1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật

140 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ MẾN CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT Nghiên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MẾN

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ

KỸ NĂNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT (Nghiên cứu tại Trung tâm Nuôi dưỡng Người có công

và bảo trợ xã hội Bắc Ninh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MẾN

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ

KỸ NĂNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT ( Nghiên cứu tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công

và bảo trợ xã hội Bắc Ninh)

Chuyên ngành: Công tác xã hội ứng dụng

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồi Loan

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hồi Loan Các tài liệu trích dẫn, kết quả nêu trong khóa luận đều có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, khách quan

và chưa từng được ai công bố,

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam kết này

Hà Nội, ngày…tháng…năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật ”, Em đã nhận được nhiều sự ủng hộ, động viên và giúp đỡ cũng như sự chỉ bảo tận tình, chu đáo

từ phía giáo viên hướng dẫn, bạn bè và gia đình

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thày giáo/ giảng viên hướng

dẫn PGS.TS Nguyễn Hồi Loan Thầy là người trực tiếp giảng dạy và cũng là

người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu để em có thể hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Xã hội học, bộ môn Công tác xã hội – Trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi trang bị về kiến thức và kỹ năng, nguồn tài liệu để em có thể hoàn thành bài khóa luận của mình theo hướng thực hành CTXH chuyên nghiệp Xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo cũng như tập thể các giáo viên, nhân viên chăm sóc và các em học sinh của Trung tâm Nuôi dưỡng người có công

và bảo trợ xã hội Bắc Ninh, các bậc phụ huynh và đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để phục vụ quá trình can thiệp

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như đây là lần đầu tiên em thực hành với đề tài còn nhiều mới mẻ, chắc hẳn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và những người quan tâm đến đề tài thực hành này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

10 NCC&BTXH Người có công và bảo trợ xã hội

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.3: Đánh giá thực trạng kiến thức về GDGT mà các em đang

Bảng 2.5: Tác dụng của việc học GDGT tại Trung tâm 58

Bảng 2.7: Môi trường dạy GDGT cho trẻ khuyết tật 60

Bảng 2.9 Hình thức học GDGT mà các em mong muốn tại Trung tâm 62 Bảng 2.10 Thực trạng kỹ năng GDGT của trẻ KT tại Trung tâm 63 Bảng 2.11 Mong muốn được trang bị kỹ năng GDGT 64 Bảng 2.12 Đề xuất của các em về chương trình GDGT nhằm nâng cao

Bảng 3.1 Tiêu chí đánh giá kiến thức giáo dục giới tính cho trẻ khuyết

tật trước và sau thực nghiệm

99

Bảng 3.2 Tiêu chí đánh giá kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật

trước và sau thực nghiệm

100

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn vấn đề can thiệp 1

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới 3

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 5

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 13

3.1 Ý nghĩa khoa học 13

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 13

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4.1 Mục đích nghiên cứu 14

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 14

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 15

5.1 Đối tượng nghiên cứu 15

5.2 Khách thể nghiên cứu 15

5.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 15

7 Câu hỏi nghiên cứu 15

8 Giả thuyết nghiên cứu 16

9 Phương pháp nghiên cứu 17

9.1 Phương pháp phân tích tài liệu 17

9.2 P HƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA BẢNG HỎI 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 21

1.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận 21

1.1.1 Cơ sở phương pháp luận 21

1.1.2 Các khái niệm công cụ 23

1.1.4 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 34

1.2 Cơ sở thực tiễn 38

1.2.1 Các chính sách và dịch vụ hỗ trợ đối tượng trẻ em khuyết tật 38

1.2.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 44

Trang 8

CHƯƠNG 2.:THỰC TRẠNG VỀ KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT SỐNG TRONG TRUNG TÂM NUÔI

52

2.1 Thực trạng hoạt động giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật 52

2.1.1 Thực trạng hoạt động giáo dục giới tính 52

2.1.2 Thực trạng thái độ của trẻ về hoạt động giáo dục giới tính 54

2.2 Thực trạng kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính của trẻ khuyết tật tại Trung tâm 56

2.2.1 Thực trạng kiến thức về giáo dục giới tính 56

2.2.2 Những vấn đề trong chương trình giáo dục giới tính mà các em quan tâm và cần phải đi sâu hơn nữa 57

2.2.3 Thực trạng kỹ năng về giáo dục giới tính 64

2.3 Nhãn quan của Lãnh đạo, giáo viên và người làm công tác quản lý tại Trung tâm 68

2.5 Điều kiện vật chất - vấn đề kinh phí 70

CHƯƠNG 3 : THỰC HÀNH MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG NÂNG CAO KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM 73

3.1 Lý do lựa chọn áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc ninh 73

3.2 Thành lập nhóm và tiến trình ứng dụng mô hình công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật 75

3.2.1 Xác định mục đích hỗ trợ và khả năng thành lập nhóm 75

3.2.2 Tiến trình ứng dụng mô hình CTXH nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng GDG cho TKT tại Trung tâm 76

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 9

đề mang tính toàn cầu và trẻ khuyết tật là trẻ nằm trong nhóm những trẻ em

dễ bị tổn thương nhất

Một thực tế những năm qua ở Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề xâm hại tình dục trẻ em nói chung và TKT cũng không phải ngoại lệ Tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục liên tục gia tăng với mức độ ngày càng phức tạp Nếu trước đây trẻ bị xâm hại từ 13-18 tuổi, thì nay xuất hiện nhiều vụ việc ở lứatuổi từ 5-13 tuổi Theo số liệu từ Bộ lao động thương binh và xã hội (LĐTB-XH) trong năm ( 2011-2115) cả nước có 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em và có chiều hướng gia tăng Tuy nhiên các chuyên gia cho rằng, số

vụ xâm hại tình dục trẻ em được ghi nhận tại Việt Nam trong những năm qua thực tế chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm” Vấn đề này dễ gây nên những hậu quả xã hội khôn lường và trở thành mối quan tâm, lo lắng không chỉ trong cộng đồng mà còn cả ở các nhà nghiên cứu Bởi lẽ, trẻ nếu như không được trang bị những kiến thức và rèn các kỹ năng liên quan tới vấn đề này thì

Trang 10

2

chúng rất dễ lâm vào tình trạng tổn thương nghiêm trọng về tâm, sinh lý và dễ gặp nguy cơ cao về viêm nhiễm đường sinh dục, xuất huyết, ứ máu vùng chậu, viêm nội mạc tử cung, viêm dính tử cung, vòi trứng đối với nữ, cũng như rối loạn cương dương, xuất tinh sớm và đặc biệt là các bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó có HIV/AIDS đối với nam giới …

Theo ước tính của tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng

250 triệu người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Ở Việt Nam, nhóm tuổi thanh niên từ 16 đến 30 tuổi có khoảng 6,1 triệu người chiếm 1,3

% tổng số người trong độ tuổi lao động Còn theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ

em - Bộ Y tế, tỷ lệ trẻ em có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: Năm 2010: 2,9%; năm 2011: 3,1%; năm 2012: 3,2%, tương ứng

tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này là 2,2% (2010), 2,4% (2011), 2,3% (2012) và số trẻ bị xâm hại tình dục là 1.453 trẻ ( 2013 - theo báo cáo của quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF)… cũng là một con số không nhỏ bổ sung cho số ca nạo phá thai và tỷ lệ làm mẹ ở trẻ

Trước tình hình này có tới: 46% các em tìm đến sự giúp đỡ của bạn bè, 24% gọi điện đến tổng đài; 13,5 % là giấu kín và 16,5% còn lại sử dụng các

phương pháp khác (theo Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh)

Ở giai đoạn này, trẻ dậy thì vì thế phải trải qua những biến đổi to lớn về cơ thể cũng như về tâm lí Trẻ rất cần sự chỉ dẫn về giới tính, về tình yêu, về sự thay đổi giới tính và về các mối quan hệ xã hội… nhưng ai sẽ là người mà các

em tìm đến khi gặp những vấn đề về giới tính nảy sinh ? không ít trẻ đã phải hỏi đến bạn bè đồng trang lứa, bởi chúng cho rằng nói chuyện với bố mẹ và với người lớn khác những người gần gũi nhất, người có thể cung cấp nhiều thông tin tốt nhất, thì lại là những người chắc chắn không bao giờ đồng ý với quan điểm đó của chúng Những quan điểm này không những không được

Trang 11

đó có 56 em khuyết tật nghe nói, 104 trẻ khuyết tật trí tuệ, 10 trẻ khuyết tật vận động Các em có độ tuổi từ 8-18 tuổi Ở đây các em được học văn hóa (giáo trình do Trung tâm tự biên soạn dựa theo giáo trình khung của Viện khoa học và chiến lược), học nghề hướng nghiệp Trong giáo trình dạy văn hóa ở Trung tâm bao gồm: Toán, Tiếng Việt, Thủ công, Mỹ thuật, Hát nhạc, Thể dục, Phát âm và kỹ năng sống Ở đây chưa có giáo trình GDGT cho trẻ

Do nhận thức của những nhà quản lý về TKT còn thấp, đặc biệt là năng lực và trình độ chuyên môn về GDGT cho TKT của giáo viên còn hạn chế

Từ thực tế giáo dục giới tính và vai trò của công tác xã hội nhóm đối với giáo dục giới tính là rất quan trọng Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn

của vấn đề nêu trên tác giả đã chọn hướng nghiên cứu đề tài: “Công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật” (Nghiên cứu tại Trung tâm nuôi dưỡng người có công và bảo trợ

xã hội Tỉnh Bắc Ninh)

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới

Trên thế giới, hoạt động GDGT có mặt rất sớm nhưng được gọi với những cái tên khác nhau chẳng hạn như sức khỏe vị thành niên, giới tính tình dục thanh thiếu niên hay sức khỏe sinh sản tuổi mới lớn Từ sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cairo (4/1994) đã có định nghĩa chính thức về GDGT, được thống nhất phổ biến đến mọi quốc gia trên thế giới và là mối quan tâm của toàn xã hội

Trang 12

4

Khảo sát các chương trình giáo dục giới tính ở Châu Á cũng đang có những mức độ phát triển rất khác nhau Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc có khung chính sách hệ thống về việc giảng dạy giới tính trong các trường học Malaysia, Philippines và Thái Lan đánh giá các nhu cầu sức khoẻ sinh sản thanhniên Ấn Độ có các chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ chín tới mười sáu tuổi Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 10 hay 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh Tại Trung Quốc và Sri Lanka, giáo dục giới tính truyền thống gồm đọc về đoạn sinh sản trong các cuốn sách giáo khoa sinh học Tuy nhiên, ở Bangladesh, Myanmar, Nepal và Pakistan thì không có những chương trình GDGT như vậy.[2]

Theo “Giáo dục giới tính toàn cầu”, tại các quốc gia Châu Âu, vào tháng

2/2000, Chính phủ Pháp đã quyết định đưa kiến thức giới tính lên Đài truyền hình và Sóng phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông về các phương pháp tránh thai an toàn, hiệu quả Tại Đan Mạch, cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã có chương trình truyền hình được Chính phủ tài trợ đã trở thành kênh thông tin quen thuộc về giới tính và SKSS cho lứa tuổi VTN Đan Mạch là nước có tỷ lệ trẻ VTN mang thai thấp nhất thế giới và là hình mẫu “lý tưởng” cho các nước khác học tập cách thức GDGT trong trường học

Tại các quốc gia ở Châu Mỹ, các trường học đều đưa GDGT vào chương trình học của học sinh lớp 7-12, có nơi bắt đầu từ lớp 5, lớp 6.Học sinh tiếp cận với kiến thức giới tính thuộc 2 kiểu: toàn diện kiến thức chung chiếm 58% hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh, vấn đề chiếm 34%.[3]

Trang 13

Ở Ai Cập, trẻ từ 12-14 tuổi được giáo viên giảng dạy những kiến thức giải phẫu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cơ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai và các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục

Ở châu Phi, tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn dao động từ 50 – 90 % trong

số thanh niên chưa chồng và 25 – 40% trong số thanh niên có chồng.[4]

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, cùng với công tác tuyên truyền, giáo dục giới tính đã bắt đầu được quan tâm rộng rãi Đề án Nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) năm 1988 có kí hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trần Trọng Thuỷ và Đặng Xuân Hoài,

Đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân; nhận thức về giới tính và GDGT của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước,

để chuẩn bị tiến hành GDGT cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12

Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và

4

Trang 14

6

những vấn đề có liên quan như: giáo dục SKSS; giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; giáo dục đời sống gia đình; GDGT cho học sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh

Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ nhất, được công bố cuối năm 2007 Đây là cuộc điều tra có quy mô lớn và toàn diện nhất về thanh thiếu niên được triển khai, với gần 7.600 người tại 42 tỉnh, thành phố tham gia trả lời về giáo dục, việc làm, tình trạng sức khỏe - sức khỏe sinh sản Kết quả điều tra cho thấy: 7,6% số người trong độ tuổi thanh niên có QHTDTHN, trong đó tỉ lệ nam thanh niên là 11,1%, nữ chỉ có 4% QHTDTHN phổ biến nhất ở khu vực dân tộc thiểu số với 39,8% ở nam thanh niên và 26,1% với nữ thanh niên Tuổi quan hệ tình dục lần đầu của thanh niên Việt Nam là 19,6…

Theo nghiên cứu gần đây của tác giả Vũ Mạnh Lợi (Viện Xã hội học

Việt Nam) về vấn đề “Tình dục trước hôn nhân: Nghiên cứu so sánh thanh niên Hà Nội, Thượng Hải và Đài Loan - Trung Quốc”, phần khảo sát 6.363

thanh niên Hà Nội ở độ tuổi 15-24 cho thấy: Tuổi trung bình khi quan hệ tình dục lần đầu của nam, nữ thanh niên Hà Nội lần lượt là 20,15 và 20,34, thấp hơn thanh niên ở Thượng Hải và Đài Loan Đại đa số thanh niên đã sinh hoạt tình dục cho biết họ tham gia lần đầu với người yêu hay vợ, chồng tương lai.Những người này chiếm 83% ở Thượng Hải và 90% ở Đài Loan.Ở Hà Nội, tỷ lệ những người này chỉ là 63% Đặc biệt, 4% thanh niên trong số nghiên cứu đã từng có hoạt động tình dục ở Hà Nội đã có lần đầu tiên làm tình với người bán dâm, trong khi tỷ lệ này ở Thượng Hải, Đài Loan chỉ là 1%.[5]

Theo số liệu chính thức điều tra quốc gia về thanh niên và vị thành niên thì 7,6% số thanh thiếu niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân Tuổi quan

hệ tình dục lần đầu tiên của thanh niên Việt Nam là 19,6%, gần 80% thanh

Trang 15

7

niên chỉ quan hệ tình dục (QHTD) khi đã lập gia đình Có tới 66,7% nam giới chấp nhận QHTD trước hôn nhân Tuy nhiên, trên thực tế, con số ấy có thể lớn hơn rất nhiều Điều đáng lưu tâm ở đây là các nghiên cứu cho thấy, xu hướng quan hệ tình dục ngày càng trẻ hóa, có những em khoảng 12 đến 15 tuổi đã QHTD lần đầu Nhiều người sẵn sàng quan hệ tình dục trước hôn nhân trong khi những hiểu biết về sức khỏe tình dục, sinh sản của nhóm đối tượng này còn rất hạn chế

Nghiên cứu của tác giả Dương Thị Thu Hà với tên đề tài “ Lồng ghép GDGT cho học sinh trong giảng dạy môn sinh học lớp 8 trường THCS” năm

2008 là một mô hình GDGT cụ thể Nghiên cứu này cho thấy, cách giảng dạy mới của giáo viên, giúp học sinh có thể qua môn học sinh học mà tìm hiểu thêm về những vấn đề giới tính mà ở tuổi của các em rất tò mò và nhiều thắc mắc Hơn nữa môn Sinh học là một bộ môn tương đối phù hợp để giáo viên lồng ghép GDGT cho học sinh, đặc biệt là chương trình Sinh học 8, khi các

em được tìm hiểu các kiến thức về giải phẫu sinh lý người Học sinh sẽ có điều kiện khám phá các hoạt động sinh lý của cơ thể, giải thích một số hiện tượng tâm sinh lý lứa tuổi, biết cách vệ sinh thân thể, giữ gìn sức khỏe bản thân Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa đề cập đến một vấn đề đó là thời gian một tiết trên lớp để giảng bài quá ngắn so với sự háo hức được học hỏi của các

em, hơn thế nữa vì là lồng ghép cho nên vấn đề về GDGT cụ thể vẫn chưa thể giải đáp hết thắc mắc mà các em mong muốn Đề tài này phân tích dưới góc

độ của một giáo viên phụ trách sinh học cho nên vẫn còn chưa lưu ý đến những vấn đề tâm tư, tâm lý của các em.[6]

Tác giả Nguyễn Xuân Huệ với nghiên cứu “Nhận thức của học sinh lớp

9 về GDGT tại một số trường THCS ở Quận 11 – Thành phố Hồ Chí Minh”

năm 2012 đã đề cập đến vấn đề nhận thức về GDGT của các học sinh lớp 9 tại một số trường trung học cơ sở ở Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh, đồng

Trang 16

8

thời trình bày kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về GDGT ở các mặt: mục tiêu GDGT và nội dung GDGT trong các trường học tại địa bàn tác giả khảo sát Qua phân tích, đánh giá kết quả khảo sát, tác giả nhận thấy rằng đa phần học sinh có nhận thức đạt yêu cầu về mục đích của GDGT với mức độ trung bình trở lên GDGT là một quá trình lâu dài, đòi hỏi dự kiên trì, bền bỉ Do đó, gia đình, nhà trường cần sự phối hợp đồng bộ, thống nhất.[7]

Đề tài “Vai trò của GDGT đối với tuổi thành niên hiện nay” của Nguyễn

Thị Lan năm 2013 cho thấy thực trạng về vấn đề GDGT hiện nay trong gia đình, khi bước vào độ tuổi này, các em dường như có xu hướng độc lập trong suy nghĩ và hành động, muốn được đối xử như người lớn, nhưng trong suy nghĩ của nhiều bậc cha mẹ các em vẫn là những đứa trẻ vô tư và hồn nhiên, sự

bí ẩn về giới tính, lối giáo dục hiểu “kín kín mở mở” như vậy đã đưa trẻ vào quá trình tự mày mò tìm hiểu Đã bao giờ các bậc cha mẹ của ta tự hỏi rằng:

“trẻ tò mò gì xung quanh chuyện quan hệ tình cảm của ba mẹ” hay chưa? Chính sự khác biệt trong suy nghĩ, sự xa cách về tâm lý đã làm tăng khoảng cách giữa cha mẹ và con cái.[8]

Sách “Trò chuyện về giới tính tình dục và SKSS” của Trung tâm Giáo

dục Đạo đức Công dân (Viện Khoa học Giáo dục, Bộ giáo dục đào tạo), Cục V26 (Bộ Công an) Trung tâm dạy nghề KOTO và Quỹ Dân số Thế Giới phối hợp thực hiện được xuất bản năm 2007 Cuốn sách cung cấp cho giáo viên và học sinh thông tin khoa học về sự thay đổi tuổi dậy thì, các cơ quan sinh sản của nam và nữ, sự thụ tinh- thụ thai, thai nghén, tình bạn, tình yêu và tình dục, các viêm nhiễm và bệnh lây truyền qua đường tình dục, kêt cả HIV/AIDS Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đề cập đến những hưỡng dẫn, gợi ý thiết thực trong việc tự chăm sóc bản thân như: giữ gìn vệ sinh cơ quan sinh dục, chăm sóc cuộc sống tinh thần và tình cảm, quan hệ tình dục có trách nhiệm và an toàn, phòng tránh bị làm dục tình dục hay lạm dụng ma túy, tránh thai ngoài ý

Trang 17

Công trình nghiên cứu về “Nhận thức về GDGT của những bậc cha mẹ

có con ở độ tuổi VTN” của tác giả Lê Thị Thu Hiền năm 2014 đề cập đến

những nguyên nhân và tác hại khi trẻ VTN thiếu kiến thức về vấn đề GDGT

Đề tài đã đưa ra những kết luận sau khi nghiên cứu công trình và có một số khuyến nghị giúp các bậc phụ huynh có cái nhìn toàn diện cũng như đúng đắn

về việc GDGT cho con cái một cách tốt nhất tránh nhiều trường hợp đáng tiếc xảy ra.[12]

Cuốn sách “GDGT vì sự phát triển của VTN” của bác sĩ Đào Xuân Dũng

được xuất bản năm 2015 đã cho thấy sự cần thiết của GDGT đối với trẻ ở độ tuổi VTN Khi càng ngày, ở độ tuổi vị thành niên càng có nhiều ca phá thai ngoài ý muốn diễn ra gây ảnh hưởng đến sức khỏe của các em cũng như nòi giống tương lai của đất nước Mục đích quan trọng nhất của GDGT là xây dựng nhân cách tích cực cho tuổi VTN, sao cho nhân cách ấy phát triển phù hợp với những yêu cầu của xã hội hiện đại: có mối quan hệ giới bình đẳng và tôn trọng; có trách nhiệm về hành vi tình dục, thay vì hành động theo bản năng Cuốn sách giới thiệu về môn học GDGT, vai trò của gia đình, nhà trường trong việc giáo dục VTN,…[18]

Chuyên đề ngoại khóa “GDGT cho học sinh cơ sở” của tác giả Lê Thế

Nhân là một mô hình GDGT hiện nay tại một số trường THCS, với đề tài này tác giả đưa ra những nội dung mà mỗi lớp học về vấn đề GDGT Ví dụ như đối với lớp 6, lớp 7 học sinh sẽ được học về những hiện tượng về biến đổi tâm sinh lý, lớp 8, lớp 9 các em được tiếp thu về các mối quan hệ khác giới như tình bạn, tình yêu, Tác giả cũng kiến nghị nên đưa GDGT thành một môn

Trang 18

10

học trong trường học để học sinh có thêm nhiều kiến thức, đáp ứng nhu cầu của các em.[20]

Bác sĩ Nguyễn Duy Tài - Trưởng bộ môn Phụ sản - trường Đại học Y

dược thành phố Hồ Chí Minh với nghiên cứu “ Xác định tuổi VTN có thai và các yếu tố nguy cơ” tại ba bệnh viện công thuộc thành phố Hồ Chí Minh

(Bệnh viện phụ sản Hùng Vương, bệnh viện Từ Dũ và trung tâm sức khỏe sinh sản thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy tuổi quan hệ tình dục của vị thành niên ngày càng trẻ hóa Năm 2005 thì độ tuổi QHTD lần đầu là 19,8 tuổi, cho đến năm 2010 thì độ tuổi này giảm xuống còn 18 tuổi và đến 2012 khi khảo sát các em đến khám tại Bệnh viện Từ Dũ, cá biệt có những em có QHTD tự nguyện trước hôn nhân là 12 tuổi Trước tình trạng trên, người lớn không khỏi thắc mắc các em gặp vấn đề về skss cũng như tổn thương về tâm lý vậy các

em giải quyết như thế nào khi có QHTD sớm như vậy? Theo Bác sĩ Nguyễn Duy Tài, những nghiên cứu này vừa giúp chỉ ra thực trạng về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của vị thành niên, thanh niên Việt Nam mà còn đưa ra những đánh giá, kiến nghị nhằm giảm tỉ lệ có thai ngoài ý muốn của tuổi vị thành niên.[22]

Nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Viện Nghiên cứu phát triển TP Hồ chí

Minh về “ Thực trạng giáo dục và trang bị kỹ năng sống về SKSS và sức khỏe tình dục cho vị thành niên” tại thành phố Hồ Chí Minh cũng cho kết quả

tương đồng Đó là có 12,6% vị thành niên có quan hệ bạn bè khác giới, trong

đó khoảng 1/4 là có người yêu và 3,2% từng có QHTD với tuổi trung bình là

14 Số ca nạo phá thai tuổi vị thành niên đang tăng lên với hơn 40% số ca.[23]

Bài viết “ Tại sao cần GDGT cho lứa tuổi vị thành niên” của trang Nhật

ký bé - Mạng xã hội dành cho mẹ và bé, nơi chia sẻ những điều cần biết về chăm sóc sức khỏe mẹ và bé Website được sở hữu và điều hành bởi NKB Technology, cũng đã có bài viết nêu rõ một số nguyên nhân để chứng minh

Trang 19

việc GDGT ở trẻ VTN là rất quan trọng và cần thiết Giúp các me trang bị đầy

đủ kiến thức cơ bản nhất về vấn đề giới tính chính là phòng tránh cho các em những trường hợp đáng tiếc xảy ra

Tác giả Đào Thị Vân Anh thuộc trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Phổ

thông cũng đã có bài viết “Cha mẹ với việc GDGT trong gia đình” Tác giả đã

đưa ra những dẫn chứng cụ thể cần thiết về việc GDGT cho trẻ, những nguyên nhân khách quan và chủ quan, hậu quả của việc GDGT không đúng

cách Tác giả cũng đã nói rằng: “Giáo dục tình dục thật ra có mục đích duy nhất là chuẩn bị cho con cái một tâm lý phù hợp nhất trong cuộc sống yêu đương để rồi có một đời sống tình dục thực sự hài lòng, thực sự hạnh phúc trong quan hệ vợ chồng sau này.” Việc cha mẹ GDGT hay không GDGT cho

con cái và giáo dục thế nào cho đúng và hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn tới việc phát triển tâm lý cũng như tình dục của trẻ bị sai lệch, hiểu sai về vấn đề giới tính thì sẽ rất dễ mắc phải những hậu quả khôn lường Tác giả cũng đã kết luận rằng cần giáo dục giới tính cho trẻ tự nhiên, bình thường như các chương trình giáo dục khác và phải có sự nối kết chặt chẽ hai chiều giữa cha

mẹ và con cái Những phân tích cụ thể của tác giả Đào Thị Vân Anh đã cho

ta thấy tầm quan trọng của cha mẹ về vấn đề giáo dục giới tính đã viết cho trẻ,

Trang 20

12

giúp trẻ hoàn thiện hơn về việc định hướng và nhìn nhận, suy nghĩ đúng đắn của kến thức về giới.[24]

Bài viết “GDGT và thái độ của người lớn” của tác giả Thụy Anh đăng

trên wedsite Tuoitre.vn Bài viết đã cho chúng ta thấy, ngay từ khi còn rất nhỏ trẻ đã có những thắc mắc, tò mò về vấn đề giới tính thông qua các câu được đặt ra cho bố mẹ Đó chính là những tìm hiểu đầu tiên về giới tính chính đáng cần được bố mẹ giải đáp rõ ràng, khéo léo, dễ hiểu chứ không phải lảng tránh hoặc lờ đi Bắt đầu từ những hỏi - đáp như thế, bố mẹ có thể giáo dục giới tính cho con rất nhẹ nhàng và tự nhiên Nếu bố mẹ có thói quen bỏ qua không đối mặt với những câu hỏi hóc búa của con hoặc những câu hỏi liên quan đến các vấn đề tế nhị, không sớm thì muộn đứa trẻ sẽ tiếp cận nguồn thông tin khác để thỏa mãn tò mò của mình Vô hình chung, đây chính là bước đầu tiên cho việc chính các phụ huynh bị sốc sau này khi bé con khoe những kiến thức thu nhặt được bên ngoài, từ các nguồn đáng tin hoặc chưa được kiểm chứng Cũng theo tác giả vai trò của bố mẹ hoặc giáo viên rất quan trọng Họ phải vượt qua được cảm giác ngại ngùng khi bàn vấn đề này với trẻ và tỏ ra rất bình thản, đúng mực, không hoảng hốt Thái độ đó khiến trẻ nhìn vấn đề một cách khoa học hơn và cũng không quá lo sợ khi nhìn ra thế giới Thêm vào

đó, người lớn phải có thái độ chấp nhận và đối mặt với bất kỳ vấn đề gì trẻ nêu ra, cũng lại một cách bình thản, để giữa trẻ và người lớn có thể có những thảo luận thật sự, chân thành, không e ngại, cũng không tự đánh lừa mình rằng “con/học trò của mình còn quá bé, chưa biết đến điều này đâu” Thái độ tôn trọng, bình tĩnh, tiếp nhận vấn đề và sẵn sàng cùng giải quyết bất kỳ vấn

đề nào của trẻ là thái độ cần có trong GDGT

Thực tế cho thấy, từ trước tới nay có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về thực trạng việc GDGT hiện nay, những sai lầm trong quan niệm của người lớn, những thiếu hụt trong việc thực hiện chương trình GDGT Các mảng

Trang 21

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần luận giải, sáng tỏ và làm phong phú thêm lý luận cơ bản về một số khái niệm, một số lý thuyết trong khoa học Xã hội học và tâm lý học như: Thuyết nhu cầu, thuyết hệ thống, thuyết nhận thức hành vi và thuyết phân tâm và phương pháp trong làm việc với nhóm

Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn góp phần giúp mọi người trong xã hội

có cái nhìn khoa học hơn về vấn đề giáo dục giới tính, bởi trên thực tế không

ít người còn nhìn nhận sai lầm khi cho rằng trẻ em vẫn còn quá nhỏ để đề cập tới vấn đề giáo dục giới tính và việc giáo dục giới tính là vai trò và trách nhiệm của gia đình chứ không phải ai khác

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp những người quản lý có cái nhìn khách quan và vận dụng có hiệu quả kiến thức CTXH để xây dựng mô hình phù hợp với đối tượng cụ thể

Kết quả nghiên cứu cũng giúp NVCTXH- những người chăm sóc và trợ giúp, cũng như nhà trường – nơi trẻ đang theo học văn hóa có cái nhìn rõ ràng hơn để có những quan tâm thấu đáo hơn tới tâm sinh lý của trẻ, từ đó để

có những trợ giúp cho trẻ được đúng và trúng hơn

Trang 22

14

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kiến thức, kỹ năng GDGT của trẻ

em khuyết tật; Thực trạng hoạt động giảng dạy GDGT của Trung tâm cho trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm; Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới tình trạng này ở trẻ Từ đó áp dụng phương pháp CTXH nhóm vào quá trình hỗ trợ nâng cao kiến thức, kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh được hiệu quả hơn

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích làm rõ một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Điều tra xã hội học qua các phương pháp định lượng, định tính để trình bày một cách khoa học đánh giá các vấn đề giảng dạy GDGT của Trung tâm

và Kiến thức, kỹ năng GDGT của trẻ khuyết tật hiện đang sống trong Trung tâm nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh

- Phân tích các yếu tố nguyên nhân dẫn tới tình trạng hạn chế trong kiến thức, kỹ năng GDGT ở trẻ khuyết tật hiện đang sống trong Trung tâm nuôi dương Người có công và Bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh

- Tìm hiểu những Những vấn đề đặt ra từ kiến thức, kỹ năng về GDGT của trẻ khuyết tật trong Trung tâm và những vấn đề đặt ra từ hoạt động giảng dạy của giáo viên dạy về GDGT

- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao những kiến thức

và kỹ năng GDGT cho trẻ khuyết tật và thực nghiệm mô hình CTXH nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng GDGT cho TKT hiện đang sống trong Trung tâm nuôi dương Người có công và Bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh

Trang 23

15

5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng GDGT cho trẻ khuyết tật

5.2 Khách thể nghiên cứu

- Trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh

- Giáo viên dạy trẻ khuyết tật tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công

và bảo trợ xã hội Bắc Ninh

- Nhà quản lý và người chăm sóc

5.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Tháng 9/2017 - hết tháng 12/2017

- Địa bàn nghiên cứu: Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ

xã hội Bắc Ninh

- Giới hạn về nội dung nghiên cứu:

Nghiên cứu chỉ tập trung vào tìm hiểu một vài nhân tố cơ bản nhất dẫn tới tình trạng hạn chế trong kiến thức và kỹ năng GDGT của trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm, tới tình trạng giảng dạy GDGT của Trung tâm và nghiên cứu tập trung vào mô hình CTXH nhóm nhằm nâng cao kiến thức và

kỹ năng GDGT cho trẻ khuyết tật sống tại trung tâm

7 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng kiến thức và kỹ năng GDGT của trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh hiện nay như thế nào?

- Vai trò của nhân viên xã hội trong chương trình GDGT tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh hiện nay ra sao?

Trang 24

16

- Những nguyên nhân nào là cơ bản dẫn tới tình trạng kiến thức và kỹ năng GDGT của trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh có được như hiện nay?

- Có thể áp dụng CTXH nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng GDGT cho TKT sống tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh?

8 Giả thuyết nghiên cứu

- Trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh hiện nay chưa có nhận thức đầy đủ về tuổi dậy thì và những biểu hiện của tuổi dậy thì, sức khỏe sinh sản vị thành niên, các khía cạnh của quấy rối tình dục

- Giáo viên với tư cách là Nhân viên CTXH ở trung tâm cũng đã tham gia vào các chương trình GDGT nhưng chưa thực sự sát sao và vai trò của họ chưa được đánh giá đúng nghĩa

- Có nhiều nguyên nhân, nhưng nhận thức của trẻ khuyết tật và sự không phong phú trong truyền tải kiến thức, trong rèn luyện kỹ năng của giáo viên chính là những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự thiếu hụt trong kiến thức và kỹ năng GDGT của trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh hiện nay

- Để nâng cao kiến thức và kỹ năng GDGT cho trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh, cần tăng cường các hoạt động nhằm trang bị đầy đủ kiến thức về GDGT cho giáo viên, hình thức truyền đạt phong phú, hấp dẫn cho Trẻ khuyết tật thông qua các Câu lạc bộ giao lưu giữa các lớp trong Trung tâm, giữa Trung tâm với các Trường học trong khu vực; kết hợp GDGT trong các môn học chính khóa…

Trang 25

17

- Nếu dùng CTXH nhóm có thể nâng cao kiến thức và kỹ năng GDGT cho TKT để các em có thể tránh được những bệnh lây lan qua đường tình dục

và tránh bị xâm hại tình dục

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phân tích tài liệu chính là quá trình phân tích, phân chia, chia nhỏ những

số liệu, dữ liệu thành từng cụm, từng lĩnh vực, từng chi tiết cụ thể để tìm ra những ý nghĩa của số liệu đó; sau đó lại tổng hợp lại, đưa ra nhận định và những bình luận, làm sáng tỏ các quan điểm cần chứng minh Phương pháp này hết sức quan trọng trong nghiên cứu, bởi việc thu thập số liệu chưa có tính quyết định, mà điều cốt lõi chính là những số liệu đó phản ánh điều gì Chính việc phân tích tài liệu sẽ cung cấp những cơ sở và luận cứ khoa học cho nghiên cứu đang tiến hành

Có rất nhiều nguồn dữ liệu chúng tôi tham khảo và tìm kiếm và tổng hợp tài liệu Các nguồn như thư viện Quốc gia Hà Nội, Đại học Khoa học Xã hội

Nhân văn, thư viện Viện Xã hội học, tư liệu, tài liệu của Sở Lao động -

Thương binh và Xã hội, Cục Bảo vệ trẻ em và của các cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước khác Bên cạnh đó, để phục vụ công tác nghiên cứu, chúng tôi còn khai thác thông tin thu thập các văn bản, chính sách, chiến lược phát triển và kế hoạch hằng năm liên quan tới Trẻ khuyết tật, tới hoạt động GDGT cho trẻ em khuyết tật sống trong Trung tâm Báo cáo thống kê của Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh, các ban ngành liên quan của địa bàn nghiên cứu Tìm hiểu qua tư liệu về các chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là trẻ khuyết tật- những trẻ dễ bị tổn thương

Thu thập các số liệu về các thông tin cơ bản về điều kiện kinh tế xã hội,

Trang 26

18

cấu trúc dân số địa phương, phân tích kết quả nghiên cứu của một số đề tài khác liên quan đến giảng dạy môn GDGT để so sánh cũng như đóng góp cho việc lý giải các giả thuyết nghiên cứu của luận văn Các báo cáo tình hình kinh tế- xã hội của đất nước, của tỉnh Bắc Ninh và chi tiết hơn là của Trung tâm

Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh – Địa bàn nghiên cứu

9.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Bảng hỏi là một công cụ quan trọng trong nhận thức thực nghiệm Nó là sự thể hiện bên ngoài của chương trình nghiên cứu Bảng hỏi là một hệ thống các câu hỏi được xếp đặt trên cơ

sở logic đảm bảo theo nội dung của vấn đề nghiên cứu nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện quan điểm của mình với những vấn đề thuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được các thông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài, mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Đề tài xây dựng bộ công cụ bảng hỏi dành cho 60 khách thể nghiên cứu

là những trẻ khuyết tật hiện đang sống trong Trung tâm và có được học về GDGT; 30 giáo viên đang giảng dạy với các câu hỏi nhằm thu thập thông tin phục vụ cho việc tổng hợp số liệu nghiên cứu

* Bảng hỏi gồm các nội dung cơ bản cần thu thập bao gồm:

Kiến thức, kỹ năng về GDGT của trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm: Kiến thức cơ bản về GDGT, những nội dung cơ bản về GDGT mà trẻ đã được học, mức độ biết, lý do biết, tác dụng của việc học môn GDGT đối với trẻ (theo nhìn nhận của trẻ), sự hài lòng của trẻ về chương trình học, về hình thức truyền đạt, về sự tham gia và về sự chia sẻ của chúng khi gặp vấn đề phát sinh liên quan tới GDGT trên thực tế

Đặc điểm khách thể: Giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn,

Trang 27

19

* Cơ cấu mẫu theo giới tính:

*Cơ cấu mẫu theo nhóm tuổi:

đề GDGT đang diễn ra tại trường Từ đó đưa ra những nhận định sâu hơn về kết quả nghiên cứu Kết quả phỏng vấn được sử dụng trong báo cáo để người đọc có cái nhìn khách quan hơn về vấn đề hoạt động GDGT của trẻ khuyết tật

Giới tính Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Trang 28

20

sống trong Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh hiện nay

9.4 Phương pháp công tác xã hội nhóm

Phương pháp CTXH nhóm là phương pháp giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân Dựa vào việc phân tích vấn đề và các nhóm nguyên nhân chính tác động tới việc nâng cao kiến thức và kỹ năng GDGT cho TKT Vận dụng những kiến thức, kỹ năng và xây dựng mô hình giải quyết vấn đề GDGT của TKT NVCTXH thiết lập các mục tiêu xã hội trong

kế hoạch hỗ trợ TKT, giúp họ thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin, tăng cường năng lực đối phó, giải quyết vấn đề của bản thân và thỏa mãn nhu cầu thông qua các kinh nghiệm của nhóm

7 Kết cấu của luận văn

- Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục các biểu, bảng luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng về kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội

Bắc Ninh

Chương 3: Thực hành mô hình công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh

Trang 29

21

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

1.1.1 Cơ sở phương pháp luận

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là nguyên tắc phương pháp luận cơ bản cho mọi khoa học nói chung và xã hội học nói riêng Chủ nghĩa duy vật lịch và duy vật biện chứng đều giống với chủ nghĩa thực chứng là lấy sự vật, hiện tượng làm bằng chứng nghiên cứu chứ không phải từ ý thức chủ quan của người nghiên cứu Để vận dụng tổng hợp những

lý luận này, tôi sẽ dựa trên những nguyên tắc quan trọng như sau:

- Cần phải tuân thủ nguyên tắc lịch sử cụ thể: cần nghiên cứu vấn đề trong điều kiện lịch sử cụ thể về thời gian, không gian, vùng, miền vì trên thực tế mọi

sự vật đều tồn tại trong không gian và thời gian nhất định Do vậy khi nghiên cứu luôn đòi hỏi cần phải chú ý tới hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã làm phát sinh, phát triển vấn đề đó

- Khi xem xét các sự vật trong thế giới, luôn phải nhìn nhận trong mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của sự vật hiện tượng đó, không những vậy phải đặt chúng trong mối liên hệ qua lại với nhau kể cả trực tiếp và gián tiếp Phải xem xét sự vật trọng mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Các loại liên hệ này có vai trò khác nhau đối với quá trình vận động và phát triển của các sự vật và hiện tượng nhờ đó giúp chúng ta tới chỗ khái quát để rút ra bản chất chỉ sự tồn tại

và phát triển của sự vật

- Xem xét các sự vật phải hướng tới bản chất, không hướng tới cái ngẫu nhiên, bất bình thường Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng là sự

Trang 30

22

biểu hiện của bản chất ra bên ngoài, là cái không ổn định và biến đổi nhanh hơn so với bản chất Do đó khi nghiên cứu không chỉ dừng lại phản ánh hiện tượng mà cần phải tìm hiểu giải thích đúng về bản chất của sự vật hiện tượng [25.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, 1995]

- Chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét xã hội với tư cách là cơ cấu xã hội, nói theo thuật ngữ xã hội học hiện đại là cấu trúc xã hội, hệ thống xã hội Xã hội được hiểu là một chỉnh thể gồm các bộ phận có mối liên hệ qua lại với nhau như các giai cấp, thiết chế, các chuẩn mực giá trị, văn hóa, v,v Theo Marx, các bộ phận của xã hội không chỉ tác động qua lại với nhau mà còn mâu thuẫn, thậm chí đối kháng nhau Đó là nguồn gốc thúc đẩy sự phát triển

xã hội [26 Lê Ngọc Hùng,2011, tr 95]

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là phương pháp luận nhằm giải thích bản chất các các sự kiện, hiện tượng trong quá trình nghiên cứu nội dung của đề tài Phương pháp luận mang tính tổng hợp của Mark, quan niệm con người hài hòa tổng thể xã hội nhìn con người với chức năng tổng hòa Mark viết con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nhìn con người là tổng hòa các sắc thái khác nhau, [Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 20 1994, tr.508] Trình

độ phát triển của xã hội phụ thuộc vào trình độ tổ chức lao động sản xuất của con người trong việc đáp ứng nhu cầu tối thiểu để tồn tại, con người trở nên văn minh hơn Vì vậy nghiên cứu việc nâng cao kiến thức và kỹ năng GDGT cho trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm phải đặt trong văn hóa, điều kiên kinh

tế xã hội cụ thể Ví dụ trẻ bị các bệnh lây lan qua đường tình dục không phải

vì bị bệnh mà có thể nhiều lý do như kiến thức về giáo dục giới tính mà trẻ khuyết tật sống trong Trung tâm không được người chăm sóc chỉ bảo, các chương trình trường học không có và các chiến dịch sức khoẻ cộng đồng ít triển khai, dịch vụ y tế không có sẵn dễ dàng tiếp cận…

Trang 31

23

Dựa trên quan điểm Chủ nghĩa duy vật biện chứng là xem xét các hiện tượng xã hội trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau có quy luật giữa chúng Vận dụng trong đề tài này sẽ nghiên cứu tác động của các giáo viên dạy GDGT tới kiến thức và kỹ năng GDGT của trẻ khuyết tật trong mối quan hệ với các yếu tố khác như khả năng nhận thức của trẻ khuyết tật, nhãn quan của Ban giám đốc Trung tâm… Phương pháp luận ở đây là cách tiếp cận biện chứng cho rằng giữa kiến thức và kỹ năng của trẻ khuyết tật có được phụ thuộc vào kiến thức, phương pháp truyền tải của giáo viên và khả năng nhận thức của trẻ khuyết tật Ngược lại nếu kiến thức, phương pháp truyền tải của giáo viên yếu kém, không phong phú và khả năng nhận thức của trẻ khuyết tật quá hạn chế dẫn tới kiến thức, kỹ năng của trẻ khuyết tật bị hạn chế ( thậm chí

có thể không biết gì) Ở đây, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu mối quan hệ biện chứng này

Quá trình nhận thức không chỉ ở việc mô tả các hiện tượng bên ngoài mà còn hướng đến việc nhận thức bản chất bên trong vấn đề Như vậy, luận văn

sẽ có được cái nhìn đa chiều, nghiên cứu vấn đề đặc trưng mối liên hệ của phát triển xã hội

1.1.2 Các khái niệm công cụ

* Khái niệm Giới và giới tính

Theo Chương trình Bình đẳng Giới khu vực Đông Nam Á (SEAGEP ) vào năm 2001, giới và giới tính được định nghĩa như sau:

Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ không thể thay đổi đƣợc Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam và nữ về mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính Ví dụ nhƣ việc mang thai, sinh nở

và sự khác biệt về sinh lý có thể là do các đặc điểm giới tính

Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ nhƣ vai trò, thái

độ, hành vi ứng xử và các giá trị Vai trò giới đƣợc biết đến thông qua quá trình

Trang 32

do các nhóm xã hội con người tạo ra Những quan niệm về giới luôn nảy sinh

từ tính chất của các quan hệ xã hội và của những hình thái tổ chức xã hội khác nhau (Nguồn:Nguyễn Đức Truyến và Nguyễn Thị Nguyệt Minh, 2000) [29] Bản chất xã hội của giới được thể hiện rõ trong sự khác nhau giữa các đặc tính và các hoạt động được coi là của nam giới và nữ giới khi thực hiện so sánh trong các nền văn hoá, giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm dân tộc trong cùng một nền văn hoá, hoặc thay đổi theo thời gian.(Nguồn: Nguyễn Thị Nghĩa và Bùi Thị An, 2002)[30]

* Phân biệt giữa Giới và Giới tính

Đƣợc xây dựng nên bởi xã hội –

nó là những vai trò, trách nhiệm và

hành vi mong đợi ở nam và nữ

trong một văn hóa hoặc xã hội cụ

thể

Văn hóa – những yếu tố của giới

khác nhau giữa các nền văn hóa và

bên trong các nền văn hóa

Những vai trò về giới là đƣợc học

tập – chúng phát triển và thay đổi

theo thời gian

Bạn đƣợc sinh ra với giới tính của bạn – điều này không thể thay đổi

(Nguồn: Peter Chown, 2008)

Trang 33

Theo Luật bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em được Quốc hội nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 05/4/2016“trẻ em được quy định là người dưới 16 tuổi”

Theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em được Việt Nam phê

chuẩn ngày 20/02/1990 “trẻ em là những người dưới 18 tuổi” [31]

- Khái niệm Người khuyết tật

Theo Luật người khuyết tật Việt Nam 2009, người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vi thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động khác trong cuộc sống [32]

Trang 34

- Khái niệm Trẻ em khuyết tật:

Trẻ em khuyết tật: là những trẻ em do những tổn thương về cơ thể hoặc rối loạn các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động vui chơi, học tập, lao động

Căn cứ vào các dạng khó khăn đặc thù của trẻ khuyết tật, có thể chia các nhóm trẻ khuyết tật thành những dạng chính như:

+ Khó khăn về nhìn (khiếm thị)

+ Khó khăn về nghe (khiếm thính)

+ Khó khăn về học- chậm phát triển trí tuệ

+ Khó khăn về nói (khuyết tật ngôn ngữ)

+ Khuyết tật về vận động

+ Trẻ có những khó khăn khác (trẻ em đa tật)

* Khái niệm Giáo dục giới tính

Giáo dục giới tính là một lĩnh vực rất phức tạp Có nhiều quan niệm, nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này

Theo từ điển bách khoa về giáo dục: “Giáo dục giới tính là giáo dục chức năng làm một con người có giới tính, điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ ở lớp từ nhà trẻ đến đại học, giúp học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu hiện cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính” [33]

Theo A.G Khrivcova, và D.V Kolexev, “Giáo dục giới tính là một quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần

Trang 35

đạo đức và sự hoàn thiện về thể xác Theo A.X Makarenko, “Khi giáo dục về đạo đức cho đứa trẻ tính ngay thẳng, khả năng làm việc, tính chân thật, tôn trọng người khác, tôn trọng những cảm xúc và hứng thú của họ là chúng ta

đã đồng thời giáo dục nó về quan hệ giới tính”

Theo Trần Trọng Thủy, Đặng Xuân Hoài, giáo dục giới tính có phạm vi

rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lý, đạo đức con người “là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự kiềm chế có đạo đức, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em”

[Trần Trọng Thủy, Vấn đề giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho thế hệ trẻ, Báo cáo khoa học của đề án P09]

Theo Phạm Hoàng Gia, giáo dục giới tính phải được xem xét như một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội, có mối liên hệ mật thiết với giáo dục dân số, kế hoạch hóa gia đình, hôn nhân - gia đình và với các mặt giáo dục khác trong nhà trường phổ thông Do vậy, cần phải tiến hành công tác giáo dục giới tính một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ có tính chất hệ thống với các mặt giáo dục khác

Vậy khái niệm Giáo dục giới tính có thể hiểu là quá trình giáo dục con người nhằm làm cho họ có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính

và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hóa giới tính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính,

Trang 36

28

giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển

*Khái niệm kiến thức và kỹ năng

- Khái niệm kiến thức

Theo Wikipedia Tiếng Việt: Kiến thức (tiếng Anh là Knowledge) bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hoặc thông qua giáo dục [19]

Theo Wikionry Tiêng Việt: Kiến thức là điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập

mà có

Như vậy kiến thức được vận dụng trong Luận văn là nói tới những gì con người tích lũy được trong cuộc sống của mình, thông qua giáo dục hoặc quá trình trải nghiệm cuộc sống, đáp ứng sở thích hay nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Nói cách khác, kiến thức là sự hiểu biết về lý thuyết hay thực tế đối với vấn đề nào đó Con người tiếp thu kiến thức từ giáo dục, đào tạo và từ quá trình sống Kiến thức vận dụng vào công việc và cuộc sống hằng ngày, giúp con người phát triển bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống; đồng thời có những kiến thức giúp người học tăng thêm tri thức và nhân sinh quan, giúp con người mở rộng tầm nhìn về thế giới xung quanh hoặc vận dụng vào việc nghiên cứu các vấn đề khoa học khác

*Khái niệm kỹ năng

Theo Wikipedia Tiếng Việt: Kỹ năng (tiếng Anh: Skill, Tiếng Pháp: Capacite) là khả năng của con người trong việc vận dụng kiến thức để thực hiện một nhiệm vụ nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, giải quyết vấn đề tổ chức, quản lý

và giao tiếp…

Theo L.D.Levitov- nhà tâm lý học (Liên xô cũ): Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa

Trang 37

29

chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định.[13]

Theo Vũ Dũng: Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng

Theo Thái Duy Tuyên: Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động

Dưới góc độ tâm lý học: Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới

Như vậy kỹ năng trong luận văn sử dụng được hiểu là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra Nói cách khác, kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết ( kiến thức hoạc kinh nghiệm)

nhằm tạo ra kết quả mong đợi

Kỹ năng có nhiều loại ( theo nghiên cứu của tổ chức ASTD và Bộ lao động Hoa Kỳ) hiện nay có khoảng 16 kỹ năng cơ bản mà con người cần phải có để thích ứng như: Kỹ năng cứng ( Hard skills), Kỹ năng mềm ( Soft skills), kỹ năng lao động, kỹ năng sống, kỹ năng xã hội…

*Khái niệm Công tác xã hội

Theo IFSW và IASSW (2014), Công tác xã hội là “nghề thực hành và là một ngành khoa học nhằm thúc đẩy sự thay đổi và phát triển xã hội, gắn kết

xã hội, và tăng cường năng lực và giải phóng con người Các nguyên tắc chủ đạo của công tác xã hội bao gồm cô ng bằng xã hội, các quyền con người, trách nhiệm hợp tác và tôn trọng sự đa dạng Công tác xã hội sử dụng các lỹ thuyết của công tác xã hội, các khoa học xã hội, kiến thức nhân văn và bản địa, công tác xã hội gắn kết con người và các hệ thống để giải quyết những thách thức trong cuộc sống và tăng cường an sinh” [10, tr.1]

Trang 38

và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội”

* Khái niệm Công tác xã hội nhóm, mô hình công tác xã hội nhóm

- Khái niệm công tác xã hội nhóm

Công tác xã hội nhóm là một trong số các hoạt động của CTXH, bởi:

“Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các

cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [21, tr.4]

Hiện có nhiều cách tiếp cận với CTXH nhóm khác nhau, cụ thể như: Theo quan điểm của tác giả Toseland và Rivas cho thấy: “CTXH nhóm

là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm và trị liệu nhỏ, nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá nhân, các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ” [21, tr.39]

Trang 39

31

Tác giả Lê Văn Phú (2004) cho rằng CTXHN chính là sự vận dụng những kĩ năng chuyên nghiệp để trợ giúp các nhóm xã hội yếu thế thay đổi nhận thức, hành vi, tăng cường năng lực giải quyết các vấn đề xã hội của các thành viên [27]

Tác giả Hà Thị Thư (2012) cho rằng, “Công tác xã hội nhóm là phương pháp của công tác xã hội nhằm trợ giúp các thành viên trong nhóm được tạo

cơ hội và môi trường tương tác, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn

đề chung khi tham gia vào các hoạt động nhóm để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên” [38] Theo đó, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã đưa ra định nghĩa bao quát được bản chất của CTXH nhóm là một phương pháp can thiệp của CTXH Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những khó khăn Trong hoạt động CTXH nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của người trưởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội và có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp điều phối của nhân viên xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm)” [17]

-Khái niệm mô hình công tác xã hội nhóm

Mô hình là một hình thức diễn đạt ngắn gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng để nghiên cứu đối tượng ấy Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về mô hình, bao gồm:

Mô hình được hiểu là vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu

Trang 40

32

Mô hình là công cụ để giúp ta thể hiện một sự vật, hiện tượng, quá trình nào đó phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất và các sinh hoạt tinh thần của con người Mô hình được phân loại theo các dạng: mô hình hệ thống, mô hình cấu trúc, mô hình logic, mô hình toán, mô hình xã hội Trong đó mô hình xã hội là một kiểu mẫu tương tác xã hội, một cung cách ứng xử, một mẫu tương tác mà chủ thể xã hội bắt chước, học hỏi và tiến hành theo [17]

Như vậy, có thể hiểu mô hình CTXH nhóm là một công cụ, một dạng thức tương tác, ứng xử giữa các chủ thể có liên quan trong cùng một hệ thống trên cơ

sở vị trí, vai trò của họ trong hệ thống đó, là một hình thức sử dụng các phương pháp CTXH nhóm một cách chuyên nghiệp có hiệu quả nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất

1.1.3 Công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm

* Khái niệm công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật

Công tác xã hội nhóm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng cho trẻ khuyết tật là một phương pháp của công tác xã hội Đây là một tiến trình hỗ trợ mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn

đề chung về giới tính, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được những mục tiêu chung của nhóm, hướng đến giải quyết những mục đích của

cá nhân, giải tỏa những vấn đề khó khăn, trong hoạt động của một nhóm trẻ khuyết tật dưới sự điều phối của nhân viên xã hội

* Cách thức ứng dụng mô hình vào thực hiện luận văn

Sử dụng mô hình hỗ trợ trong công tác xã hội nhóm vào nâng cao kiến thức và kỹ năng GDGT cho TKT tại Trung tâm theo tiến trình Công tác xã

Ngày đăng: 20/02/2020, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. . Nguyễn Thị Thái Lan (2012), Giáo trình công tác xã hội nhóm, Nxb lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác xã hội nhóm
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Lan
Nhà XB: Nxb lao động xã hội
Năm: 2012
18. Đào Xuân Dũng (2015), “ GDGT và sự phất triển củavị thành niên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDGT và sự phất triển củavị thành niên
Tác giả: Đào Xuân Dũng
Năm: 2015
20. Lê Thế Nhân ( chuyên đề ngoại khóa), “ GDGT cho học sinh cơ sở” Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDGT cho học sinh cơ sở
21. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Nhập môn Công tác xã hội, Giáo trình, Nxb Lao động Thương binh xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động Thương binh xã hội
Năm: 2012
23. Nhóm nghiên cứu ( Viện nghiên cứu phát triênt TPHCM), “ Thực trạng giáo dục và trang bị kỹ năng sống về SKSS và sức khỏe tình dục cho vị thành niên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giáo dục và trang bị kỹ năng sống về SKSS và sức khỏe tình dục cho vị thành niên
24. Đào thị vân Anh, “ Cha mẹ với việc GDGT trong gia đình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha mẹ với việc GDGT trong gia đình
27. Lê Văn Phú (2004), Công tác xã hội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
28. Chương trình bình đẳng giới Khu vực tây nam Á (2001), “ SEAGEP” Sách, tạp chí
Tiêu đề: SEAGEP
Tác giả: Chương trình bình đẳng giới Khu vực tây nam Á
Năm: 2001
31. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Tác giả: Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2016
32. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Người khuyết tật, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Người khuyết tật
Tác giả: Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010
34. Nhà xuất bản giáo dục(1981), “ Cô bé –thiếu nữ - thanh niên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cô bé –thiếu nữ - thanh niên
Tác giả: Nhà xuất bản giáo dục
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục(1981)
Năm: 1981
22. Nguyễn Duy Tài ( Trường đại học y dược TPHCM),” Xác định tuổi vị thành niên có thai và yếu tố nguy cơ” Khác
25. Mác và Angghen (1995), Toàn tập 26. Lê Ngọc Hùng (2011), Marx Khác
29. Nguyễn Đức Tuyến và Nguyễn thị Nguyệt Minh (2000), 30. Nguyễn Thị Nghĩa và Bùi Thị An ( 2002) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w