1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người nông dân trong văn học đương đại qua truyện ngắn của nguyễn minh châu và tạ duy anh

90 177 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng với đề tài Hình tượng người nông dân trong văn học đương đại qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh, tôi muốn khảo sát, phân tích những truyện ngắn viết về người nông

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ TÂM

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI QUA TRUYỆN NGẮN CỦA

NGUYỄN MINH CHÂU VÀ TẠ DUY ANH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hà Văn Đức

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi tới PGS TS Hà Văn Đức lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, người thầy đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn Khoa Văn học, đặc biệt các thầy cô trong

tổ Văn học Việt Nam, Phòng sau đại học, Trường Đại học Khoa học xã hội

& nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin cảm ơn tới bạn bè, gia đình, đồng nghiệp, những người thân yêu

đã luôn ở bên cạnh động viên, cổ vũ tôi

Mặc dù đã có những cố gắng, song luận văn khó tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc để tác giả được rút kinh nghiệm, bổ sung cho luận văn được hoàn chỉnh hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Lê Thị Tâm

Trang 4

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài……… 03

2 Lịch sử vấn đề ……… 04

3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu………… ………… 08

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của luận văn 11

6 Cấu trúc luận văn 11

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh trong dòng chảy truyện ngắn đương đại Việt Nam 12

1.1 Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 12

1.1.1 Diện mạo chung truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 12

1.1.2 Diện mạo truyện ngắn viết về người nông dân sau năm 1986 16

1.2 Hành trình sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh trong dòng chảy văn học đương đại 18

1.1.3 Khái quát truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 18

1.1.4 Khái quát truyện ngắn Tạ Duy Anh 20

Chương 2: Các kiểu/ dạng người nông dân trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh 24

2.1 Nét tương đồng trong hình tượng người nông dân qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh 24

2.1.1 Người nông dân – nạn nhân của hoàn cảnh 24

2.1.2 Người nông dân bị tha hóa………….……… 31

2.1.3 Người nông dân bi kịch 34

2.1.4 Người nông dân vượt lên số phận và hành trình tìm kiếm bản thể 37

Trang 5

2.2 Sự khác biệt trong hình tượng người nông dân qua truyện ngắn của

Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh 39

2.1.5 Người nông dân trong sáng tác Nguyễn Minh Châu 39

2.1.6 Người nông dân trong sáng tác Tạ Duy Anh 42

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hình tượng người nông dân trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh 46

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 46

3.1.1 Thể hiện qua ngoại hình 46

3.1.2 Thể hiện qua hành động 52

3.1.3 Thể hiện qua nội tâm………56

3.2 Kết cấu và tình huống truyện 60

3.2.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu 60

3.2.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống 64

3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu 66

3.3.1 Ngôn ngữ 66

3.3.2 Giọng điệu 75

PHẦN KẾT LUẬN 78

TƯ LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Nông thôn và người nông dân luôn là mảng đề tài lớn được duy trì và in dấu trên mọi sáng tác văn học Việt Nam từ xưa đến nay Điều đó được minh chứng từ thực tiễn sáng tác với hình ảnh người nông dân trong làng quê mộc mạc qua các thể loại Đặc biệt, giai đoạn văn học 1930 – 1945, các nhà văn hiện thực phê phán đã khẳng định sự thành công khi dựng nên bức tranh nông thôn đa sắc với nhiều mảng sáng – tối đan cài về thân phận người nông dân oằn mình dưới “xiềng xích”, ách thống trị “đa tròng” của

xã hội thực dân, phong kiến Nhiều nhà văn đã thành công và làm nên tên tuổi với mảng đề tài này như: Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… trước cách mạng và sau này là: Đào Vũ, Vũ Thị Thường, Nguyễn Kiên…

2 Từ sau thời kỳ đổi mới (1986) đến nay bên cạnh đề tài sau chiến tranh thì đề tài về người nông dân được nhiều nhà văn thể hiện thành công nhất Dưới ngòi bút nhạy bén, cách truyền tải đa dạng, dù ở phương thức tiểu thuyết hay truyện ngắn, trên văn đàn cũng ghi nhận được nhiều tác phẩm đặc sắc, tạo được dấu ấn riêng Nhiều nội dung hấp dẫn, mới lạ trong đó không thể không nhắc đến Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh với những truyện ngắn đặc sắc viết về hình tượng người nông dân

3 Nguyễn Minh Châu – một trong những nhà văn tiêu biểu khoác áo lính trong nền văn học Việt Nam Khi hòa bình lặp lại, bắc nam xum họp, cả nước vui chung niềm vui độc lập, thống nhất và giải quyết hậu quả khốc liệt của chiến tranh thì với cương vị là nhà văn, ông hướng cây bút của mình vào việc miêu tả hiện thực xã hội cũng như lột tả số phận người nông dân qua nhiều tập truyện ngắn đặc sắc

Trang 7

Nói đến truyện ngắn đương đại Việt Nam, là thiếu sót nếu không nhắc tới nhà văn Tạ Duy Anh – người góp phần to lớn cho nền văn học nước nhà thời kỳ đổi mới sôi nổi Có thể coi ông như lớp kế cận phù hợp và nổi trội nhất sau Nguyễn Minh Châu khi viết về hình tượng người nông dân

Đã có nhiều công trình bài viết nghiên cứu về truyện ngắn của

Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh Nhưng với đề tài Hình tượng người

nông dân trong văn học đương đại qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh, tôi muốn khảo sát, phân tích những truyện ngắn viết

về người nông dân của hai nhà văn để qua đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

2.1 Nguyễn Minh Châu – nhà văn lớn, một hiện tượng của văn học thập kỉ

20 của thế kỉ XX – “người mở đường tinh anh và tài ba của văn học dân tộc” với nhiều sáng tác gây được sự chú ý và đón đợi lớn từ đông đảo giới nghiên cứu và độc giả Trước đó, đã có một số công trình tìm hiểu về hình tượng người nông dân trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu được chú ý, sau đây tôi xin được điểm qua một số công trình tiêu biểu:

Đọc Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu đăng trên báo Văn nghệ

số 7 năm 1990 của nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu là những phát hiện sắc sảo với nhiều ý kiến hay về nội dung, những điểm nhấn quan trọng của tác phẩm Ông nhận định đó là tác phẩm đa thanh với kiểu âm vang nhiều giọng điệu của sự hóa thân giữa người nông dân – Lão Khúng và con bò khoang trong cốt truyện đã gợi mở cho bạn đọc nhiều cảm xúc và suy tưởng sâu sắc

Nguyễn Văn Hạnh đưa ra nhận định về quan niệm con người trong

tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê cho tới

Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu trong đề tài Nguyễn Minh Châu những năm

Trang 8

80 và sự đổi mới cách nhìn về con người in trong Tạp chí Văn học số 3

năm 1993 Thông qua đề tài này ông chỉ ra cách thức xây dựng nhân vật: nét đặc trưng nhận biết của từng người, dụng ý nghệ thuật của nhà văn – không lý tưởng hóa cuộc sống, nhìn nhận cuộc sống đa chiều ở nhiều góc

độ trên các vai trò, bình diện khác nhau

Công trình tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu có lẽ

của Tôn Phương Lan năm 1996 với đề tài: Tìm hiểu phong cách nghệ thuật

Nguyễn Minh Châu Công trình đã làm nổi bật tư tưởng nghệ thuật – quan

niệm về hiện thực và con người của nhà văn lớn Bên cạnh đó là thế giới nhân vật và bút pháp nghệ thuật đặc sắc: tình huống truyện, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ đặc sắc

Những ý kiến đăng ở thể loại tạp chí phải kể tới: Tìm hiểu tư tưởng

nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua quan niệm nghệ thuật về con người

– Tạp chí Văn học số 4 năm 1996 và Một vài loại hình nhân vật trong sáng

tác của Nguyễn Minh Châu – Tạp chí Văn học số 6 năm 1997, Phạm Thị

Phương Tìm hiểu tính cách nhân vật qua kết cấu truyện ngắn – Tạp chí Văn học số 4 năm 1998, Trịnh Thu Tuyết về Nguyễn Minh Châu với nghệ

thuật xây dựng truyện ngắn – Tạp chí Văn học số 1 năm 1999

Cuốn sách tổng hợp những bài viết về Nguyễn Minh Châu trên tạp chí, báo… nhằm mục đích khái quát, so sánh và lí giải những đóng góp, đổi mới về cách nghĩ, cách viết về hình tượng người nông dân của nhà văn Nguyễn Minh Châu Tôn Phương Lan và Lại Nguyên Ân biên soạn do

NXB Hội nhà văn in vào năm 1991 mang tên Nguyễn Minh Châu con

người và tác phẩm

Ngoài ra không thể không nhắc tới một số tiểu luận phê bình về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu như:

Trang 9

 Đọc khách ở quê ra và Phiên chợ Giát nghĩ về người nông dân xứ

Nghệ trước yêu cầu đổi mới của Nguyễn Thanh Tùng (Hội văn nghệ Nghệ An năm 1995)

 Một hình tượng nông dân điển hình trong sáng tác của Nguyễn Minh

Châu – Lê Quang Hưng (Hội văn nghệ Nghệ An năm 1995)

 Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới về cách nhìn con

người – Nguyễn Văn Hạnh (Tạp chí Văn học số 3 năm 1993)

 Sáng tác truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu, Lại Nguyên

Ân (Tạp chí Văn học số 3 năm 1987)

 Lê Quang Hiếu – Một hình tượng người nông dân điển hình trong

sáng tác của Nguyễn Minh Châu (về nhân vật lão Khúng trong Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát) - (Nguyễn Minh Châu – tác giả, tác phẩm –

NXB Giáo dục)

 Nguyễn Văn Hạnh – Nguyễn Minh Châu những năm 80 của sự đổi

mới cách nhìn về con người – (Văn Nghệ H.1989 Số 27, 28)

 Phạm Quang Long – Thái độ của Nguyễn Minh Châu đối với con

người Niềm tin pha lẫn âu lo – (TCVN, năm 1996 Số 9)

 Tôn Phương Lan – Một vài loại hình nhân vật trong sáng tác của

Nguyễn Minh Châu – (Tiểu luận văn học Năm 1997 Số 6)

Nói về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Minh Châu, tác giả Hoàng Thị Văn từng nói: “Qua những trang viết, nhà văn gửi lại cuộc đời tấm lòng ưu ái với những con người lam lũ, chịu nhiều hi sinh mất mát, nhà văn gửi lại những hiểu biết, khám phá sâu sắc của mình về thế giới nội tâm con người, về những số phận và cuộc đời buồn vui dang dở”

Tác giả thứ hai phải nhắc tới chính là: nhà văn Tạ Duy Anh – người

đã khuấy động cả một bầu không khí sinh hoạt văn hóa, văn nghệ nước nhà – “là tác giả của những tác phẩm luôn làm bạn đọc giật mình và suy ngẫm”

Trang 10

Ông Hoàng Ngọc Hiến khẳng định: “Tạ Duy Anh Bước qua lời nguyền để

đi đến Lão Khổ Thêm một giả thiết văn học về bản chất và thân phận

người nông dân Việt Nam”

Trong bản tổng kết “Cuộc thi truyện ngắn đề tài nông thôn” đăng

trên báo Văn nghệ số 4 – 5 năm 1990 có đoạn viết: “Truyện ngắn Bước qua

lời nguyền của Tạ Duy Anh báo hiệu một tấm lòng lớn, một tầm nhìn xa và

một tài năng trẻ viết về số phận con người…”

Trên Tạp chí văn học số 4 năm 1995, Hồng Ngọc Hiến còn cho rằng:

“Nhiều truyện trong tập truyện Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh mang

cảm hứng trút bỏ những thành kiến nặng nề của quá khứ, xóa bỏ những nếp sống gắn liền với bạo lực, sự cùng khốn và tối tăm… và thỏa mãn khát vọng yêu thương – nhu cầu nhân tính cao nhất của con người”

Bài Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện ác đã đưa ra một số cái nhìn cơ

bản về quan niệm của tác giả và con người: “Nhân vật của Tạ Duy Anh không có sự trung gian, nhờ nhờ, xam xám về ngoại hình Người xấu thì cứ xấu như lão Phụng… người đẹp thì như hoa như ngọc: Quý Anh, chị Túc,

bà Ba, như sản phụ chờ sinh Nhưng bản chất con người thì luôn ở ranh giới thiện – ác Nhân vật nào cũng luôn luôn bị đặt trong trạng thái đấu tranh với xã hội với môi trường, với kẻ thù, với người thân, với chính bản thân mình.”

Trong bài viết Tạ Duy Anh - người đi tìm nhân vật tác giả Thụy

Khuê đã nhận thức về nhân vật Tạ Duy Anh với cái nhìn lịch sử: “Những nhân vật của Tạ Duy Anh qua bao tác phẩm từ hơn mười năm nay vẫn gắn

bó mật thiết với nhau trong một tương quan chặt chẽ, họ hàng, làng nước

Họ xuất thân cùng ở làng Đồng, họ cùng tiềm ẩn thù hận dòng họ, hận thù giai cấp…”

Trang 11

Báo Pháp Luật số 140 năm 2004 đưa nhận định: “ông là một tác giả tâm huyết, trăn trở với số phận con người nhất là khi họ rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân cách Tạ Duy Anh đã nhìn hiện thực một cách lý trí, lạnh lùng nhưng cũng đầy thương xót con người và đặc biệt là cuộc đời đầy thăng trầm của người nông dân”

Báo Giáo dục và thời đại số 80 năm 2004 đặt câu hỏi: “Số phận con người phải chăng luôn là sự trăn trở, dằn vặt trong ông” và tác giả bài báo cũng đưa ra gợi ý về câu trả lời: “Nhân vật nào của ông cũng thấp thoáng bóng dáng của người nông dân sinh ngày 9 tháng 9 tại làng Đồng”

Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu về truyện ngắn Tạ Duy Anh như:

Nguyễn Thị Mai Loan: Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh

(ĐH Sư phạm Hà Nội, năm 2004)

Phạm Thị Hương: Tạ Duy Anh từ quan niệm nghệ thuật đến những

đổi mới trong sáng tác truyện ngắn (ĐH Sư phạm Hà Nội, năm

2005)

Vũ Thị Thanh Hà với: Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu

thuyết Tạ Duy Anh (ĐH Sư phạm Hà Nội, năm 2005)

Phạm Quỳnh Dương: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy

Anh (ĐH Khoa học xã hội nhân văn, năm 2008)

Lã Thị Hiếu: Hiện thực nông thôn trong truyện ngắn Tạ Duy Anh

(Đại học Đà Nẵng, năm 2011)

Từ những lập luận điểm trên có thể khẳng định những nghiên cứu và đánh giá về hình tượng người nông dân trong văn học đương đại Việt Nam qua thể loại truyện ngắn chưa thực sự trọn vẹn Hơn nữa những công trình

về Nguyễn Minh Châu hay Tạ Duy Anh hầu hết tập trung ở thể loại tiểu thuyết – những tác phẩm dài hơi, có dấu ấn lớn hơn Vì vậy, thiết nghĩ

Trang 12

những lí do này là gợi ý cho đề tài luận văn này của tôi tiến hành và thực hiện

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của tôi là những truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh viết về người nông dân trong tiến trình vận động của văn học đương đại Trong quá trình nghiên cứu, tôi sẽ tham khảo, xem xét một số nhân vật và hình tượng người nông dân của các tác giả khác nhằm mục đích liên hệ và mở rộng thêm vấn đề

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tác phẩm có hình tượng người nông dân trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh trong dòng chảy văn học đương đại

Cụ thể, khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu gồm: Chiếc

thuyền ngoài xa (1987), Cỏ lau, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát (1989), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu…

Khảo sát truyện ngắn của Tạ Duy Anh gồm: Bước qua lời nguyền (1989), Quả trứng vàng (1989), Hiệp sĩ áo cỏ (1993), Luân hồi (1994), Con

dế ma (1999), Ánh sáng nàng (2000), Vĩ ngựa trở về (2000), Ngày hội cuối cùng (2000), Những truyện không phải trong mơ (2003), Truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh (2003)…

3.3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, với mục đích tìm hiểu thấu đáo và cụ thể hình tượng người nông dân trong văn học đương đại Việt Nam nói chung và trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh nói riêng để thấy được điểm thống nhất và khác biệt trong cách thể hiện nhân vật

Trang 13

Mặt khác, đặt hình tượng người nông dân trong cái nhìn đối sánh qua sáng tác của hai nhà văn, tôi muốn cho người đọc nhìn nhận những điểm kế thừa và phát huy, chuyển biến của người nông dân từng giai đoạn khác nhau, dưới những ngòi bút sáng tạo khác nhau Qua đó thấy được mỗi hình tượng có điểm mạnh riêng, vốn sống riêng và phong cách nghệ thuật riêng không thể trộn lẫn Hình tượng người nông dân nào được xây dựng cũng đều là tâm huyết, “đứa con tinh thần” của mỗi nhà văn nhưng chắc chắn với vốn sống, hiểu biết và khả năng sáng tác riêng thì mỗi hình tượng ấy sẽ mang trong mình những nét chấm phá riêng, tạo cho người đọc những hình tượng đa dạng, phong phú, góp phần to lớn cho nền văn học đương đại nước nhà

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp loại hình: biểu hiện ở hai khía cạnh: cấu trúc bên trong của đối tượng và tìm ra những quy luật phát triển của nó Cụ thể hơn trong luận văn này, nét tương đồng rõ nhất của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh đều thể hiện qua thể loại: truyện ngắn Sử dụng phương pháp này nhằm làm rõ những đặc trưng của thể loại truyện ngắn trong sáng tác của hai nhà văn

Phương pháp tiếp cận hệ thống – cấu trúc: đối tượng chỉ được bộc lộ đầy đủ trong mối quan hệ qua lại với các yếu tố trong cùng hệ thống Nếu tách mình ra khỏi hệ thống, đối tượng chỉ là một yếu tố ngẫu nhiên, đơn lẻ

và sự đánh giá về nó sẽ trở nên phiến diện, không đầy đủ và không có giá trị khoa học Truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh

là một hệ thống hoàn chỉnh Nghiên cứu hình tượng người nông dân trong sáng tác của họ nhất thiết phải đặt trong hệ thống hoàn chỉnh đó

Phương pháp xã hội học văn học: Mỗi hình tượng nghệ thuật là con

đẻ tinh thần của nhà văn đồng thời cũng là sản phẩm cụ thể của từng thời

Trang 14

kỳ lịch sử khác nhau, vì vậy ở mỗi thời kì nó mang ý nghĩa nhất định Cụ thể hơn khi nghiên cứu đề tài này, ta phải đặt đối tượng trong từng hoàn cảnh cụ thể, có như thế mới chính xác và khách quan, kết quả nghiên cứu mới có sức thuyết phục cao

Phương pháp phân tích – tổng hợp: Mỗi hình tượng nghệ thuật là một kết cấu hoàn chỉnh được xây dựng bởi nhiều chi tiết, yếu tố có mối quan hệ không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo phương hướng tổng hợp, còn tổng hợp được thực hiện dựa trên kết quả của phân tích Người nông dân trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh sẽ được tìm hiểu gắn với từng chi tiết trong sáng tác của họ

Phương pháp so sánh – đối chiếu: Giúp chúng ta hiểu rõ bản chất và

vị trí của một hiện tượng văn học trong các mối tương quan đa chiều của nó làm tăng tính sinh động, hấp dẫn Đặc biệt trong đề tài này, hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh sẽ được đưa ra so sánh ở nhiều cấp độ và phương diện khác nhau để thấy được điểm tương đồng và khác biệt cũng như thành công và hạn chế ở mỗi tác giả

5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Luận văn góp phần nhận diện chung nhất tiến trình vận động và phát triển của truyện ngắn đương đại Việt Nam qua tuyển tập truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh nhằm thấy được sự

kế thừa, tiếp nối những thành tựu của giai đoạn trước 1986 và những vấn

đề mà giai đoạn sau tiếp cận, phản ánh

Giúp bạn đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về truyện ngắn Việt Nam viết

về đề tài người nông dân, tiêu biểu là tập truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Công trình sẽ góp thêm một tư liệu cho việc học tập và nghiên cứu

Trang 15

Tạ Duy Anh, Nguyễn Minh Châu trong trường đại học và công tác giảng dạy tác phẩm của hai tác giả

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phần Nội dung của Luận văn này gồm 03 chương:

Chương 1: Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh trong dòng chảy truyện ngắn đương đại Việt Nam

Chương 2: Các kiểu/ dạng người nông dân trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hình tượng người nông dân trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh

NỘI DUNG

Chương 1: TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU VÀ TẠ DUY ANH TRONG DÒNG CHẢY TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM

1.1.1 Diện mạo chung truyện ngắn sau năm 1986

Sau chiến thắng 1975, đất nước thống nhất, niềm vui của khúc ca khải hoàn lan rộng khắp cả nước, len lỏi từng thôn xóm Ngay sau đó, cả nước đồng lòng góp sức bắt tay vào công cuộc hàn gắn hậu quả, vết thương chiến tranh với những nỗi lo cơm áo gạo tiền của cuộc sống thường nhật Hiện thực ấy không đơn giản là kiến thiết, xây dựng và nhận những trái ngọt mà chúng ta đã trải qua thời kỳ dài bao cấp với vô số những bất cập không thể tránh khỏi Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, tình trạng dần được cải thiện, đời sống kinh tế dần khởi sắc sau thời gian dài trì trệ Đặc biệt sau Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), Đảng ta đã xác định

Trang 16

đường lối đổi mới một cách toàn diện và sau đó là Nghị Quyết 05 đã thổi một luồng sinh khí vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, từ đây mở ra một thời kì đổi mới của văn học Việt Nam từ cách nhìn hiện thực, cách nhìn nhận cuộc sống, con người cho đến tư duy nghệ thuật

Giai đoạn văn học trước năm 1975 gắn liền với nhiều biến cố lịch sử, theo sát từng bước đi, từng cuộc chiến trong phong trào cách mạng Giá trị của tác phẩm bấy giờ gắn với nội dung hiện thực và lấy đó là thước đo Nguyễn Minh Châu từng nhận xét: “Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn, không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm chân thực Nhưng về một phía cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh hoạ, văn học minh hoạ, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khắc khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn” [24;13] Vô số tác phẩm thời kì đổi mới cho người đọc thấy cái nhìn hiện thực đa chiều từ truyện ngắn tới tiểu thuyết Nhà văn sau đổi mới đã nhào nặn hiện thực, trăn trở trước xã hội để đưa ra những tác phẩm đích thực nhưng không mất đi sự phong phú, đa dạng của cuộc sống Con người – nhân vật trung tâm luôn được nhìn nhận ở nhiều vị thế và đặt trong cái nhìn

đa chiều của mọi mối quan hệ: con người với xã hội, với lịch sử, với gia đình/ gia tộc, với tự nhiên… và với chính con người Hình ảnh con người trong văn học hiện lên chân thực với cả tốt – xấu, thiên thần – ác quỷ, cao

cả – tầm thường Văn học thời kì đổi mới có nhiều khám phá, phát kiến lớn

và phản ánh cuộc sống đương đại bộn bề những ngổn ngang Đó không chỉ

là sự chuyển đổi của số lượng tác giả, tác phẩm mà còn ở chất lượng, tư duy và cảm hứng sáng tác

Trang 17

Một kỉ nguyên mới mở ra khi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã kết thúc sau hơn ba mươi năm Văn học được trả lại đúng giá trị vốn có, được

“nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” – trích Báo

cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI Vì vậy mà văn xuôi thời

kỳ đổi mới, chiếm vị trí quan trọng nhưng đồng thời cũng xuất hiện nhiều cuộc tranh cãi gay gắt trên văn đàn Chính điều đó như cú “hích” thúc đẩy nền văn học phải vận động, chuyển mình và tiếp thu những giá trị mới – đây là quy luật phát triển tự thân cần thiết so với nền văn học cũ Đáng chú

ý là tư tưởng tự do dân chủ đã đem đến nguồn động viên, cổ vũ lớn lao cho các văn nghệ sĩ – những người coi viết văn là nghề cao quý, chân chính –

họ được nhìn nhận cuộc sống một cách thoải mái, hướng ngòi bút của mình vào mọi ngõ ngách của đời sống, số phận từng nhân vật được phơi bày…

đã tạo nên “thời kỳ phong phú của hiện tượng văn học” – như nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến đã nói Người ta nhận thấy rằng, chưa bao giờ văn học lại chứa đựng không khí đổi mới lại sôi sục và náo nhiệt tới vậy Và cũng chưa bao giờ người ta thấy văn xuôi lại chiếm địa vị thống trị văn đàn lớn như thế Nguyễn Minh Châu chính là một trong những tác giả tiêu biểu

“mở đường tinh anh” cho cú “hích” đó với loạt truyện ngắn lừng danh: Bức

tranh, Phiên chợ Giát, người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành… Ba tác

phẩm, ba bức tranh, ba đời sống, ba số phận với những tâm tư tình cảm, bút pháp không trùng lặp đã thể hiện Nguyễn Minh Châu xứng đáng là bậc

thầy trong văn xuôi thời đương đại Tiếp đó phải kể tới Thời gian của

người, Gặp gở cuối năm của Nguyễn Khải cho đến Tướng về hưu –

Nguyễn Huy Thiệp đã khiến cho nhiều cây bút giật mình nhận ra “từ nay không còn có thể viết như trước nữa, “phải đổi thay… phải viết khác đi”,

“cần tìm cho mình một ngôn ngữ nghệ thuật khác” (Nguyên Ngọc) Cùng với đó là sự khuyến khích đổi mới văn nghệ của Bộ chính trị ở Nghị quyết

Trang 18

05: “Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo, rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, phát triển các loại hình nghệ thuật, các hình thức biểu hiện” Ở thời điểm

mà “thiên thời – địa lợi – nhân hòa”, văn học trên đà phát triển mạnh mẽ,

nở rộ với hàng loạt cây bút tài năng được bộc lộ cùng nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại khác nhau được “đơm hoa kết trái”

Thời kỳ đầu công cuộc đổi mới, tiểu thuyết thịnh hành và “lên ngôi” khoảng năm đến sáu năm nhưng sau đó truyện ngắn dành lại được thế

“thượng phong” với hàng loạt tác phẩm cho thấy tính nhân văn sâu sắc, toàn diện và những nhân vật “đời”, ăn nhập gần gũi với đời sống thực tại nhất Các tác giả dần quay lại truyện ngắn để thể hiện những vấn đề cuộc sống, số phận cá nhân với nhiều đau thương đan lẫn niềm vui sướng, hạnh phúc hay những rung động nhẹ nhàng đến dằn vặt đau đớn… Qua ba cuộc

thi truyện ngắn trên báo Văn nghệ, Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và tạp chí Văn nghệ quân đội có gần 700 truyện ngắn dự thi Nếu tính cả

truyện ngắn đăng trên báo, tạp chí trong năm con số sẽ lên hàng vạn – đó là thống kê cơ bản cho ta thấy được tốc độ phát triển của truyện ngắn cũng như số lượng nhà văn cầm bút Tiếp đến, cuộc thi truyện ngắn năm 2001 –

2002 do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức có gần 2.000 tác phẩm dự thi

bằng số lượng truyện ngắn bốn năm 1978 - 1979, 1983 – 1984 Có thể nói chưa bao giờ truyện ngắn phát triển phong phú về số lượng lẫn chất lượng nghệ thuật như thời kì này Với dung lượng có thể coi là “nhỏ bé”, tước bỏ những chi tiết “rườm rà”, sự dồn nén các yếu tố không gian, thời gian, tâm

lý nhân vật, kết cấu Nó đi sâu vào mọi vấn đề của đời sống thường ngày từ những mất mát của người lính trong chiến tranh đến những hận thù của dòng họ, gia tộc, sự khắc nghiệt của cái đói khát, nghèo khổ, cô đơn, niềm hân hoan, hạnh phúc, xót xa, những vấn đề thuộc về tâm linh, tiềm thức và

Trang 19

vô thức…bao nhiêu phức tạp của đời thường đều được truyện ngắn phản ánh một cách chân thực Nếu ví tiểu thuyết như cây đại thụ với đầy đủ gốc, hoa lá cành xum xuê…thì truyện ngắn được coi như lát cắt ngang của thân cây đó Nhưng điều quan trọng mặt cắt thân cây ấy vẫn thể hiện rõ nét từng đường vân hiện thực Truyện ngắn giờ đây không còn là “mũi khoan thăm

dò nhỏ và nhẹ” (Nguyên Ngọc) mà đã mang sức nặng của sự khái quát, để qua mỗi câu chuyện có thể khái quát được một cảnh đời, một kiếp người, một vận hội, một thời đại

Truyện ngắn đương đại còn xuất hiện sự đan xen khéo léo của nhiều thể loại trong một tác phẩm như có cả thơ, văn xuôi và kịch; tiêu biểu cho

loại hình đặc sắc này là truyện ngắn giàu tính kịch ở Không có vua –

Nguyễn Huy Thiệp; chất thơ với biểu hiện nhiều suy cảm ở truyện ngắn

Trong cơn mưa - Phạm Thị Hoài; dung nạp nhiều yếu tố trữ tình và khắc

họa nhân vật với nhiều trạng huống tâm trạng phải kể tới truyện ngắn Cái

nhìn khắc khoải, Dòng nhớ, Chiều vắng, Hiu hiu gió bắc…của Nguyễn

Ngọc Tư; hình thức truyện ngắn – nhật ký là tác phẩm của nhà văn Phan

Thị Vàng Anh, Mưa – Nguyễn Huy Thiệp… Tư duy tiểu thuyết trong

truyện ngắn được đặc trưng bởi sự “dài hơi”, ôm chứa nhiều vấn đề đời sống, sự luân chuyển ngôi kể, đan xen các điểm nhìn, kỹ thuật phân tích

tâm lý, độc thoại nội tâm… Ở đây có thể thấy ở nhiều trường hợp như: Giọt

máu, Con gái thủy thần – Nguyễn Huy Thiệp, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát – Nguyễn Minh Châu, Bước qua lời nguyền – Tạ Duy Anh, Cánh đồng bất tận – Nguyễn Ngọc Tư, Nhiệt đới gió mùa – Lê Minh Khuê…

Điều này đã chứng tỏ những biến động bề mặt và trong cấu trúc tự sự của thể loại truyện ngắn Nhu cầu làm mới thể loại không ngừng vận động và phát triển, sự xâm lấn và đan cài giữa các yếu tố trở nên nở rộ đã chứng tỏ nhu cầu bức thiết, quy luật vận động nội tại của thể loại

Trang 20

1.1.2 Diện mạo văn xuôi viết về người nông dân sau năm 1986

Trước kia, văn xuôi viết về đề tài người nông dân chủ yếu là việc giác ngộ cách mạng, đấu tranh giai cấp, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp… thì sau đổi mới, ta thấy được sự chuyển biến cơ bản trong tư tưởng khi chủ yếu tác phẩm khám phá số phận con người cá nhân trên nhiều góc độ, quanh các mối quan hệ: gia đình, dòng họ, làng xóm, cộng đồng, đến chính bản thân mình… Thể loại mang lại nguồn sinh lực tràn trề nhựa sống – truyện ngắn, với tên tuổi và tác phẩm tiêu biểu: Nguyễn Minh

Châu với Cỏ lau, Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra, Chiếc thuyền ngoài xa,

Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,…Nguyễn Quang Lập với Tiếng gọi

phía mặt trời lặn, Nguyễn Huy Thiệp với Tướng về hưu, Nguyễn Quang

Thiều với Hai người đàn bà xóm trại, Tạ Duy Anh với Bước qua lời

nguyền, Lũ vịt trời, Xưa kia chị đẹp nhất làng, Vòng trầm luân trần gian…Võ Thị Hảo với Biển cứu rỗi, Nguyễn Thị Thu Huệ với Hậu thiên

đường đường, Y Ban với Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Phan Thị Vàng Anh với Khi người ta trẻ, Phan Triều Hải với Một tối ở quán bar

Văn xuôi đương đại viết về người nông dân Việt Nam ở bất kỳ vùng quê nào cũng gắn con người trong những mối quan hệ “bất di bất dịch”, hiện hữu vốn có Trước hết là quan hệ dòng tộc – khác với người thành phố, người thôn quê bao giờ cũng coi trọng “tình làng nghĩa xóm”, “bán

anh em xa mua láng giềng gần” Truyện ngắn của Tạ Duy Anh - Bước qua

lời nguyền là tác phẩm đầu tiên đề cập tới chủ đề này với nhiều thông điệp

và dụng ý nghệ thuật đáng suy ngẫm Câu chuyện kể với danh xưng “tôi” – người được giao trọng trách cao cả khi phải tiếp tục việc trả thù gia đình Quý Anh – con của địa chủ Hứa Những dằn vặt nội tâm, những suy tư đau đáu của “tôi” được Tạ Duy Anh lột tả sâu sắc khiến người đọc cảm thông

và thương xót cho cái bi kịch kia, sự thù hằn truyền kiếp của con người làm

Trang 21

cho “con cháu” cảm thấy nặng nề, không lối thoái Cũng trong chủ đề này

là truyện ngắn Nỗi đau dòng họ của Sương Nguyệt Minh Dựa trên câu

chuyện có thật xảy ra ở làng quê, nhà văn đã dựng vào trang văn nhiều tình tiết về mối thù truyền kiếp cũng của hai dòng họ: Ninh – Nguyễn Sự đố

kỵ, định kiến trong thôn xóm đã khiến họ rơi vào bi kịch mà chính họ là người dựng ra: kiện tụng, xung đột đẫm máu… gây đau khổ cho bao con người Sự êm đềm của vùng quê bị khuấy đảo, cuộc sống mỗi cá nhân, gia đình gặp những hệ lụy không đáng có, bất hạnh của người cha, người mẹ…

Nguyễn Minh Châu là người mở màn cho chủ đề này với hình tượng

người nông dân Khúng qua hai truyện ngắn nổi danh Khách ở quê ra và

Phiên chợ Giát “Một nông dân ròng”, suy nghĩ, thân phận điển hình cho

người nông dân làng quê nhưng đầy ý chí, niềm tin về cuộc sống tốt đẹp hơn và ẩn sâu trong lão vẫn là người chồng, người cha… có tình thương và lòng trắc ẩn lớn lao Cuộc sống thời bình sau chiến tranh, không cam chịu nghèo đói lão Khúng dẫn cả nhà đi “khai phá” vùng đất mới, không chấp nhận hủ tục, lạc hậu lão dựng nhà trên nền đất cũ mà dân làng đồn là

“thiêng” lắm…

Khai thác số phận ở góc nhìn khác, Nguyễn Ngọc Tư gây “chấn

động” lớn trên văn đàn khi ra mắt truyện ngắn Cánh đồng bất tận – tác

phẩm được chuyển thể thành phim cũng được đón nhận đông đảo từ người xem Ngoài số phận con người khốn cùng bởi: nghèo đói, không nhà không cửa, thiên tai bệnh dịch… thì họ còn phải đối mặt với sự thù hằn của chính

“đồng loại” – con người trở nên khốn đốn và cô độc trong chính cuộc sống của mình

Tạ Duy Anh cũng góp “công lớn” lột tả số phận người nông dân giai

đoạn này với tác phẩm Lũ vịt trời Ông khai thác đề tài tham nhũng, lũng

Trang 22

loạn nông thôn làm người nông dân thêm khổ khi ngày đêm lặn lội vì

“miếng ăn manh áo” trên cánh đồng “bạc đầu vì nắng và gió”

Và cho dù phơi bày những cái xấu, quá trình hội nhập vẫn còn nhiều bất cập thì làng quê, nhất là người nông dân trong tất cả tác phẩm đều đâu

đó chứa đựng ký ức, cội nguồn với điều tốt đẹp, “chốn bình yên đi về” của mỗi người

1.2 Hành trình sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh trong dòng chảy văn học đương đại

1.2.1 Khái quát truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu (1939 – 1989) – nhà văn lớn của nền văn học dân tộc nói chung và giai đoạn văn học Việt Nam hiện đại nói riêng Dù bắt

đầu sáng tác muộn với truyện ngắn đầu tay Sau buổi tập (năm 1960) nhưng

tác phẩm của ông gây tiếng vang lớn và có vị trị nhất định trên con đường nghệ thuật Trong 29 năm cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã để lại 14 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình…

Và Phiên chợ Giát là truyện ngắn cuối cùng được ông viết khi còn nằm ở

trên giường bệnh Nếu trước chiến tranh là cảm hứng lãng mạn, miêu tả cái hào hùng và phẩm chất tốt đẹp của con người trong chiến đấu với nhiều nỗi trăn trở, lo âu thì sau chiến tranh, Nguyễn Minh Châu hướng ngòi bút khai phá thực tại, bám sát sự vận động của cuộc sống đời thường Nhìn lại một

loạt sáng tác tiêu biểu cho cảm hứng đó như: Bức tranh, Cỏ lau, Người đàn

bà trên chuyến tàu tốc hành, Cơn giông… Dù là cuộc chiến tranh khốc liệt

và đầy tàn nhẫn với nhiều mất mát và hi sinh đã kết thúc, nhưng ở thời bình cuộc chiến thiện – ác, tốt – xấu… vẫn luôn tồn tại Vì vậy mà phần lớn những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 đều tập trung viết

về những góc khuất khác nhau của cuộc sống Bức tranh – như lời xám hối,

tự thú của nhân vật sau thời gian dài “bươn trải” đó đây rồi trở về với quê

Trang 23

hương bản quán; Cỏ lau là nỗi day dứt, băn khoăn không có đường ra của

nhân vật Lực trước sự hi sinh của đồng đội đồng thời là sự hòa nhập cộng đồng sau thời bình với nhiều mất mát của anh Lão Khúng – người nông

dân với đầy xót xa từ truyện ngắn Khách ở quê ra tới Phiên chợ Giát Thật

đáng tiếc khi sự nghiệp văn chương của ông đang trên đà, ở độ “thăng hoa”

thì ông lại qua đởi ở tuổi 50

Số phận con người là một trong những cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 Với nhiều cống hiến xuất sắc, ông đã miêu tả và bộc lộ nỗi lo âu, khắc khoải con người hòa nhập trong thời bình, trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa xã hội

Mối quan hệ ấy có ít nhiều phức tạp nên ông không ngừng đào sâu tìm tòi

để góp nhặt cho mình những kinh nghiệm, vốn sống Xã hội thay đổi, đời sống thay đổi kéo theo nhiều biến đổi tâm lý, con người trở về cuộc sống đời thường với nỗi lo mưu sinh, “cơm áo gạo tiền” Bằng sự nhạy cảm vốn

có những như nhiệm vụ là con mắt, lỗ tai của xã hội, Nguyễn Minh Châu luôn luôn suy ngẫm và tìm hiểu một cách sâu sắc rằng: “Đằng sau số phận của cộng đồng là số phận của mỗi cá nhân” Hành động nhận thức lại cuộc chiến tranh và thân phận con người trong cuộc chiến ấy đã được ông thể

hiện trong một loạt các tác phẩm: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,

Bức tranh, Cỏ lau…

Còn ở Có lau là nỗi xót xa, ân hận của Lực trước cái chết của đồng

đội do mình gây ra và một lần nữa là bi kịch khi trở về quê trong thời bình thì Thai – người con gái anh yêu đã có chồng Số phận liên tục “quật ngã” anh bằng những sự việc đau lòng và khó cưỡng Người chiến sĩ anh dũng

ấy – “mưa bom bão đạn” không ngại ngần nhưng sao ở thời bình anh cô độc và hoang mang đến vậy

Trang 24

Đề tài hình tượng người nông dân tuy không mới nhưng dưới ngòi bút của ông, lão Khúng – “nông dân ròng” hiện ra đầy “lạ lẫm” qua truyện

ngắn Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát – tác phẩm cuối đời được ông viết

trên giường bệnh, bằng tất cả tâm huyết và nỗ lực cuối cùng của mình

Như vậy, từ những nhận định trên ta có thể thấy rằng truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong văn học đương đại rất chú trọng tới số phận và nhân cách con người – đặc biệt là người nông dân Tư duy đổi mới cùng những nỗ lực không ngừng của cá nhân, Nguyễn Minh Châu đã góp phần

to lớn vào xây dựng và hoàn thiện nền văn học nước nhà, đặc biệt là truyện ngắn viết về người nông dân trong văn học đương đại Việt Nam

1.2.2 Khái quát truyện ngắn Tạ Duy Anh

Tạ Duy Anh sinh năm 1959 ở huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (cũ)

Người đọc biết đến ông lần đầu tiên qua truyện ngắn Để hiểu một con

người trên báo Văn nghệ năm 1980 Ông từng tâm sự trên Báo Tuổi trẻ vào

tháng 8 năm 2004: “Tôi sinh ra ở một vùng quê hẻo lánh, thấm đẫm không khí thù hận, cơ thể còi cọc, mặt mũi đen đủi, xấu xí, sống với người cha

“rắn như thép” Tôi biến thân xác của tôi thành cái vỏ ốc để bao bọc toà lâu đài tôi xây bằng trí tưởng tượng… Tôi hoàn toàn tự do trong vương quốc

do tôi tự tạo ra” Và “Bi kịch lớn nhất đời tôi là sự chối bỏ, từ trong ý thức sâu thẳm vùng đất mình sinh ra và lớn lên” Ông có ý thức rõ ràng với văn chương nghệ thuật, ông coi đó “giống như sự dâng tặng tình yêu, tôi không

hề băn khoăn, không hề để lại mảy may cho riêng mình như một sự phòng

xa nào đó Tôi kí thác một lần trọn vẹn và chung thân cho niềm đam mê cái đẹp” Cũng bởi những nguyên do đó mà hầu hết tác phẩm Tạ Duy Anh đều

ít nhiều mang dấu ấn cá nhân, hình ảnh làng quê và những con người nơi ông sinh ra và lớn lên Nỗi niềm cô đơn, đau khổ được ông truyền tải qua câu chữ trên những trang văn dài Ông từng khẳng khái nói: “tôi chấp nhận

Trang 25

sự bài xích, thậm chí nguyền rủa để tạo một cảm nhận khác, một tư duy khác”

Tạ Duy Anh có ý thức rất cao trong việc cầm bút, ông như người nông dân cần mẫn trên cánh đồng chữ nghĩa để cho ra đời hàng loạt tác phẩm có giá trị đạt tới đỉnh cao Quá trình “giác ngộ” ông ngày đêm say mê

với câu chữ như con tằm nhả tơ và cho ra đời Bước qua lời nguyền Tác phẩm này để là minh chứng tiêu biểu cho luận điểm: “Bước qua lời nguyền

của Tạ Duy Anh gói gọn trong mươi trang cả một cuộc đời, một kiếp người, mấy kiếp người vừa là tác giả, vừa là nạn nhân của những bi kịch xã hội đằng đẵng một thời”

Sau đó, ông tiếp tục cho ra đời những “đứa con tinh thần” xuất sắc

như: tiểu thuyết Khúc dạo đầu năm 1991, tiểu thuyết Lão Khổ năm 1992, tiểu thuyết Đi tìm nhân vật năm 1999, tập truyện Bố cục hoàn hảo năm

2004, tiểu thuyết Thiên thần xám hối năm 2004, Bến thời gian, Gã và nàng,

Ngày hội cuối cùng, Quả trứng vàng, Ba đào ký, Những truyện không phải trong mơ, Bức tranh của em gái tôi, Dưới bàn tay vô hình, Vó ngựa trở về, Con dế ma, Xưa kia chị đẹp nhất làng, Đối thủ còi cọc…và nhiều tập

truyện dành cho thiếu nhi Dù viết ở thể loại nào thì mỗi con chữ, mỗi trang văn của ông đều khắc khoải khi nghĩ về những người nông dân nghèo nàn, lam lũ, bất hạnh, những người đói khổ bị đẩy vào bước đường cùng cực của cuộc sống, bị tha hóa về nhân cách “Số phận con người – phải chăng luôn là sự trăn trở dằn vặt trong ông?” Đó là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong hành trình sáng tạo văn chương của Tạ Duy Anh Với lương tâm của người cầm bút, ông phác họa bức tranh đời sống con người một cách sinh động và “đời nhất” có thể Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí ông khẳng định: “Bất kì sự buông thả nào cũng phải trả giá, suốt nhiều năm tôi

Trang 26

đã vất vả tìm cách thoát khỏi chính mình Và suy cho cùng điều đó thuộc

về logic sáng tạo”

Trong văn chương, mỗi nhà văn tự khẳng định tư cách, chỗ đứng của mình bằng những sáng tạo nghệ thuật riêng Mỗi tác phẩm là tiếng nói, phát ngôn riêng, quan điểm chủ quan của người cầm bút về thực tại – lối đi riêng Vì vậy, những trăn trở của Tạ Duy Anh qua từng câu văn, trang giấy đều thể hiện tràn đầy trong lối viết ở các tác phẩm: đời sống cải cách ruộng đất trong quá khứ, tập tính “cố hữu” trong nông thôn của người nông dân, khát khao trần tục của con người Có thể nói rằng, Tạ Duy Anh tiếp cận

và tái hiện đời sống bằng con mắt chính trực dù đó là những nội dung

“nhạy cảm”, nhức nhối, phi lý Và ông có niềm tin mãnh liệt rằng những đóng góp “nhỏ như hạt bụi” sẽ dần mang thêm nhiều điều tốt đẹp đến cuộc

sống Quan niệm này của Tạ Duy Anh rất gần với quan niệm của nhà văn

Nguyễn Minh Châu Cả hai nhà văn đều không tham vọng lớn lao rằng văn

học có thể thay đổi, “rung chuyển” cả thế giới nhưng rất coi trọng những đóng góp tốt đẹp, nhân văn dù là nhỏ bé “Tôi muốn dùng ngòi bút tham gia trợ lực vào cuộc giao tranh không có gì ồn ào nhưng xảy ra từng giờ, từng ngày và khắp mọi lĩnh vực đời sống” – những chia sẻ ngắn gọn của Tạ Duy Anh khi nó về truyện ngắn của mình trên báo Văn Nghệ đăng năm

1985

Dù trang truyện ngắn Tạ Duy Anh phản ánh hiện thực cuộc sống với đầy rãy cái xấu xa, tội ác, mặt trái cuộc sống nhưng trong sâu thẳm tâm hồn ông vẫn luôn có niềm tin vào giá trị “Chân – Thiện – Mỹ”, “Hãy trả cho con người những thứ họ được trời tặng”

Tiểu kết

Như vậy, nhìn nhận lại toàn bộ chương 1 có thể thấy rằng: dù ở Nguyễn Minh Châu hay Tạ Duy Anh có những điểm khác nhau không thể

Trang 27

phủ nhận từ cách khai thác nhân vật, phương thức thể hiện hay xây dựng tình huống truyện, tình tiết hé lộ đời sống nhân vật, bộc lộ dụng ý nghệ thuật… thì đâu đó ta vẫn thấy ở họ có những điểm tương đồng “đầy bất ngờ” Cùng nằm trong sự vận động của truyện ngắn đương đại Việt Nam, như hai thế hệ nhỏ, Tạ Duy Anh tiếp nối Nguyễn Minh Châu – hai mảnh ghép hoàn hảo tạo nên sự hình dung “hoàn mỹ” về số phận người nông dân thời bấy giờ Cả hai đều tự chủ và ý thức được sự đòi hỏi của “nghề viết”

ấy, không ngừng sáng tạo và “đào sâu, sáng tạo những gì chưa có” – Nam Cao

Chương 2: CÁC KIỂU/ DẠNG NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU – TẠ DUY ANH

2.1 Nét tương đồng trong hình tượng người nông dân qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Tạ Duy Anh

Trang 28

2.1.1 Người nông dân – nạn nhân của hoàn cảnh

Anh Chí, Chị Dậu, Lão Hạc… những nhân vật người nông dân điển hình trong xã hội điển hình thời trước có những số phận bi ai khác nhau: người bị tước bỏ quyền làm người, người bán con, bán chó… để sống lay lắt qua ngày Vì miếng cơm, manh áo mà họ bị chính xã hội dồn vào bước đường cùng, túng quẫn Việc xây dựng nhân vật bị tác động sâu sắc của xã hội không phải là mới trong văn học nhưng ở mỗi giai đoạn, nhân vật được mỗi tác giả nhìn nhận, soi chiếu và đặt trong hoàn cảnh, số phận khác nhau Người nông dân trong văn học đương đại không nằm ngoài quy luật vận

động đó Những trận đòn roi của anh chồng lên người vợ trong Chiếc

thuyền ngoài xa là do hoàn cảnh éo le xô đẩy Hạt nhân của câu chuyện là

người đàn ông đánh vợ Nguyễn Minh Châu phản ánh bạo lực gia đình không giống sự phản ánh của báo chí ngày nay Đằng sau hình ảnh người đàn ông đánh vợ, khuất sau những chiếc xe tăng cũ là câu chuyện gia đình làng chài vì đông con, vì cái đói khổ, thiếu thốn nên người đàn ông ấy bất lực mà trút cơn giận lên vợ con bằng chiếc thắt lưng Mỹ Nơi chiến trường xưa, dấu tích của chiến tranh còn để lại lộ lộ ra những chiếc xe tăng cháy đang nằm trên bãi biển vẫn còn sự đau thương, bất hạnh, vẫn còn những trận đòn lên lưng người phụ nữ như câu chuyện thường tình trong cuộc sống Cuộc sống đói kém và tình thương con đã làm người phụ nữ nhẫn nhục, chịu đựng và vượt qua Con người cùng với cuộc sống của họ được nhà văn tập trung thể hiện thông qua những nhân vật “phiếm chỉ”: người đàn ông, người đàn bà, đứa con mà người kể chuyện biết được là thằng Phác

Người đàn bà – người hứng chịu trận đòn roi xuất hiện đầu tiên trong tác phẩm được mô tả: trạc ngoài bốn mươi tuổi, thô kệch, khuôn mặt lộ rõ sự mệt mỏi Hình ảnh ấy gợi về cuộc đời vất vả, nhọc nhằn, lam lũ Người đàn

Trang 29

bà ấy có đặc điểm là chịu đựng “rất giỏi” những trận đòn đầy hung dữ của chồng: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng mà không hề bỏ chạy hay chảy một giọt nước mắt nào Ngược lại, chị ta lại rất mau nước mắt trước mặt con hay nói về con Người vợ ấy như bao số phận người phụ

nữ làng chài khác: đông con, nghèo khổ, nạn nhân của bạo lực gia đình, giàu lòng thương con và cam chịu, không muốn mất gia đình Trước “công đường”, chị có vẻ khúm núm, sợ sệt nhưng khi đã biết người này chỉ muốn giúp đỡ mình, chị đã mạnh dạn hẳn lên, thay đổi cách xưng hô Cùng là nhân vật dưới ngòi bút Nguyễn Minh Châu nhưng với Lão Khúng – số phận ấy có những điểm trái ngược với những nhân vật làng chài ấy Lão Khúng hiện lên là người đàn ông của gia đình, tình yêu thương cô Huệ - về sau là vợ lão Dù bị hoàn cảnh xô đẩy tới những biến cố lớn nhưng lão vẫn giữ được sự “bình tĩnh, yêu thương” trong chính ngôi nhà mình Nếu người

chồng trong Chiếc thuyền ngoài xa trút cơn giận lên thân xác người vợ thì

Lão Khúng lại yêu thương cô Huệ hết mức – người vợ xinh đẹp lão luôn tự hào Lòng trắc ẩn, tình thương lão dành cho cả con Khoang – con vật nuôi trong gia đình lão Cuộc sống dù khó khăn, phải bỏ làng đi khai hoang vùng đất mới, về nhà xây nhà trên đất cũ của miếu làng bị đàm tiếu thì lão vẫn vững vàng, là chỗ dựa của gia đình, vợ con lão Hình tượng người đàn ông đã có sự tiến triển ngay trong chính ngòi bút Nguyễn Minh Châu

Nét tương đồng ấy người đọc lần nữa nhìn thấy trong nhân vật của tác phẩm Tạ Duy Anh – sản phẩm của thù hận và định kiến xã hội Không khí tăm tối, thù hận và đầy định kiến của làng Đồng đã được Tạ Duy Anh khắc hoạ rất rõ trong mỗi bản tính của nhân vật Con người tự gây ra thù hận, định kiến, tự chuốc lấy đau khổ, biến những người xung quanh mình trở thành nạn nhân rồi tự chất vấn, dày vò, ân hận… Rồi lão Hứa, lão Tuế một thời là lý trưởng, địa chủ cầm trong tay quyền sinh quyền sát một thời

Trang 30

nhưng khi cải cách ruộng đất phải “sống lủi thủi như một con chó lạc loài”

“hiền lành nhu mì như hòn đất” “gặp đứa trẻ lên sáu cũng nhất nhất đều lên tiếng chào trước” Rồi đến cái chết của họ cũng thật tủi nhục và khốn khổ:

“Làng không cho lão vào nghĩa địa … Hôm đưa tang lão, thối khắp cả làng đến nỗi ruồi xanh đuổi theo quan tài đông hơn ong vỡ tổ Mấy ngày sau thán khí vẫn còn chưa hết khiến mấy chục con chó hoá dại một lúc rồi theo lão cả”

Ngu muội, tăm tối, thù hận đã huỷ hoại biết bao con người đến không còn tính người, tình người Nhưng họ không thể ân xá cho nhau, không thể “bước qua lời nguyền” để tha thứ cho nhau trong hiện tại Họ sống một cuộc sống tăm tối thù hận, đầy những định kiến tập tục lạc hậu,

cổ hủ Người cha trong Bước qua lời nguyền nuôi mối thù với một dòng họ

khác và luôn kể lại cho những đứa con của mình nghe những tội lỗi và cái

ác của kẻ thù để “tôi” “ghi vào tận xương tuỷ”, “khiến tâm hồn tôi thẫm đẫm những hồi ức kinh hoàng không bao giờ còn hong khô được nữa” Sự trì níu của những ân oán quá khứ cứ đè nặng lên vai họ suốt cả cuộc đời

Họ phải gồng mình lên để chống đỡ nó, để ghi nhớ, để khổ sở và để tìm cách trả thù Dân làng Đồng thập thò miệng lỗ mà họ vẫn thù nhau ác liệt, doạ chờ nhau xuống dưới mồ và để lại những lời nguyền độc: “Còn làng Đồng thì còn mối thù với thằng Hứa và con cháu hắn” Người cha trong

Vòng trầm luân trần gian đã từng gầm lên: “Với những cái thằng cúi xuống

liếm gót cả hai chế độ, không được coi nó là giống người Thế mới là giống người” Mối thù truyền kiếp cứ day dứt họ cho đến lúc chết Mặc dù “tím tái hết chân tay đấy nhưng vẫn còn hỏi con luôn mồm thằng ấy, thằng nọ có vác mặt đến không thì lót lá dắt ra ngõ hộ” “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” “bố nợ con trả” đã trở thành “luật” để họ hành xử Đây chính là cơ

sở xã hội của kiểu nhân vật là sản phẩm của thù hận và định kiến xã hội,

Trang 31

khi là tội đồ, khi là nạn nhân Chính xung đột dòng họ, thù hằn cá nhân đã đẩy xung đột giai cấp lên cấp độ tàn khốc hơn

Sống trong cảm giác ngột ngạt, nặng nề trong bầu không khí thù hận của làng Đồng những nhân vật như Quý Anh, Quý Hương, Chú Hổ, Cậu

Tư và biết bao nhân vật “tôi”… đã sống gồng mình, muốn “gào to lên lời nguyền rủa độc địa cho cái mảnh đất đầy thù hận này chìm lặng đi” Bởi

“Mười năm đủ cho tôi thấm nổi đau của cả mấy thế hệ mà số phận bị nhào nặn bằng một bàn tay phàm tục” Họ muốn xoá bỏ cuộc sống tối tăm, ấu trĩ, đầy thù hận để sống một cuộc sống khác chỉ có tình yêu thương, hạnh phúc

và sự tươi đẹp Nhưng ngược lại họ đã phải chứng kiến nhiều cảnh tang thương, thù hận, hành xử nhau của dân làng Đồng Họ được huấn thị để trả thù cho dòng họ cho giai cấp của mình: “Năm lên bảy tuổi, tôi đã được giáo dục khá cẩn thận về vị trí mà tôi đang chiếm một khoảng tí tẹo giữa cuộc đời mênh mông này Tôi phải nhớ rằng thành phần gia đình mình bần nông” Để cho con ghi nhớ mối thù vào xương tuỷ, người cha hằng ngày bỏ công giảng giải, tái hiện lại quá khứ đau thương tàn ác, khốn khổ: “Mỗi ngày một chuyện, lời kể của ông tuyệt vời như kể chuyện cổ tích khiến tâm hồn tôi thấm đẫm những hồi ức kinh hoàng không bao giờ còn hong khô được nửa” “Với riêng tôi và anh chị em tôi, đứa nào cũng thấm đẫm vào trí nhớ một câu bất hủ: Lão Hứa và con cháu lão là kẻ thù truyền kiếp” Nhân

vật “tôi” trong Bước qua lời nguyền ngày càng cảm thấy ngột ngạt, nặng nề

“như bị ném vào tình thế phải che chắn tứ bề Sẽ ứng xử ra sao cho ba vuông bảy tròn giữa những con người cứng đờ vì thiên kiến” “Tôi” trong

Vòng trầm luân trần gian vẫn bị bủa vây giữa “hàng trăm ý nghĩ không

được giải toả” của ông bố, đã chuẩn bị cho cả tình huống xấu nhất có thể nhưng cũng không thể trút đi khối đá nặng cứ đè chặt đời ông Không biết đến bao giờ lòng thù hận, sự tăm tối, ngu muội mới buông tha cho những

Trang 32

con người vô tội, những nạn nhân đáng lẽ ra đến thế hệ của họ phải được biết đến ấm no, hạnh phúc, tình yêu thương, che chở, nâng niu của cộng đồng Nhưng ngược lại những nhân vật như Quý Anh, Quý Hương, Chị Thư, Chị Túc, chú Hổ… lại phải gánh chịu biết bao tủi nhục, khổ sở, bị dày

vò bởi lòng thù hận, bị khinh rẻ bởi mình là “con người”… Suốt một thời trẻ con, Quý Anh không ngớt bị hành hạ “lủi thủi như một con chó con bị đàn ruồng bỏ” bởi một lẽ “Bố quý Anh là lão địa chủ nòi” Cơn khát trả thù

đã chuyển từ thế hệ cha anh sang đám trẻ con Gieo vào đầu óc bọn trẻ ngọn lửa ngùn ngụt của lòng thù hận Những lời trêu chọc suốt thời cấp một, những trận “tra tấn” con bé, những trận mưa đất, có hôm mặt bầm tím nhưng “vẫn cố chịu đựng… Mang trên mình một gương mặt tái mét, đôi mắt trống rỗng vô hồn, câm lặng và nhẫn nhục là hình ảnh đáng thương của Quý Anh Chính lòng thù hận, cơn khát trả thù của người lớn đã cướp đi tuổi thơ hồn nhiên trong trẻo của những đứa trẻ như Quý Anh Dường như con bé “đã trở thành tội phạm thực sự” “Sự ruồng rẫy của người đời đã in hằn trong tâm hồn nó nỗi mặc cảm rằng nó đang phải trả nợ cho những việc

bố nó từng làm”

Cũng như chị em Quý Anh, Quý Hương, chị Túc trong Xưa kia chị

đẹp nhất làng cũng bị ruồng rẩy, lúc nào cũng “âm thầm như con vạc lẻ

đàn” bởi “chị Túc xinh đẹp và tài đảm nhất làng” nhưng mang tiếng chửa

hoang Rồi chị Thư trong Truyền thuyết viết lại cũng chịu sự khinh rẽ do

truyền thuyết xa xưa kể lại về hiểm hoạ của hai anh em ở làng Đồng vì một người đàn bà đẹp mà “huynh đệ tương tàn”, làng Đồng khốn đốn Chính vì thế, “… sự hắt hủi mà làng Đồng trút lên chị cũng chính vì chị đẹp Và với

lý lẽ của làng Đồng thì nhất định chị mắc bệnh hủi! … Hoá ra chị đã gợi dậy trong ký ức làng Đồng nỗi kinh hoàng về hiểm hoạ do một người đàn

bà đẹp gây ra” Ba mươi tuổi chị vẫn sống cô đơn Mắt chị lúc nào cũng

Trang 33

“ùa ra một nổi buồn đau đớn”, “quanh năm chị chỉ biết vụng trộm với bọn trẻ con” Không biết đến bao giờ những nhân vật nạn nhân của sự thù hận

và định kiến xã hội như Quý Anh, Quý Hương, chị Thư, chị Túc, chú Hổ mới được cứu chuộc, mới tìm được giá trị đích thực của mình trong một ngôi làng tăm tối đầy thù hận và sẵn sàng chém giết trả thù nhau? Đó là câu hỏi đặt ra nhức nhối trong mỗi thiên truyện ngắn của Tạ Duy Anh cũng là lời lên án, tố cáo đanh thép thế lực xã hội, những hủ tục định kiến hẹp hòi

đã đẩy con người vào những bước đường cùng u tối, không lối thoát

Tạ Duy Anh còn hướng ngòi bút của mình vào những nạn nhân của bối cảnh cải cách ruộng đất Công cuộc cải cách ruộng đất bên cạnh những mặt tiến bộ kéo theo phải trả giá cho những sai lầm đầy máu và nước mắt Hoà mình trong dòng nhận thức chung của thế hệ nhà văn thời ấy, Tạ Duy Anh cũng góp phần tái hiện lại không khí tù túng, ngột ngạt của cả một vùng quê luôn sôi lên vì các vụ quy kết, đấu tố triền miên Ở đó thật - giả, trắng - đen lẫn lộn, sự thật, công lý nằm trong tay những kẻ chuyên quyền, xuyên tạc, hiểu sai đường lối của Đảng Dùng nhân vật để nhận thức lại lịch sử, dùng lịch sử để biện minh cho số phận con người…Tạ Duy Anh đã khẳng định: nhân vật là sản phẩm của lịch sử Biết bao con người đã trở thành nạn nhân của một thời kì nhiễu nhương, hỗn loạn: Nhân vật chú Hổ

trong Vòng trầm luân trần gian luôn bị gài bẫy, bị ám hại bởi chú sống

ngay thẳng, trong sáng quá “thấy cái gì trái mắt chú cứ nói chẻ hoe ra” Sự đấu tranh đơn lẻ của mình chú không thể trở thành đối thủ của ông Hương

Để không phải nghe tiếng rên xiết của chúng sinh chú tìm đến rượu, trong những cơn say chú chỉ biết “ngửa mặt hú lên trời, chú chửi trăng, chửi sao

cứ sáng một cách vô tâm, không biết mặt đất âm u, nhầy nhụa Không biết thổ lộ với ai, “chú tâm sự chuyện đời với con bò”, rồi ôm mặt “khóc rưng rức” và kêu lên một cách đau đớn “Em thấy làm thằng người khổ quá” Nỗi

Trang 34

khổ của chú Hổ là nổi khổ của một nhân cách bộc trực, thẳng thắn, không chấp nhận cái xấu, cái ác hoành hành nhưng “lực bất tòng tâm” bởi “Chưa thấy thời nào như thời này Khốn nạn!” Rõ ràng chú Hổ là nạn nhân của một thời kì chính quyền nằm trong tay những kẻ chuyên quyền, cấu kết bè

phái, chuyên trù dập những người nông dân lương thiện Đọc Lũ vịt trời

người ta sẽ thấy phần nào bệnh quan liêu, trọng thành tích trong giới lãnh đạo và hậu quả khôn lường không nhằm vào ai khác ngoài người nông dân Trong khi lúa đã chín vàng cả ngoài đồng thì Toàn - bí thư cùng ban cán sự

xã nhất quyết không cho dân gặt chỉ vì để lấy thành tích khi phái đoàn huyện về tham quan “kết quả làm ăn” của xã Không chịu quan sát thời tiết, chủ quan, bỏ qua ngoài tai những lời khuyên của nông dân, chỉ chăm chú sao cho “loa đài ơi ới, ỏm tỏi cả lên” Thế rồi mưa đá bất ngời dội xuống

“Qua làn đá quất ràn rạt, hàng trăm cặp mắt thất vọng, căm tức hướng về phía những thửa ruộng đầy ắp, đang nát bét dưới tai hoạ trời giáng!” Những người nông dân như lão Khổ là nạn nhân đầu tiên của thói quan liêu, trọng thành tích của thời cải cách ấy Lão đau đớn đến nổi phải “cười sằng sặc…cười bằng cái tâm sự cay đắng đến tột cùng của lão Lão cười

mà nghe như gầm, mỗi tiếng cười sẵn sàng cứa đứt ruột người khác” Và lão hiểu ra một điều chua xót rằng cái sự phá hoại đáng ghê sợ nhất chưa hẳn là trận mưa đá mà ở chính những con người bằng xương bằng thịt đang nhân danh “sự sáng suốt” để lãnh đạo nhân dân

Nhân vật lão Hứa trong Bước qua lời nguyền đều là nạn nhân của

thời đại và gánh chịu gánh nặng quá lớn của quá khứ Sau cải cách ruộng đất, Lão Hứa bị “truất” khỏi chức lý trưởng và “sống lủi thủi như một con chó lạc loài”, gia sản của lão bị xé nát và vợ chồng lão phải dựng lều ra ở rìa làng Ra đồng, lão lý trưởng xưa kia đứng riêng một chổ, gặp đứa trẻ lên sáu, nhất nhất đều lên tiếng chào trước Nổi tiếng là gian ác và giàu có,

Trang 35

nhưng sau cải cách vị trí của lão đã thay đổi “Suốt ngày lão câm lặng, cặm cụi cùng vợ con cày xới mảnh vườn bé tý tẹo”, đói quá lão phải đi ăn trộm khoai lang và khi bị cậu Tư bắt quả tang, lão chỉ biết dốc lòng khẩn thiết van xin con của kẻ trước đây mình dày xéo một thời: “Cậu Tư ơi…Cậu cứ lớn lên đi cậu sẽ hiểu tôi chả là cái gì trước số phận, trước thời thế Tôi có trực tiếp đánh ông cậu đâu Tôi có trực tiếp chôn sống chú cậu đâu Cuộc đời cũ ắt nó phải thế” Dùng nhân vật để nhận thức lại lịch sử Tạ Duy Anh không có ý bới móc lại lịch sử, đổ lổi cho lịch sử mà để chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn, công bằng và toàn diện hơn về lịch sử Ông “chỉ muốn đưa ra cái nhìn có tính chất tự vấn” Một mặt kêu gọi khoan dung “coi đó như điều khó tránh khỏi của lịch sử dù nó đẫm máu” Mặt khác nhân vật của Tạ Duy Anh sau những nhào nặn của lịch sử đều đã đi đến một ý thức sâu sắc về tư cách làm người

2.1.2 Người nông dân bị tha hóa

Con người hiện diện trong tác phẩm văn học của mỗi nhà văn đều chịu tác động từ nhiều phía: xuất thân, hoàn cảnh xã hội, tệ nạn, hủ tục… hay chính từ bản thân “con người” trong họ Nhiều tác động tiêu cực làm người ta trở nên lạc hậu, ấu trĩ hơn nữa trong cộng đồng phong kiến hà khắc Họ dần trở thành nạn nhân, “tội đồ” trong chính cuộc sống của mình;

họ “vùng vẫy” tìm “ánh sáng” nhưng đều vô vọng Bất lực, cùng cực họ trở nên lưu manh hóa, tha hóa tới mức chính mình còn không nhận ra được

“bản thể tốt đẹp” của mình nữa Điều này được cả Nguyễn Minh Châu và

Tạ Duy Anh khai thác tối đa trong khuôn khổ truyện ngắn của mình ở giai đoạn văn học đương đại

Trước hết phải nhắc đến “người chồng” trong Chiếc thuyền ngoài xa

– nhà văn Nguyễn Minh Châu Người đàn ông chỉ xuất hiện duy nhất hai

lần trong cả thiên truyện nhưng lần nào cũng là khi anh đang trút “cơn

Trang 36

thịnh nộ” lên người vợ tảo tần Lần thứ nhất là dưới sự nhìn nhận của nhân

vật Phùng, anh chồng là người thô bạo, hung dữ với những câu nói cộc cằn:

“cứ ngồi nguyên đấy”, “động đậy là tao giết cả mày đi bây giờ”, “chúng mày chết đi cho ông nhờ”… những lời nói sâu cay của kẻ đang ở bước đường cùng, tuyệt vọng và bất lực Khi mà mọi sự đều không như ý muốn, khi mà áp lực cơm áo gạo tiền đè nặng lên đôi vai người trụ cột thì anh ta

muốn giết hết, nhìn thấy ai cũng là dằn vặt Lần thứ hai, người đàn ông

xuất hiện dưới con mắt của chính “vợ” – người đàn bà mà cũng chính là nạn nhân của những trận bạo hành hàng ngày kia Bằng hết sự cảm thông, người đàn bà ấy vẫn dành cho lão những lời nói đầy “bao biện” rằng trước khi lão là một anh con trai tuy cục tính nhưng hiền lành… cũng chỉ vì lì do này, lí do khác: nghèo khó, không theo làm lính ngụy đánh thuê lấy tiền mà cam chịu cuộc sống đói khổ… mới đâm ra như hiện tại Cả gia đình sinh sống trên chiếc thuyền nhỏ lênh đênh sóng nước và cũng từng ấy con người đều trông chờ bữa cơm hàng ngày vào “người đàn ông trụ cột” đó Dù khi

đó, cách mạng đã về nhưng sự cam chịu kéo dài cùng với tính cục cằn từ xưa nên hắn tìm sự giải thoát “nhất thời” bằng những trận đòn lên vợ Người vợ cũng vì nhẫn nhịn, do sinh nhiều con lại rất thương chúng mà cam chịu không phản kháng Điều đó càng làm hắn căm tức hơn, hắn tức số phận trớ trêu đời hắn và hắn tìm đến rượu để giải tỏa nỗi niềm Và cũng không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu liên tục miêu tả việc lão đánh vợ ở bãi xe hỏng mà qua hình ảnh đầy sức gợi này, nhà văn muốn nhấn mạnh vào cuộc đấu tranh người nông dân với cái “nghèo”, cái “đói” – chừng nào chưa thoát khỏi sự đói nghèo thì chừng đó con người còn phải

chung sống với cái xấu, cái ác Sự tha hóa, lưu manh trong người chồng

như cái kết hùng hồn cho những tác động trực tiếp hay gián tiếp của cuộc sống gia đình người dân chài lưới này Hoàn cảnh đẩy con người ta tới

Trang 37

cùng quẫn, tha hóa Khi nhắc tới đây không ít người nhớ tới anh Chí Phèo của Văn học hiện thực – “hắn” – người nông dân cũng bị chính cái xã hội phong kiến tác động “phải” tha hóa, lưu manh hóa Trước đó, “hắn” cũng là anh thanh niên chăm chỉ với mong muốn có cuộc sống bình thường như bao người bình thường khác

Như vậy có thể thấy rằng, đề tài phản ánh việc tha hóa của người nông dân không mới nhưng kỳ lạ thay, ở mỗi tác phẩm thì mỗi số phận lại hiện lên với những hoàn cảnh và số phận khác nhau Và nếu tiêu biểu ở hai tác phẩm trên với hai hình tượng người nông dân bị tha hóa khác nhau thì trong tác phẩm của Tạ Duy Anh – nhân vật ấy lại được tiếp cận ở góc nhìn

khác Nhân vật trong Lão Khổ, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh luôn trong

tình trạng hụt hẫng về đời sống tinh thần, trăn trở về sự tồn tại của mình,

Họ phải đối diện với điều kiện sống khó khăn và những mối quan hệ đầy toan tính Lão Khổ tên thực là Tạ Khổ, bần cố nông chính hiệu, lão cũng sinh ở Làng Đồng Lão đã đắc lực xây dựng nên cái khổ của đời mình Tên lão, là bản chất lão, là con đẻ của guồng máy mà lão là nguyên nhân tạo dựng, để sau này nó nghiền nát lão Lão là nhân vật đối diện với tòa án lương tâm: xuất thân bần cố, lão bị địa chủ hành hạ vì tư thù dòng họ Rồi khi cờ đến tay lão phất, lão trả thù, lão giết người, lão lên đến đỉnh cao của quyền lực Cuối cùng lão bị đào thải Quy luật tuần hoàn vốn có Lão đã đi hết “kiếp” của mình, một hành trình tội ác và trừng phạt mà tay trắng vẫn hoàn tay trắng Lão là nhân vật không ý thức được trách nhiệm của mình bởi lão không đủ khả năng để “ý thức” Lão Khổ là cái bi đát hiện thực được nhà văn nhìn từ bên ngoài

Dù người nông dân ấy có là Chí Phèo, “người chồng” hay Lão Khổ thì họ không thể tránh khỏi sự tác động nghiệt ngã của xã hội – chỉ là bằng cách thức này hay cách thức khác mà thôi Qua số phận của các nhân vật,

Trang 38

độc giả nhận thấy sự bất an là cảm giác thường trực trong đời sống của con người đương đại Dù mỗi số phận nhân vật được xây dựng lên đều dựa trên phần nào đó góc nhìn chủ quan của tác giả nhưng tựu chung lại thành công nơi bạn đọc chính là những cảm xúc cảm thông và có cái nhìn về cuộc sống người nông dân bấy giờ

2.1.3 Người nông dân bi kịch

Người nông dân bi kịch – khi mà tác giả đặt họ vào những hoàn cảnh trớ trêu, buộc phải đưa ra những quyết định dứt khoát và đôi khi đến xé lòng, cam chịu Giai đoạn văn học trước đó, Nam Cao xây dựng bi kịch của Chí Phèo là bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa và

bị cự tuyệt quyền làm người Với Chí, Nam Cao nhận thấy người nông dân đang bị hủy diệt nhân tính khi bị đẩy vào cuộc sống khốn cùng không lối thoát Chí Phèo chằng những bị tước đoạt nhân tính mà còn bị hủy hoại cả nhân hình nữa Người nông dân bị lưu manh hóa ấy cuối cùng đã thức tỉnh nhưng điều bi thảm là anh ta muốn trở lại làm người lương thiện mà không được

Nếu ở Nguyễn Minh Châu là những tình tiết éo le ngay trong chính cuộc đời lão Khúng Nuôi con của người đàn ông khác nhưng lại phải cam chịu không được có bất kỳ sự tò mò, tìm hiểu nào về bố đẻ đứa trẻ Mà trớ trêu thay, Lão Khúng yêu thương thằng Dũng hơn chính những đứa con đẻ của mình Lão tự hào về “nó” ! Cưới được cô Huệ - người con gái đẹp nhất nhì cái phố huyện ấy đồng nghĩa với việc lão cam chịu những lời điều tiếng

về đứa con không cùng huyết thống với mình Lão vẫn tự hào về người vợ xinh đẹp – được hết thẩy đàn ông đều muốn có được, lão vẫn tự hào về đứa con trai cả của lão, đứa con mà lão tưởng như máu thịt của mình Cuộc đời lão là chuỗi ngày gian khổ và long đong Và thấp thoáng đâu đó người ta

nhận thấy có điểm tương đồng ở hình ảnh người chồng trong Chiếc thuyền

Trang 39

ngoài xa Dù chiến tranh đã kết thúc, sống trong thời bình nhưng vì cuộc

sống mưu sinh, miếng cơm manh áo mà anh thanh niên hiền lành năm xưa không còn nữa “Người chồng” có muốn thảnh thơi, “hiền lành” như xưa cũng không được nữa rồi Lên vai anh là gia đình, là vợ là con, là những cơm áo gạo tiền thường trực và mưu sinh từng bữa Trên chiếc thuyền chật hẹp ấy, anh là trụ cột, là người duy nhất có khả năng lo được cho vợ con Nếu anh có muốn buông bỏ thì cũng không được Và thật chớ trêu thay, cuộc sống đôi vợ chồng người dân làng chài ấy vẫn cứ diễn ra như thế, ngày này qua tháng nọ Người đàn ông ấy vẫn trút những trận đòn roi vô

cớ, trút giận lên người phụ nữ gầy ốm kia Những đứa con không yêu thương người cha ấy mà thay vào đó là thù ghét, oán hận Bi kịch xảy ra trong chính gia đình và không gian hạn hẹp được tác giả xây dựng mang nhiều ẩn ý như chính cuộc sống tù túng của họ Lối thoát là không có, lựa chọn là không thể - họ chỉ có thể tiếp tục bước đi cùng nhau trên hành chính đầy khó khăn đó Những khó khăn và oán hận càng nhân lên theo thời gian nhưng họ không còn sự lựa chọn nào khác nữa Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã thả ngòi bút của mình vào những trang văn đầy sự cảm thông và thương cảm, nhưng cũng không kém phần sắc bén khi miêu tả cuộc sống người dân làng chài lưới điển hình đến thế !

Đến Tạ Duy Anh với Bước qua lời nguyền, hình tượng người nông

dân bi kịch này được biểu hiện rõ rệt hơn nữa Tác phẩm xác định một ngòi bút hiện thực sắc sảo, can đảm nhìn lại quá khứ đau đớn của mình, của một thế hệ lớn lên trong hai lớp hận thù: hận thù dòng họ và hận thù giai cấp

Một thằng bé muốn Bước qua lời nguyền để bênh vực một cô bé, lớn lên

chúng muốn vượt qua thù hận để bảo vệ tình yêu

Làng Đồng trong những năm trước cách mạng, sau cải cách ruộng đất và trong những năm đổi mới: “Từ một miếng đất “gan chó”, nay trở thành

Trang 40

miếng đất riêu cua màu mỡ” cho bọn chánh tổng, lý trưởng Trước cách

mạng, làng Đồng như một xã hội nông thôn thu nhỏ với những lý trưởng,

lý hào, lính lệ, trai đinh, những kẻ cố nông, cùng đinh, phu phen, dân tứ xứ phiêu bạt Nơi những kẻ địa chủ ra sức bóc lột người dân, đối xử không

bằng loài vật, đẩy con người tới bước đường cùng Sau cải cách ruộng đất,

trật tự mới thay cho hệ thống tôn ti trật tự cũ Những kẻ cầm quyền trước

đó đều bị quy kết bóc lột người dân, bị tịch thu tài sản, phải “sống lui thủi như con chó lạc loài” Nhưng dù vậy, bản chất con người với cách tư duy bảo thủ, cách nghĩ phiến diện đã khiến Làng Đồng không thoát ra khỏi “lời nguyền”, “mấy chục năm xây dựng mà cứ xơ xác như trong cảnh tắt đèn” Cùng với đó, trải dài từ đầu đến cuối tác phẩm là sự xuất hiện của những mối thù hận – những sợi dây xích tồn tại từ rất lâu, kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác và chưa thể tháo gỡ được Hận thù dòng họ kéo dài bốn thế hệ ở đây chính là mối thù hận của nhà nhân vật Tư và nhà Quý Anh Hơn nữa, Tạ Duy Anh xây dựng mối tình trong cảnh nghịch lý Tình yêu trong tác phẩm được ra đời và nuôi dưỡng ngay trong lòng những định kiến Một tình yêu trong sáng khiến cho nhân vật luôn phải đau đáu, ám ảnh bởi mối thù sâu nặng của dòng họ Cũng chính bởi tình yêu với Quý Anh mà nhân vật cậu Tư đã hơn một lần “bước qua lời nguyền” Thuở nhỏ, cậu cởi trói cho Quý Anh khi đang bị trói vào cọc phi lao và chạy trốn cùng Đến tuổi thiếu niên, cậu sẵn sàng lao vào những cuộc cãi vã với chính bố mình để bênh vực Quý Anh Hơn thế nữa là thẳng thắn thừa nhận tình yêu của mình “Tôi và Quý Anh, hai kẻ trong trắng như nhau, tội lỗi như nhau cùng bước qua lời nguyền “trai gái trong làng không được phép lấy nhau”, bước qua những hận thù nhiều thế hệ để chứng tỏ tình yêu của mình và nhận cái kết có phần tốt đẹp

Ngày đăng: 20/02/2020, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w