhận cái giá phải trả cho tự do và dân chủ

Các nhà tư tưởng Đức lấy tư duy triết học làm vũ khí phê phán và chuyển tải tư tưởng cách mạng, đối với họ triết học là nơi thể hiện khát vọng cải tạo hiện thực của con người Những thành tựu tiêu biểu nhất mà các nhà triết học Đức đạt được trong thời kỳ này là phép biện chứng Thực tiễn đặt ra nhu cầu phải thay đổi tư duy Các nhà triết học Đức dưới tác động của chuyển biến kinh tế, chính trị xã hội tại Anh, Pháp đã tìm cách thay đổi tư duy Trong

xã hội tư bản phép biện chứng thâm nhập trong mọi khoa học, thể hiện tính năng động và phát triển của thời đại, tồn tại trong hệ thống duy tâm, tư tưởng tiến bộ, cách mạng hòa chung với các yếu tố bảo thủ

Tính chất cải lương thỏa hiệp về tư tưởng chính trị của tầng lớp trí thức Đức đương thời đã có ảnh hưởng lớn đến Kant Bối cảnh lịch sử, tiền đề thực tiễn của triết học Kant là cách mạng Pháp và hiện thực nước Đức nửa sau thế

kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Cách mạng Pháp, lý tưởng của các nhà khai sáng được hiện thực hóa, tác động không nhỏ đến định hướng về dân chủ, nhân văn trong triết học Kant, khơi dậy tinh thần hoài nghi và phê phán đối với chủ nghĩa giáo điều và bảo thủ trong khoa học lẫn chính trị Triết học Kant được ví như “triết học Đức của cách mạng Pháp”, vì sao vậy? Như trên cũng đã nói, hiện thực nước Đức được thể hiện ở hệ thống triết học Kant một mặt phản ánh khát vọng chiến thắng lý trí trước những điều phi lý, muốn vượt qua cuộc sống hiện thực khắc nghiệt Mặt khác chịu ảnh hưởng của hiện thực, buộc nhà triết học phải chấp nhận giới hạn của sự tự do, tuân thủ các chuẩn mực phổ biến đã

Trang 15

trở thành “mệnh lệnh tuyệt đối” Mâu thuẫn của triết học Kant cũng chính là mâu thuẫn của thực tại được tái hiện lại trong hệ thống lý luận

Từ những phân tích trên có thể đi đến kết luận rằng triết học thực tiễn của Kant (trong đó có tư tưởng về đạo đức và pháp quyền) là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh kinh tế - xã hội nước Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nó phản ánh một cách đúng đắn thực trạng xã hội Đức với những mâu thuẫn phát sinh trong lòng xã hội đó

1.2 Những tiền đề lý luận hình thành quan niệm đạo đức và pháp quyền của Kant

Cũng như những hệ thống triết học khác, triết học Kant không phải là sản phẩm thuần túy của tư duy cá thể, mà có sự kế thừa chọn lọc, tinh hoa trí tuệ nhân loại của các tư tưởng, quan điểm, các trường phái triết học trước đó,

có phê phán, lựa chọn và phát triển những tư tưởng mới, thể hiện sự phát triển tất yếu của lịch sử Sau thế kỷ XVIII sự phát triển nhanh chóng, vượt bậc của khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm dần khẳng định vai trò của mình, làm lu mờ phương pháp tư duy siêu hình cũ Sự ra đời về thuyết nguyên tử của Danton (1766 - 1844), phát minh về điện của Galvani (1737 - 1798), học thuyết về sự xuất hiện tự nhiên của trái đất từ những hạt tinh vân đầu tiên của Laplace (1749 - 1827) đánh vào thành trì quan niệm “phi vật chất” Những thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học Kant

Bối cảnh lịch sử và tư tưởng của các nhà triết học ảnh hưởng mạnh mẽ tới triết học Kant thể hiện trong những tác phẩm của ông ở hai thời kỳ chính

là tiền phê phán, và thời kỳ phê phán Trong đó phải kể đến triết học Hy Lạp

La Mã cổ đại với những quan điểm của Socrate, Plato, Aristotle hay sau này

là các nhà khai sáng pháp như Rousseau…Cùng với đó triết học Kant ra đời, hình thành và phát triển còn dưới sự ảnh hưởng bởi tư tưởng của các bậc tiền

Trang 16

bối trong lịch sử tại Pháp, Anh, Đức với những khám phá mới trong khoa học, thiên văn học, vật lý

Nhà triết học Socrate (470 - 399 Tr.CN) người thầy của Plato, là một triết gia nổi tiếng đặc biệt quan tâm tới những vấn đề về con người, ông cho rằng triết học không có gì khác là sự nhận thức của con người về chính bản thân mình, chuẩn mực đạo đức chung cho mọi người là nhận thức được điều thiện, điều ác Đề cao vai trò tri thức khái niệm trong hoạt động của con người, nền tảng đức hạnh chính là tri thức Kết quả của sự dốt nát, ngu ngốc

là những hành vi trái với đạo đức Muốn đến được với tri thức thì con người cần hoàn thiện nhân cách, phân biệt rõ ràng giữa cái thiện và cái ác, hạnh phúc chính là đức hạnh

Người nào nhận thức được đức hạnh là gì thì mới hiểu được hạnh phúc

là gì Kết quả của sự không hiểu biết cái thiện chính là cái ác và bất hạnh Socrate bàn nhiều đến khía cạnh đạo đức trong triết học của mình, nền tảng của đạo đức chính là chân lý và tri thức Đóng góp lớn nhất trong triết học của Socrate là thấy được mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận trong hoạt động thực hành đạo đức của con người Điểm nổi bật trong triết học của Socrate là việc đề cao tri thức, đạo đức của con người là vấn đề trung tâm mà sau này trong triết học đạo đức của Kant bàn nhiều tới vấn đề cái thiện, đạo đức, đức hạnh và sự tự do của con người

Bên cạnh quan niệm về đạo đức, Socrate còn đề cập đến tư tưởng về pháp luật, theo Socrate luật pháp không thể tồn tại bên ngoài nhà nước, muốn

có công bằng phải phục tùng pháp luật, luật pháp là điều kiện cần thiết để duy trì sự tồn tại của nhà nước Ông viết: “bất cứ một đạo luật nào, mặc dù còn thiếu sót đến đâu, cũng mang tính cứu sinh hơn tình trạng phạm pháp Nếu như mọi công dân đều tuân thủ theo pháp luật, thì nhà nước mà trong đó

họ đang sống sẽ trở nên hùng mạnh và phồn thịnh hơn nhiều” [Dẫn theo 74,

Trang 17

tr.3] Dân chủ không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật hay pháp luật bất lực, giá trị cao nhất là công lý, nghĩa là người ta tuân thủ pháp luật nhà nước Tư tưởng đề cao pháp luật đó, sau này Kant tiếp thu và phát triển trong hệ thống

tư tưởng pháp quyền của mình

Một trong những học trò xuất sắc của Socrate là Plato triết gia vĩ đại với nhiều ảnh hưởng to lớn đến tiến trình phát triển tư tưởng nhân loại Trong

hệ thống tư tưởng của mình Plato bàn về khía cạnh đạo đức Ông cho rằng, nhân cách đạo đức con người chỉ có thể có trong một nhà nước lý tưởng Quan niệm đạo đức của Plato thiên về tính chất xã hội Trong xã hội, Plato chia làm ba hạng người tương ứng với mỗi hạng người đó là phần linh hồn của con người Hạng người được xếp vị trí cao nhất trong xã hội đó là những nhà triết học, những nhà thông thái, họ am hiểu mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Hoạt động của họ chủ yếu chịu ảnh hưởng của lý tính Họ là những người nắm giữ vai trò quan trọng nhất trong nhà nước lý tưởng, có thể lãnh đạo nhà nước lý tưởng, biết kiềm chế cảm xúc, có ước mơ và lý tưởng sống hướng đến cái cao cả, công lý

Hạng người thứ hai trong xã hội mà Plato đề cập đến là những người lính làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội cho nhà nước lý tưởng, bên trong linh hồn của họ là lòng gan dạ, ý chí quật cường Hạng người thấp nhất trong xã hội đó là những người nông dân, những thợ thủ công, chịu sự chi phối của cảm tính, họ phù hợp với công việc lao động chân tay vì bản tính khi mới ra đời họ đã được gần với các sự vật cảm tính rồi, những người sống chủ yếu bằng cảm tính để sản xuất ra của cải vật chất đảm bảo điều kiện, nhu cầu sống của bộ máy nhà nước, họ là lực lượng lao động chính trong xã hội

Theo Plato trong xã hội không thể thiếu một trong ba hạng người đó, xã hội muốn tồn tại phải duy trì sự tồn tại của cả ba hạng người, mỗi người phải

Trang 18

làm đúng và đủ bổn phận trách nhiệm của mình, từ đó dẫn dắt con người hướng đến hành động những điều thiện Điều ác sinh ra từ sở hữu cá thể, sở hữu tư nhân, vì vậy điều cần làm ở xã hội lý tưởng là phải dẹp bỏ sở hữu tư nhân, đó là nguyên nhân chính sinh ra tính ích kỷ, làm phát sinh tình trạng bất hòa giữa người với người Mỗi cá nhân trong xã hội phải sống vì nhà nước, coi nhà nước là mục đích cao nhất Hệ thống quan niệm đạo đức có tác động đến Kant sau này khi ông bàn về các vấn đề thượng đế, phạm trù tự do, linh hồn con người

Về nhà nước pháp quyền trong tác phẩm “Nền cộng hòa” Plato cho rằng, người cầm quyền phải gạt ý chí, quyền lợi cá nhân của bản thân sang một bên để tuân thủ ý chí, mục đích của pháp luật Plato thấy sự suy tàn nhanh chóng của nhà nước, nơi nào mà pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một người nào đó Còn ở đâu mà pháp luật đứng trên nhà cầm quyền, còn họ chỉ là nô lệ của pháp luật thì có sự cứu thoát của nhà nước Trong tác phẩm “Nền cộng hòa” Plato thấy tính giai cấp của pháp luật và cho rằng pháp luật được làm bởi đảng cầm quyền vì lợi ích riêng của đảng ấy Có thể thấy rằng, Plato cảm nhận được sự nguy hại của chính thể quân chủ chuyên chế, lên tiếng bảo vệ cho một hệ thống pháp luật được xây dựng trên chính thể dân chủ cộng hòa Plato cho rằng phải coi pháp luật là tối thượng, chiếm vai trò hàng đầu, đề cao sự tự nguyện, tự giác của mỗi người trong việc chấp hành luật và chính là tư tưởng đề cao pháp luật này đến triết học Kant cũng đã đề cập đến Kant cũng đề cao vai trò của pháp luật, sự tự giác của mỗi người

Aristotle bộ óc bách khoa toàn thư của triết học Hy Lạp cổ đại, một trong những nhà triết học vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại, là học trò của Plato với phương châm “thầy là đáng quý, nhưng chân lý quý hơn”, Aristotle phê phán mạnh mẽ học thuyết duy tâm của Plato Aristotle quan tâm

Trang 19

nhiều tới nhân bản học, quan niệm về con người, Aristotle quan niệm hai bộ phận cấu thành con người là linh hồn và thể xác, trong linh hồn con người tồn tại ba dạng, linh hồn thực vật, linh hồn động vật và linh hồn lý tính khi con người chết đi thì linh hồn lý tính vẫn luôn tồn tại Khi bàn tới lĩnh vực đạo đức học, Aristotle cũng kế thừa một số vấn đề đạo đức của Plato về cái thiện Aristotle cho rằng mục đích cuộc sống chính là hướng thiện, nền tảng đạo đức

là thuyết mục đích luận, cái thiện chính là hạnh phúc Bên cạnh cái thiện còn tồn tại vấn đề về tự do, tự do ở đây được Aristotle hiểu là sự lựa chọn hành vi đạo đức để đạt được cái thiện, những hành vi mang tính tự do lựa chọn có ý thức và phải phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, phạm trù tiếp theo mà Aristotle bàn đến chính là nhân đức, con người muốn có nhân đức thì phải có những thói quen tốt

Aristotle hiểu nhân đức như thế nào? Ông cho rằng có hai loại nhân đức đó là nhân đức đạo đức và nhân đức tri thức Muốn có nhân đức tri thức con người cần phải học tập và được giáo dục, nhân đức đạo đức do tập quán thói quen mà thành, Aristotle cho rằng hành vi của con người như trộm cắp, giết người cần phải loại bỏ để có nhân đức Tư tưởng về cái thiện và hành vi đạo đức của Aristotle sau này đã được Kant kế thừa và phát triển

Không chỉ bàn về các vấn đề đạo đức Aristotle còn bàn về vấn đề pháp quyền, nhà nước Sự sụp đổ của nền dân chủ Athens vào thế kỷ thứ IV trước công nguyên là cơ sở thực tiễn cho ông đi đến những quan điểm về nhà nước với tư tưởng chia hoạt động nhà nước thành ba thành tố hay ba phương diện: lập pháp, hành chính và phân xử Aristotle cho rằng nhà nước là một tổ chức phức tạp, tập hợp những cá thể khác nhau về nhiệm vụ, tài sản, phẩm chất đạo đức, trình độ hiểu biết, luật pháp không phải là cái có sẵn mà xây dựng nên từ những giá trị truyền thống, phong tục tập quán lâu đời, có tính chất bền vững Trong nhà nước luật pháp phải giữ vị trí tối thượng: “hãy để luật pháp, chứ

Trang 20

không phải con người có quyền tối thượng, vì con người luôn luôn để tư lợi

và tình cảm xen vào” [1,tr.24]

Bước sang triết học thời kỳ cận đại, bắt đầu từ thế kỷ XVII với những đại biểu tiêu biểu như Phranxis Becon nhà triết học vĩ đại thời cận đại của chủ nghĩa duy vật Anh Becon bàn về quan niệm đạo đức chủ yếu đề cập trong vấn đề con người Con người theo Becon là kết quả của tạo hóa, khoa học giải thích con người đồng thời cũng là khoa học giải thích các vấn đề về thế giới tự nhiên Kế thừa quan niệm về con người của Aristotle, Becon cho rằng, trong con người có ba dạng linh hồn thực vật, linh hồn động vật thuộc về linh hồn cảm tính, còn linh hồn lý tính có nguồn gốc từ thượng đế Quan niệm về thượng đế của Becon về sau đã được Kant đề cập đến trong triết học của mình

Thomas Hobbes (1588 - 1679) nhà triết học nổi tiếng, đại biểu của chủ nghĩa duy vật anh thế kỷ XVII Theo ông bản tính đạo đức của con người khi sinh ra đều như nhau, nhưng trong mỗi con người đều có khát vọng, mong muốn riêng tư, đều có tính ích kỷ, độc ác chính là nguyên nhân gây ra các chiến tranh xung đột, yêu bản thân mình hơn tất cả Công lý, khoa học và pháp quyền luôn luôn bị bác bỏ bởi ngòi bút và thanh kiếm Ông cho rằng, khả năng bẩm sinh của con người càng bình đẳng, thì con người càng bất hạnh, cuộc đấu tranh sinh tồn của con người càng khó khăn, điều đó thúc đẩy con người đi đến khế ước xã hội, nguồn gốc sinh ra nhà nước, pháp quyền Nhà nước có quyền xử phạt những ai vi phạm lợi ích chung của mọi người, nhưng sự xuất hiện của nhà nước lại có mặt hạn chế, làm giảm khát vọng tự nhiên nhất định của con người, do vậy tự do con người bị thu hẹp lại Các đạo luật của nhà nước đều hợp lý và tất yếu, cá nhân trong xã hội phải tuân theo luật mà nhà nước ban hành Quan niệm đề cao pháp luật của nhà nước, hay phạm trù tự do sau này được Kant nhắc tới trong quan niệm về tự do của mình

Trang 21

Tiếp tục phát triển các quan niệm của Hobbes, John Locke (1632 - 1704) đại biểu duy cảm điển hình của chủ nghĩa duy vật Anh Với tác phẩm

“Khảo luận về lý trí con người” Locke đã xây dựng các vấn đề nhận thức của mình Bằng cái nhìn mới về hiện thực khách quan, Locke cho rằng toàn bộ tri thức con người có được nhờ nhận thức gọi là “ý niệm” Sau này Kant tiếp thu

và ảnh hưởng bởi ý niệm này của Locke trong phần đạo đức học của mình Bên cạnh đó về vấn đề nhà nước, pháp quyền, Locke cho rằng xã hội dân sự thuộc trạng thái văn minh, chính quyền nhà nước được thiết lập, căn cứ vào tính chất, cách thức lập pháp để xác định chính quyền nhà nước

Locke cho rằng, nhà nước tồn tại dưới ba dạng: Thứ nhất, là nền dân chủ hoàn hảo đó là quyền lực toàn thể của cộng đồng, tất cả đều có thể thực hiện quyền lực này trong việc làm ra luật cho cộng đồng và thực thi các luật

đó bằng các quan chức do chính họ bổ nhiệm Thứ hai, đó là chính thể đầu sỏ, khi quyền làm luật đặt vào trong tay số người chọn lọc và những người thừa

kế hay kế vị này Thứ ba, là chính thể quân chủ, nếu quyền lập pháp đặt vào tay của một người Điểm nổi bật trong học thuyết của Locke là khởi thảo học thuyết về sự phân chia quyền lực, tiếp thu có chọn lọc tư tưởng về vai trò quyền lực nhà nước của Hobbes, Locke cho rằng, khi một cộng đồng quốc gia mới thành lập, hành động đầu tiên cần làm là thiết lập cơ quan quyền lực lập pháp, đó là cơ quan quyền lực tối cao của cộng đồng quốc gia, quyền lực thiêng liêng Khi luật pháp được cơ quan lập pháp xác lập, ban hành rộng rãi thì nhiệm vụ cần phải làm tiếp theo là giám sát, và thực thi

Muốn Luật pháp được xã hội giám sát và thực thi có hiệu quả, Locke cho rằng cần thành lập một cơ quan nhà nước khác, cơ quan đó gọi là hành pháp Quyền lực của cơ quan hành pháp mang tính cưỡng chế đơn phương, mọi công dân phải tuân thủ pháp luật, nếu không sẽ bị trừng phạt Locke là người đã đặt nền móng cho chế độ nhà nước dân chủ tự do đối lập với chế độ

Trang 22

quân phiệt, chuyên chế và bạo chính Locke cho rằng: “Tự do không phải là, như đã nói với chúng ta, quyền tự do để mỗi người làm điều mà mình muốn (vì ai có thể tự do cho được khi mà ý thích của những người khác có thể áp chế anh ta?), mà là quyền tự do để sắp đặt và bố trí như anh ta muốn, đối với con người, hành động, tài sản, cũng như toàn bộ sở hữu của anh ta, trong khuôn khổ cho phép của hệ thống luật mà anh ta sống dưới sự chi phối của

nó, nơi anh không phải chịu sự khuất phục trước ý chí độc đoán của người khác, mà là tự do tuân theo ý chí của chính mình” [28,tr.93-94]

Locke đề cao các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm của các cá nhân như quyền sống, tự do phát triển nhân cách, tự do sở hữu

Nhà triết học ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành triết học Kant

là Hume, người đã đánh thức Kant khỏi “cơn ngái ngủ giáo điều” và đem đến cho Kant một cái nhìn mới có tính phê phán với khả năng của kinh nghiệm Kant đã kế thừa thuyết hoài nghi và thuyết bất khả tri của Hume trên tinh thần phê phán

Hume phê phán các quan niệm coi linh hồn con người như một thực thể, không có vật chất, không có tinh thần Dưới hình thức duy tâm, thần bí, quan niệm Hume đặc biệt đề cao vai trò cá nhân con người phù hợp xu hướng dân chủ, tự do cá nhân, đòi giải phóng nhân cách con người của giai cấp tư sản cách mạng Hume cho rằng, hành động có đạo đức bắt đầu với hành vi của tác nhân hành động cho đến người nhận tác nhân đó Ông cho rằng, con người có hai loại tính cách, thứ nhất là bản năng, thứ hai là nhân tạo Nếu một tác nhân nào đó làm ảnh hưởng đến người nhận sẽ có người thứ ba quan sát các hành vi đó để rồi đánh giá hiện tượng đó là đức hạnh hay là hành vi có tội lỗi, trái với đạo đức Hành vi đạo đức chỉ có ở con người gồm có bốn phạm trù,

đó là những phẩm chất tốt mang lại điều thiện như hiền lành, dũng cảm, thứ hai

đó là: những phẩm chất tư lợi gồm cần cù, nhẫn nại, phẩm chất thứ ba con

Trang 23

người cần phải có chính là sự thông minh, nhanh nhẹn tháo vát, làm cho bản thân và người khác cảm thấy dễ chịu, phẩm chất thứ tư là sự hài hước, tự trọng

Kant kế thừa các quan niệm của Hume về những khía cạnh đạo đức khác nhau, song Kant tin vào các chuẩn mực đạo đức Ảnh hưởng của Hume tại Đức có cơ sở hiện thực là sự phản ánh trong lĩnh vực triết học ở bình diện nhân sinh, Kant nêu ra và phân tích nhiều vấn đề mà Hume chưa hề đề cập đến, những vấn đề vượt xa khuôn khổ của nước Đức, trở thành vấn đề nhân loại Nhiều ý tưởng của Kant cho đến nay vẫn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như ý tưởng về nền hòa bình vĩnh cửu một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong thời đại ngày nay

Rousseau nhà tư tưởng người Pháp, có sức hút lớn đối với Kant thời trẻ, trong vấn đề đạo đức học, ông cho rằng đức hạnh là khoa học cao siêu, triết học đích thực là lắng nghe tiếng nói của lương tâm Khẳng định bản chất con người có tự do, nhưng trong quá trình phát triển tự do của con người luôn

bị kìm hãm Kant tiếp thu ảnh hưởng của Rousseau từ phương diện của chủ nghĩa nhân đạo, hướng con người tới điều thiện, xóa bỏ thói xấu, sự bất bình đẳng , khẳng định giá trị cao đẹp Tuy nhiên Rousseau theo quan điểm vô thần, còn Kant thì ngược lại ông thỏa hiệp, dung hòa giữa hữu thần và vô thần, công nhận con người như một lý tưởng cần thiết cho đạo đức Rousseau dường như tách con người độc lập với tự nhiên, còn Kant thì đặt con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh Rousseau đi tìm nguồn gốc bất bình đẳng trong xã hội ở lĩnh vực pháp luật

Tiếp thu tư tưởng của Montesquieu, Rousseau bổ sung học thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản với những quan điểm mới và sâu sắc hơn Rousseau cho rằng, để cho xã hội tồn tại và phát triển được, mọi công dân phải thực hiện tuân theo bản cam kết hay còn gọi là khế ước ủy quyền cho các đại biểu trong bộ máy nhà nước Khế ước xã hội như là sự thỏa thuận thì nhân

Trang 24

dân có quyền thay thế bằng nhà nước mới Mọi công dân trong xã hội muốn thực hiện quyền công dân thì phải xóa bỏ quyền lực tối cao của vua, quyền lực đó được chuyển về tay nhân dân Mỗi công dân chỉ giao một phần quyền của mình cho xã hội như là một cơ thể chung, ý chí chung Khi con người tham gia vào bộ máy nhà nước, khế ước xã hội thì mỗi cá nhân cần phải từ bỏ trạng thái tự nhiên tức trạng thái chưa có pháp luật để chuyển sang trạng thái dân sự, trạng thái có nhà nước và pháp luật Nhiệm vụ cơ bản của nhà nước là thực hiện ý chí quyền lực chung cho mỗi công dân Mỗi công dân trong xã hội phải có trách nhiệm với nhà nước

Quyền lực nhà nước luôn phải thuộc về nhân dân không một cá nhân nào có quyền quyết định tất cả Tư tưởng này của Rousseau ảnh hướng to lớn đến xã hội châu âu thể hiện rõ trong hiến pháp của nước Pháp năm 1791 Và Kant cũng đã chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ đó khi ông viết “Trong tôi tràn đầy khát vọng nhận thức Đã có lúc tôi nghĩ rằng chính điều này mới đem đến niềm kiêu hãnh cho nhân loại, và tôi coi thường lớp tiện dân ngu dốt, Rousseau đã sửa chữa tôi Sự kiêu căng mê muội một thời biến mất; tôi bắt đầu học cách tôn trọng con người”.[Dẫn theo 9, tr.963]

Không chỉ Hume mà Rousseau cũng đã đánh thức cơn mê ngủ nơi Kant, người có ảnh hưởng đến nhận thức, sửa chữa Kant như một nhà đạo đức Kế thừa những tư tưởng đó Kant viết tác phẩm về thẩm mỹ với tiêu đề

“Tìm hiểu cảm xúc về cái đẹp và cái cao thượng” (1764) Trong tác phẩm này, Kant thể hiện tình cảm con người, sức mạnh hoạt động tạo ra giá trị, Kant khai thác ở Rousseau quan niệm về sự băng hoại đạo đức, sự đánh mất bản tính tự nhiên của con người kế thừa một phần trong học thuyết về đạo đức

và quan niệm về pháp quyền

Nghiên cứu những tiền đề hình thành lý luận triết học Kant cho chúng

ta thấy hệ thống triết học Kant là một mắt xích trong lịch sử tư tưởng triết học

Trang 25

nhân loại, là sự tổng hợp khái quát những giá trị tư tưởng của thời đại trước ông, để qua đó hình thành và phát triển hệ thống triết học mang tầm cỡ lớn lao, thế hệ sau kế thừa tư tưởng thế hệ trước, sự tổng hợp lý tưởng cảm tính

và lý tính, duy vật và duy tâm trong một hệ thống hoàn chỉnh

1.3 Giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Kant

Immanuel Kant sinh ngày 22 - 4 - 1724, trưởng thành trong một gia đình trung lưu nghèo gốc Scốtlen tại Kenitbec thuộc Đông Đức Cha mẹ ông thuộc giáo phái sùng đạo, chính điều này đã ảnh hưởng tới tư tưởng của Kant Thủa nhỏ ông theo học tại trường địa phương Collegium Fredericianum Mùa thu năm 1740 ông vào học Khoa Triết học trường Đại học Kenitbec Ở đại học ông được trang bị các kiến thức không chỉ triết học mà còn cả những môn khoa học tự nhiên Dưới sự giảng dạy của nhà triết học Martin Knutzen hướng tư tưởng Kant theo truyền thống duy lý của Châu Âu, người thầy này

đã kích thích sự quan tâm của Kant hướng tới vật lý học Newton, chính sự quan tâm này góp một phần không nhỏ trong sự phát triển triết học độc đáo và phê bình của Kant

Tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, Kant tới làm gia sư cho một gia đình giàu có mãi cho tới năm 1755 ông mới quay trở lại đại học và được nhận làm giảng viên Thời kỳ đầu các bài giảng của Kant tập trung vào thế giới bên ngoài, liên quan chủ yếu tới các vấn đề vật lý học Năm 1770, Kant được đề nghị làm giáo sư triết học điều mà ông từng ao ước bấy lâu Trong bài giảng

khai mạc, Nghị luận về mô thể và các nguyên lý về các thế giới khả giác và khả tri, Kant tuyên bố ý định của ông là xây dựng lại triết học Những năm

sau đó ông cẩn thận và âm thầm suy tư về mọi ý niệm của mình, mãi đến tuổi trung niên ông mới triển khai các quan điểm, các tác phẩm quan trọng của Kant được viết khi ông ở độ tuổi từ 57 cho đến 67, điểm đặc biệt ở Kant là

Trang 26

phong cách viết hàn lâm rất khó đọc nhưng các bài giảng của ông lại rất được sinh viên ưa thích

Dù không lập gia đình, không bao giờ ông ra khỏi khu vực sinh sống và

có một cuộc đời lập dị, nhưng ông lại có rất nhiều bạn bè quan tâm tới vấn đề tri thức và chính trị của thời đại Ông thành công trong lĩnh vực giảng dạy và

là một người thầy vui tính Thiên hạ mô tả ông như chiếc đồng hồ, giờ giấc sinh hoạt của ông vô cùng chính xác, để giữ gìn sức khỏe và tận dụng tối đa thời gian cho giảng dạy ông đã thực hiện nghiêm ngặt thời khóa biểu của mình, chính nhờ có nếp sống khoa học và kỷ luật nên Kant đã cho ra đời hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng Năm 1797 vị giáo sư già yếu cáo từ giảng đường đại học về nghỉ hưu, sống những năm tháng cuối đời một cách ung dung, tự tại và tạ thế vào ngày 12-12-1804 hưởng thọ 80 tuổi

Trong sự nghiệp khoa học, Kant là người gặt hái được nhiều thành công, năm 1786 Kant được bầu làm Viện sĩ hàn lâm khoa học Hoàng gia Phổ tại Berlin, năm 1794, ông trở thành Viện sĩ danh dự Viện hàn lâm khoa học Saint Peterburg đến năm 1798 cả Viện hàn lâm khoa học Italy và Viện hàn lâm khoa học Paris đều bầu ông làm viện sĩ Sự nghiệp vẻ vang là vậy nhưng trong cuộc sống hàng ngày của Kant không có gì nổi bật, người đời phong cho ông tên hiệu “cách mạng” là vì triết lý của ông Tuy nhiên chữ cách mạng

ở đây không liên quan đến vấn đề chính trị mà chỉ là những đột phá cấp tiến vào hệ thống tri thức cổ truyền Nhiều ý tưởng cải cách mạnh mẽ, làm đảo lộn thế giới tư tưởng không những ở Đức mà trên toàn thế giới Sự nghiệp triết học của Kant diễn ra qua hai thời kỳ:

Thời kỳ tiền phê phán (1746 - 1770)

Kant chủ yếu nghiên cứu các vấn đề toán học và khoa học tự nhiên với nhiều phát minh nổi tiếng về các lĩnh vực này Ông xuất bản một tác phẩm quan trọng trong thời kỳ đầu này là “Lịch sử tự nhiên phổ quát và lý thuyết

Trang 27

các tầng trời” (1755), giải thích cấu trúc vũ trụ theo vật lý học của Newton Thời kỳ này tư tưởng của Kant nhấn mạnh vào thế giới nội tâm và bản chất đạo đức, đặc biệt Kant tập trung vào triết học tự nhiên, trong thời kỳ đầu Kant chịu ảnh hưởng lớn của quan niệm duy tâm và thần học của Leibniz (1646 - 1716), về sau lập trường của ông chuyển dần sang quan niệm duy vật máy móc của Newton và Descartes, đi đến xây dựng một thế giới quan độc lập

Bên cạnh những quan niệm duy tâm, về cơ bản Kant thể hiện như một nhà duy vật khoa học tự nhiên với luận điểm: “Hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó; nghĩa là hãy đưa cho tôi vật chất tôi sẽ chỉ cho mọi người thấy thế giới ra đời từ vật chất như thế nào” [Dẫn theo 63, tr.379] Thời kỳ này với nhiều thành công trong khoa học, Kant có niềm tin vào khả năng nhận thức của con người Ông cho ra đời một khối lượng lớn các bài viết trong đó các tư tưởng triết học và khoa học tự nhiên đan xen lẫn nhau Tác phẩm cơ bản của ông trong thời kỳ này là: “Những suy nghĩ về giá trị chân chính của lực sống” (1746), hay “Vấn đề trái đất có già đi không, theo quy luật vật lý học” (1754), “Lịch sử tự nhiên phổ quát và lý thuyết các tầng trời” (1755)

“Sự ứng dụng siêu hình học có liên quan tới hình học trong triết học tự nhiên” (1756) “Triết lý hảo trong bốn hình thái tam đoạn luận (1762)”, “Cơ sở khả dĩ cho việc chứng minh sự tồn tại của thượng đế” (1763), “Thử đưa đại lượng phủ định vào triết học” (1763), “Quan sát bằng cảm tính cái đẹp và cái cao cả” (1764), “Cơ sở đầu tiên của sự khác nhau trong các mặt không gian” (1768),

“Về hình thức các nguyên tắc của thế giới cảm tính và siêu cảm tính” (1770)

Trong thời kỳ tiền phê phán, các quan niệm duy tâm thần bí của triết học Leibniz, Wolf và quan niệm duy vật siêu hình của Descartes Newton có ảnh hưởng tới Kant rất lớn, Kant đã mượn phương pháp kinh nghiệm của Newton làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu Trong lĩnh vực vật lý học, khi phát triển các tư tưởng về sự vận động, về lực hấp dẫn Kant đã lý giải sâu sắc

Trang 28

hơn lý thuyết về sự vận động và đứng im Tới lĩnh vực sinh học, Kant đề ra tư tưởng phân loại động vật Trong nhân loại học, Kant đề xuất tư tưởng về lịch

sử tự nhiên của loài người, lý giải sự hình thành và phát triển của loài người Bên cạnh đó Kant đã ứng dụng các nguyên tắc của khoa học tự nhiên hiện đại vào giải thích kết cấu của hệ thống mặt trời và sự nảy sinh hệ thống đó Chính ông là người đầu tiên tìm tòi khám phá ảnh hưởng của lực hấp dẫn giữa trái

đất và mặt trăng tạo nên hiện tượng thủy triều Trong tác phẩm “Sự ma sát của thủy triều” ông giải thích rằng sở dĩ có sự lên xuống của thủy triều là do

sức hút của mặt trăng lên trái đất, sự tác động qua lại giữa mặt trăng và trái đất làm ảnh hưởng đến độ xoay vòng của chúng Sự quay chậm lại của trái đất khi thủy triều lên hoặc xuống là do ma sát của thủy triều

Năm 1755 Kant cho ra đời tác phẩm “Lịch sử tự nhiên đại cương và lý thuyết về thiên hà”, trong tác phẩm này, Kant có cái nhìn tổng quát về sự hình thành của vũ trụ Theo ông vũ trụ nguyên thủy tràn đầy các hạt vật chất nằm trong trạng thái hỗn mang, nhờ lực vạn vật hấp dẫn, thông qua lực hút và lực đẩy, các hạt vật chất dần dần quy tụ lại thành những khối vân tinh, do ma sát khi va chạm nên chúng nóng lên Hành tinh lớn nhất trong thái dương hệ là mặt trời, những hành tinh nào gần mặt trời thì càng nặng còn hành tinh ở xa mặt trời thì nhẹ dần, ông suy đoán rằng, còn có những hành tinh khác giống với trái đất của chúng ta Theo Kant vũ trụ thường xuyên diễn ra một cách tự nhiên quá trình sinh ra và biến đi của những hệ thống vũ trụ Có thể thấy rằng, tuy vũ trụ luận của Kant nhìn từ góc độ khoa học hiện đại có phần trở nên lạc hậu Nhưng nó cũng có ý nghĩa cách mạng và hoàn chỉnh hơn so với các học thuyết vũ trụ trước kia, đem lại một cái nhìn mới Khẳng định một điều rằng, không chỉ trái đất mà còn cả vũ trụ này chính là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, quan điểm này đã công phá vào thành trì quan niệm siêu hình thời đó, khi cho rằng thế giới không có sinh, không có tử tồn tại

Trang 29

vĩnh viễn vô cùng tận Ông đã nêu lên nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và cho rằng vũ trụ là một hệ thống vô cùng lớn, bao hàm những hệ thống nhỏ Với học thuyết về lịch sử hình thành vũ trụ, Kant đặt nền móng cho quan niệm phát triển biện chứng về tự nhiên

Thời kỳ phê phán từ năm 1770 cho đến cuối đời

Ở thời kỳ này, Kant tập trung nghiên cứu những vấn đề xã hội và con người Ông cho rằng, con người không nhận thức được thế giới, điểm đáng chú ý thời kỳ này là tư tưởng của Kant dần hướng đến các vấn đề tín ngưỡng, hoài nghi khả năng nhận thức thế giới của con người Do ảnh hưởng của nhiều biến động xã hội đương thời, bế tắc trong việc tìm kiếm quan điểm mới

về triết học, chịu tác động của tư tưởng triết học mới như chủ nghĩa tâm lý của Locke, thuyết bất khả tri của Hume, chủ nghĩa duy lý của Descartes và Leibniz, cho nên lập trường tư tưởng của Kant đã có sự thay đổi rõ nét, đi từ triết học miêu tả sang triết học phê phán Theo ông, triết học cần khẳng định

vị thế con người và vì vậy cần trả lời cho ba câu hỏi lớn đó là: Tôi có thể biết được cái gì? Tôi cần phải làm gì? và Tôi có thể hy vọng vào cái gì? ba vấn đề trăn trở của thời đại, phản ánh ba khía cạnh trong mối quan hệ giữa con người với thế giới

Vấn đề thứ nhất (Tôi có thể biết được cái gì?) đây là vấn đề mang tính nhận thức luận đơn thuần được nghiên cứu trong “Phê phán lý tính thuần túy”

Vấn đề thứ hai (Tôi cần phải làm gì?) đây là vấn đề thuần túy thực tiễn mục đích của tác phẩm “Phê phán lý tính thực tiễn”

Vấn đề thứ ba (Tôi có thể hy vọng cái gì?) đây là vấn đề bao hàm cả lý luận và thực tiễn được nghiên cứu trong “Phê phán năng lực phán đoán”

Bên cạnh đó còn có các tác phẩm quan trọng khác của Kant như “Các nền tảng siêu hình học của khoa học tự nhiên” (1786), “ Tôn giáo trong giới

Trang 30

hạn của lý trí đơn thuần” (1793), “Hướng tới hòa bình vĩnh cửu” (1795), và

“Các cơ sở của siêu hình học đạo đức” (1797)

Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Socrates (469 - 399 Tr.CN), Kant cho rằng bản chất của triết học là sự tự ý thức của con người về chính mình Kant khẳng định con người là trung tâm mọi vấn đề, vì vậy cho nên triết học Kant được các nhà tư tưởng ví như cuộc cách mạng Copecnich trong lịch sử triết học Trong đó triết học về đạo đức và pháp quyền có một vị trí và ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học của ông

Trang 31

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC, PHÁP QUYỀN

TRONG TRIẾT HỌC KANT 2.1 Quan niệm của Kant về đạo đức

Kant cho rằng tri thức thực sự có giá trị khi nó giúp con người trở thành con người trên mảnh đất vững chãi của hoạt động vươn đến sự hoàn thiện đạo đức cao nhất Con người cần có một nhân cách tốt, ý thức được việc bản thân làm Quan niệm về triết học đạo đức nằm trong phạm trù thực tiễn theo nghĩa rộng Khái niệm thực tiễn hiện diện ở mọi phương diện, đời sống xã hội, hoạt động sinh sống của con người, trong đó trọng tâm nhất vẫn là lĩnh vực đạo đức, mà hạt nhân quan trọng là hoạt động tự do của con người Triết học thực tiễn ra đời nhằm giải đáp những câu hỏi liên quan đến cuộc sống của con người mà Kant đề ra như “Tôi cần phải làm gì?”, “Tôi có thể hy vọng gì?” hay “Con người là gì?” và câu hỏi “Tôi cần phải làm gì”? câu trả lời chính là nằm ở phần đạo đức học

Đạo đức học trong triết học thực tiễn của Kant hiểu theo nghĩa rộng là nội dung xuyên suốt, cốt lõi toàn bộ tư tưởng của ông Nguyên nhân sâu xa của đạo đức học chính là những quan điểm đạo đức - chính trị của các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, tiêu biểu là quan điểm của nhà triết học nổi tiếng Rousseau Mác nhận xét rằng, triết học Kant là “lý luận Đức của cách mạng Pháp” Khi bàn đến vấn đề đạo đức - chính trị, Rousseau cho rằng xã hội chỉ là mới được thiết lập trên nền tảng công bằng và lý tính mà thôi Và trong đó thì nhân dân được sở hữu sử dụng quyền lập pháp, chủ trương đề cao giáo dục Xã hội muốn phát triển thì ưu tiên đầu tư cho giáo dục, chính giáo dục là nguyên nhân, động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội

Tư tưởng này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của Kant Năm

1764 Kant thừa nhận rằng không ai khác ngoài Rousseau với tinh thần nhân văn cao đẹp, tình cảm yêu thương đối với nhân dân, đối với mọi người đã

Trang 32

khiến cho Kant sớm tỉnh ngộ, và mong muốn sống có ích cho đời, đối lập hoàn toàn với quan điểm trước kia khi ông coi nhân dân chỉ là những kẻ ngu nguội, thì nay Kant đã nhận thức được vấn đề và những sai lầm của mình trong cách nhìn nhận và đánh giá

Tiếp tục kế thừa tư tưởng khai sáng của Rousseau và các nhà tư tưởng trước, Kant đề cao trách nhiệm công dân, ông cho rằng mỗi công dân cần có trách nhiệm với bản thân mình và với mọi người cần phải bỏ thói hư tật xấu vốn tồn tại bấy lâu nay Điều cần làm là tiếp tục đứng lên đấu tranh thủ tiêu

áp bức, bóc lột, khẳng định giá trị cao đẹp của con người trong cuộc sống Nếu Rousseau theo quan điểm thần luận tự nhiên đến gần hơn với tư tưởng thần luận, thì Kant tìm kiếm sự dung hòa giữa thần luận và vô thần, phủ định

sự tồn tại của thượng đế như một thực thể tối cao Nhưng mặt khác lại cho rằng, thượng đế chỉ như một lý tưởng siêu việt, cần thiết cho hoạt động của con người trong sinh hoạt đạo đức

Mặt khác nếu Rousseau có xu hướng xem con người trong sự tồn tại độc lập với tự nhiên và xã hội, có sự tách biệt giữa con người với thế giới bên ngoài thì Kant đặt con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, con người có quan hệ mật thiết với thế giới bên ngoài, chịu sự tác động của ngoại cảnh và điều kiện xã hội, sự biến đổi của tự nhiên Con người gắn bó mật thiết với tự nhiên dựa vào tự nhiên để tồn tại và phát triển Kant cho rằng đạo đức hình thành, phát triển bên ngoài triết học, song tư duy triết học lại cần phải hướng đến phục vụ cho đạo đức Trong đó thì lý tính giữ khả năng định hướng cho môi trường sinh hoạt đạo đức, tôi luyện những con người đạo đức

Kant cho rằng, tính hiện thực của đạo đức biểu hiện cụ thể qua lý tính thực tiễn, thừa nhận mọi hoạt động tự do tự chủ của con người, lý tính thực tiễn là cái quyết định đối với lý tính lý luận, lý tính lý luận chịu sự chi phối của lý tính thực tiễn Tư tưởng này đối lập với quan niệm của các nhà triết

Trang 33

học trước Kant khi cho rằng lý tính lý luận chiếm ưu thế trước lý tính thực tiễn, tức là nhờ có tri thức và thông qua tri thức mà ta xác định có hay không

sự tự do, rồi sau đó mới tính đến hiện thực đạo đức Trong triết học Kant sự luận chứng cho khoa học và luận chứng cho đạo đức liên hệ hữu cơ với nhau Kant nhấn mạnh nhiều hơn đến triết học thực tiễn, đề cao tính thực tiễn đó chính là nhấn mạnh tính thực dụng của triết học

Đạo đức học nơi Kant tạo dựng bản chất chính là xây dựng nền tư tưởng nhân văn sâu sắc về con người, phê phán chủ nghĩa tự nhiên đạo đức, phê phán quan niệm cho rằng đạo đức được nhìn nhận từ góc độ vũ trụ luận, sinh học và tâm lý học Khi bàn đến vấn đề triết học và đạo đức, lòng tin của Kant vào con người thể hiện ở quan niệm cho rằng, con người với tính cách là chủ thể đạo đức có toàn quyền tạo ra luật cho bản thân mình, nguyên tắc tối cao mà đạo đức học hướng tới chính là tôn trọng phẩm giá con người

Quy luật đạo đức theo Kant chính là thượng đế ban cho con người, nhưng mặt khác ông lại khẳng định rằng đạo đức không phụ thuộc vào tôn giáo, đạo đức không cần tới sự can thiệp hay cứu cánh từ tôn giáo Đạo đức giúp con người làm chủ bản thân, còn lý trí thực tiễn, niềm tin tôn giáo phải phục vụ cho đạo đức Nhờ sinh hoạt đạo đức mà con người đặt niềm tin vào cái tuyệt đối, giữa đạo đức và tôn giáo không đối lập nhau mà có mối liên hệ mật thiết qua lại với nhau Nhưng tôn giáo chỉ là điểm tựa cho đạo đức phát triển chứ không thể chi phối đạo đức

2.1.1 “Tự do” phạm trù trung tâm trong đạo đức học của Kant

Tự do là một ý niệm cần phải được giả định do kinh nghiệm của chúng

ta về sự bó buộc đạo đức, đó là vì “Tôi phải nên, tôi có thể”, rất khó để chứng minh ý chí của mỗi con người là tự do Kant cho rằng chúng ta buộc phải giả định bằng lý trí rằng có sự tự do, vì tự do và đạo đức hợp nhất không thể phân ly với nhau đến độ người ta định nghĩa tự do thực hành là sự độc lập của

Trang 34

ý chí đối với mọi việc Con người chỉ có trách nhiệm, bổn phận khi họ có tự

do Tự do phải được giả định, vì vậy nó là định đề đầu tiên của đạo đức học là phạm trù trung tâm trong đạo đức học của Kant

Trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, Kant đã đưa ra một định nghĩa về tự do

“Tự do theo nghĩa thực hành là sự độc lập của ý chí trước sự cưỡng chế

do các xung động của cảm năng gây ra Tự do thực hành giả định tiên quyết rằng, dù một điều gì đó không xảy ra, nhưng nó phải được xảy ra, và vì thế, nguyên nhân của nó ở trong thế giới hiện tượng không phải có tính quy định nghiêm ngặt đến nỗi trong ý chí chúng ta không có một tính nhân quả nào tạo

ra được một cái gì độc lập với những nguyên nhân tự nhiên và bản thân đi ngược lại sức mạnh và ảnh hưởng của tự nhiên, tức bị quy định bên trong trật

tự thời gian theo những quy luật thường nghiệm, do đó không thể hoàn toàn

tự mình khởi đầu một chuỗi các sự kiện…” [18,Tr.XXIV]

Tự do ở đây được Kant xem như là sự tự do có trước kinh nghiệm, theo

tự do lý tưởng Tự do này hoàn toàn độc lập với quy luật của tự nhiên Vì vậy con người tự ban bố và hành động theo quy luật đạo đức mà không bị ràng buộc với bất kỳ một xu hướng cảm năng hay điều kiện nào

“Tự do theo nghĩa thực hành là sự độc lập của ý chí trước sự cưỡng chế do các xung đột của cảm năng gây ra [ ] Tự do thực hành giả định tiên quyết rằng, dù một điều gì đó không xảy ra, nhưng nó phải được xảy ra, và vì thế nguyên nhân của nó ở trong thế giới hiện tượng không phải có tính quy định nghiêm ngặt đến nỗi trong ý chí chúng ta không có tính nhân quả tạo ra được một cái gì độc lập với những nguyên nhân tự nhiên và bản thân đi ngược lại sức mạnh và sự ảnh hưởng của tự nhiên” [18, tr.XXIV] Khởi điểm của nghiên cứu đạo đức học là ý chí tự do, ý chí đã dẫn dắt con người tới tự do Nhờ những quy luật đạo đức mà con người biết mình được tự do Và cũng

Trang 35

chính nhờ những quy luật đạo đức mà tự do của con người đạt tới thực tại khách quan Khái niệm về tự do được chứng minh bằng một quy luật tất nhiên của lý tính thuần túy thực hành, nó tạo nên viên đá đỉnh vòm cho toàn

bộ tòa nhà triết học của Kant Mọi khái niệm khác đều phụ thuộc vào khái niệm tự do Tự do tồn tại hiện thực, tự do theo Kant hiểu là ý niệm duy nhất trong mọi ý niệm của lý tính tư biện Kant viết: “Tự do là một ý niệm thuần túy siêu nghiệm” [20, tr.861] Tự do chính là ý niệm duy nhất trong mọi ý niệm là điều kiện của luân lý, các ý niệm về thượng đế và sự bất tử không phải là điều kiện của quy luật luân lý

Trong chương I cuốn “Phê phán lý tính thực hành”, Kant bắt đầu bằng một loạt các ví dụ chứng minh, rằng mục tiêu để ta thấy được tất cả những nguyên tắc hành động dựa trên thực nghiệm đều không xứng đáng với bản chất cao quý của sự tự do Kant khẳng định rằng không có đạo đức thì con người không thể có tự do Kant chứng minh một cách rõ ràng về mệnh đề này khi cho rằng, đạo đức chính là con người hành động theo lẽ phải, dù hành động đó có thể gây thiệt hại đối với chính chủ thể, vì bổn phận làm người buộc con người phải làm như vậy

Dưới hình thức những “mệnh lệnh tuyệt đối” con người mới thấy mình

tự do Trong tự do đó con người có thể làm hay không làm theo mệnh lệnh của con tim và quy luật đạo đức, bởi vì ai cũng có thể nhận thức được quy luật đạo đức khi hành động Chính những quy luật đạo đức là nguyên nhân, cầu nối cho ta biết đến tự do Ta nhận thức được tự do vì hành vi của ta không

bị kích động bởi những sự kiện khả giác Tự do là khi ta công nhận hoạt động của chính mình như là một “vật tự thân”, tự động Kant cho rằng tự do cũng như tự chịu trách nhiệm, nếu ta nhìn nhận lại chính mình, cho rằng mình là hữu thể tự do, ta có bổn phận phải thực hành những mệnh lệnh của quy luật đạo đức Nếu không có quy luật đạo đức thì con người sẽ không biết và không

Trang 36

thấy rằng mình đang có tự do, ngược lại không có tự do con người sẽ không

có được hành vi đạo đức

Theo Kant bản chất của sinh hoạt đạo đức thực chất là sinh hoạt tự do,

mà tự do đó không bị chi phối bởi dư luận, bởi định kiến xã hội Tự do ở đây

có nghĩa là khi quyết định, con người nhìn vào hình thức tuyệt đối của quy luật đạo đức, nhìn vào lý trí Tự do xuất phát từ sự nhận thức chính mình, tự quyết, tự làm, Kant cho rằng tự do mà Kant hướng tới không chỉ đơn thuần là

tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do đi lại Ở đây tự do có nghĩa mỗi người hoàn toàn tự quyết định hành vi đạo đức của mình mà không bị ràng buộc hay chi phối bởi các mối quan hệ khác, bởi tư lợi, dư luận Bản chất của hành vi đạo đức chính là hướng tới tự do, tự do là phạm trù rộng, lý trí thuần túy tự tạo ra luật cho mình mới chính là tự do tích cực

Tự do cũng chính là “sự tự trị” của lý trí thuần túy thực hành “Sự tự trị” là nguyên tắc duy nhất của tất cả các quy luật đạo đức Danh từ tự trị hàm chứa trong danh từ tự do, cho ta thấy quan niệm rõ ràng về tự do Con người không bị chi phối bởi những quyền lực bên ngoài khi hoạt động, sinh sống

Sự tự trị đó thuộc về ý chí, đó chính là bản chất của hành vi đạo đức Tư tưởng này thể hiện sự mong muốn có đôi chút ảo tưởng của Kant về vấn đề

đạo đức Từ sự tự trị hay “sự tự chủ” Kant đưa tới những khái niệm “nhân vị” hay “nhân phẩm”

Tự do có hai loại một là sự tích cực hai là sự tiêu cực, vậy nghĩa tích cực được Kant hiểu như thế nào? Đó chính là khi con người không bị chi phối bởi quyền lợi cá nhân, theo nghĩa tiêu cực thì tự do là sự tự quyết của chủ thể

Tự định đoạt mục đích, số phận, hành động, tự tạo ra luật cho những hành vi của mình đối với chính mình, đối với cộng đồng, đó chính là nội dung nói lên

ý nghĩa khái niệm “sự tự trị” Nguyên tắc cao nhất của đạo đức là “sự tự trị của ý chí” Kant đã nêu ra sự tương quan giữa tự do và quy luật đạo đức như

Trang 37

trên đã trình bày Bên cạnh đó Kant cho rằng tự do chính là đối tượng mà đạo đức học hướng tới, nhờ có quy luật đạo đức mà con người tự do Những quyết định tự do trong lĩnh vực đạo đức đưa con người tới với nhau, gắn kết tạo thành một cộng đồng, trong cộng đồng đó bao gồm những người biết hành động theo lẽ phải, tự trọng, cho mình và cho người Mỗi người phải hành động sao cho hành vi của mình phù hợp với chuẩn mực đạo đức, như người tạo ra luật và ý thức về bổn phận trách nhiệm, nghĩa vụ của mình

Mục tiêu đối tượng mà đạo đức nhắm tới không đâu khác chính là sự tự

do Tự do là động lực thúc đẩy khiến con người trở nên người hơn Điều mà con người luôn luôn theo đuổi không phải có thêm quyền lợi, mà mong sao cho mình được tự do hơn Hành động của con người phải phù hợp với quy luật đạo đức phổ quát Kant chủ trương “ý chí tự do và ý chí quy phục luật đạo đức cũng là một” Khi luận giải ý chí tự do chỉ phục tùng các quy tắc đạo đức, Kant cho rằng cần phải làm rõ khái niệm tính nhân quả với tư cách là

“tính tất yếu tự nhiên” và “khái niệm tính nhân quả với tư cách là tự do”

Không thể gán ép tự do cho thực thể mà sự tồn tại của tự do được xác định theo thời gian Vấn đề tự do là vấn đề tính có năng lực chịu trách nhiệm

và khả năng xuất hiện tính nhân quả nội tại Giải pháp khi xem xét vấn đề tự

do hoàn toàn không phụ thuộc vào tính nhân quả nằm trong hay nằm ngoài chủ thể Nếu tự do ý chí của con người chỉ là tự do tâm lý và tương đối, chứ không phải tự do tiên nghiệm và tuyệt đối thì theo Kant về thực chất không khác gì tự do để thích nghi Để cứu lấy tự do, muốn có tự do, chỉ có con đường đó là sự tồn tại của sự vật theo thời gian, tính nhân quả theo quy luật tất yếu tự nhiên Kant luận chứng cho khả năng xuất hiện tự do cần phải thừa nhận sự khác biệt giữa hiện tượng và vật tự nó chính sự khác nhau này trở thành luận điểm trung tâm trong hệ thống triết học của Kant và được Kant thể hiện cụ thể trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”

Trang 38

Trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, khi nói về “Antinomia” của lý tính thuần túy, Kant đề cập đến tự do và tất yếu Tiếp đến những tác phẩm như “Đặt cơ sở cho siêu hình học”, “Phê phán lý tính thực hành” Kant tiếp tục đề cập đến vấn đề tự do và tất yếu Vấn đề cần quan tâm theo Kant là

tự do có thể được thực hiện hay không đối với hành vi mà theo bản chất của

nó có thể được xác định với tư cách cái tất yếu Quy luật tất yếu không ảnh hưởng đến sự tự do, tự do và tính tất yếu của quy luật tự nhiên có thể tồn tại độc lập với nhau và không làm phương hại đến nhau

Trong tác phẩm phê phán lý tính thuần túy Kant chứng minh giữa tự do

và tất yếu không tồn tại “Antiomia” có tính logic Cơ sở của tự do chính là quy luật luân lý, quy luật luân lý không thể tồn tại trong mỗi con người khi con người chưa có tự do Ta chỉ ý thức được tự do khi ta có ý thức về quy luật luân lý Kant cho rằng những hành vi tự do là những hành vi mang tính thiện, mang tính đạo đức đều là những hành vi tốt đẹp được đánh giá tương ứng với

ý đồ Kant tách biệt lĩnh vực đạo đức tự do với lĩnh vực tự nhiên Vì lĩnh vực đạo đức không mang ý nghĩa là những hành động nói chung vì hành động nói chung muốn tồn tại phải có nguyên nhân Mà đó chính là ý đồ là nghĩa vụ, động cơ, cơ sở để Kant xác định nguyên tắc của tự do lựa chọn, và hành động

tự do không phụ thuộc vào yêu cầu của hiện thực được cảm nhận một cách cảm tính

Sở dĩ có được tự do là bởi có sự khác biệt giữa phạm vi hiện tượng luận với “vật tự nó” Tự ý thức là một lý tính thuần túy thực hành, còn lý tính thực hành là hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tích cực về tự do Chính quy luật luân lý chứ không phải cái khác được con người ý thức một cách trực tiếp mới là cái đầu tiên xuất hiện cho ta và dẫn ta tới khái niệm về tự do Trong hoạt động thực tiễn của con người, tự do chính là cơ sở, là bản chất của quy luật luân lý, quy luật luân lý lại là cơ sở cho nhận thức về tự do Và ngược lại

Trang 39

quy luật luân lý không thể tồn tại trong mỗi con người chúng ta nếu không có

tự do Tự do gắn với mối liên hệ nhân quả

Trong phạm trù tự do này còn bao hàm cả quan niệm về sự thiện ác, tốt xấu, thiện và ác không có gì khác hơn là kết quả của phạm trù tính nhân quả

từ tự do Thiện và ác có cách lý giải khá mới mẻ về mối quan hệ giữa các chức năng phán đoán với phạm trù Trong “Phê phán lý tính thuần túy”, các phạm trù thuần túy của giác tính được rút ra từ chức năng phán đoán và được gọi là phạm trù về tự nhiên, nó tồn tại song song với phạm trù tự do Tự do là một loại nhân quả, tự do được nhận thức như là một loại hình đặc biệt của tính nhân quả thực hành Chức năng của phạm trù tự do nhằm quy định ý chí một cách thống nhất chứ không phải nhắm đến các điều kiện cảm tính nhằm thực hiện các mục đích, phạm trù tự do mang lại tính thực tại thực hành, khách quan cho những phạm trù còn lại Tự do đó là lý tưởng đạo đức cao cả của nhân loại hướng tới Vì vậy, phạm trù tự do có vị trí đặc biệt quan trọng

và trở thành phạm trù trung tâm trong đạo đức học của Kant Chính Kant đã thừa nhận điều này khi cho rằng “khái niệm tự do là chiếc chìa khóa để giải thích sự tự trị của ý chí” [Dẫn theo 24, tr.437]

Đạt đến đỉnh cao trong sự tự trị của ý chí là ý chí tự do Ý chí không bị quy định bởi bất cứ cái gì ngoài bản thân mình, không phụ thuộc vào bất kỳ

sự tác động bên ngoài nào Ý chí tự do hay tự trị, tự do đối với mọi hành vi có nguồn gốc cảm tính, nó hoàn toàn độc lập với quy luật của tự nhiên, độc lập với quy luật nhân quả, đó là tự do theo nghĩa chính xác nhất, tức theo nghĩa tiên nghiệm Phạm trù tự do có quan hệ mật thiết với “mệnh lệnh tuyệt đối”

và phạm trù “nghĩa vụ đạo đức” hay “bổn phận đạo đức” Đối với Kant tự do

là năng lực của con người, xuất phát từ chính trong bản thân con người, tự do

là khi con người tự giác phục tùng sự bắt buộc, sự cưỡng chế của các quy tắc đạo đức, biết tuân thủ nghĩa vụ Lĩnh vực đạo đức không phải là lĩnh vực nào

Trang 40

khác mà là lĩnh vực tự do của con người Tự do có khi con người nhận thức được nghĩa vụ mà mình phải làm, thực hiện nghĩa vụ đó xuất phát từ nội tâm của mình Có được tự do nghĩa là con người hành động một cách có đạo đức,

và trở thành con người có đạo đức Để đạt được tự do, con người phải có lòng tin vào đạo đức, thực hiện bổn phận và nghĩa vụ của mình, để đạt tới cái thiện, cũng là đạt đến tự do

Có thể thấy rằng trong quan niệm về đạo đức học của Kant, phạm trù tự

do chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, xuyên suốt trong toàn bộ học thuyết triết học của ông Như “viên đá đỉnh vòm” cho cả tòa nhà của lý tính thuần túy” Kant khẳng định rằng “tạo nên viên đá đỉnh vòm cho toàn bộ tòa nhà của một hệ thống của lý tính thuần túy, kể cả của lý tính tư biện” [18, tr.26]

2.1.2 Các quy luật hay định lý xác định hành vi đạo đức

Triết học đạo đức của Kant là đạo đức học về hành vi, trách nhiệm, vì ông cho rằng chỉ những hành vi xuất phát từ trách nhiệm đạo đức mới được xem là hành vi đạo đức Nội dung triết học đạo đức của Kant nhằm trả lời cho câu hỏi, tôi cần phải làm gì để hành vi của tôi được đánh giá là hành vi đạo đức? Tiêu chuẩn của hành vi đạo đức theo Kant là tính chất của ý chí, hành vi

có đạo đức là hành vi xuất phát từ một ý chí tốt Một ý chí tốt là một ý chí vô điều kiện, không bị chi phối bởi bất kỳ nguyên nhân nào Kant cho rằng ý chí không phải là cái gì phi lý tính, không phải là “sức mạnh tối tăm từ một vực sâu ẩn mật” [18, tr.XIX] theo nghĩa của Schopenhauer, mà là cái gì hợp lý tính của bản thân lý tính trong quan hệ với hành vi Ý chí là chỗ phân biệt một hữu thể có lý tính đó là con người với hữu thể đơn thuần là tự nhiên như thú vật hành động theo những quy luật do tự nhiên mang lại chứ không phải do chúng tưởng tượng nên

Ý chí như là sự thôi thúc bên trong, phân biệt với cưỡng chế từ bên ngoài Kant lấy ví dụ rằng có thể bảo thú vật có một ý chí khi chúng tuân theo

Ngày đăng: 20/02/2020, 09:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w