1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại phường hà tu, thành phố hạ long, tỉnh quảng ninh

113 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 888,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Luận văn thạc sĩ của Trương Thị Điểm, năm 2014 với đề tài: “Chăm sóc sức khỏe ở nông thôn Việt Nam hiện nay và hoạt động của công tác xã hội” Nghiên cứu tại xã Quỳnh Bá, Quỳnh Lưu,

Trang 1

Ọ QUỐ NỘ TRƯỜN Ọ O Ọ Ộ V N N V N

Trang 2

Ọ QUỐ NỘ TRƯỜN Ọ O Ọ Ộ V N N V N

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: ““Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi tại phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho đến thời điểm này”

Hà Nội, ngày tháng năm 2018 Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 4

LỜ ẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng, ban trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là

sự hướng dẫn tận tình của Phó Giáo sư -Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Hoa là người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, chỉ bảo để tôi hoàn thiện luận văn này

Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ninh, UBND thành phố Hạ Long, Hội người cao tuổi Thành phố Hạ Long, Đảng ủy, UBND phường Hà Tu, Hội người cao tuổi phường Hà Tu cùng tất cả những cá nhân tôi

đã gặp trong quá trình sưu tầm, tập hợp tài liệu và thông tin để hoàn thành luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng, song với kinh nghiệm công tác xã hội trực tiếp của bản thân còn hạn chế sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy,

cô giáo, các đồng nghiệp và các bạn tham gia góp ý, tôi xin nghiêm túc tiếp thu, điều chỉnh để Đề tài nghiên cứu này đóng góp hiệu quả cao trong thực tiễn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤ LỤ

LỜI CAM ĐOAN 2

LỜI CẢM ƠN 1

Phần 1 MỞ ĐẦU 5

1- L do chọn đề tài 5

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp 11

4- Ý nghĩa khoa học và nghĩa thực tiễn 12

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 13

6- Phạm vi nghiên cứu 13

7- Câu hỏi nghiên cứu 14

8- Giả thuyết nghiên cứu 14

9- Phương pháp nghiên cứu 14

10- Kết cấu luận văn 16

Phần 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 17

1.1.- Các khái niệm công cụ 17

1.2 L thuyết áp dụng

1.3 Một số chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về Người cao tuổi và công tác chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi 30

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2 37

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC SỨC KHỎE 37

NGƯỜI CAO TUỔI VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI TẠI PHƯỜNG HÀ TU 37

2.1 Khái quát về phường Hà Tu và một số nét chung về người cao tuổi của phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 37

2.2 Đánh giá thực trạng chất lượng chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi tại khu 1, phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 39

Trang 6

2.2.1 Tình hình và đặc điểm người cao tuổi tại khu 1, phường Hà Tu, thành phố

Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh 39

2.2.2 Thực trạng hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại khu 1, phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 42

2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi tại phường Hà Tu 54

2.4 Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 59

2.5 Đánh giá l thuyết, kĩ năng và kĩ thuật đã áp dụng 79

Tiểu kết chương 2

PHẦN II- KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

1 Kết luận 83

2- Khuyến nghị 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 94

Trang 7

Phần 1 MỞ ẦU 1- L do chọn tài

Theo báo cáo tóm tắt “Già hóa trong thế kỷ 21: thành tựu và Thách thức”của Quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA), trên thế giới hiện nay, cứ 01 giây

có hai người tổ chức sinh nhật tròn 60 tuổi - trung bình 1 năm có gần 58 triệu người tròn 60 tuổi, cứ 9 người thì có 01 người từ 60 tuổi trở lên; và dự tính đến năm 2050 sẽ tăng lên là cứ 05 người thì có 01 người từ 60 tuổi trở lên”.[31, tr.3]

Việt Nam hiện nay đang bước vào thời kỳ già hóa dân số, số người cao tuổi hàng năm đang gia tăng nhanh chóng, theo kết quả điều tra số người từ 60 tuổi trở lên năm 2010 chiếm tỷ lệ 9,3% trên tổng dân số, năm 2011 là 9,8%, dự báo vào năm 2040 tỷ lệ này là 20,7% và đến năm 2049 tỷ lệ tăng lên là 24,8% [35,tr 77-78] Xu hướng và tốc độ biến động dân số theo hướng già hóa đang đặt

ra những cơ hội và thách thức lớn cho đất nước trong việc chuẩn bị nguồn lực để đón nhận số lượng dân số cao tuổi ngày càng tăng nhất là khi Việt Nam mới được xếp vào nước có thu nhập trung bình thấp Già hóa dân số sẽ có những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện chính sách, đảm bảo các nhu cầu trong cuộc sống, đặc biệt là nhu cầu chăm sóc sức khỏe

Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi vừa mang nghĩa kinh tế chính trị vừa mang tính nhân văn sâu sắc Bởi người cao tuổi là tầng lớp đã có nhiều cống hiến cho xã hội vì vậy cần phải có những chính sách, sự quan tâm đến đời sống người cao tuổi nói chung và sức khỏe người cao tuổi nói riêng Vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở mỗi khu vực, vùng miền khác nhau do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất khác nhau Ở thành thị, nhận thức của người dân đối với vấn đề về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi thường được quan tâm nhiều hơn so với ở khu vực nông thôn Sự quan tâm của nhà nước và các tổ chức xã hội đã giúp người cao tuổi có cuộc sống tốt hơn khi về già, giúp họ phát huy vai trò, kinh nghiệm của mình để tiếp tục xây dựng và đóng góp cho xã hội

Vì vậy, đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi là vấn đề quyền con người mà nhà nước phải có trách nhiệm, trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe

Trang 8

Thành phố Hạ Long - là thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh, nơi tự hào có Vịnh

Hạ Long là Di sản - Kỳ quan thiên nhiên thế giới; là một thành phố trẻ, năng động, số lượng dân cư tập trung đông trên 260 nghìn người, trong đó người cao tuổi chiếm tỷ lệ: 9,12%, có 284 người cao tuổi thuộc 03 đối tượng: người cao tuổi cô đơn diện hộ nghèo, người cao tuổi thuộc hộ nghèo và người cao tuổi thuộc hộ cận nghèo nằm rải rác ở 20 phường trực thuộc [22, tr 3]

Đối với địa bàn phường Hà Tu, là một trong những phường xa trung tâm, cũng là một phường tập trung số lượng giai cấp công nhân ngành than (chủ yếu

là Công ty Than Hà Tu, Công ty Than Hà Lầm), số lượng người lao động ngành than chiếm tỷ lệ lớn trên 60% dân cư của phường [24, tr.4] Đây là một thuận lợi đồng thời là một khó khăn khi chăm lo đời sống cho người cao tuổi ở phường, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là giai cấp công nhân về hưu

Công tác xã hội đối với người cao tuổi ở Quảng Ninh hiện nay đang được các cấp các ngành quan tâm Người cao tuổi rất cần các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội nhằm hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đặc biệt là vấn

đề chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi Do đó tôi đã lựa chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi tại phường Hà

Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 ác nghiên cứu quốc tế và khu vực

Già hóa dân số đã cà đang là vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới,

do giảm sinh và tăng tuổi thọ, số nước có dân số bị già hóa ngày càng tăng Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2050 một nửa dân số tăng trên thế giới là do tăng dân số ở độ tuổi từ 60 tuổi trở lên, trong khi đó số trẻ em (là những người dưới

15 tuổi) sẽ giảm nhẹ Hơn nữa, ở những vùng phát triển hơn, dân số trên 60 tuổi trở lên dự tính tăng gần gấp đôi (từ 245 triệu năm 2005 tăng đến 406 triệu vào năm 2050), trong khi dân số dưới 60 tuổi sẽ giảm (từ 917 triệu năm 2005 xuống còn 839 triệu năm 2050) [7,tr 3]

Theo Tổ chức y tế thế giới - WHO, số lượng người cao tuổi ngày một gia tăng nhanh chóng, trong năm 2010 ước tính có khoảng 524 triệu người ở độ tuổi

Trang 9

65 chiếm 8% dân số thế giới, nhưng đến năm 2050 con số đó tăng lên gần 1,5 tỷ người và chiếm 16% dân số toàn thế giới, đặc biệt tốc độ già hóa dân số phát triển nhanh ở các nước kém phát triển

Những tác động và ảnh hưởng của già hóa dân số tới nhiều lĩnh vực của con người, trong đó phải kể đến sự tác động đến sự thay đổi trong nhân khẩu học Đó là việc đặt ra những thách thức mới cho gia đình, cộng đồng và các quốc gia nói chung, đặc biệt là mô hình gia đình hạt nhân, ít thế hệ sinh sống trong một gia đình và vấn đề quan tâm đến người cao tuổi trong gia đình Mặt khác, do tuổi thọ người cao tuổi ngày một tăng cho nên sẽ còn ít người trẻ tuổi

để hỗ trợ họ, điều này tất nhiên cũng tác động đến độ tuổi lao động nhất là nguồn lực cho hỗ trợ các dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội

Chính vì vậy, sự gia tăng nhanh chóng về số người cao tuổi đã ảnh hưởng không nhỏ đến các dịch vụ y tế, đó là chi phí y tế ngày một tăng cao, việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc y tế của người lớn tăng lên cùng với tuổi tác trong khi đó thu nhập và công nghệ y học càng ngày càng phát triển Điều này đang đặt áp lực lên vai trò của nhà nước và các tổ chức xã hội vì với mô hình hạt nhân, vai trò của gia đình đối với việc chăm sóc người cao tuổi đã bị thu hẹp đáng kể

Việc quản l và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi về thể chất và tinh thần của các tổ chức, cộng đồng trong xã hội ngày một phổ biến và đạt hiệu quả Người cao tuổi cảm thấy thoải mái và ấm áp hơn khi được các tổ chức, cộng đồng và xã hội quan tâm, chăm sóc, điều mà hiện nay gia đình ở nhiều nước không còn đóng vai trò chính Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi có sự tham gia của cộng đồng sẽ đem lại hiệu quả cao, nâng cao thức và trách nhiệm của toàn xã hội

Vai trò của gia đình trong việc chăm sóc người cao tuổi cũng ngày càng thay đổi, gia đình có trách nhiệm chăm sóc trẻ nhỏ và người lớn tuổi, nhưng hiện nay mô hình gia đình hạt nhân với sự hiện đại hóa và công nghiêp hóa thì vai trò đó của gia đình lại được nhà nước và các tổ chức xã hội đảm nhiệm Số lượng và tỷ lệ những người lớn tuổi trong một mình đang gia tăng ở hầu hết các

Trang 10

nước Ở một số nước Châu Âu, hơn 40% phụ nữ trong độ tuổi từ 65 tuổi trở lên sống một mình, ngay cả trong xã hội truyền thống mạnh mẽ cha mẹ sống với con cái như ở Nhật Bản thì cuộc sống gia đình truyền thống ngày càng ít hơn [34, tr.33]

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về người cao tuổi trong nước ngày càng được nhiều tổ chức

và cá nhân nhà nghiên cứu dành nhiều thời gian tìm hiểu, điều đó thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đến vấn đề già hóa dân số hiện nay

Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi

so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017 hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2017 Với những thay đổi về cơ cấu dân số sẽ tạo ra những thách thức cũng như cơ hội cho Việt Nam Những dự báo về cơ cấu dân số cho thấy rằng: tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm nhanh chóng trong thời gian tới bởi tốc độ tăng dân số người cao tuổi ngày càng lớn Theo như thống kê, năm 2009 cứ hơn 07 người trong độ tuổi lao động sẽ hỗ trợ 01 người cao tuổi, thì đến năm 2049 tỷ số này là 02 tức là giảm hơn 3 lần Cũng theo nhận định cho rằng, quá trình già hóa dân số ở Việt Nam sẽ là “già ở nhóm già nhất”- từ 80 tuổi trở lên, tốc độ tăng và số lượng người cao tuổi ở độ tuổi cao nhất [35, tr 22]

Theo số liệu thống kê, thời gian dể dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang già ở Việt Nam ngắn hơn so với nhiều nước: Pháp mất 115 năm, Mỹ mất

69 năm, Nhật Bản và Trung Quốc mất 26 năm, trong khi đó Việt Nam chỉ mất

có 20 năm [32,tr.18] Đối với một nước đang phát triển Việt Nam hiện nay đó thực sự là một thách thức lớn trong sự thích ứng với sự già hóa nhanh, ảnh hưởng đến cơ cấu độ tuổi lao động, các hệ thống chính sách và dịch vụ…

Ngoài những yếu tố về di truyền, lối sống, bệnh tật, khả năng thích ứng với ngoại cảnh còn có những yếu tố ngoại cảnh như môi trường xã hội, thể chế, mức sống, tài chính, đạo đức truyền thống, sự giúp đỡ của gia đình và cộng đồng Trên cơ sở nhưng yếu tố này có thể biết và hiểu rõ hơn những yếu tố tác động đến sức khỏe người cao tuổi và có những biện pháp hỗ trợ hiệu quả

Trang 11

Người cao tuổi sau bao nhiêu năm cống hiến cho xã hội, lo cho con cái và khi về già họ cần có sự quan tâm, sự tôn trọng của những người xung quanh để không cảm thấy cô đơn, không còn cảm giác bị bỏ rơi, không còn cảm giác là người hết giá trị Truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “kính già già để tuổi cho”, “kính lão đắc thọ”, sẽ tác động tích cực đến người cao tuổi, ngược lại sự lãng quên, những mâu thuẫn, bất đồng giữa các thế hệ sa sút đạo đức,… tác động tiêu cực đến sức khỏe người cao tuổi [39, tr.26]

Số người cao tuổi tăng lên sẽ đòi hỏi các chi phí và áp lực về kinh tế, xã hội để duy trì cuộc sống khỏe mạnh cho người cao tuổi, vấn đề tài chính cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng quan trọng, chi phí khám chữa bệnh tăng

Sự hỗ trợ về vật chắt giữa cha mẹ và con cái: mỗi người có những nguồn thu nhập khác nhau nhưng trong số đó, có một phần quan trọng đó là sự hỗ trợ

từ con cháu Theo số liệu từ kết quả “Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 ” cho thấy 39,3% người cao tuổi cho biết nguồn sống chính của họ và do con cháu chu cấp; 30% là từ lao động của bản thân; 29% từ lương hưu hoặc trợ cấp; 1,6%

từ các nguồn của cải được tích lũy và 3,2% từ các nguồn khác Qua số liệu cho thấy, việc hỗ trợ từ con cháu đóng vai trò chính trong việc chăm sóc người cao tuổi, thể hiện trách nhiệm và đạo l đối với ông bà, cha mẹ [5, tr 38]

Như vậy, sự giúp đỡ của con cháu đối với người cao tuổi là chỗ dự duy nhất hoặc bổ sung các chi phí lớn đối với người cao tuổi tùy vào hoàn cảnh và khoảng cách sống khác nhau, trong khi đó sự hỗ trợ từ Nhà nước và các tổ chức

mẹ và con cái giúp người cao tuổi có cuộc sống tốt hơn cả về tinh thần và vật chất

Trang 12

Vấn đề sức khỏe người cao tuổi và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu Con người khi về già sức khỏe ngày một giảm sút, quá trình già hóa gây ra những rủi ro và hạn chế các chức năng trong cơ thể Tỷ lệ người cao tuổi có sức khỏe bình thường ở thành thị và nông thôn khác nhau; giữa nam và nữ khác nhau… Việc quan tâm và phát triển hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của vấn đề đảm bảo an sinh xã hội, nhất là người cao tuổi sau nhiều năm cống hiến, nuôi dạy giáo dục con cái; người cao tuổi cần được đảm bảo về nơi ăn chốn ở, chăm sóc khi ốm đau, được tôn trọng và yêu thương

Trong Luận văn thạc sĩ của Trương Thị Điểm, năm 2014 với đề tài:

“Chăm sóc sức khỏe ở nông thôn Việt Nam hiện nay và hoạt động của công tác

xã hội” (Nghiên cứu tại xã Quỳnh Bá, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đã cho thấy những yếu tố tác động đến vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, đặc biệt là yếu tố, vai trò của gia đình hạt nhân hiện nay Ngoài ra, tác giả tập trung nghiên cứu về mức độ khám chữa bệnh, mức độ hài lòng của người cao tuổi đối với các hoạt động chăm sóc sức khỏe ở nông thôn Việt Nam nói chung và xã Quỳnh Bà, Quỳnh Lưu, Nghệ An nói riêng Qua đó, tác giả đề cập đến triển vọng trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thời gian tới và vai trò của công tác

xã hội với người cao tuổi

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết, năm 2015 với đề tài: “Vai trò của nhân viên công tác xã hội với người cao tuổi tại cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tại Thị trấn Neo, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang)”, đã tập trung nghiên cứu thực trạng chăm sóc người cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ người cao tuổi tại thị trấn Neo, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Qua đó, đề xuất những vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi tại cộng đồng

Tóm lại, những nghiên cứu trong và ngoài nước thời gian qua đã nêu lên được quá trình già hóa dân số nhanh chóng với số lượng người cao tuổi tăng mạnh mẽ hàng năm; những đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe

Trang 13

người cao tuổi; sự quan tâm hỗ trợ giữa người cao tuổi với con cháu và ngược lại

Song, phải nói rằng, các nghiên cứu đó chưa làm rõ được những khó khăn trong công tác hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; việc hướng dẫn vận dụng những kỹ năng, phương pháp công tác xã hội cá nhân để hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đặc biệt tại địa bàn thành phố Hạ Long, công trình nghiên cứu cụ thể đến vấn đề trợ giúp trực tiếp người cao tuổi trong chăm sóc sức khỏe dưới góc nhìn của một nghề, một khoa học xã hội cho đến nay chưa có nhiều Đề tài “Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” mà tôi lựa chọn sẽ đóng góp một số giải pháp trong phát triển hệ thống công tác xã hội chuyên nghiệp tại cấp cơ sở cùng với đội ngũ nhân viên CTXH có kiến thức và

kỹ năng chuyên nghiệp; góp phần tiết kiệm nguồn lực cho nhà nước và phát huy hiệu quả trợ giúp sâu, rộng với người cao tuổi tại cộng đồng; đóng góp tích cực đối với việc đảm bảo an sinh cho các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội

Với mục tiêu nêu trên, đề tài mà tôi lựa chọn không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố và sẽ hứa hẹn mang đến cái nhìn mới từ góc độ CTXH với người cao tuổi trên địa bàn phường Hà Tu thông qua những hoạt động thiết thực và nghĩa

3- Mục ích và nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp

Trang 14

3.2- Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, thu thập, phân tích các tài liệu liên quan tới Người cao tuổi của phường Hà Tu và thành phố Hạ Long

- Thu thập và phân tích tài liệu để tìm hiểu những khó khăn trong chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi tại khu 1 và phường Hà Tu

- Thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân với Người cao tuổi để hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi

- Đề xuất các giải pháp để chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi đạt hiệu quả tại phường Hà Tu nói riêng và Thành phố Hạ Long nói chung

4- Ý nghĩa khoa học và nghĩa thực tiễn

4.1- Ý nghĩa khoa học

Làm rõ cơ sở l luận, áp dụng, lựa chọn các l thuyết, kỹ năng CTXH phù hợp với đề tài công tác xã hội trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp thêm nguồn l luận phong phú cho việc ứng dụng các l thuyết và các phương pháp CTXH cá nhân trong thực tiễn

Đồng thời luận văn góp một phần quan trọng cho mảng đề tài CTXH cá nhân vì các nghiên cứu từ góc độ CTXH chăm sóc sức khỏe người cao tuổi chưa nhiều

4.2- Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích ứng dụng tiến trình công tác

xã hội cá nhân với trường hợp điển cứu - thân chủ người cao tuổi đang gặp khó khăn trong vấn đề chăm sóc sức khỏe giúp người cao tuổi phát huy được nội lực của bản thân vươn lên làm chủ cuộc sống, thấy mình tuy có trở ngại bất ngờ về sức khỏe nhưng vẫn có ích cho gia đình và xã hội Đây cũng là cơ sở khẳng định vai trò của ngành công tác xã hội, nhân viên xã hội thực sự cần thiết đối với nhóm đối tượng yếu thế, trong đó có người cao tuổi Đồng thời đưa ra những giải pháp bảo đảm hoạt động CTXH trong việc trợ giúp chăm sóc sức khỏe người cao tuổi được quan tâm hơn, những giải pháp của đề tài có thể được cơ quan liên

Trang 15

quan áp dụng và đưa ra các chính sách hoàn thiện hơn về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và CTXH ở địa phương

Nghiên cứu sẽ phần nào làm cơ sở để phường Hà Tu vận dụng, tổ chức thực hiện CTXH trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi được hiệu quả, bền vững thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, chính quyền địa phương trong việc chăm lo đời sống cho các đối tượng yếu thế nói chung và người cao tuổi nói riêng

Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quan về hoạt động CTXH đối với người cao tuổi nói chung, qua đó có thể bổ sung vào công tác đóng góp kiến, tham vấn chính sách pháp luật cho Nhà nước trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách đối với người cao tuổi, các chương trình liên quan đến người cao tuổi và người dân để biết và giúp cho việc triển khai thực hiện kịp thời các chế độ, dịch vụ và chính sách thụ hưởng đến người cao tuối

Đề tài cho rằng việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại cấp cơ sở nhằm phát triển hệ thống công tác xã hội chuyên nghiệp từ cơ sở

5 ối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi tại phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Khách thể nghiên cứu: Người cao tuổi đang sinh sống tại phường Hà

Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (1.283 người)

6- Phạm vi nghiên cứu

6.1- Nội dung

Đề tài tập trung vào 04 hoạt động CTXH trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi bao gồm: hoạt động tư vấn, tham vấn; thực trạng chăm sóc sức khỏe; hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; hoạt động của các tổ chức xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại phường Hà Tu

Trang 16

6.2- Không gian

Địa bàn phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Khu phố 1, phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

6.3- Thời gian

Từ tháng 8 đến tháng tháng 12 năm 2017

7- âu hỏi nghiên cứu

Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh như thế nào?

Thực hành tiến trình công tác xã hội cá nhân sẽ mang lại những thay đổi

gì trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi gặp khó khăn?

8- iả thuyết nghiên cứu

Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh được triển khai tốt hay không?

Thực hành tiến trình công tác xã hội cá nhân có thể giúp người cao tuổi phát huy được nội lực, kết nối ngoại lực chăm sóc sức khỏe cho bản thân người cao tuổi được tốt hơn

9- Phương pháp nghiên cứu

9.1- Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu

Tôi tiến hành thu thập, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài như: Đọc và tìm hiểu các tài liệu có liên quan tới CTXH

Phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề người cao tuổi trên những tài liệu đã công bố, in ấn…

Tìm hiểu các văn bản pháp luật, nghị định của nhà nước về các chính sách đối với người cao tuổi…

Tìm hiểu phân tích thông tin từ UBND phường Hà Tu, nơi thân chủ sinh sống, thông tin từ Hội người cao tuổi Thành phố Hạ Long…

Trang 17

9.2- Phương pháp phỏng vấn sâu

Để thực hiện đề tài, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu đối với 20 đối tượng chính sau:

05 cán bộ chính quyền phường: 01 đồng chí Bí thư Đảng ủy, 01 cán bộ Lao động - Thương binh - Xã hội phường Hà Tu; 01 cán bộ chi Hội người cao tuổi ở khu 1 phường Hà Tu; 01 cán bộ y tế phường Hà Tu; 01 cán bộ văn hóa -

xã hội phường Hà Tu

10 người cao tuổi đang sinh sống trên địa bàn phường Hà Tu

05 người đang chăm sóc người cao tuổi trên địa bàn phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Mục đích thu thập thông tin, tìm hiểu về thực trạng đời sống, nhu cầu của người cao tuổi trên địa bàn phường, đặc điểm và những hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại phường Hà Tu Nhận thức và hành động của cán bộ, chính quyền, người dân trên địa bàn phường về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

Quan sát những người có quan hệ với người cao tuổi để tìm hiểu thái độ, hành vi của họ

9.4- Phương pháp công tác xã hội cá nhân

Thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân để can thiệp, hỗ trợ thân chủ

là bác N.V.H người cao tuổi gặp khó khăn trong vấn đề chăm sóc sức khỏe cá nhân vươn lên và thích nghi với cuộc sống giúp ích cho gia đình và xã hội nhiều hơn (Đối với phương pháp này được làm rõ hơn ở phần các khái niệm cơ sở)

Trang 18

10- ết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục, luận văn có

02 chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu; công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi tại phường Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 19

Phần 2 NỘ DUN N ÊN ỨU ƯƠN 1 Ơ SỞ LÝ LUẬN

1.1 ác khái niệm công cụ

Khái niệm người cao tuổi và một số đặc điểm về tâm, sinh l người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Người cao tuổi Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ “người già” để chỉ những người có tuổi Hiện nay, thuật ngữ “Người cao tuổi ” được dùng nhiều hơn Hai thuật ngữ này, tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm l Người cao tuổi là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng

Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa, gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể

Luật Người cao tuổi Việt Nam số 39/2009/QH12 ngày 23/9/2009, điều 2 Quy định: Người cao tuổi là tất cả công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên

Theo tổ chức Y tế Thế giới - WHO thì Người cao tuổi là những người từ

70 tuổi trở lên

Ở một số nước phát triển như Đức, Hoa Kì,… lại quy định Người cao tuổi

là những người từ đủ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do

sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già ở nước đó khác nhau Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân được nâng cao Do các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn, vì vậy quy định về tuổi đối với Người cao tuổi ở các nước là khác nhau

Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận Người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh l , lao động - thu nhập, quan hệ xã hội nên sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do

đó, Người cao tuổi là đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác

xã hội [18, tr.5]

Như vậy có nhiều quan điểm khác nhau về độ tuổi người cao tuổi, trong khuôn khổ luận văn tôi sử dụng khái niệm người cao tuổi theo Luật người cao tuổi của Việt Nam, “người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên”

Trang 20

* Đặc điểm sinh l

Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống, lão hóa có thể đến sớm hay muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người Khi tuổi cao các đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất và tinh thần giảm sút Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có những thay đổi theo chiều hướng đi xuống

Diện mạo thay đổi: tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn Các mạch máu nhỏ vỡ ra tạo thành các chất xanh đen nhỏ dưới da

Bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại dùng những thức ăn khô, cứng, dai dù thức ăn có giàu đạm, vitamin và khoáng chất Người cao tuổi thường chọn thức ăn mềm

Các cơ quan cảm giác, thính giác, vị giác, khứu giác cùng với tuổi càng cao thì hoạt động cũng càng kém hiệu quả

Các cơ quan nội tạng như tim, phổi và các cơ quan khác đều giảm sút Tim phụ thuộc vào hoạt động của hệ tuần hoàn, tim giảm sút liên quan đến quá trình lão hóa Phổi người già hoạt động kém, việc đưa ô xy vào cũng giảm đi, do vậy người già hay bị cảm lạnh, nhiệt độ có thể hạ thấp ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của họ

Khả năng tình dục giảm, do sự thay đổi của nội tiết tố, khả năng tình dục giảm Hơn nữa xương khớp của người già không còn linh hoạt, mềm dẻo, các cơ yếu dần, mọi hoạt động đều chậm chạp, vụng về Người già hay bị mệt mỏi, mọi hành vi cử chỉ yêu đương gặp khó khăn

Vì những đặc điểm sinh l trên mà người cao tuổi thường có những bệnh

về tim mạch, huyết áp (cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim…); các bệnh về xương khớp (thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút…); các bệnh về hô hấp (cảm sốt, viêm họng mũi, cúm, viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi…); các bệnh răng miệng (khô miệng, sâu răng, bệnh nha chu…); các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: rối loạn tiêu hóa và dinh dưỡng; ngoài ra người cao tuổi còn hay mắc các bệnh về ung bướu, thần kinh và các bệnh về sức khỏe tâm thần…[6, tr 8-10]

Trang 21

* Đặc điểm tâm l

Trạng thái tâm l và sức khỏe người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình Khia bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm l của mỗi người mỗi khác, nhưng tập trung ở những đặc điểm nội bật như: hướng về quá khứ (thích hồi tưởng lại chuyện xưa, thích hội họp, ôn lại chuyện cũ, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn…); chuyển từ trạng thái tích cực sang trạng thái tiêu cực (đó là bước ngoặt lớn lao chuyển từ trạng thái lao động sang trạng thái nghỉ ngơi, dễ gặp phải hội chứng về hưu)

Những biểu hiện tâm l dễ nhận thấy nhất là: sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn từ phía gia đình con cháu, sợ ở nhà một mình, sợ

bị lãng quên; cảm thấy bất lực và tủi thân (do sức khỏe giảm sút phụ thuộc nhiều vào con cháu, dễ nảy sinh tâm trạng chán nản, dễ tủi thân sợ con cháu coi thường); nói nhiều hoặc trầm cảm (vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con cháu, muốn con cháu theo khuôn phép thế hệ mình nên thường bắt lỗi và nói nhiều; người cao tuổi có những hoài bão tuổi trẻ chưa hoàn thành được có thể xuất hiện triệu chứng bệnh trầm cảm: hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào chuyện của con cháu); sợ phải đối mặt với cái chết (có cụ chuẩn bị tâm l và những việc cần thiết – viết di chúc nhưng có cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết) [6, tr 11]

Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh l , là một trong những đối tượng yếu thế của xã hội do đó các NVXH cần đẩy mạnh các hoạt động công tác

xã hội chuyên nghiệp để trợ giúp, hỗ trợ người cao tuổi và những người thân trong gia đình người cao tuổi như: tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng; tư vấn, hỗ trợ tâm l cho người cao tuổi và gia đình; kết nối với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể để cùng giải quyết vấn đề khó khăn của người cao tuổi; tạo môi trường thuận lợi cho ngươi cao tuổi; tham vấn cho gia đình người cao tuổi nắm bắt được tâm sinh l người cao tuổi; chế độ dinh dưỡng, sự quan tâm và cách ứng xử của con cháu với người cao tuổi

Trang 22

Khái niệm sức khỏe

Theo Tổ chức Y tế thế giới - WHO thì “sức khỏe” có thể hiểu “là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ không có bệnh hay thương tật”

Như vậy, sức khỏe là tổng hợp về tình trạng của cơ thể con người cả về thể chất lẫn tinh thần Sức khỏe không chỉ phản ánh tính chất cá nhân mà còn mang tính chất xã hội như thế sức khỏe bao gồm ba mặt: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội

Sức khỏe thể chất: Là khả năng hoạt động cơ bắp, có sức nâng, kéo đẩy… làm công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, sử dụng công cụ, khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, có sự dẻo dai và khả năng chịu được những khắc nghiệt của môi trường

Sức khỏe tinh thần: Là cảm thấy có đủ khả năng tự tin, có thể đối mặt với những tình trạng căng thẳng ở bình thường, luôn giữ được các mối quan hệ một cách thoải mái, có một cuộc sống độc lập và dễ hồi phục sau những tình huống khó khăn…

Sức khỏe xã hội: Sự hòa nhập của cá nhân với cộng đồng được gọi là sức khỏe xã hội như C Mác đã nói “Con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Sức khỏe xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ giữa các thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, làng xóm, nơi công cộng, cơ quan Nó thể hiện ở sự được chấp nhận và tán thành của xã hội Càng hòa nhập với mọi người được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngược lại

Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi

cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; sự hòa nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội Ba yếu tố sức khỏe thể chất, tinh thần và

xã hội liên quan chặt chẽ với nhau Nó là sự cân bằng hài hòa của tất cả những khả năng sinh học, tâm l và xã hội của con người Người cao tuổi thể hiện rõ nhất là sự lão hóa, suy yếu các cấu trúc chức năng của cơ thể, vì vậy người cao tuổi cần được quan tâm tới chăm sóc sức khỏe đặc biệt là sức khỏe thể chất

Trang 23

Chăm sóc sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con người, quyền được chăm sóc sức khỏe nằm trong quyền được có mức sống thích đáng được nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn nhân quyền Quốc tế: “Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ

xã hội cần thiết, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ”[72, tr 22]

Chăm sóc sức khỏe là chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tật, thương tích và các khiếm khuyết về thể chất và tinh thần trong con người [71, tr 30]

Chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi có thể được hiểu là: các hoạt động tổ chức chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và xã hội cho nhóm Người cao tuổi trong xã hội, đảm bảo cho họ có quyền lợi cơ bản như: quyền được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, quyền được tiếp cận các dịch vụ y tế, văn hóa xã hội, có môi trường sống tốt đẹp trong gia đình và xã hội

Như vậy, chăm sóc sức khỏe bao gồm cả chăm sóc thể chất và tinh thần, không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là nhiệm vụ của bản thân mỗi người và mỗi gia đình

Khái niệm công tác xã hội

Có nhiều khái niệm về công tác xã hội và được định nghĩa ở các góc độ khác nhau Theo định nghĩa của Hiệp hội quốc gia của nhân viên công tác xã hội

Mỹ (NASW 1970): “Công tác xã hội là một ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [33,

tr 10]

Tháng 7 năm 2000 tại Montreal, Canada, Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội Quốc tế (IFSW, 2000) đã đưa ra khái niệm nghề công tác xã hội: “Nghề công tác xã hội thúc đẩu biến đổi xã hội, giải quyết vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với con người và tăng cường năng lực, tự do của con người nhằm cải thiện điều kiện sống nói chung Bằng việc vận dụng các lý

Trang 24

thuyết hành vi của con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những thời điểm con người giao tiếp với môi trường của mình Các nguyên tắc

về con người và công bằng xã hội là nền tảng cơ bản của nghề công tác xã hội” [33, tr 10]

Gần đây nhất, tháng 7/2014, Đại hội đồng Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế (IFSW General Meeting) và Đại hội đồng Hiệp hội quốc tế các trường đào tạo Công tác xã hội (IFSW General Assembly) đã thống nhất toàn cầu về định nghĩa công tác xã hội: “Công tác xã hội là một ngành khoa học và là nghề thực hành thúc đẩy nâng cao năng lực, sự tự do, liên kết xã hội, thay đổi xã hội

và phát triển Nguyên tắc chủ đạo của công tác xã hội là tôn trọng sự đa dạng, trách nhiệm tập thể, quyền con người và công bằng xã hội Trên nền tảng lý thuyết công tác xã hội, khoa học xã hội, kiến thức bản địa và nhân văn, công tác xã hội kết nối nhân dân và tổ chức để bày tỏ những thách thức trong cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống” [33, tr 10]

Theo Viện Khoa học Lao động (năm 2013), Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi

xã hôi, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con gười và hệ thống xã hội Công tác

xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề [33, tr 11]

Theo từ điển công tác xã hội định nghĩa: “Công tác xã hội đó là một ngành khoa học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm

lý xã hội của mình một cách có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội

để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người” Công tác xã hội còn là “Một nghệ thuật, một khoa học, một nghề nhằm giúp con người giải quyết các vấn đề

từ cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng” [33, tr 13]

Trang 25

Khái niệm công tác xã hội cá nhân

Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội cá nhân Theo ông Lê Văn Phú trong cuốn Giáo trình công tác xã hội định nghĩa: “Công tác xã hội cá nhân là một cách thức, quá trình nghiệp vụ mà cán bộ xã hội sử dụng các kĩ năng kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng (cá nhân hoặc gia đình) phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình”

Công tác xã hội cá nhân là một khoa học, một nghề chuyên môn nhằm trợ giúp cá nhân trong công tác xã hội phục hồi và phát triển các chức năng xã hội

bị suy giảm thông qua việc tăng cường năng lực và thay đổi môi trường xung quanh, giúp cá nhân đó tự lực vươn lên, giải quyết các vấn đề tồn tại, hòa nhập vào sự phát triển chung của xã hội

Theo Grace Mathew, công tác xã hội với cá nhân “là một phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua môi quan hệ 1-1 Nó được nhân viên xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp những người có vấn đề về chức năng xã hội và thực hiện chức năng xã hội”[33, tr.134]

Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ con người giải quyết các vấn đề khó khăn Nó mang tính đặc thù, khoa học và nghệ thuật, nó giúp các

cá nhân có những vấn đề riêng cũng như vấn đề bên ngoài và vấn đề môi trường

Đó là một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan hệ để khai thác tài nguyên

cá nhân và những tài nguyên khác nhằm giải quyết vấn đề Lắng nghe, quan sát, vấn đàm, vãng gia và đánh giá là những công công tác xã hội chủ yếu của Công tác xã hội cá nhân Nhờ tính năng động trong công tác xã hội cá nhân mà cá nhân thân chủ thay đổi thái độ, suy nghĩ và hành vi của mình [19, tr.8]

Công tác xã hội cá nhân là một chuỗi các hoạt động tương tác giữa nhân viên công tác xã hội với thân chủ để cùng nhau giải quyết vấn đề Người nhân viên xã hội sẽ sử dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ của phương pháp công tác xã hội cá nhân nhằm tác động, thúc đẩy và trợ giúp cho thân chủ của mình vượt qua được những vấn đề mà thân chủ đang gặp phải, như trợ giúp cho thân

Trang 26

chủ nhận thấy, giúp họ đánh giá những vấn đề mà họ đang gặp phải, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thái độ và hành vi, trợ giúp họ đánh giá khả năng giải quyết vấn đề của họ và là chất xúc tác, hỗ trợ, khuyến khích, động viên để thân chủ tự giải quyết vấn đề của chính họ [33, tr 140]

Công tác xã hội cá nhân gồm 07 bước: Xác định vấn đề, thu thập dữ kiện,

1.2 Các l thuyết ược sử dụng trong nghiên cứu

Thuyết nhu cầu của Maslow

Lý thuyết nhu cầu được phát triển bởi A Maslow (1908-1970), trong lý thuyết này ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc Trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước

Có thể sơ đồ hóa hình ảnh về thang bậc nhu cầu của Maslow [20,tr.85]

- Nhu cầu thể chất - nhu cầu cơ bản cho sự tồn tại của cá nhân: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh l (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây

là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự

Trang 27

tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất

Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này

sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa

Ông bà ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng: “Có thực mới vực được đạo”, cần phải được ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao hơn

Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh, đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấy, các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu

*Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs):

Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp theo? Khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần

Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ,… Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha

mẹ, mong muốn được vỗ về

Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về

sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở,…Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần

Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm, …cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này

*Nhu cầu về xã hội (social needs):

Trang 28

Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love) Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm, …

Nhu cầu này là một dấu vết của bản chất sống theo bầy đàn của loài người chúng ta từ buổi bình minh của nhân loại Mặc dù, Maslow xếp nhu cầu này sau

2 nhu cầu phía trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, những người sống độc thân thường hay mắc các bệnh về tiêu hóa, thần kinh, hô hấp hơn những người sống với gia đình Chúng ta cũng biết rõ rằng: sự cô đơn có thể dễ dàng giết chết con người Nhiều em ở độ tuổi mới lớn đã lựa chọn con đường từ bỏ thế giới này với l do:

“Những người xung quanh, không có ai hiểu mình!”

*Nhu cầu về được tôn trọng (esteem needs):

Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác qu mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, qu trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn

Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được khích lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn Nhu cầu này được xếp sau nhu cầu “thuộc về một tổ chức”, nhu cầu xã hội phía trên Sau khi đã gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta luôn muốn được mọi người trong nhóm nể trọng, qu mến, đồng thời chúng ta cũng phấn đấu để cảm thấy mình có “vị trí” trong nhóm đó

Kinh nghiệm giáo dục cũng chỉ ra rằng: các hành động bêu xấu học sinh trước lớp, cho các học sinh khác “lêu lêu” một em học sinh bị phạm lỗi,… chỉ dẫn đến những hậu quả tồi tệ hơn về mặt giáo dục, tâm l

Trang 29

Bản chất tâm l con người ai cũng muốn được tôn trọng, chạm đến lòng

tự trọng là chạm đến điều sâu và đau nhất, là điểm tử huyệt nhất của con người Chỉ tôn trọng mà không yêu cầu là không ổn Khi được tôn trọng là đã cho con người ở đúng vị trí “Người” nhất của mình Do vậy, cần có trách nhiệm buộc phải sống và hành xử đúng đắn với sự tôn trọng đó.”

*Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs):

Khi nghe về nhu cầu này: “thể hiện mình” chúng ta khoan vội gán cho nó nghĩa tiêu cực Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất “Thể hiện mình” không đơn giản có nghĩa là nhuộm tóc lòe lẹt, hút thuốc phì phèo, “xổ nho” khắp nơi, nói năng khệnh khạng, …Maslow mô tả nhu cầu này như sau: “self-actualization as a person's need to be and do that which the person was “born to do” (nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm”) Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình

để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội

Trên cơ sở đó NVCTXH sẽ thiết lập được kế hoạch can thiệp và huy động được các nguồn lực liên quan để giúp người cao tuổi giải quyết các vấn đề về sức khỏe mà họ gặp phải [41, tr 26]

Ở người cao tuổi, tất cả những nhu cầu này cần được đáp ứng Do đặc điểm tâm sinh l , cơ thể con người thay đổi theo thời gian và yếu dần, người cao tuổi cơ thể không còn được như lúc trước, xương dễ giòn, dễ gãy, các cơ quan trọng cơ thể hoạt động yếu dần nhất là hệ tiêu hóa và hệ hô hấp, vì vậy việc chú trọng đến khẩu phần ăn và chế độ luyệt tập của người cao tuổi sẽ giúp phòng tránh bệnh tật

Đặc biệt, nhu cầu chăm sóc sức khỏe được người cao tuổi quan tâm Bên cạnh đó, người cao tuổi có nhu cầu đáp ứng về giao lưu tình cảm, cá nhân không thể tồn tại khi họ thiếu các mối quan hệ từ gia đình, bạn bè, cộng đồng… Người cao tuổi nhất là người cao tuổi sau khi nghỉ hưu, mối quan hệ xã hội của họ bị thu hẹp lại và nếu không được chuẩn bị trước tâm lý họ sẽ cảm thấy sốc và dễ rơi vào trạng thái trầm cảm Sau những năm cống hiến, làm việc và nuôi dạy con

Trang 30

cháu với những vốn kinh nghiệm tích lũy, người cao tuổi mong muốn mình được tôn trọng và không ngừng hoàn thiện bản thân; thậm chí người cao tuổi còn mong muốn hoàn thiện những việc trước đây còn dang dở Do vậy, muốn đáp ứng được nhu cầu, người cao tuổi cần phải có sức khỏe và được đáp ứng về nhu cầu chăm sóc sức khỏe Có sức khỏe tốt mới có những việc khác để tiến đến nhu cầu khác

Thuyết hệ thống sinh thái

L thuyết hệ thống sinh thái là một trong những l thuyết quan trọng được sử dụng trong công tác xã hội, đặc biệt là việc tìm hiểu và đánh giá về hệ thống xung quan người cao tuổi Trên cơ sở l thuyết giúp nhân viên công tác xã hội biết người cao tuổi trong tổng thể, môi trường xung quanh và sự tương tác giữa thân chủ với môi trường của họ Do vậy, về nội dung của l thuyết hệ thống sinh thái là chú tới

vị trí của cá nhân trong môi trường sống, l thuyết cho rằng con người ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng tới môi trường Điều này có nghĩa quan trọng vì con người không sống biệt lập mà luôn sống trong một cộng đồng Tác động qua lại giữa các hệ thống con người và môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến an sinh của cá nhân và xã hội Vì thế thông qua l thuyết có thể nhận thấy sự tương tác giữa con người với môi trường sinh thái của mình, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội là giúp thân chủ nhận biết và sử dụng các hệ thống, xây dựng các mối quan hệ giữa các cá nhân và các hệ thống nguồn lực của họ

Trong l thuyết hệ thống sinh thái, (Gernain - Gitterman - 1980) đã đưa ra

mô hình chính và được ứng dụng nhiều trong công tác xã hội đó là: Mô hình đời sống Đây là mô hình nhìn nhận cá nhân phải thường xuyên trao đổi và thích ứng với môi trường sống của họ để có thể tồn tại và phát triển Nhưng trên thực

tế con người luôn phải đối mặt với những vấn đề nảy sinh, bao gồm các vấn đề

xã hội Chúng làm giảm các khả năng thích ứng của con người và cuộc sống của

họ Vì vậy, để duy trì sự tồn tại và phát triển này, các cá nhân, nhóm và cộng đồng cần có một đầu vào thích hợp Do vậy để đạt được sự cân bằng trong việc thích ứng với môi trường, con người phải chịu các áp lực, liên quan đến các yếu

tố - nhu cầu - khả năng - môi trường Công cụ của thuyết hệ thống sinh thái

Trang 31

chính là “sơ đồ hệ thống sinh thái” giúp nhân viên công tác xã hội phân tích mối quan hệ giữa thân chủ với các nguồn lực hệ thống xung quanh, giúp chỉ ra nguyên nhân cũng như hướng can thiệp đối với thân chủ [33, tr.88]

Như vậy, trên cơ sở thuyết hệ thống sinh thái giúp tác giả có cái nhìn toàn diện về vấn đề của người cao tuổi, trợ giúp họ hiệu quả nhất trên cơ sở phân tích

và xác định rõ những yếu tố nguồn lực quan trọng trong hệ thống sinh thái, môi trường xung quanh của thân chủ

L thuyết vai trò xã hội

Mỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau L thuyết vị trí vai trò xã hội cho rằng mỗi một cá nhân có một vị trí xã hội là vị trí tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội, nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác Vị thế xã hội là vị trí

xã hội gắn với những trách nhiệm và những quyền hạn kèm theo Vị thế chính là bất kỳ vị trí ổn định nào trong một hệ thống xã hội với những kỳ vọng quyền hạn và nghĩa vụ đặc thù Các quyền và nghĩa vụ này thường tương ứng với nhau Phạm vi quyền và nghĩa vụ hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của các xã hội, của các nền văn hoá thậm chí của các nhóm xã hội nhỏ Nhưng khi xem xét vị trí với nhứng quyền và nghĩa vụ kèm theo, tức là xem xét vị thế xã hội của cá nhân, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt trong thứ bậc khác biệt trong thứ bậc xã hội và thay đổi theo từng xã hội, từng khu vực

Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn - được gán cho, vị thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được

Vai trò xã hội cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng

Nó chính là mặt động của vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong các xã hội khác nhau, qua các nhóm xã hội khác nhau Tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi Mô hình hành vi này chính là vai trò tương ứng của

vị thế xã hội Các nhà xã hội học cho rằng “hành vi con người thay đổi khác nhau tuỳ theo bối cảnh và gắn liền với vị trí xã hội của người hành động”, rằng “hành vi

Trang 32

phần nào đựơc tạo ra bởi những mong đợi của người hành động và những người khác Như vậy, vai trò xã hội là sự tập hợp hành vi, thái độ và sự thực hiện của cá nhân có vị thế đó

Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi được xác định căn cứ vào chuẩn mực xã hội Trong các xã hội khác nhau thì chuẩn mực này cũng khác nhau Vì vậy, cùng một vị thế xã hội, nhưng trong các

xã hội khác nhau thì mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau

Theo thuyết này, trong công tác xã hội, việc tìm hiểu những nhận thức cũng như hành động của cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng phụ thuộc nhiều vào chính vị trí mà họ được thừa nhận trong gia đình và xã hội Nếu như họ được coi trọng, được có tiếng nói của mình, được bình đẳng như mọi người trong gia đình

và ngoài xã hội thì họ sẽ làm tốt hơn vai trò của mình, đáp ứng được nhiều hơn những mong đợi của mọi người và ngược lại [41, tr32]

Người cao tuổi với những thiếu hụt trong quá trình thực hiện vai trò xã hội của mình thì việc áp dụng l thuyết này trong can thiệp cũng mang lại nhiều hiệu quả Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả tiến hành tìm hiểu vị trí, vai trò của sức khỏe người cao tuổi đối với gia đình và xã hội; vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc tạo khả năng của người cao tuổi khẳng định đóng góp đối với gia đình và xã hội khi có sức khỏe và kết nối với các dịch vụ xã hội để đáp ứng những nhu cầu về quan hệ xã hội cho người cao tuổi; vai trò của chính quyền địa phương đối với sự hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại khu dân cư

1.3 Một số chủ trương, chính sách của ảng, Nhà nước v Người cao tuổi

và công tác chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi

"Kính lão trọng thọ" là một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam; là

sự thừa nhận công lao đóng góp của NCT đối với gia đình và xã hội, thể hiện lòng biết ơn của thế hệ sau với thế hệ trước, của lớp người trẻ tuổi đối với NCT,

là thể hiện quan điểm "Uống nước nhớ nguồn", trọng nhân nghĩa của nhân dân

ta

Trang 33

1.3.1.Một số chủ trương của Đảng

Hội người cao tuổi Việt Nam được thành lập ngày 10/5/1995, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Chỉ thị 59-CT/TW về chăm sóc người cao tuổi, quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Hội người cao tuổi Việt Nam mới được thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ chức và mở rộng hoạt động

ở cơ sở Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy người cao tuổi phục vụ công cuộc đổi mới Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban của Đảng, các ban cán sự Đảng, Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với hội nghiên cứu, soát xét các chính sách pháp luật hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy người cao tuổi Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi Trước hết cần quan tâm chăm sóc những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tận và bất hạnh, nhanh chóng xóa bỏ tình trạng người già lang thang trên đường phố, ngõ xóm Đề nghị chính phủ hỗ trợ Hội người cao tuổi Việt Nam về kinh phí và điều kiện hoạt động”.[20, tr 51]

Thông báo số 12-TB/TW ngày 13/6/2001 đã khẳng định: “Hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có các nhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh Người cao Tuổi; Hội có ban đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện; Cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1-2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: Nhà nước tiếp tục trợ cấp kinh phí hoạt động cho Hội Các cơ quan chức năng của Nhà nước tạo thuận lợi, đảm bảo cấp kinh phí kịp thời cho Hội” [20, tr 51]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TW Đảng khóa IX (11/2002) đã chỉ rõ: “Xây dựng chính sách chăm sóc sức khoẻ, quan tâm hơn đến NCT về y tế, văn hoá, nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và hoạt động Hội, nêu gương tốt, giáo dục l

Trang 34

tưởng và truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ Thực hiện tốt chính sách đền

ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công với nước, xây dựng chương trình hành động quốc gia về NCT, phát huy vai trò Hội NCT Việt Nam ” [19]

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng (4/2006) đã xác định 2 nội dung chăm sóc và phát huy NCT: “Đối với NCT, chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để hưởng thụ văn hoá, được thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc; phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động chiến đấu của NCT trong

xã hội và gia đình, xây dựng gia đình ông, bà, cha, mẹ mẫu mực, con, cháu hiếu thảo” [19]

Báo cáo Chính trị tại Đại hội XI của Đảng tiếp tục xác định: "Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để NCT sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc; phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống trong xã hội và gia đình" [19]

Ngày nay, Đảng, Nhà nước coi người cao tuổi là lớp người có công sinh thành, nuôi dạy con cháu, là lớp người đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm qu

về nhiều mặt, có uy tín, có vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội, "thật sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh qu giá của cả dân tộc" [19]

1.3.2 Một số văn bản luật và chính sách đối với người cao tuổi

Luật Người cao tuổi có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2010, gồm 6 chương, 31 điều, đã thể hiện rất rõ nét tính ưu việt của xã hội ta đối với người cao tuổi Luật đã quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi; chính sách của Nhà nước đối với nguời cao tuổi; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân đối với người cao tuổi; Quỹ chăm sóc và phát huy NCT; đồng thời quy định rõ các hành vi bị cấm thực hiện đối với người cao tuổi Đặc biệt, Luật dành nguyên một Chương quy định về phụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi với các quy định cụ thể về chăm sóc sức khỏe; về các hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, sử dụng các công trình công cộng và tham gia giao thông; về bảo trợ xã hội; về chúc thọ, mừng thọ, tổ chức tang lễ “Người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên khám trước người bệnh khác, trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng; các bệnh viện, trừ bệnh viện chuyên khoa nhi, có trách nhiệm tổ chức khoa lão khoa hoặc dành

Trang 35

một số giường để điều trị người bệnh là người cao tuổi; Trạm y tế xã, phường, thị trấn nơi cư trú, có trách nhiệm chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người cao tuổi” [69]

- Người đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu và bảo hiểm xã hội sẽ được trợ cấp hàng tháng, được hưởng bảo hiểm y tế, được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết Riêng đối với người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng và được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội thì được hưởng các chế độ như: trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng bằng mức nuôi dưỡng tại

cơ sở bảo trợ xã hội; được hưởng bảo hiểm y tế; được cấp tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, thuốc chữa bệnh thông thường, dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng và được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết [70]

- Người thọ 100 tuổi được Chủ tịch nước chúc thọ, tặng quà; thọ 90 tuổi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chúc thọ, tặng quà UBND cấp xã phối hợp với người cao tuổi tại địa phương, gia đình của người cao tuổi tổ chức mừng thọ người cao tuổi ở tuổi 70, 75, 80, 85, 90, 95 và 100 trở lên vào một trong các ngày sinh nhật, Tết Nguyên đán, Ngày người cao tuổi Việt Nam, Ngày Quốc tế người cao tuổi [70]

- Khi người cao tuổi mất, người phụng dưỡng có trách nhiệm chính trong

tổ chức tang lễ và mai táng theo nghi thức trang trọng, tiết kiệm, bảo đảm nếp sống văn hóa, trừ trường hợp luật có quy định khác; trường hợp người cao tuổi mất mà không có người phụng dưỡng hoặc có nhưng không đủ điều kiện làm tang lễ thì chính quyền cấp xã hoặc cơ sở bảo trợ xã hội chủ trì, phối hợp với Hội NCT tổ chức tang lễ và mai táng.[70]

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định: Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện để người cao tuổi phát huy vai trò phù hợp với khả năng của mình để tham gia hoạt động xã hội như: xây dựng đời sống văn hóa; tư vấn chuyên môn, kỹ thuật; hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp tại cộng đồng; đóng góp kiến xây

Trang 36

dựng chính sách, pháp luật; phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp…[69]

Có thể nói, Luật Người cao tuổi là một hệ thống chính sách toàn diện, phù hợp, bảo đảm người cao tuổi được chăm sóc và phát huy vai trò quan trọng của mình trong đời sống xã hội; nó mang đậm tính nhân văn sâu sắc, truyền thống

"uống nước nhớ nguồn", thấm đượm tình cảm qu báu, đạo l tốt đẹp từ ngàn đời của dân tộc ta

Luật pháp liên quan đến người cao tuổi

Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp năm

1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ” Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Người lao động có quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động Nhà nước mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền đó Điều 67 của Hiến pháp 1992 quy định: “… Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ” Và Điều 67 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ” [20,tr.52]

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 70 quy định: “Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình” Và Khoản 2 Điều 104 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại” [20,tr.52]

Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng: Bảo

vệ sức khoẻ người cao tuổi trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định:

“người cao tuổi … được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình” Luật Lao động năm 2012 quy định tại Điều 166, 167: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc” [20,tr.53]

Trang 37

Điều 151 của Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội

là người già” Bộ luật Hình sự năm 2015 có sự sửa đổi Nhưng hành vi trên vẫn được coi là tội phạm và bị xử phạt Điều 185: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông

bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình” Điều 186: “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” [64]

Mới đây nhất, ngày 30 tháng 12 năm 2016, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 7618/QĐ-BYT về việc phê duyệt Đề án chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017 - 2025, theo đó mục tiêu tổng quát của Đề án hướng tới là

“Đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thích ứng với giai đoạn già hóa dân số góp phần thực hiện Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi, Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản, Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Đồng thời đề án cũng nêu ra 4 mục tiêu cụ thể đến năm 2025 về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; 8 giải pháp triển khai toàn diện đồng bộ và chỉ đạo tổ chức thực hiện ở 63 tỉnh thành trong cả nước, đối tượng hướng tới được thụ hưởng đề án là người cao tuổi và gia đình người cao tuổi Trên cơ sở Đề án của Bộ Y tế, chỉ đạo các Bộ, ngành, cơ quan hữu quan và UBND các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch/Đề án chăm sóc sức khỏe NCT của tỉnh/thành phố, bố trí nguồn lực thực hiện chăm sóc sức khỏe người cao tuổi theo hướng dẫn của Bộ Y tế và các quy định hiện hành.[70]

Như vậy, ngoài nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm lo cho người cao tuổi là trách nhiệm của người thân và gia đình, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, cơ chế, chính sách phù hợp và bổ sung tăng dần theo thời gian và nhu cầu phát triển của xã hội nhằm đảm bảo việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi

Tiểu kết chương 1

Trang 38

Như vậy, ở chương 1, tác giả hệ thống những cơ sở lý luận, những lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu; những chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đối với người cao tuổi; một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu phường Hà Tu Tại chương 1, đề tài đã cung cấp lý thuyết để hiểu rõ hơn về vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, bởi vấn đề chăm sóc sức khỏe

có vai trò không chỉ kéo dài tuổi thọ mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp người cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống có ích và tiếp tục cống hiến cho

xã hội Đồng thời, tại chương 1, tác giả đã nêu khái quát đặc điểm về địa bàn nghiên cứu, một số đặc điểm chung về người cao tuổi như: về độ tuổi, giới tính, đặc trưng về nghề nghiệp của người cao tuổi qua đó làm rõ bước đầu vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu

Trang 39

Tổng diện tích đất tự nhiên của phường là 1.700 ha, địa hình chủ yếu là đồi núi Phường có tổng dân số trung bình là 13.356 nhân khẩu với 3.841 hộ dân, được chia thành 78 tổ dân ở 07 khu phố Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vào khoảng 12%/năm Dân tộc chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó có các dân tộc Hoa, Sán Dìu, Tày [23, tr 6]

Về tình hình kinh tế - xã hội của phường Hà Tu, trong những năm qua Theo đánh giá kết quả hoạt động của Đảng ủy, HĐND và UBND phường các lĩnh vực về thu chi ngân sách, xây dựng cơ bản, giải quyết việc làm, y tế - giáo dục và văn hóa đều đạt được kết quả tích cực: Thu ngân sách hàng năm vượt từ 5% trở lên so với kế hoạch Thành phố giao; các chỉ tiêu về xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư đều đạt và vượt Nghị quyết Đảng bộ phường Về văn hóa xã hội: mỗi năm phường thực hiện giới thiệu và giải quyết việc làm cho trên 350 lao động; không có hộ nghèo phát sinh và hộ tái nghèo; các trường học từ bậc mầm non, tiểu học và THCS trên địa bàn phường đều đạt chuẩn Quốc gia mức

độ 1 và mức độ 2, một điều đáng ghi nhận về giáo dục phường Hà Tu nằm trong top các phường đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục THPT của toàn thành phố Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa hàng năm cao đều đạt từ 90 đến 95% [23, tr 8]

Trang 40

Về lĩnh vực an ninh quốc phòng: Những năm qua, phường đã tạp trung thực hiện tốt công tác phòng, chống các loại tội phạm, không để hình thành các băng, nhóm tội phạm có tổ chức, các tụ điểm phạm tội phức tạp về kinh

tế, hình sự, ma túy và tệ nạn xã hội; ngăn chặn có hiệu quả tình trạng khai thác vận chuyển và kinh doanh than trái phép; phối hợp và thực hiện tốt các chủ trương, giải pháp nhằm giải quyết tối đa tình trạng ùn tắc giao thông giảm tới mức thấp nhất tỉ lệ tai nạn giao thông trên địa bàn; thực hiện tốt các nội dung, nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng trên chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Tuy nhiên, mặc dù được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh và Thành phố nhưng tốc độ phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội trên toàn phường chưa tương xứng với tiềm năng Một số lĩnh vực còn nảy sinh những tồn tại, hạn chế: vấn đề an sinh xã hội còn nhiều vấn đề đáng quan tâm; trình độ dân trí không đồng đều (do người dân chủ yếu là lao động trong ngành than, số còn lại tập trung trong lĩnh vực dịch vụ buôn bán tiểu thương)…Các đối tượng người có công, đối tượng bảo trợ xã hội gồm người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, số hộ nghèo, cận nghèo chiếm tỷ lệ cao so với các phường trên địa bàn Thành phố (chiếm tỷ lệ 2,9% trên tổng số nhân khẩu của phường) (Báo cáo kết quả thực hiện công tác lao động - thương binh và xã hội năm 2017 của UBND phường Hà Tu)

Về đặc điểm người cao tuổi người cao tuổi của phường: theo báo cáo đánh giá của Hội người cao tuổi phường nhiệm kỳ 2015- 2020, đại đa số người cao tuổi hiện nay nguyên là cán bộ, công nhân, bộ đội đã nghỉ hưu và được hưởng lương hưu hàng tháng (là 1.035 người chiếm 80,7%); còn tỷ lệ khá cao người cao tuổi sống phụ thuộc vào gia đình con cháu vì không có lương hưu, không có thu nhập, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, đây cũng là một thuận lợi đáng kể trong việc đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống của người cao tuổi

Số người cao tuổi còn lại là người cao tuổi hưởng trợ cấp, người cao tuổi có

Ngày đăng: 20/02/2020, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w