ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN HỒNG VIỆT NHẬN DIỆN RÀO CẢN VỀ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HỒNG VIỆT
NHẬN DIỆN RÀO CẢN VỀ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC (Nghiên cứu trường hợp Học viện Khoa học và Công nghệ,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HỒNG VIỆT
NHẬN DIỆN RÀO CẢN VỀ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
(Nghiên cứu trường hợp Học viện Khoa học và Công nghệ,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 60 34 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Hà XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG Giáo viên hướng dẫn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy, cung cấp kiến thức và tạo điều kiện hoàn thành chương trình học cao học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Mai Hà, người thầy đã tận tâm hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự chỉ bảo, giúp đỡ, đóng góp ý kiến của PGS.TS
Vũ Cao Đàm, PGS TS Đào Thanh Trường, PGS.TS Phạm Huy Tiến và PGS TS Trần Văn Hải đã dành cho tôi trong những năm qua
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của cơ
sở đào tạo là Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cơ quan mà tôi công tác, trong quá trình thực hiện luận văn
Sau cùng, tôi muốn gửi tới tất cả những người thân trong gia đình và bạn bè lời cảm ơn chân thành nhất Chính sự tin yêu mong đợi của gia đình
và bạn bè đã tạo động lực cho tôi thực hiện thành công luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Việt
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Kết cấu của Luận văn 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.1.1 Khái niệm nguồn lực KH&CN 12
1.1.2 Khái niệm Ứng dụng công nghệ thông tin 17
1.1.3 Khái niệm Hoạt động đào tạo 20
1.1.4 Khái niệm Nghiên cứu khoa học 21
1.1.5 Khái niệm rào cản 22
1.1.6 Khái niệm khoa học, công nghệ 23
1.2 Cơ sở lý luận phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài 24
1.2.1 Vai trò Vai trò của Công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN 24
1.2.2 Những đặc điểm nổi bật của hệ thống đào tạo trực tuyến khi ứng dụng vào hoạt động đào tạo tại Học viện KH&CN 28
1.2.3 Những tiêu chí ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN 30
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO
Trang 5TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ 33
2.1 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1 Giới thiệu về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 33
2.1.2 Giới thiệu về Học viện KH&CN 33
2.2 Hiện trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng học và ứng dụng CNTT tại Học viện KH&CN 42
2.2.1 Hạ tầng kỹ thuật Công nghệ Thông tin 42
2.2.2 Hạ tầng cơ sở vật chất 45
2.2.3 Hệ thống trang thông tin điện tử và phần mềm quản lý hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện 52
2.2.4 Nghiên cứu khoa học và Hợp tác quốc tế tại Học viện KH&CN 58
CHƯƠNG 3 RÀO CẢN NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 63
3.1 Rào cản về nguồn lực KH&CN trong ứng dụng CNTT của Học viện KH&CN 63 3.1.1 Rào cản về con người (nhân lực KH&CN) 63
3.1.2 Rào cản về Tài chính (tài lực) 65
3.1.3 Rào cản về cơ sở vật chất (vật lực) 67
3.1.4 Rào cản về thông tin KH&CN (tin lực) 68
3.2 Một số rào cản khác 70
3.2.1 Rào cản về tổ chức 70
3.2.2 Rào cản về nhận thức 72
3.2.3 Rào cản do quản lý của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo 72
3.2.4 Rào cản do trình độ và năng lực sử dụng ngoại ngữ và tin học 73
3.2.5 Rào cản về chính sách tiền lương 73
3.2.6 Khó khăn và tồn tại khi xây dựng hệ thống phần mềm ứng dụng thông tin trong quản lý đào tạo tại Học viện KH&CN 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN: Khoa học và Công nghệ
NC&TK: Nghiên cứu và Triển khai
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
hiệp quốc Học viện KH&CN: Học viện Khoa học và Công nghệ
Viện Hàn lâm KHCNVN: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các Viện nghiên cứu chuyên ngành của Viện Hàn lâm KHCNVN tham gia phối hợp về công tác đào tạo với Học viện KH&CN 38 Bảng 2.2 Các đơn vị nghiên cứu chuyên ngành tham gia đào tạo tại 12 Khoa tại Học viện Khoa học và Công nghệ 40
Bảng 2.3 Liệt kê một số phần mềm quản lý đào tạo trên thế giới (Một số phần
mềm quản lý đào tạo phổ biến và chức năng) 54
Bảng 2.4 Một số phân hệ phần mềm thường có trong các trường Cao đẳng -
Đại học 56 Bảng 2.5 Một số phần mềm quản lý đào tạo phổ biến ở Việt Nam và tính năng của các phần mềm 57 Bảng 2.6 Bảng thống kê số lượng đề tài, nhiệm vụ năm 2017 của Học viện KH&CN 59
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.Cơ cấu tổ chức của Học viện KH&CN 34
Hình 2 Số lượng NCS và học viên cao học của Học viện KH&CN 35
Hình 3 Số lượng giảng viên của Học viện KH&CN 36
Hình 4 Sơ đồ dự kiến lắp đặt hệ thống tại Trung tâm mạng và tích hợp dữ liệu 44
Hình 5 Mô hình các bàn/nhóm 6 đến 8 học viên e-learning 48
Hình 6 Sơ đồ phòng có 8 bàn học liên kết ở Hà Nội 49
Hình 8 Sơ đồ 4 bàn học liên kết (ở Nha Trang và Tp HCM) 49
Hình 8 Kiến trúc hệ thống dịch vụ 50
Hình 9 Các dịch vụ thành phần 51
Hình 10 Số công bố quốc tế thuộc danh mục ISI và Scopus của Học viện KH&CN giai đoạn 2015-2018 (số liệu năm 2018 tính đến 31/8/2018) 60
Hình 11 Nhóm 20 Trường Đại học Việt Nam có số công bố quốc tế thuộc danh mục SCOPUS cao nhất (Tính từ 1/1/2017-30/6/2018) 60 Hình 12 Top 20 trường đại học theo tổng các bài báo (bên trái), trong đó có tính đến số bài báo có tác giả của các trường đóng vai trò tác giả liên hệ, bên cạnh số bài báo chỉ có đồng tác giả; và biểu đồ chỉ số đóng góp (bên phải) 61
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thứ nhất: Trong giai đoạn hiện nay, CNTT được ứng dụng hiệu quả vào
hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống, xã hội, kinh tế đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo CNTT thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới trong giáo dục, tạo ra công nghệ giáo dục mới với nhiều thành tựu rực rỡ làm thay đổi nội dung, hình thức và phương pháp dạy học một cách phong phú, hiệu quả Các hình thức dạy học như dạy theo lớp, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin Tương tác giữa người và máy đã trở thành tương tác hai chiều với các phương tiện đa truyền thông như âm thanh, hình ảnh, video, đã được ứng dụng để triển khai như đào tạo trực tuyến (e-learning)
CNTT cũng được ứng dụng mạnh mẽ trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các trường đại học, các cơ sở giáo dục đào tạo Hầu hết các trường đại học trên thế giới đều ứng dụng CNTT một cách xuyên suốt tất cả các hoạt động từ tuyển sinh, tài chính, đào tạo, nhân sự, nghiên cứu khoa học,
… dưới dạng mô hình tổng thể ERP (enterprise resource planning software), cổng thông tin điện tử và các dịch vụ đào tạo trực tuyến Các công nghệ về thẻ, liên kết ngân hàng và thanh toán các dịch vụ trong trường cũng được kết nối và áp dụng thành công, mang lại nhiều lợi ích cho cả nhà trường và người học
Tại Việt Nam, CNTT được ứng dụng mạnh mẽ trong cả hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học ở hầu hết các trường cao đẳng, đại học, học viện Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu được xem là một nhiệm vụ trọng tâm trong những động lực quan trọng nhất cho sự phát
triển
Thứ Hai: Xuất phát từ thực tế tại Học viện Khoa học và Công nghệ là cơ
sở giáo dục công lập, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và là đơn vị mới thành lập theo Quyết định số 1691/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ nước
Trang 10Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho nên việc ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN gặp nhiều khó khăn và chưa được nâng cao do đó nhận diện những rào cản về nguồn lực KH&CN trong ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trở thành nhu cầu cấp bách đối với Học viện KH&CN
Bản thân tôi nhận thấy là một cán bộ tham gia trực tiếp hoạt động ứng dụng CNTT của Học viện KH&CN, đòi hỏi phải luôn nghiên cứu tìm tòi, học hỏi tìm ra những rào cản nào về nguồn lực KH&CN trong ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tác giả đã chọn đề tài:
"Nhận diện rào cản về nguồn lực KH&CN trong ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các cơ
sở giáo dục đại học (Nghiên cứu trường hợp tại Học viện KH&CN – Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam)
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, nghiên cứu về rào cản và không phải là một vấn
đề mới mẻ mà được nhắc đến nhiều tài liệu nghiên cứu Sau đây là một số tài liệu được tác giả lựa chọn để tham khảo, nghiên cứu:
Luận văn thạc sĩ quản lý của tác giả Trần Ngọc Long chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (bảo vệ tại Luận văn thạc sĩ Quản lý Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2015) “Khắc phục rào cản trong quá trình tự chủ của các tổ chức nghiên cứu và triển khai công lập” (Nghiên cứu trường hợp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) Luận văn này đã đã phân tích,
nhận diện những rào cản về quyền tự chủ, năng lực tự chủ và tinh thần tự chủ của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN và một số giải pháp khắc phục các rào cản về quyền tự chủ, năng lực tự chủ và tinh thần tự chủ trong
quá trình tự chủ của các tổ chức KH&CN công lập
Trang 11 Luận văn thạc sĩ quản lý của tác giả Nguyễn Hữu Việt chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (bảo vệ tại Học viện khoa học Xã hội - Viện
Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam năm 2016) “Nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước các nhiệm vụ KH&CN thông qua ứng dụng công nghệ thông tin
từ thực tiễn quản lý các đề tài nghị định thư tại Bộ KH&CN”
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Trung Thành (bảo
vệ tại trường Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội năm 2015) “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước ở Việt Nam“
Các tài liệu trên nhìn chung đều có ý nghĩa nhất định trong thực tiễn Tuy nhiên tác giả nhận thấy hầu hết chỉ quan tâm đề cập vào các vấn đề chủ trương, phương hướng lớn hoặc tập trung vào thực tiễn một ngành, lĩnh vực
cụ thể mà vấn đề nghiên cứu về nhận diện các yếu tố cản trở tập trung tìm hiểu những khó khăn, trở ngại, bất cập, vướng mắc về Nguồn lực KH&CN trong ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào
đề cập đến Trên cơ sở tìm hiểu, kế thừa các kết quả nghiên cứu những tài liệu vừa nêu trên sẽ giúp ích cho việc tham khảo, đối chứng trong nghiên cứu đề tài của tác giả luận văn
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích thực trạng, nhận diện rào cản về nguồn lực KH&CN trong ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu Khoa học tại Học viện KH&CN
- Trên cơ sở nhận diện rào cản, tác giả đưa ra khuyến nghị nhằm hạn chế khắc phục những rào cản về nguồn lực KH&CN trong ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN
4 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn phạm vi về nội dung: Nghiên cứu này tập trung nhận diện những rào cản, đặc biệt là rào cản nguồn lực KH&CN trong ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN
Trang 12- Giới hạn phạm vi quãng thời gian diễn biến của đối tượng nghiên cứu:
03 năm (từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 5 năm 2018)
- Giới hạn phạm vi không gian khảo sát: Nghiên cứu trường hợp Học viện KH&CN – Viện Hàn lâm KHCNVN
5 Mẫu khảo sát
- Khảo sát tại Học viện KH&CN
- Khảo sát tại các đơn vị chuyên ngành trực thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN có tham gia đào tạo và nghiên cứu khoa học
- Báo cáo Dự án “Nâng cấp phòng học và hệ thống đào tạo trực tuyến của Học viện Khoa học và Công nghệ’’ năm 2017
6 Câu hỏi nghiên cứu
Những yếu tố nào là rào cản trong ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN?
Cụ thể:
- Trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN ứng dụng công nghệ thông tin gặp những rào cản nào?
- Những khuyến nghị nào để khắc phục rào cản đó?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Nhận thức về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của các cấp lãnh đạo, cán bộ chuyên viên, giảng viên tại Học viện KHCN chưa đầy đủ
- Cơ sở trang thiết bi vật chất về CNTT chưa đủ, còn thiếu, kỹ năng ứng dụng CNTT, trình độ chuyên môn về CNTT tại Học viện còn nhiều hạn chế
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật và các văn bản liên quan đến ứng dụng CNTT, đồng thời nghiên cứu các báo cáo, giáo trình, v v để kế thừa kết quả đã được nghiên cứu
Trang 13- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở các nguồn tài liệu, dữ liệu, báo cáo về dự án “Tăng cường trang thiết bị phục vụ công tác đào tạo sau đại học” Học viện Khoa học và Công nghệ năm 2017, tổng hợp và phân tích dữ liệu đã thu thập được.
- Phương pháp thảo luận: Thảo luận với các học viên cùng khoá, các nghiên cứu sinh của Khoa Khoa học quản lý (đặc biệt là những nghiên cứu sinh đang công tác tại Viện Hàn lâm KHCNVN) và các cán bộ đang công tác tại Học viện KH&CN
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn nghiên cứu vấn đề nêu trên gồm 3 chương:
+ Chương 1 Cơ sở lý luận về nguồn lực khoa học và công nghệ trong
ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học
+ Chương 2 Hiện trạng nguồn lực khoa học và công nghệ trong ứng
dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện Khoa học và Công nghệ
+ Chương 3 Nhận diện được những rào cản về nguồn lực KH&CN trong
quá trình hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN, Viện Hàn lâm KHCNVN
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm nguồn lực KH&CN
Nguồn lực KH&CN là những yếu tố đầu vào đảm bảo cho hoạt động KH&CN như: Con người (nhân lực KH&CN), Tài chính KH&CN (tài lực), Thông tin KH&CN (tin lực), cơ cở vật chất (vật lực) Cụ thể:
Nhân lực KH&CN
Theo từ điển tiếng Việt: nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong Ban lãnh đạo của tổ chức, đơn vị hay doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển đơn vị
Theo Liên hiệp Quốc thì nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước
Theo Tổ chức lao động quốc tế thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho
sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động Hiện nay, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi Cơ quan, doanh nghiệp
Trang 15Đứng trên các giác độ khác nhau, khi nghiên cứu Nguồn nhân lực, rất nhiều học giả đưa ra các khái niệm khác nhau về nhân lực cho mục tiêu nghiên cứu Khái niện về nhân lực KH&CN có thể được hiểu theo những cách khác nhau Theo định nghĩa của UNESCO là toàn bộ những người đang trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong các cơ quan, tổ chức được và được trả lương/tiền công, còn theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh
tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD) là toàn bộ những người có khả năng và nhu cầu lao động có bằng chuyên môn
về một lĩnh vực KH&CN nào đó từ cao đẳng trở lên, hoặc không có bằng cấp nhưng đảm nhiệm công việc đòi hỏi trình độ tương đương từ cao đẳng trở lên Theo ThS Nguyễn Thị Quỳnh Giang - Viện Khoa học tổ chức nhà nước
[10] đã nêu ra một số Quan niệm về nhân lực KH&CN của một số nước trên Thế giới như sau:
- Quan niệm về nhân lực KH&CN của Nhật Bản và Đức
Ở Nhật Bản và Đức, nhân lực khoa học công nghệ được hiểu theo trường phái quan niệm của khối các nước OECD Theo đó, nhân lực khoa học công nghệ là những người đã tốt nghiệp đại học về mặt học vấn hoặc đã được tuyển dụng vào một nghề khoa học và kỹ thuật đòi hỏi ở mức cao về trình độ và tiềm năng sáng tạo Thước đo học thuật là đầu vào cơ bản trong hệ thống nhân lực khoa học công nghệ, thông thường là bằng cử nhân đại học Thước
đo để tính toán nhu cầu của hệ thống nhân lực khoa học công nghệ chính là các tiêu chuẩn nghề nghiệp
Theo báo cáo nghiên cứu cấu trúc lao động các quốc gia OECD năm 2010 cho thấy, ở hầu hết các quốc gia thành viên OECD, bao gồm Nhật Bản và Đức, đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ chiếm tỷ trọng 1/4 tổng số lao động, tập trung trong khu vực dịch vụ, nghiên cứu nhiều hơn so với khu vực sản xuất ra các mặt hàng thương mại, công nghiệp, tiêu dùng Nhân lực khoa học và công nghệ ở Nhật Bản và Đức bao gồm 3 nhóm là: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu), nhân viên kỹ thuật và tương đương, và nhân viên phụ trợ trực tiếp trong nghiên cứu phát triển
Trang 16- Quan niệm về nhân lực KH&CN của Thái Lan
Theo quan điểm của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), nhân lực khoa học công nghệ là tổng số nhân lực có trình
độ hoặc số nhân lực có trình độ hiện đang công tác hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động khoa học và kỹ thuật trong một tổ chức hoặc đơn vị, và được trả lương theo quy định cho các dịch vụ của họ Nhóm này gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhóm nhân viên hỗ trợ
Là một thành viên của UNESCO, Thái Lan chủ yếu áp dụng quan niệm của UNESCO về nhân lực khoa học và công nghệ ngoại trừ một điểm đặc biệt, đó là Thái Lan coi trọng vai trò và năng lực thích ứng với khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Do đó, Thái Lan coi đây
là một trong những mũi nhọn phát triển thúc đẩy toàn diện hệ thống nhân lực khoa học và công nghệ
- Quan niệm về nhân lực KH&CN của Xinh-ga-po
Quan niệm của Xinh-ga-po không phân biệt nhân lực khoa học công nghệ
là công dân của Xinh-ga-po hay người ngoại quốc, chỉ cần những người làm việc cho Xinh-ga-po, phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước này và hưởng lương của Chính phủ Xinh-ga-po chi trả, thì họ chính là nguồn nhân lực của Xinh-ga-po Và đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ của Xinh-ga-po cũng như đa số các quốc gia tiên tiến trên thế giới, đều gồm đội ngũ các nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên và tương đương và công nhân kỹ thuật Chính phủ Xinh-ga-po đã sớm xác định được quan niệm quốc gia về nhân lực khoa học công nghệ và kiên trì thống nhất các chính sách, hoạt động trên mọi lĩnh vực phục vụ phát triển khoa học công nghệ Xinh-ga-po xác định chiến lược phát triển xây dựng một hệ thống tương đối hoàn thiện từ thể chế, chính sách đến các chương trình học bổng, lương bổng, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ việc xây dựng và thu hút nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt chú trọng thu hút nhân tài trong các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn của quốc gia
- Quan niệm về nhân lực KH&CN của In-đô-nê-xi-a
Trang 17Quan điểm chỉ đạo về vai trò và tầm quan trọng của nhân lực khoa học
và công nghệ tại In-đô-nê-xi-a đã chỉ ra rằng cải thiện năng lực khoa học và công nghệ của quốc gia nói chung và năng lực khoa học và công nghệ của đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ chính là trụ cột chính trong kế hoạch tổng thể thúc đẩy phát triển và mở rộng nền kinh tế của In-đô-nê-xi-a
Tuy nhiên, trong nhiều văn bản luật của Chính phủ nước này chưa thể hiện rõ ràng định nghĩa về nhân lực khoa học, công nghệ mà thường chú trọng nhắc đến đối tượng “sinh viên tốt nghiệp đại học vào làm trong các ngành khoa học, công nghệ” và “đào tạo tại chỗ cho những người đang công tác trong lĩnh vực khoa học và công nghệ trở lên thạo việc, lành nghề và hiểu biết rộng hơn”
- Quan niệm về nhân lực KH&CN của Việt Nam hiện nay
Theo Bộ Khoa học – Công nghệ vận dụng khái niệm nêu trong Luật Khoa học – Công nghệ đã có quy định cụ thể hơn về quan niệm nhân lực khoa học và công nghệ gồm các đối tượng “Đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ; đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ nào; chưa tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ đòi hỏi trình độ tương đương”
Hệ thống nhân lực KH&CN của Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng, mặc dù về lý thuyết quan niệm của Việt Nam phù hợp với các nét chủ đạo trong quan niệm thế giới, và thể hiện tính mới trong việc bao gồm cả đối tượng “Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam” nhưng trên thực tế mới chỉ phản ánh được “tổng số nhân lực có trình độ” Ngoài ra, số lượng cán bộ khoa học và công nghệ làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển hiện vẫn chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn trong tổng số cán bộ khoa học và công nghệ của nước ta Bên cạnh đó, tư tưởng chuộng hư danh, trọng thành tích, dẫn đến xao lãng bản chất thực, trình độ thực, giấu dốt, không dám công khai học hỏi và chia sẻ
ý kiến phát minh sáng tạo, chưa tạo được môi trường tích cực để học hỏi, phát
Trang 18minh, sáng kiến và bảo vệ các phát minh, sáng kiến Chế độ đãi ngộ với những người tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ chưa thích đáng Khu vực công còn chậm đón nhận và chưa bắt kịp với các hoạt động đổi mới, sáng tạo trong xã hội và khoa học, công nghệ dẫn đến chưa phù hợp để tổ chức, quản lý và bồi dưỡng phát triển nhân lực khoa học, công nghệ
Tài chính KH&CN là các khoản tiền dành cho việc đầu tư cho hoạt động KH&CN gồm các nguồn: ngân sách nhà nước; doanh nghiệp/cá nhân; quỹ KH&CN của doanh nghiệp; quỹ đầu tư mạo hiểm; quỹ cá nhân dành cho khoa học và các nguồn khác như: thu từ hợp đồng nghiên cứu, hợp đồng chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ KH&CN giữa tổ chức/cá nhân thực hiện và bên đặt hàng,
Thông tin KH&CN là các loại sản phẩm thông tin như: các hệ thống tra cứu, các tạp chí tóm tắt (là ấn phẩm thông tin đăng tải các bài tóm tắt các báo cáo kết quả nghiên cứu, các công trình khoa học, các bài đăng tạp chí, được trình bày dưới dạng ấn phẩm định kỳ), các tổng luận (là bài trình bày cô đọng, có hệ thống các thông tin và sự tổng hợp khoa học về các vấn đề được
đề cập bao gồm hiện trạng, mức độ và xu hướng phát triển của chúng)
Theo Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
- “Thông tin khoa học và công nghệ” là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo
- "Nguồn tin khoa học và công nghệ" là các thông tin khoa học và công nghệ được thể hiện dưới dạng sách, báo, tạp chí khoa học; kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học; thuyết minh nhiệm vụ, báo cáo kết quả thực hiện, ứng dụng kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ; tài liệu sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; catalog công nghiệp; luận án khoa học; tài liệu thiết kế, kỹ thuật; cơ sở dữ liệu; trang thông tin điện tử; tài liệu thống kê khoa học và công nghệ; tài liệu đa phương tiện và tài liệu trên các vật mang tin
Trang 19- “Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ” là hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, bao gồm các hoạt động liên quan đến thu thập, xử lý, phân tích, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến, sử dụng, chia sẻ và chuyển giao thông tin khoa học và công nghệ, các hoạt động khác có liên quan
Tiềm lực KH&CN gồm những nhân tố cơ bản như các đơn vị nghiên cứu khoa học, đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, tri thức và kinh nghiệm tích luỹ được, công nghệ và các bí quyết công nghệ, các phòng thí nghiệm và các nguồn tài chính,
1.1.2 Khái niệm Ứng dụng công nghệ thông tin
- Khái niệm công nghệ thông tin
Thuật ngữ "công nghệ thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài
viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin” Theo Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia: công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin
Tại Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và xác định trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/8/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ Việt Nam, như
sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công
cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [3, tr 1].
Theo định nghĩa của Luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006 của
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” [17]
- Ứng dụng CNTT: Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các
hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và
Trang 20các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này
- Trong phạm vi đề tài, ứng dụng thông tin được hiểu theo khía cạnh
"Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học" Có thể hiểu, đây là quá trình đưa các công cụ, giải pháp công nghệ vào hoạt động quản lý, nhằm tổ chức, khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn lực KH&CN vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của cơ quan
- Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin của cơ quan nhà nước bao gồm: Hệ thống thư điện tử; hệ thống quản lý văn bản và điều hành; hệ thống phần mềm nghiệp vụ; hệ thống họp, hội nghị truyền hình trực tuyến; hệ thống quản lý thông tin tổng thể; hệ thống trao đổi thông tin, văn bản qua mạng; hoạt động cập nhật, lưu trữ, xử lý dữ liệu và khai thác cơ sở dữ liệu; hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin khác được sử dụng trong phạm vi cơ quan nhà nước;
- Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp bao gồm: Ứng dụng một cửa điện tử; cổng, trang thông tin điện tử; hệ thống cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến; hệ thống quản lý, giám sát, vận hành cơ sở hạ tầng; hệ thống truy vấn, hỏi đáp, chăm sóc khách hàng qua mạng; các hoạt động, hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin khác phục
vụ người dân và doanh nghiệp;
- Hoạt động liên quan đến hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin như cung cấp trang thiết bị kỹ thuật, máy chủ, máy trạm, thiết bị ngoại vi; cung cấp hạ tầng, thiết bị kết nối mạng nội bộ, mạng diện rộng, kết nối Internet, truy cập tới các hệ thống dịch vụ công; cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu, trung tâm dữ liệu, hệ thống điện toán đám mây;
- Hoạt động khảo sát, lắp đặt, bảo hành, bảo trì, nâng cấp, đào tạo, chuyển giao, tư vấn về công nghệ thông tin; triển khai, quản trị, duy trì, vận hành, tích hợp hệ thống, kết nối liên thông các hệ thống thông tin;
- Hoạt động bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin như cung cấp hệ thống, thiết bị, giải pháp an toàn thông tin; cung cấp giải pháp chống truy cập trái
Trang 21phép, tường lửa; phòng và chống vi rút, phần mềm gián điệp, phá hoại; hoạt động kiểm tra, đánh giá, giám sát an toàn thông tin; hoạt động ứng cứu, khắc phục sự cố an toàn thông tin
- Trang thông tin điện tử: là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông
tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin
- Cổng thông tin điện tử: là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên môi
trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng mà qua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin
- Khái niệm chính sách
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”.
- Khái niệm thông tin KH&CN
Theo Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 2 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ thì “Thông tin khoa học và công nghệ” là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo
Vai trò của thông tin KH&CN là rất lớn Do vậy, Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án phát triển hệ tri thức Việt số hóa với mục tiêu xây dựng Hệ tri thức việt số hóa thông qua việc tổng hợp, hệ thống hóa, số hóa, lưu trữ và phổ biến tri thức trong mọi lĩnh vực Đây là vấn đề lớn, chắc chắn cần tích cực chủ động tham gia vào phát triển Hệ tri thức việt số hóa
Trang 221.1.3 Khái niệm Hoạt động đào tạo
Đào tạo là một hoạt động, một dạng công việc của xã hội nhằm chuyển giao có hệ thống có phương pháp những kỹ năng, những tri thức, những kinh nghiệm, những kỹ sảo đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết cho người học
Hoạt động đào tạo ở ở các cơ sở giáo dục đại học là hoạt động giáo dục nghề nghiệp để đạt được mục tiêu của cơ sở giáo dục đại học - hình thành, phát triển nhân cách của sinh viên, đào tạo họ trở thành những cử nhân khoa học tương lai, đáp ứng năm mục tiêu của giáo dục đại học
Hoạt động đào tạo gồm các vấn đề như: Phương thức đào tạo, nội dung đào tạo và mục tiêu đào tạo của người dạy, người học và phương tiện đào tạo (Máy tính, máy in, máy chiếu, cơ sở hạ tầng phòng học …) những vấn đề này
có tính chất, đặc điểm riêng tác dộng khác nhau đến kết quả trong quá trình đào tạo và chúng có liên hệ, tác động lẫn nhau cùng hoàn thành các nhiệm vụ
và mục tiêu của một cơ sở giáo dục đại học
Hoạt động đào tạo có các hình thức đào tạo như sau:
- Đào tạo cơ bản;
- Đào tạo chuyên sâu;
- Đào tạo nghề nghiệp;
- Đào tạo từ xa;
- Đào tạo dài hạn;
- Đào tạo ngắn hạn
Hoạt động đào tạo trong các cơ sở đại học nói chung chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp các yếu tố bên trong của các cơ sở giáo dục và cũng chịu sự tác động của các yếu tố bên ngoài như: yếu tố chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa xã hội, … nhu cầu đào tạo của xã hội cũng như nhu cầu đào tạo của người học cũng là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động đào tạo
Trang 23Tại các cơ sở giáo dục đại học thì hoạt động đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm và chủ yếu, Hiện tại Học viện KH&CN có sứ mệnh là: Đào tạo nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đa ngành, đa lĩnh vực trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ, Sau Tiến sỹ; Gắn kết chặt chẽ hoạt động đào tạo với nghiên cứu khoa học
1.1.4 Khái niệm Nghiên cứu khoa học
Khoa học được hiểu một cách đơn giản đó là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên,
xã hội và tư duy Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện đó, phát hiện ra những mối liên hệ của các hiện tượng, sự kiện nhằm vũ trang cho con người những tri thức về quy luật khách quan của thế giới hiện thực để con người áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống
Theo Vũ Cao Đàm: “NCKH nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là khám phá những thuộc tính bản chất của
sự vật, hiện tượng; phát hiện quy luật vận động của sự vật, hiện tượng; vận dụng quy luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng” [6]
Nói một cách khái quát nhất thì NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất
sự vật, về thế giới tự nhiên, xã hội và để sáng tạo phương pháp, phương tiện
kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn nhằm áp dụng vào cuộc sống của con người Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu cụ thể và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp tư duy và làm việc từ lúc ngồi trên ghế nhà trường
- Về nhân lực nghiên cứu khoa học
Nhân lực NCKH là người thực hiện công việc nghiên cứu khoa học, mà
ở đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ (học vị) cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, có học hàm phó giáo sư, giáo sư, hoặc một số người có thể không có văn bằng chính thức, song họ cũng làm các công việc tương đương
Trang 24như nhà nghiên cứu/ nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới
- Về đội ngũ nhân lực nghiên cứu khoa học:
Đội ngũ nhân lực NCKH là một nhóm người đều có trình độ chuyên môn được tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện công việc NCKH
- Đặc điểm của đội ngũ nhân lực nghiên cứu khoa học:
+ Nhân lực NCKH là người có trình độ chuyên môn hóa;
+ Có kỹ năng sử dụng máy móc, thiết bị kỹ thuật để công việc được tiến triển nhanh hơn, kết quả chính xác hơn;
+ Có phương pháp làm việc khoa học;
+ Khả năng nghiên cứu và phương pháp tư duy khoa học;
+ Khả năng nhìn nhận và đánh giá vấn để nghiên cứu;
+ Khả năng thu thập và phân tích, xử lý số liệu: thu thập số liệu bằng phương tiện gì, cách thu thập, phân tích, lựa chọn và sàng lọc dữ liệu, biết sử dụng các công cụ hiện có để xử lý các dữ liệu đó
1.1.5 Khái niệm rào cản
- Khái niệm chung rào cản
Rào cản được hiểu như là bất kỳ điều gì gây khó khăn, cản trở, hạn chế hoặc không cho phép con người hoặc sự vật thực hiện một hành động hoặc một quá trình Rào cản cũng có phạm vi và thời hạn tác động nhất định Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà các yếu tố liên quan có tác động tạo nên rào cản Rào cản có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực, tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận Hiện nay, trong xã hội xuất hiện nhiều thuật ngữ liên quan đến rào cản phù hợp với từng lĩnh vực như: “rào cản ngôn ngữ”, “rào cản văn hoá”,
“rào cản thương mại”, “rào cản kỹ thuật”
Tiếp cận theo hoàn cảnh tạo ra rào cản, người ta chia rào cản thành 02 loại rào cản:
Trang 25Rào cản chủ quan là các rào cản được chủ động dựng lên nhằm mục đích ngăn cản, hoặc bào vệ lợi ích của đối tượng cần bảo vệ Loại rào cản này là do con người và cơ chế tạo ra đây là loại rào cản chúng ta có thể khắc phục được khi chúng ta nhận ra rào cản do chúng ta tạo ra
Rào cản khách quan là các rào cản phát sinh ngoài bản thân sự vật, hiện tượng mà ta không lường trước được đây là loại rào cản khó khắc phục vì loại rào cản này chúng ta không thể lường trước được
Trong phạm vi đề tài, theo nhận định của tác giả rào cản về nguồn lực KH&CN được hiểu là những rào cản về Tài chính KH&CN (tài lực), rào cản
về con người (nhân lực), rào cản về cở sở vật chất (vật lực), rào cản về thông tin KH&CN (Tin lực) là các tác động gây cản trở, gây khó khăn trong việc ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN
1.1.6 Khái niệm khoa học, công nghệ
- Khái niệm khoa học
Luật Khoa học và Công nghệ 2013 định nghĩa: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” [18]
Theo từ điển bách khoa toàn thư thì Khoa học là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ Các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa
- Khái niệm công nghệ
Theo tài liệu nghiên cứu của tác giả Vũ Cao Đàm, công nghệ là một trật
tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất/ thông tin [33, tr.3]
Trang 26Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2013): “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” [18]
Trong thực tế, tùy thuộc vào mục tiêu, mục đích và chiến lược phát triển năng lực của mỗi đơn vị mà có thể hiểu và vận dụng thuật ngữ “công nghệ” vào hoạt dộng quản lý có thể khác nhau chúng ta có thể hiểu công nghệ gồm 2 phần gồm phần cứng của công nghệ và phần mềm của công nghệ :
- Phần cứng của công nghệ là bao gồm cơ sở hạ tầng máy móc, nhà xưởng, thiết bị, công cụ, … là phần công nghệ có liên quan đến phương tiện kỹ thuật và cơ sở hạ tầng có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện các quy trình công nghệ
- Phần mềm của công nghệ là các quy trình, kinh nghiệm, phương pháp, bản vẽ, tài liệu, thông tin, bí quyết, công thức, … là phần công nghệ có liên quan để khai thác, sử dụng có hiệu quả phần cứng của công nghệ
1.2 Cơ sở lý luận phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Vai trò Vai trò của Công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo
và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN
Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT có nhiều ảnh hưởng tích cực đến mọi mặt của hoạt động đời sống, trong đó có giáo dục Lĩnh vực này đóng vai trò
to lớn trong sự phát triển của ngành giáo dục Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung
Vai trò của CNTT giúp hoạt động đào tạo tại các cơ sở giáo dục đạt hiệu quả cao hơn và đặc biệt là sự phát triển của internet đã giúp cho người học và người dạy có một kho kiến thức vô cùng đa dạng và phong phú, giúp cho việc tìm hiểu kiến thức đơn giản hơn rất nhiều, cải thiện chất lượng học và dạy Các kiến thức đa dạng và được cập nhật thường xuyên nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối internet CNTT cũng giúp nâng cao chất lượng quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học
Trang 27Học viện KH&CN là cơ sở đào tạo sau đại học và có cơ chế đặc thù riêng các giảng viên và các khoa của Học viện là kiêm nghiệm nằm ở các viện chuyên ngành, có khoa thì nhiều viện cùng tham gia và có viện thì tham gia ở nhiều khoa do đó về tổ chức và quản lý còn gặp nhiều khó khăn sự kết nối giữa các khoa các viện mất rất nhiều thời gian Ví dụ như Khoa khoa học Trái đất bao gồm các viện tham gia là: Viện Vật lý địa cầu, Viện Địa Lý, Viện Địa chất, Trung tâm vệ tinh quốc gia, hay tại Khoa Địa lý thì các viện tham gia
là Viện địa lý, viện Nghiên cứu khoa học Miền trung, Viện Địa lý tài nguyên
TP Hồ Chí Minh, Học viện là đầu mối điều phối, hỗ trợ hoạt động đào tạo sau đại học ở tất cả các Viện nghiên cứu chuyên ngành, trong đó, đội ngũ giáo viên đào tạo, hoạt động nghiên cứu phục vụ đào tạo được lấy trực tiếp tại các Viện nghiên cứu chuyên ngành Bộ máy ở các khoa, bộ môn, hội đồng khoa, hội đồng khoa học đào tạo Học viện hầu hết là các cán bộ nghiên cứu, quản lý tại các Viện nghiên cứu chuyên ngành và kiêm nhiệm tại Học viện Với mô hình trên, cơ chế hoạt động của Học viện mang tính đặc thù cao, hoàn toàn khác biệt với các Đại học phổ biến ở Việt Nam
Với tính đặc thù trong mô hình quản lý hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện, với sự phân bố rộng khắp cả nước của các Viện nghiên cứu chuyên ngành, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, trong đó có lĩnh vực công nghệ thông tin như hiện nay đòi hỏi đặt ra phương pháp luận nhằm xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác đào tạo phù hợp với đặc thù của Học viện là rất lớn
Việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo tại Học viện không thể sử dụng giải pháp phần cứng và phần mềm đóng gói một cách đơn
lẻ mà cần tiếp cận cách đào tạo theo hướng e-learning nhưng có sự điều chỉnh, cân đối một cách hợp lý với đặc thù của Học viện; phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh chung của Việt Nam
Nhận rõ vai trò quan trọng của CNTT trong sự phát triển của đất nước, Đảng, Chính phủ và các cơ quan quản lý đã ban hành nhiều văn bản về đẩy mạnh triển khai ứng dụng CNTT như:
Trang 28- Chỉ thị số 55/2008/CT-BGD ĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo, ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2013 Là nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của CNTT và triển khai có kết quả cao yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT là
“Đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
- Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử với mục tiêu đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các
cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn Nâng vị trí của Việt Nam về Chính phủ điện tử theo xếp hạng của Liên Hợp quốc Công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng
- Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 2 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ cụ thể Nghị định này bao gồm 06 chương 38 điều, một số nội dung chủ yếu qui định về hoạt động thông tin KH&CN Tại Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 2 năm 2014 đã nêu chi tiết nội dung hoạt động thông tin KH&CN đã bao quát
từ việc tạo lập và phát triển nguồn tin KH&CN đến sử dụng, phổ biến và cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN nhằm phục vụ cho việc quản lý, dự báo, hoạch định chính sách, lãnh đạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và các hoạt động kinh tế - xã hội khác Các quy định về sử dụng, phổ biến thông tin KH&CN nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo, lãnh đạo
và quản lý, phổ biến rộng rãi kiến thức KH&CN Đặc biệt, trong nghiên cứu khoa học tránh tình trạng các đề tài nghiên cứu trùng lặp dẫn đến lãng phí nguồn lực, thời gian, Nghị định quy định cần phải tra cứu và sử dụng thông tin KH&CN trong công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư của nhà nước cho KH&CN
- Nghị quyết 26/NQ-CP về ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 1/7/2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trang 29Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế
- Quyết định số 2378/QĐ-BTTTT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ Thông tin Truyền thông về Công bố định mức chi phí quản lý dự án, chi phí
tư vấn đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng ngân sách nhà nước;
- Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và
hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” Đây là tiền đề để triển khai hệ thống học tập trực tuyến tại các cơ sở đào tạo đại học; lựa chọn, sử dụng các bài giảng trực tuyến của nước ngoài phù hợp với điều kiện tại Học viện KH&CN
Quyết định số 677/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính ngày 18/5/2017 về việc phê duyệt Đề án "Phát triển Hệ tri thức Việt số hóa" Hiện nay tại các cơ
sở giáo dục đại học, bên cạnh rất nhiều các nhiệm vụ phải thực hiện, nhiệm
vụ là đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ cốt yếu Trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ nêu trên, các cơ sở giáo dục đại học đã và đang quản lý một lượng thông tin KH&CN lớn, đa dạng, phong phú tùy theo từng chuyên ngành đào tạo Nếu nguồn tin KH&CN này được sử dụng một cách hiệu quả, nó sẽ đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của nguồn tin KH&CN Quốc gia nói riêng và cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước ta nói chung Vai trò của thông tin KH&CN là rất lớn Do vậy, Học viện KH&CN cần định hướng rõ hoạt động thông tin Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án phát triển hệ tri thức Việt số hóa với mục tiêu xây dựng Hệ tri thức việt số hóa thông qua việc tổng hợp, hệ thống hóa, số hóa, lưu trữ và phổ biến tri thức trong mọi lĩnh vực Đây là vấn đề lớn, chắc chắn cần tích cực chủ động tham gia vào phát triển Hệ tri thức việt số hóa Nguồn thông tin KH&CN được sinh ra tại Học viện KH&CN liên quan đến lĩnh vực KH&CN như các đề tài nghiên cứu khoa học của các giảng viên, luận văn của học viên cao học, luận án của Nghiên cứu sinh và các thông tin về Hội thảo khoa học,
Trang 30Diễn đàn, Hội nghị … đây là những nguồn thông tin KH&CN có giá trị cần được quản lý bài bản và có tổ chức Thực tế tại Học viện KH&CN các nguồn thông tin KH&CN này lại chưa được lưu trữ một cách có tổ chức, có hệ thống chưa có hệ thống lưu trữ
Tại Viện Hàn lâm KHCNVN nhận rõ vai trò quan trọng của CNTT, Viện Hàn lâm KHCNVN đã ban hành nhiều văn bản về đẩy mạnh triển khai ứng dụng CNTT như:
- Quyết định số 993/QĐ-VHL ngày 23 tháng 06 năm 2015 của Viện Hàn lâm về việc Ban hành Quy chế về quản lý và cung cấp thông tin trên các cổng/trang thông tin điện tử;
- Quyết định số 1239/QĐ-VHL ngày 03 tháng 08 năm 2016 của Chủ tịch Viện Hàn lâm về việc Ban hành Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của Viện Hàn lâm giai đoạn 2016 – 2020;
- Chỉ thị số 03/CT-VHL ngày 09 tháng 09 năm 2016 của Chủ tịch Viện Hàn lâm về việc nâng cao chất lượng, tăng cường phối hợp giữa Học viện và các Viện nghiên cứu chuyên ngành, các đơn vị trực thuộc về hoạt động đào tạo sau đại học của Viện Hàn lâm KHCNVN;
- Quyết định số1744/QĐ-VHL ngày 11/8/2017của Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về việc phê duyệt chủ trương đầu tư
dự án Nâng cấp phòng học và hệ thống đào tạo trực tuyến của Học viện Khoa học và Công nghệ
1.2.2 Những đặc điểm nổi bật của hệ thống đào tạo trực tuyến khi ứng dụng vào hoạt động đào tạo tại Học viện KH&CN
Khi hệ thống đào tạo trực tuyến được trang bị sẽ giúp Học viện nâng cao được năng lực, chủ động được nội dung, quy mô và thời gian đào tạo thạc
sỹ và tiến sỹ về khoa học tự nhiên và công nghệ và thực hiện hiệu quả hơn những nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học
Trang bị hệ thống đào tạo trực tuyến phù hợp với định hướng phát triển ứng dụng CNTT của Viện Hàn lâm và của Đảng, Chính phủ E-learning phục
Trang 31tập, trong đó có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy với người học cũng như giữa cộng đồng học tập một cách thuận lợi như:
Một là, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, địa điểm Một khóa
học e-learning được chuyển tải qua mạng tới máy tính người học, điều này cho phép học viên học vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu Số lượng người học trong một phòng học nhất định bị giới hạn bởi sức chứa của phòng học
đó Trong khi đó, với e-learning, số người học của mỗi chương trình đào tạo
sẽ tăng lên đáng kể Nhiều người có thể tham gia học mà không cần phải tập trung về một địa điểm mà có thể tham gia các chương trình đào tạo qua mạng Internet hoặc có thể học tập và nghe giảng một cách thoải mái ngay tại nhà riêng của mình
Hai là, giảng dạy tập trung, không giống như những lớp học truyền
thống, nơi chỉ một người dạy duy nhất sẽ chịu trách nhiệm dạy cho một nhóm lớn các học sinh từ khoảng 20 đến 40 người Học online với e-learning thường có tỷ lệ một giáo viên –một học sinh hoặc một giáo viên với nhiều học sinh ở nhiều địa điểm khác nhau Trong hệ thống đào tạo trực tuyến, học sinh được dạy học thông qua một chương trình giảng dạy mô phỏng Có nghĩa là, nếu học sinh không hiểu về một vấn đề nào đó thì vẫn có thể dễ dàng xem lại bài học của mình chỉ bằng một cú nhấp chuột đơn giản
Ba là, tiết kiệm thời gian và tiền bạc Người học trực tuyến sẽ tiết kiệm
được cả thời gian và tiền bạc vì trường học của họ sẽ ở ngay trước màn hình máy tính Không giống như trong các khóa học trong các cơ sở đào tạo, học sinh của E-learning sẽ tiết kiệm thời gian đi lại và tiết kiệm tiền cho các khoản chi phí cho sách giáo khoa, sách hướng dẫn, và các học liệu khác
Bốn là, tự định hướng Là khóa học trực tuyến nên trong một số dịch vụ,
người học có thể tự định hướng cho mình bằng cách chọn khóa học phù hợp nhất đối với trình độ, sở thích, mục tiêu của bản thân
Năm là, tính linh hoạt, tính đồng bộ, tính cập nhật Người học có thể học
theo thời gian biểu mình định ra Không bị gò bó bởi thời gian và không gian lớp học dù bạn vẫn đang ở trong lớp học “ảo” Giáo trình và tài liệu của các khóa học trực tuyến là có tính đồng bộ cao vì các hầu hết học trình cùng tài liệu được soạn thảo và đưa vào chương trình dạy được xem xét và đưa lên trang trực tuyến từ ban đầu Do vậy, tính đồng bộ được đảm bảo Nội dung khóa học thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm đáp ứng tốt nhất kiến thức cho học viên
Sáu là, tương tác và hợp tác Học trực tuyến người học có thể giao lưu và
tương tác với nhiều người cùng lúc Họ cũng có thể hợp tác với bạn bè trong
Trang 32nhóm học trực tuyến để thảo luận và làm bài tập về nhà Ngày nay, việc tương tác và hợp tác trên Internet là phổ biến qua forum, blog, Facebook… và có thể tận dụng Internet để “vừa làm vừa học vừa chơi”
Bảy là, hiệu quả: Học trực tuyến giúp người học không chỉ tiết kiệm chi
phí mà còn đáp ứng đúng với nhu cầu của mình
Tám là, dễ tiếp cận và thuận tiện Dịch vụ học trực tuyến dựa trên công
nghệ Internet, vì vậy tiếp cận rất dễ dàng Người học có thể tiếp cận và học bất cứ nơi đâu Đây cũng chính là tính thuận tiện của việc học trực tuyến
1.2.3 Những tiêu chí ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN
Tiêu chí về ứng dụng CNTT tại Học viện KH&CN được hiểu gồm các nhóm tiêu chí như sau:
- Nhóm tiêu chí về hạ tầng tối thiểu đáp ứng triển khai ứng dụng công nghệ thông tin gồm:
Trang bị máy tính tối thiểu phải đáp ứng triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, Mạng nội bộ (LAN) đường truyền kết nối Internet, Máy chủ chuyên dụng (máy chủ ứng dụng/máy chủ cơ sở dữ liệu - CSDL);
Có phòng máy chủ (các thiết bị theo dõi nhiệt độ, độ ẩm; thiết bị kiểm soát người vào/ra; thiết bị phòng cháy, chữa cháy);
Trang thiết bị phục vụ đào tạo trực tuyến, Trang thiết bị phục vụ hội nghị truyền hình;
Xây dựng Phần mềm hệ thống (hệ điều hành, hệ quản trị CSDL) vẫn còn được hỗ trợ từ nhà sản xuất (ngoại trừ phần mềm mã nguồn mở);
Có thiết bị tường lửa, Thiết bị lưu trữ (Máy chủ lưu trữ hoặc thiết bị lưu trữ ngoài, thiết bị đọc mã vạch, máy in mã vạch);
Có hệ thống lưu trữ (SAN hoặc NAS);
Bảng thông báo điện tử (Thông báo bản tin , Lịch công tác,…)
Thiết bị di động, máy tính bảng, mạng LAN không dây (wireless)
Có hệ thống camera an ninh, hệ thống lưu trữ dự phòng
Trang 33- Nhóm tiêu chí phần mềm đáp ứng quản lý điều hành, quản lý hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN phải đáp ứng các phân
hệ quản lý có chức năng như sau:
Quản lý tài chính - kế toán;
Quản lý tài sản, trang thiết bị;
Quản lý nhân lực;
Quản lý văn bản (văn bản đi, văn bản đến);
Chỉ đạo trực tuyến;
Trang thông tin điện tử;
Thư điện tử nội bộ;
Quản lý đào tạo (Kế hoạch đào tạo, chương trình, môn học, đăng ký học, quản lý tổ chức thi, quản lý kết quả học tập, quản lý lớp học, xét học tiếp, thôi học, xét làm đồ án, tốt nghiệp, quản lý văn bằng chứng chỉ, quản lý thu kinh phí, cổng thông tin sinh viên, quản trị hệ thống);
Quản lý nghiên cứu khoa học;
Quản lý chất lượng giảng viên, học viên, các nhà khoa học, …;
Thông tin (cho phép Giảng viên, học viên và nhà khoa học tra cứu thông tin về Lịch công tác, giảng dạy, bảng biểu, lý lịch khoa học, … )
Trang 34Kết luận Chương 1
Trong Chương 1, tác giả đã nhắc lại một số khái niệm về nguồn lực KH&CN; Công nghệ thông tin; Ứng dụng công nghệ thông tin; Nghiên cứu khoa học, Hoạt động đào tạo, rào cản và rào cản về nguồn lực KH&CN Chương 1 đã cung cấp cơ sở lý luận để tác giả phân tích, nhận diện những rào cản về nguồn lực KH&CN trong ứng dụng thông tin vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trong Chương 2
Trang 35CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG NGUỒN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
2.1 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Giới thiệu về Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Viện Hàn lâm KHCNVN được thành lập từ năm 1975, là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ và có 51 đơn vị trực thuộc trong đó có 34 đơn vị sự nghiệp NCKH
Viện Hàn lâm KHCNVN là cơ quan đầu ngành về nghiên cứu khoa học
tự nhiên và công nghệ, tại các viện nghiên cứu của Viện Hàn lâm có nhiều Phòng thí nghiệm được trang bị các thiết bị nghiên cứu hiện đại đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt
có 4 phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia (PTNTĐ) về Công nghệ Gen; Công nghệ mạng; Vật liệu và linh kiện điện tử; Công nghệ tế bào thực vật Tính đến tháng 11/2017, Viện Hàn lâm KHCNVN có tổng số trên 4000 cán bộ, viên chức, trong đó có 2425 cán bộ biên chế; 55 giáo sư, 190 phó giáo
sư, 32 tiến sĩ khoa học, 902 tiến sĩ, 905 thạc sĩ và 595 cán bộ, viên chức có trình độ đại học [26, Tr 8]
2.1.2 Giới thiệu về Học viện KH&CN
- Học viện Khoa học và Công nghệ (Tên tiếng Anh: Graduate University
of Sciences and Technology, viết tắt: GUST) được thành lập theo Quyết định
số 1691/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Học viện Khoa học và Công nghệ là cơ
sở giáo dục công lập, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; có chức năng đào tạo và cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ về các chuyên ngành khoa học tự nhiên và công nghệ
Trang 36- Trụ sở làm việc của Học viện KH&CN
Địa chỉ của Học viện KH&CN tại: Toà nhà Ươm tạo công nghệ nhà A28,
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
CƠ CẤU TỔ CHỨC HỌC VIỆN
Hình 1.Cơ cấu tổ chức của Học viện KH&CN [11, Tr 14]
Hiện trạng về nguồn lực của Học viện KH&CN
Học viện được thành lập dựa trên nguồn lực đã có về đào tạo sau đại học
ở các Viện chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN - Cơ quan nghiên cứu đứng đầu cả nước về Khoa học Công nghệ Nhờ phát huy nguồn lực của Viện Hàn lâm KHCNVN, Học viện là cơ sở đào tạo sau đại học và nghiên
Trang 37cứu khoa học hàng đầu đất nước về các chuyên ngành khoa học tự nhiên và công nghệ
- Về đội ngũ giảng viên, nghiên cứu sinh (NCS) và học viên cao học:
Hiện tại Học viện đang triển khai đào tạo khoảng 1.000 NCS tại 12 Khoa: Khoa Toán học; Khoa Hóa học; Khoa Vật lý; Khoa Công nghệ sinh học; Khoa Các khoa học trái đất; Khoa Khoa học và Công nghệ biển; Khoa Địa lý; Khoa Công nghệ thông tin và Viễn thông; Khoa Sinh thái tài nguyên
và Môi trường; Khoa Khoa học vật liệu và Năng lượng; Khoa Cơ học và Tự động hóa Học viện đang đào tạo hơn 200 học viên cao học tại 7 khoa: Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh Học, Sinh thái tài nguyên sinh vật, Công nghệ thông tin, Công nghệ môi trường
SỐ LƢỢNG NGHIÊN CỨU SINH VÀ HỌC VIÊN CAO HỌC NĂM 2017
Hình 2 Số lượng NCS và học viên cao học của Học viện KH&CN [11, Tr 13]
Học viện có đội ngũ giảng viên có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm trong đào tạo và nghiên cứu khoa học với 746 giảng viên (trong đó có 55 Giáo sư,
190 Phó Giáo sư, 501 Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học) thuộc các đơn vị của Viện Hàn lâm KHCNVN đang tham gia vào công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Học viện KH&CN
Trang 38SỐ LƢỢNG GIẢNG VIÊN NĂM 2017
Hình 3 Số lượng giảng viên của Học viện KH&CN [11, Tr 14]
- Về cơ sở vật chất phòng học: Học viện có hệ thống hội trường và 4
phòng học tại Tòa nhà Ươm tạo công nghệ (nhà A28), 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu giấy Hà Nội; 4 phòng học tại Tòa nhà số 1 Mạc Đĩnh Chi, Quận 1, TP
Hồ Chí Minh và một số phòng học tại một số Viện nghiên cứu chuyên ngành
đã và đang đào tạo sau đại học;
- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị: Học viện có hệ thống trang thiết bị
nghiên cứu, phòng thí nghiệm, hệ thống thông tin thư viện hiện đại nằm tại 37 Viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm;
- Về quy mô đào tạo: Học viện tổ chức đào tạo 53 chuyên ngành đào tạo
ở trình độ Tiến sỹ, 18 chuyên ngành đào tạo ở trình độ Thạc sĩ
- Về phạm vi địa lý: Học viện hiện là đầu mối đào tạo sau đại học của tất
cả các Viện chuyên ngành của Viện Hàn lâm, các cơ sở đào tạo của Học viện trải dài trên khắp đất nước, từ Bắc – Trung - Nam Học viện tổ chức thành 6 khu vực đào tạo: Tp Hồ Chí Minh, Tp Nha Trang, khu vực miền Trung, khu vực Tây Bắc, khu vực Tây Nguyên, khu vực Đông Bắc
- Về mô hình tổ chức, hoạt động đào tạo: Mô hình và cơ chế hoạt động
của Học viện mang tính đặc thù cao theo mô hình đầu mối, chủ trì kết nối, hỗ trợ công tác đào tạo với các Viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN,
vì vậy hoàn toàn khác biệt với một cơ sở đào tạo đại học độc lập
Trang 39- Về đội ngũ nhân viên, cán bộ quản lý đào tạo tại Học viện: Đội ngũ cán
bộ cơ hữu của Học viện bao gồm: Lãnh đạo Học viện, các cán bộ quản lý đào tạo của các Phòng chức năng tại trụ sở chính (18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy,
Hà Nội) và đội ngũ cán bộ tại các Khoa nằm ở các Viện chuyên ngành của Viện Hàn lâm KHCNVN
Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý tại Học viện hiện nay (tính đến tháng 12/2017) gồm: 38 cán bộ viên chức và người lao động (trong đó có
03 Giáo sư, 08 Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học, 03 Thạc sĩ, còn lại là trình độ đại học) với 17 cán bộ trong biên chế và 21 nhân viên hợp đồng do Học viện trả lương [11, Tr 10]
Ngoài ra, Học viện có một lực lượng cán bộ kiêm nhiệm hùng hậu, có kinh nghiệm trong việc đào tạo và quản lý đào tạo tại 12 Khoa nằm ở 37 Viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN Các Viện nghiên cứu chuyên ngành trước đây đều là các cơ sở đào tạo sau đại học hàng đầu, có
uy tín cao, đặc biệt là đào tạo trình độ tiến sĩ
- Tính đặc thù trong quản lý đào tạo của Học viện KH&CN
Hiện nay, các Viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN có chức năng nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học gồm:
Trang 40Bảng 2.1 Các Viện nghiên cứu chuyên ngành của Viện Hàn lâm KHCNVN tham gia phối hợp về công tác đào tạo với Học viện KH&CN [11,
o Trung tâm đào tạo, tư vấn & chuyển giao công nghệ
Viện Hải dương học
Viện Nghiên cứu và ứng dụng Nha Trang
Đà Lạt Viện Nghiên cứu khoa học Tây Nguyên