Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để áp dụng công tác xã hội nhóm mang lại hiệu quả cao nhất vào việc hình thành các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động và phải có tính ứng d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÀ BẢO TRỢ XÃ HỘI BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÀ BẢO TRỢ XÃ HỘI BẮC NINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội ứng dụng
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồi Loan
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hồi Loan Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố,
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Bính
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này em xin bày tỏ lòng biết ơn tới Quý các Thày giáo, Cô giáo trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân vân, Đại học quốc gia Hà Nội
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hồi Loan là
người thày trực tiếp giảng dạy và cũng là người trực tiếp hướng dẫn khoa học
đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu để em có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân thành cảm ơn ban lãnh đạo cũng như tập thể các giáo viên, nhân viên chăm sóc của Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội, các bậc phụ huynh và đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hành, ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm tại Trung tâm
Trong quá trình thực hiện luận văn này, mặc dù đã có sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, nhưng do chưa có nhiều điều kiện để ứng dụng, thực hành công tác xã hội, chưa có nhiều kinh nghiệm khi làm việc nhóm với trẻ khuyết tật vận động nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em mong nhận được sự góp ý chân thành của Quý các Thày giáo, Cô giáo, của đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày…tháng….năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Bính
Trang 51
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
1 Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp 5
2 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài 7
3 Đối tượng, khách thể và phạm vị nghiên cứu can thiệp 10
3.1 Đối tượng nghiên cứu can thiệp 10
3.2 Khách thể nghiên cứu can thiệp 10
3.3 Phạm vi nghiên cứu can thiệp 11
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp 11
5 Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu can thiệp 12
5.1 Câu hỏi nghiên cứu 12
5.2 Giả thuyết nghiên cứu 12
6 Phương pháp nghiên cứu can thiệp 12
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu 12
6.2 Phương pháp quan sát 13
6.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 14
6.4 Phương pháp thực nghiệm 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỂ HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ LỚP 1 KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 15
1.1 Các khái niệm công cụ 15
1.1.1 Khái niệm nhóm 15
1.1.2 Khái niệm phương pháp công tác xã hội nhóm 15
1.1.3 Khái niệm người khuyết tật 17
1.1.4 Khái niệm trẻ khuyết tật, trẻ khuyết tật vận động 17
1.1.5 Kỹ Năng tự phục vụ 21
1.1.6 Mục tiêu và phương pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động 24
1.2 Các lý thuyết áp dụng 25
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1908-1970) 25
Trang 62
1.2.2 Thuyết học tập xã hội 29
1.2.3 Thuyết vai trò 31
1.3 Ứng dụng mô hình phát triển trong Công tác xã hội nhóm để hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật 32
1.3.1 Nội dung chính của mô hình 32
1.3.2 Cách thức ứng dụng mô hình vào thực hiện luận văn 34
CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG THỰC TIỄN 37
2.1 Giới thiệu về địa bàn ứng dụng 37
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 37
2.1.2 Tình hình cơ sở vật chất và nguồn lực của Trung tâm 38
2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của Trung tâm 38
2.2 Quy trình ứng dụng mô hình can thiệp nhóm 40
2.2.1 Đánh giá, sàng lọc, lựa chọn vấn đề, đối tượng cần can thiệp 44
2.2.2 Xác định, phân tích các kỹ năng tự phục vụ để can thiệp trợ giúp 53
2.2.3 Nguồn lực để can thiệp 54
2.2.4 Xây dựng kế hoạch can thiệp 56
2.2.5 Thực hiện kế hoạch can thiệp 63
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ÁP DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỂ HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ LỚP 1 KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 118
3.1 Đánh giá những điểm mạnh trong thực hiện công tác xã hội nhóm 118
3.2 Bài học kinh nghiệm: 119
3.2.1 Mức độ đáp ứng nhu cầu của đối tượng can thiệp 119
3.2.2 Mối liên hệ giữa kiến thức, lý thuyết, phương pháp ứng dụng và kiến thức thực tế 120
3.2.3 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình can thiệp và biện pháp khắc phục 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3: Đánh giá mức độ nhận thức về sự cần thiết phải hình thành
Bảng 7: Các biện pháp cụ thể mà GV, PH &NCS sử dụng để giúp
Bảng 8: Thực trạng các kỹ năng tự phục vụ của nhóm trẻ khuyết tật
Bảng 9 Thực trạng các kỹ năng tự phục vụ của nhóm trẻ khuyết tật
vận động trước và sau khi tham gia thực nghiệm 116
Trang 95
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp
Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội tính đến tháng 6 năm 2015 ước tính cả nước có trên 7 triệu người khuyết tật (chiếm 7,8% dân số) trong đó 4,06 triệu người là nữ (chiếm 58% Người khuyết tật), 1,981 triệu trẻ em (chiếm 28,3% người khuyết tật) và 714 nghìn người cao tuổi khuyết tật (chiếm 10,2% Người khuyết tật) [5] Theo báo cáo cuối năm 2016 của Trung tâm Nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh: Hiện tại Trung tâm có 170 người khuyết tật được chia thành các dạng tật khác nhau
Ở Viêt nam, công tác xã hội trong giáo dục trẻ khuyết tật ra đời muộn hơn một số nước phát triển trên thế giới Song với quan điểm phát huy con người là nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước Do đó Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm, ưu tiên cho trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng Cùng với việc xây dựng và triển khai vào cuộc sống cộng đồng Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Người khuyết tật, nước ta đã xây dựng và triển khai chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật vân động nói riêng được hưởng quyền lợi chăm sóc, học tập và vui chơi như các trẻ em bình thường khác Mục tiêu giáo dục cho trẻ khuyết tật nằm trong mục tiêu chung để đào tạo con người trong hệ thống giáo dục quốc gia Đối với trẻ khuyết tật, mục tiêu cuối cùng và cốt lõi nhất của giáo dục đó
là giúp trẻ có được cuộc sống độc lập đến mức có thể thì trẻ mới tự tin, tránh mặc cảm và tự khảng định mình trong cuộc sống Như vậy mục tiêu chung của giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật vận động là dạy những kiến thức văn hóa và các kỹ năng sống nhằm giúp trẻ sống độc lập ở mức cao nhất, tạo cho trẻ cuộc sống tự lập càng sớm càng tốt Trong số những kỹ năng cần được đề cập đầu tiên, cần thiết và quan trọng nhất đó là kỹ năng tự phục vụ, đó là mốc
Trang 106
đầu tiên đánh dấu sự độc lập của một đứa trẻ, trẻ có thể tự phục vụ được bản thân để khảng định cái tôi của mình Việc tự phục vụ được bản thân có ý nghĩa to lớn đối với bản thân trẻ và giảm bớt đi gánh nặng cho gia đình và xã hội
Thực tế hiện nay một số Trung tâm bảo trợ xã hội dành cho trẻ khuyết tật đã tiến hành dạy kỹ năng sống, kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật nói chung và khuyết tật vân động nói riêng Song, vấn đề lý luận còn ít được quan tâm nghiên cứu, có rất ít sách, tài liệu đề cập tới vấn đề hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ dưới góc độ CTXH Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ cán bô tại các Trung tâm chưa thấy hết tầm quan trọng và sự cần thiết của kỹ năng tự phục vụ đối với trẻ khuyết tật vận động Cho nên, họ đã không chú trọng đến việc hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ Chính điều này đã làm cản trở đến sự phát triển của trẻ, làm giảm sự tự tin ở bản thân trẻ, dẫn đến trẻ thụ động trong việc thực hiện các hoạt động và thụ động trong việc học các kỹ năng cần thiết đối với bản thân trẻ
Từ các vấn đề trên, bản thân tác giả là một viên chức đang trực tiếp làm việc tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh, tác giả nhận thấy rằng, trong những năm qua chất lượng học tập của học sinh cũng có sự chuyển biến rõ rệt Tuy nhiên, khó khăn đáng nói ở đây là học sinh khuyết tật vận động vào Trung tâm một số em rất yếu về khả năng tự phục vụ
Vì vậy, song song với việc dạy và học văn hoá thì điều cần thiết và quan trọng nhất là phải hình thành cho các em kỹ năng tự phục vụ, giúp các em tự khẳng định mình và góp phần giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội Vấn đề đặt
ra ở đây là làm thế nào để áp dụng công tác xã hội nhóm mang lại hiệu quả cao nhất vào việc hình thành các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động và phải có tính ứng dụng cao Với tất cả lý do trên tác giả đã chọn đề tài:
“Áp dụng công tác xã hội nhóm để hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp
Trang 117
1 khuyết tật vận động tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh” nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng các dịch vụ
chăm sóc trẻ tại Trung tâm
2 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề trẻ khuyết tật là một vấn đề mang tính xã hội và được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm nhằm hướng tới một cuộc sống công bằng, bình đẳng trên tất cả các lĩnh vực, rút ngắn khoảng cách giữa những người khuyết tật và những người bình thường, giúp trẻ khuyết tật vươn lên trong cuộc sống, có một cơ hội mới cho các em
Công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận động là một vấn đề cần được quan tâm nhằm giúp cho các em có được điều kiện tốt nhất đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, học tập, nâng cao năng lực và phát huy được những thế mạnh của bản thân, vượt qua mặc cảm, tự ti để vươn lên cuộc sống Do vậy vấn đề này đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên trong các khâu xây dựng, triển khai lại chưa gắn được các hoạt động trợ giúp của công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật vận động vào thực tiễn Hiện nay trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều ấn phẩm được đề cập trên các báo, luận
án, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đề cập đến vấn đề hỗ trợ cho người khuyết tật
Social work with disabled people (Thomas, 2012) – Công tác xã hội với người khuyết tật Tác giả đã trình bày những vấn đề tổng quan về người
khuyết tật cũng như những mô hình và phương pháp can thiệp hiệu quả của CTXH trong việc hỗ trợ người khuyết tật Các dạng khuyết tật được trình bày rõ ràng kết hợp với những phương pháp CTXH phù hợp từ đó mang lại hiệu quả rõ nét hơn với từng nhóm người khuyết tật trong đó có trẻ khuyết tật vận động [40]
Trang 12và tầm quan trọng của CTXH trong việc can thiệp và hỗ trợ trẻ khuyết tật [41]
Families with Children with Disabilities - Inequalities and the Social work Model – Gia đình trẻ khuyết tật – Sự bất bình đẳng và mô hình can thiệp CTXH (Monica, 2010) Nghiên cứu cho thấy rằng các gia đình có trẻ
khuyết tật trải qua hàng loạt những bất bình đẳng mà các gia đình có con không bị khuyết tật không bị ảnh hưởng Kết quả nghiên cứu cho thấy cuộc sống của những gia đình này thường có những khó khăn về tài chính, căng thẳng và lo lắng do các rào cản xã hội, thành kiến và cung cấp dịch vụ kém
Mô hình CTXH về người khuyết tật thường được rút ra để minh họa cho cách tổ chức và hỗ trợ các gia đình của trẻ khuyết tật một cách toàn diện [42]
Ngày 18/7/2015, Học viện Khoa học xã hội đã tổ chức buổi sinh hoạt
khoa học với chủ đề: “Cơ sở lý luận và thực tiễn ngành công tác xã hội với
người khuyết tật” do TS Hà Thị Thư trình bày [37] Trong bài thuyết trình
của mình, diễn giả đã phân tích vai trò của nhân viên xã hội trong trợ giúp người khuyết tật, cụ thể: nhân viên xã hội có thể tham gia các chương trình can thiệp sớm cho người khuyết tật; chương trình giúp người khuyết tật trong hòa nhập giáo dục; tham gia vào việc phục hồi chức năng cho người
Trang 139
khuyết tật dựa vào cộng đồng
Một số đề tài nghiên cứu của các học viên cao học hay sinh viên như
đề tài “Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động” (Trường hợp tại làng Hữu Nghị Việt Nam) của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang Đề tài phân tích và chỉ ra thực trạng đời sống cũng như khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội của trẻ em khuyết tật vận động với mục đích kết nối, điều phối và đưa ra những phương hướng, giải pháp khắc phục những tồn tại của thực trạng Đề tài “Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật tại xã Hồng Quản, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” của tác giả Trần Ngọc Hải Mục tiêu quan trọng mà đề tài này hướng đến đó là sư giúp đỡ của các ban ngành chức năng nhằm giúp trẻ khuyết tật vươn lên hòa nhập cộng đồng, từ đó trẻ có cuộc sống tốt hơn
Đỗ Thị Liên, Công tác xã hội đối với NKT từ thực tiễn thành phố
Thanh Hóa, Học viện Khoa học xã hội [38] Luận văn đã đánh giá thực
trạng hỗ trợ NKT tại thành phố Thanh Hóa và đưa những dịch vụ trợ giúp cho NKT tại đây, đồng thời tác giả cũng đã đưa ra những đề xuất những giải pháp phù hợp để thực hiện quá trình trợ giúp cho NKT
Năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Thu đã thực hiện 1 nghiên cứu với chủ
đề “Công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động từ thực tiễn
trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật tại thành phố Hồ Chí Minh” [31] Nghiên cứu đã đánh giá được những vấn đề cơ bản về thực
trạng trẻ khuyết tật vận động và các hoạt động nhóm trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật vận động Kết quả cho thấy nếu lựa chọn các hoạt động CTXH nhóm phù hợp thì hiệu quả đạt được là rất tích cực
Bùi Thị Huệ, (2011) Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc
giải quyết vấn đề của người khuyết tật [39] Kết quả nghiên cứu chỉ ra
nhân viên công tác xã hội có vai trò hết sức thiết thực và cụ thể hỗ trợ trực
Trang 1410
tiếp can thiệp giúp người khuyết tật phục hồi chức năng Đồng thời, nhân viên công tác xã hội chính là cầu nối để người khuyết tật có thể tiếp cận được các chính sách và nguồn lực hỗ trợ từ xã hội Hỗ trợ NKT, gia đình NKT giải quyết các vấn đề khó khăn của họ thông qua việc tìm kiếm cung cấp dịch vụ cần thiết cho NKT Hỗ trợ về mặt tâm lý (hiểu được tâm lý của NKT, ảnh hưởng của sự khuyết tật đối với gia đình của NKT, tác động của
sự khuyết tật đến vai trò và mối quan hệ của các thành viên trong gia đình,
và cả những rắc rối cá nhân hay vấn đề xã hội khác) Phối hợp, Vận động tìm nguồn lực, nguồn tài nguyên hỗ trợ cho NKT, gia đình NKT
Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên ít nhiều đã đề cập đến vấn đề hỗ trợ, giáo dục cho NKT dưới các góc độ khác nhau cả về lý luận
và thực tiễn, có rất ít những nghiên cứu đề cập đến vấn đề trợ giúp trực tiếp cho TKTVĐ dưới góc nhìn của một nghề, một khoa học về CTXH Đặc biệt có rất ít những nghiên cứu về CTXH nhóm đối với việc hình thành các
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động Vì vậy, với đề tài này tác giả không chỉ muốn tìm hiểu về thực trạng đời sống của TKTVĐ tại Trung tâm mà thông qua việc áp dụng CTXH nhóm để hình thành các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động tại Trung tâm Nuôi dưỡng người
có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh
3 Đối tượng, khách thể và phạm vị nghiên cứu can thiệp
3.1 Đối tượng nghiên cứu can thiệp
Công tác xã hội nhóm trong việc nâng cao kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động
3.2 Khách thể nghiên cứu can thiệp
+ Trẻ lớp 1 khuyết tật vận động tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh
+ Giáo viên dạy trẻ khuyết tật vận động tại Trung tâm
Trang 1511
+ Phụ huynh, người chăm sóc TKTVĐ
3.3 Phạm vi nghiên cứu can thiệp
3.3.1 Phạm vị thời gian
Thời gian nghiên cứu can thiệp được tiến hành từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 01 năm 2018
3.3.2 Phạm vi không gian
Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh
3.3.3 Phạm vi (giới hạn) nội dung
Áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm giúp đỡ, nâng cao
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động thông qua các bài học hỗ trợ nhóm, các trò chơi Giúp trẻ khuyết tật hình thành các kỹ năng tự phục vụ
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp
4.1 Mục tiêu nghiên cứu can thiệp
Tìm hiểu thực trạng về công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ khuyết tật nói chung và giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động tại Trung tâm nói riêng Qua đó đưa ra đề xuất áp dụng công tác xã hội nhóm cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh Lượng giá kết quả trước và sau khi can thiệp để đánh giá tính hiệu quả của mô hình can thiệp từ đó đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp cung ứng các dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp, toàn diện, hiệu quả
và đáp ứng nhu cầu của trẻ khuyết tật tại trung tâm
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng thực hành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động
- Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng kỹ năng tự phục vụ của trẻ tại Trung tâm
Trang 1612
- Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động và thực nghiệm áp dụng CTXH nhóm trong hình thành
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật vận động
5 Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu can thiệp
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng về kỹ năng tự phục vụ của trẻ lớp 1 khuyết tật vận động tại trung tâm như thế nào?
- Trẻ khuyết tật vận động là tình trạng trẻ giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển
do vậy trẻ khuyết tật vận động có nhu cầu nào về phát triển các KNTPV
- Yếu tố nào ảnh hưởng đến kỹ năng tự phục vụ của trẻ khuyết tật vận động tại Trung tâm?
- Có thể áp dụng CTXH nhóm nhằm hình thành và phát triển kỹ năng
tự phục vụ cho TKTVĐ?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Trẻ lớp 1 khuyết tật vận động tại Trung tâm còn rất hạn chế về kỹ năng tự phục vụ, đa phần các em vẫn còn lệ thuộc vào sự chăm sóc trực tiếp của nhân viên xã hội tại Trung tâm
- Các em đều có nhu cầu tự mình làm được các công việc vệ sinh cá nhân và tự chăm sóc bản thân
- Nếu dùng CTXH nhóm có thể giúp các em hình thành và nâng cao chất lượng một số kỹ năng cơ bản về tự phục vụ bản thân
6 Phương pháp nghiên cứu can thiệp
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu
* Phương pháp phân tích tài liệu: là phương pháp sử dụng các kỹ thuật
chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã
Trang 1713
được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục
vụ cho quá trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để: Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH như: Nhập môn CTXH, Công tác xã hội nhóm, Lý thuyết CTXH…
Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề CTXH đối với trẻ khuyết tật như: đề tài „„Công tác xã hội nhóm với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật tại Thành phố Hồ Chí Minh ‟‟, đề tài „„Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động trường hợp tại làng Hữu Nghị Việt Nam,
Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách an sinh, giáo dục đối với trẻ khuyết tật và các loại hình can thiệp nhóm,
để giúp trẻ khuyết tật
6.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin của nghiên
cứu xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát không gian sinh hoạt, khả năng giao tiếp, thể trạng của trẻ khuyết tật vận động Cũng thông qua đó hình thành được câu trả lời đầy đủ và có được những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấn sâu Cụ thể đề tài tập trung quan sát các hoạt động công tác xã hội nhóm hoặc các hoạt động mang tính chất công tác xã hội Quan sát về môi trường, không gian sinh hoạt của trẻ khuyết tật vận động Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của đối tượng khảo sát với người điều tra, nhằm xác định xem trẻ
Trang 1814
gặp phải những vấn đề khó khăn nào về sức khỏe, tâm lý, đặc biệt các kỹ
năng tự phục vụ của trẻ
6.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
* Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức
hỏi đáp gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên
tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người
được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào
phiếu hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên
Với phương pháp này, đề tài sẽ phát bảng hỏi dành cho 30 phụ huynh,
30 giáo viên và 30 người chăm sóc trẻ khuyết tật vận động tại Trung Tâm để
tìm hiểu, thu thập thông tin chung về thực trạng hình thành kỹ năng tự phục
vụ của trẻ KTVĐ, tìm hiểu về thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối
với trẻ khuyết tật vận động tại Trung tâm
6.4 Phương pháp thực nghiệm
Nhằm mục đích chứng minh tính hiệu quả của các biện pháp đưa ra
Áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm với 4 giai đoạn cụ thể giai
đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm; giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động; Giai
đoạn can thiệp thực hiện nhiệm vụ; Giai đoạn kết thúc
BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo
luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận về áp dụng công tác xã hội nhóm để hình
thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động
Chương 2 Áp dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm trong thực
tiễn
Chương 3 Đánh giá kết quả áp dụng Công tác xã hội nhóm để hình
thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động
Trang 191.1.2 Khái niệm phương pháp công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm trước hết phải được coi là một phương pháp can thiệp của công tác xã hội Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên và giải tỏa những vấn
đề khó khăn Trong hoạt động công tác xã hội nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của người trưởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội và có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm) [16]
Trang 2016
Như vậy, CTXH nhóm được coi là một phương pháp can thiệp của CTXH, là một tiến trình trợ giúp mà các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường để tham gia vào các hoạt động chung, có sự chia sẻ, tương tác lẫn nhau nhằm đạt mục tiêu chung của nhóm và giải quyết được vấn đề của từng cá nhân trong nhóm Trong đó, nhân viên xã hội chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, hướng dẫn, tổ chức sinh hoạt nhóm để chính các thành viên trong nhóm có sự tương tác lẫn nhau và dùng mối quan hệ đó làm công cụ chính để nhận diện và giải quyết vấn đề của từng cá nhân hoặc của nhóm
* Công tác xã hội đối nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
Trong những đối tượng cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhân viên công tác
xã hội thì trẻ khuyết tật là một nhóm cần được sự quan tâm, trợ giúp đặt biệt việc trợ giúp cùa nhân viên công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật được coi là một lĩnh vực chuyên sâu của người làm công tác xã hội, lĩnh vực này được gọi là “ công tác xã hội với trẻ em khuyết tật” Việc hỗ trợ, giúp đỡ đối với trẻ khuyết tật không chỉ có sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội mà còn là công việc của các chuyên gia giáo dục đặc biệt, giáo viên, chuyên gia tâm lý Tuy nhiên sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội không đi sâu vào bản thân trẻ khuyết tật hay tìm kiếm nguyên nhân gây khuyết tật, cũng như các phương pháp, biện pháp giáo dục và trị liệu cụ thể mà nhấn mạnh đến việc tác động vào hệ thống chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật như: như gia đình của trẻ khuyết tật, nhà trường, đoàn thể, cộng đồng mà họ sinh sống cũng như các chính sách của nhà nước dành cho họ Do vậy, công tác xã hội với trẻ khuyết tật có những đặc thù nhất định so với hoạt động công tác xã hội chung
Từ định nghĩa về công tác xã hội như trên thì có thể hiểu: công tác xã
hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động là việc nhân viên công tác xã hội sử dụng các kỹ năng chuyên môn và nghiệp vụ nhằm giúp các trẻ em đó vượt qua khó khăn trở ngại của mình để vươn lên hòa nhập cuộc sống Đồng thời
Trang 2117
huy động các nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để giúp đỡ các em một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, tham gia vào các hoạt động xã
hội trên nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội [31]
1.1.3 Khái niệm người khuyết tật
Trong hệ thống phân loại quốc tế ICF, Theo Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa khuyết tật như sau: “khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố
cá nhân khác)” [13,tr.26]
Theo Luật người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày
17 tháng 6 năm 2010 Tại khoản 1 Điều 2 quy định: Người khuyết tật là người
bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [27]
1.1.4 Khái niệm trẻ khuyết tật, trẻ khuyết tật vận động
* Khái niệm trẻ khuyết tật
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khái niệm khuyết tật gắn với các yếu
tố như:
- Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể và sự suy giảm các chức năng
- Những hạn chế trong hoạt động của cá thể
- Môi trường sống: những khó khăn, trở ngại do môi trường sống mang lại cho họ không thể tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong cộng đồng [ 28, Tr 34-35]
Trẻ khuyết tật là trẻ có những khiếm khuyết về cấu trúc hoặc các chức năng cơ thể hoạt động không bình thường dẫn đến trẻ gặp khó khăn nhất định
và không theo được chương trình giáo dục phổ thông nếu không được hỗ trợ
Trang 2218
đặc biệt về phương pháp giáo dục – dạy học và những trang thiết bị hỗ trợ cần thiết [ 28, Tr 34-35]
* Khuyết tật vân động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động
đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển [13,tr34]
* Khái niệm trẻ khuyết tật vận động
Trẻ khuyết tật vận động là những trẻ có sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển, sinh hoạt và học tập…
Trẻ khuyết tật vận động có thể được chia ra làm hai dạng:
- Trẻ bị hội chứng não nặng dẫn đến khuyết tật vận động Những trẻ thuộc dạng này thường là trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và trong học tập
- Trẻ khuyết tật vận động do chấn thương nhẹ hay do bệnh bại liệt gây
ra làm khoèo, liệt chân, tay…nhưng não bộ của trẻ vẫn bình thường, trẻ vẫn học tập tốt, chỉ cần giúp trẻ các phương tiện tới trường Ngay từ nhỏ nếu trẻ được rèn luyện và phát triển các chức năng vận động vẫn có thể cho kết quả phục hồi nhanh chóng [ 28, Tr35-39]
1.1.4.1 Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật vận động
Khuyết tật có thể xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào trong cuộc đời của một con người Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến khuyết tật, bao gồm các nguyên nhân do môi trường sống, do xã hội và do bẩm sinh [13, tr35]
* Nguyên nhân do môi trường sống
- Đói nghèo, suy dinh dưỡng, bệnh tật không được phát hiện và chữa trị, phục hồi chức năng kịp thời
- Điều kiện ăn ở chật chội, yếu kém, mất vệ sinh
- Ô nhiễm và suy thoái môi trường, thiên tai
- Sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi dẫn đến nhiễm độc
Trang 2319
- Chấn thương do tai nạn, rủi ro (khi tham gia giao thông, trong lao động, trong sinh hoạt hay hoạt động thể thao)
- Thay đổi chế độ ăn uống và hoàn cảnh sống
- Chiến tranh và bạo lực
* Nguyên nhân do xã hội
- Mù chữ và thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về các dịch vụ y tế sẵn có,
do không theo dõi hoặc không có tiếp cận với thông tin sự bất lực của y học
* Nguyên nhân do bẩm sinh và trong khi sinh
- Di truyền: lỗi nhiễm sắc thể, lỗi gen gây dị tật bẩm sinh (Hội chứng Đao, Hội chứng Relt liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính…) hoặc rối loạn
do nhiều yếu tố (Nứt đốt sống, thiếu một phần não, tràn dịch não…)
- Do các yếu tố ngoại sinh như lây nhiễm rubella, giang mai, HIV; do nhiễm độc một số loại thực phẩm do người mẹ dùng như thuốc chống động kinh, các chất rượu cồn, do chụp tia X, chất độc màu da cam
- Một số nguyên nhân trong khi sinh cũng ảnh hưởng đến khả năng gây nên khuyết tật Thứ nhất do thiếu ô xy, vấn đề này thường xuất hiện do nhau thai, thời gian sinh quá lâu, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh Thứ hai trẻ có thể bị tổn thương trong khi sinh nếu đầu trẻ được kéo ra bằng forceps
1.1.4.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ khuyết tật vận động
Tâm lý khá đông trẻ khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác
Trang 24Trong mối quan hệ tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng,
họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng, hay tự ái Nếu sống trong những gia đình khó khăn, người khuyết tật có cảm giác mình bị bỏ rơi
Với trẻ khuyết tật các em đang ở lứa tuổi mà tâm lý chưa ổn định, chưa
có sự hoàn thiện về nhân cách, dễ bị tổn thương do vậy mà các em rất cần sự động viên an ủi, chăm sóc, bảo vệ từ phía cộng đồng và xã hội
1.1.4.3 Nhu cầu và khả năng của trẻ khuyết tật vận động
Các nhu cầu của trẻ khuyết tật đều hướng đến thỏa mãn các nhu cầu khác nhau, các nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trước tiên người khuyết tật cần được đáp ứng các nhu cầu ở mức độ thấp, sau đó mới tìm đến
sự đáp ứng các nhu cầu ở bậc thang cao hơn Các nhu cầu không tồn tại độc lập mà luôn nằm trong mối quan hệ gắn kết, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau, các nhu cầu được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp tới cao
- Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe và chữa trị y tế cho tình trạng khuyết tật như
Tăng cường dinh dưỡng, có chế độ dinh dưỡng phù hợp với độ tuổi và dạng tật
Khám bệnh định kỳ theo chỉ định của đội ngũ cán bộ y tế
Can thiệp y học như phẫu thuật, làm lành vết thương, chỉnh hình, phục hồi chức năng…
Trang 2521
Cung cấp các dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng hoặc thay thế như chân tay giả, xe lăn…
- Nhu cầu học tập, hỗ trợ tâm lý xã hội và hòa nhập
Nhu cầu hỗ trợ tâm lý và xã hội tập chung vào những hỗ trợ về tham vấn, tư vấn giúp trẻ giải tỏa căng thẳng, khủng hoảng hay sang chấn tâm lý, xóa bỏ mặc cảm tự ti, kiểm soát tốt hơn cảm xúc và thay đổi hoặc học tập được những hành vi mới tích cực hơn
Trẻ cần được học những kỹ năng sống để biết kiểm soát, tự chủ trong cuôc sống và bảo vệ mình Đây là những điều kiện tiền đề để trẻ có thể hòa nhập với môi trường và quan trọng là hòa nhập với gia đình, cộng đồng trong
kế hoạch can thiệp lâu dài của trẻ TKTVĐ có thể gặp nhiều nguy cơ trong cuộc sống hơn nếu như các em không được trang bị những kỹ năng sống Vì vậy để trẻ có thể hòa nhập trong cơ sở cũng như chuẩn bị cho trẻ có cuộc sống độc lập sau khi được hòa nhập với cộng đồng chúng ta cần có đánh giá về nhu cầu trang bị những kỹ năng sống cho TKTVĐ [5, tr23]
Một số có ý chí, nghị lực cao, những người khuyết tật về vận động nhưng trí tuệ phát triển bình thường hoặc thậm chí rất tốt Họ thường cố gắng học tập, tìm kiếm việc làm để không phụ thuộc vào người khác [4, tr.27]
1.1.5 Kỹ Năng tự phục vụ
1.1.5.1 Khái niệm kỹ năng
Đến nay trên thế giới và ở nước ta có nhiều các quan niệm về kỹ năng
và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Khi nghiên cứu về kỹ năng các nhà tâm lý học xem xét kỹ năng theo hai khuynh hướng chính
Khuynh hướng thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiên về mặt kỹ thuật của hành động, theo các tác giả chỉ cần nắm vững cách thức của hành động là có
kỹ năng Đại diện cho nhóm này là V.X.Cudin, A.G.Covaliop…
Trang 2622
Khuynh hướng thứ hai, xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người trong quá trình giao tiếp Đại diện nhóm này là N.D Levitop, K.K.Platonop, G.G Coluvep…
Ở Việt Nam các nhà giáo dục quan niệm kỹ năng như là khả năng của con người thực hiện có kết quả hành động tương ứng với mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra Một số tác giả lại quan niệm, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức hợp của hành động bằng cách lựa chọn và vận dụng tri thức vào quy trình đúng đắn
Theo Lê Văn Hồng, kỹ năng là “khả năng vận dụng kiến thức để giải
quyết một nhiệm vụ mới” [1] Còn tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng “kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể” [9] Hay tác
giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “kỹ năng là năng lực của con người biết vận
hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình”
Tác giả luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục Phạm Thị Thu Thủy khi nghiên cứu về giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ 4-5 tuổi ở
trường mần non hòa nhập cũng cho rằng “kỹ năng là khả năng của con người
được thực hiện thuần thục trên kinh nghiệm của bản thân thông qua quá trình rèn luyện, luyện tập nhằm tạo ra kết quả mong đợi” [33]
1.1.5.2 Khái niệm kỹ năng tự phục vụ
Kỹ năng tự phục vụ là khả năng con người có thể tự chăm sóc bản thân như tự ăn uống, mặc quần áo, tắm rửa và đi vệ sinh Kỹ năng tự phục vụ là những kỹ năng cần thiết để con người đạt được độc lập trong nhiều khía cạnh của cuộc sống Giảng dạy các kỹ năng này sẽ giúp một đứa trẻ ít phụ thuộc vào những người xung quanh trong cuộc sống hàng ngày của mình[36]
Trang 2723
1.1.5.3 Vai trò của kỹ năng tự phục vụ
Có thể thấy vai trò to lớn của KNTPV với mọi người nói chung và TKTVĐ nói riêng, đây là một trong những kỹ năng không thể thiếu đối với bất cứ cá nhân nào vì những tác động trực tiếp của nó lên đời đời sống của mỗi cá nhân Trong các KNTPV có một số kỹ năng như ăn uống, tắm rửa, vệ sinh… là những kỹ năng hết sức riêng tư của mỗi cá nhân do vậy để người khác làm hộ hay giúp đỡ sẽ gây ra nhiều bất tiện cho người giúp đỡ mặt khác khi các em tự thực hiện các KNTPV không những đem lại sự tự tin, thoải mái
mà còn đánh dấu sự trưởng thành của mỗi cá nhân
Thành thạo các kỹ năng tự phục vụ là một trong những kỹ năng cơ bản cho trẻ hướng tới một cuộc sống độc lập (Baker, Brightman và Blacher, 2004) Thực tế cho thấy, nhiều trẻ có nhu cầu đặc biệt dù đã có một thời gian dài học tập trong các trường chuyên biệt hay ở độ tuổi lớn vẫn gặp rất nhiều khó khăn với kỹ năng tự phục vụ Các em hầu như không tự chăm sóc được bản thân, dẫn đến việc các em gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống tự lập sau này Chính lẽ đó, việc hình thành và phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ có nhu cầu đặc biệt nói riêng và trẻ em nói chung có ý nghĩa rất lớn đối với bản thân các em, gia đình và xã hội [20]
1.1.5.4 Nội dung dạy kỹ năng tự phục vụ
Dựa trên đặc điểm lứa tuổi, nhu cầu thực tế của trẻ và trên cơ sở đánh giá mức độ hiện tại về kỹ năng tự phục vụ của trẻ lớp 1 khuyết tật vận động Tác giả nhận thấy các em cần được hình thành rất nhiều các kỹ năng tự phục
vụ, nhưng với khoảng thời gian nhất định tác giả đã áp dụng CTXH nhóm để hình thành một số KNTPV cơ bản nhất cho TKTVĐ như sau:
- Kỹ năng ăn uống: + Ăn bằng thìa
+ Uống nước
- Kỹ năng mặc quần áo: + Tự mặc, cởi áo sơ mi
+ Tự mặc, cởi quần dài có khóa kéo
Trang 28kỹ năng về chăm sóc và phục vụ bản thân trong các lĩnh vực như ăn uống, vệ sinh…rèn luyện ý thức tự giác sử dụng KNTPV Hình thành vốn KNTPV và
kỹ năng xã hội; là tiền đề cho giáo dục hướng nghiệp sau này; trẻ có thể sống độc lập ở mức cao nhất; là một thành viên của xã hội và cộng đồng
Vì vậy, mục tiêu hình thành KNTPV cho TKTVĐ cần phải đạt được các mục tiêu trên, đó là: Trẻ có thói quen tự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của mình; trẻ có hành vi văn minh, vệ sinh và điều quan trọng nhất là trẻ
Trang 2925
* Phương pháp chung
Vận dụng và phối hợp các phương pháp dạy học tích cực phù hợp với khả năng của TKTVĐ, chú trọng đến việc thiết kế các hoạt động để các em tham gia nhằm phát triển KNTPV
Phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng bằng cách tạo ra các tình huống có vấn đề trẻ phát hiện và đưa ra những thắc mắc, từ đó biết cách giải quyết những mâu thuẫn đơn giản về các kỹ năng tự phục vụ
* Phương pháp đặc thù
Vận dụng các phương pháp đặc thù để hình thành các KNTPV cho trẻ khuyết tật vận động như:
- Phương pháp hướng dẫn tất cả nhiệm vụ một lúc
- Phương pháp dạy quy trình, dạy từng bước
- Phương pháp hướng dẫn theo các nhóm kỹ năng nhỏ, hướng dẫn theo kiểu giảm dần
- Phương pháp giảng giải, bắt chước, tạo thói quen
- Phương pháp trực quan, làm mẫu
- Phương pháp củng cố, điều chỉnh và thực hiện một phần giúp trẻ thực hiện hoạt động hay một kỹ năng nào đó đến một mức độ nhất định mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào người trợ giúp, qua đó giúp trẻ tự tin và có thể
tự chăm sóc bản thân tốt hơn
1.2 Các lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1908-1970)
* Nội dung cơ bản của thuyết
Abraham Maslow (1908-1970) nhà tâm lý học người Mỹ được thế giới biết đến như là tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn bởi hệ thống lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người
Trang 3026
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một
cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của
nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao [21]
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con
người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thỏa mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này Ông cho rằng khi những nhu cầu này chưa được thỏa mãn đến mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không đòi hỏi thêm nữa, với những trẻ khuyết tật cũng vậy
Trang 3127
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: Khi con người đã được đáp ứng các
nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp theo? Khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong
cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở,…trẻ khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động và sinh hoạt, các em có nhiều hạn chế trong việc quan sát và phát hiện rủi ro và phòng tránh những rủi ro đó vì vậy nhu cầu an toàn của trẻ khuyết tật cũng cao hơn trẻ em khác
Nhu cầu về xã hội (nhu cầu được thừa nhận, yêu thương) Nhu cầu này
bắt nguốn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô đôc, bị coi thường, bị buồn chán và mong muốn được hòa nhập, lòng tin, sự trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn và bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại Ở một vài trẻ khuyết tật có thể không được gia đình chấp nhận và yêu thương như những trẻ em bình thường bởi có thể do quan niệm sai lầm của gia đình về sự
sinh ra đứa trẻ tật nguyền trong cuộc đời
Nhu cầu được tôn trọng và tự trọng: Nhu cầu này thể hiện 2 cấp độ:
nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có
Trang 3228
lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được khích lệ, tặng thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn Nhu cầu này được xếp sau nhu cầu “thuộc về một tổ chức”, nhu cầu xã hội phía trên Sau khi đã gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta luôn muốn được mọi người trong nhóm nể trọng, qúy mến để cảm thấy mình có “vị trí” trong nhóm
đó Bản chất tâm lý con người ai cũng muốn được tôn trọng, chạm đến lòng
tự trọng là chạm đến điều sâu và đau nhất, là điểm tử huyệt nhất của con
người
Nhu cầu được thể hiện mình (Nhu cầu phát triển): Maslow cho đây là
nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành mục tiêu nào đó Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân Trẻ khuyết tật cần được đi học vì nhà trường là một môi trường hòa nhập tốt nhất, nơi có điều kiện cần thiết để trẻ có thể phát triển
* Ứng dụng:
Vận dụng thuyết này vào việc thực hành để hình thành các kỹ năng tự phục vụ cho TKTVĐ thông qua việc đề xuất các hoạt động CTXH nhóm nhằm tạo cơ hội cho TKTVĐ tham gia vào các hoạt động nhóm như thảo luận, trao đổi, trò chuyện, bắt trước các hoạt động của nhân viên xã hội hướng dẫn… sẽ giúp cho trẻ có cảm giác thuộc về một nhóm Điều này rất cần thiết cho TKTVĐ bởi các em gặp rất nhiều khó khăn trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, các KNTPV còn nhiều hạn chế Thông qua hoạt động nhóm giúp
Trang 3329
cho các em có sự tương tác với các em cùng cảnh, các em được chấp nhận và tôn trọng nên sẽ cảm nhận được mình là một phần của nhóm, cảm thấy bản thân mình quan trọng và có giá trị nhờ sự tương tác qua lại giữa các thành viên nhóm với nhau
1.2.2 Thuyết học tập xã hội
* Nội dung cơ bản của thuyết
Thuyết học tập được bắt đầu từ nguồn gốc của quan điểm học tập của Tarde (1843-1904) (Toseland và Rivas, 1998) Trong quan điểm của mình, Tarde nhấn mạnh ý tưởng về học tập xã hội thông qua ba quy luật bắt chước:
đó là sự tiếp xúc gần gũi, bắt chước người khác và sự kết hợp cả hai Cá nhân học cách hành động và ứng xử của người khác qua quan sát hoặc bắt chước [16, Tr84-85]
Thuyết này được ứng dụng trong CTXH vào những năm 80 của thế kỷ
XX, thuyết này có thể được sử dụng để điều chỉnh hành vi
Trong quá trình vận dụng thuyết học tập vào thực tế, có một số nguyên tắc cần được chú trọng Thứ nhất hiệu quả đạt được ở mức độ cao nhất của học tập quan sát là thông qua việc tái tổ chức và tập diễn lại hành vi được làm mẫu một cách tượng trưng, sau đó thực hiện lại nó một cách cụ thể Thứ hai là
mã hóa hành vi bằng lời nói, đặt tên hình tượng hóa kết quả và cách này còn tốt hơn việc chỉ quan sát Các cá nhân rất có thể bắt chước được hành vi làm mẫu đó nếu như mô hình đó thích hợp với họ mà họ thấy ngưỡng mộ và nó mang lại kết quả mà họ thấy giá trị
Hiện nay người ta vẫn có những tranh cãi về thuyết học tập xã hội nhưng thuyết này ảnh hưởng rất lớn tới phương pháp thực hành CTXH nhóm đặc biệt không thể chối bỏ được sự vận dụng của thuyết vào việc hình thành những KNTPV cho trẻ khuyết tật
Trang 3430
* Ứng dụng:
Mặc dù có nhiều tranh luận về thuyết học tập xã hội nhưng không thể phủ nhận được những đóng góp của thuyết này trong CTXH nhóm Thuyết được nghiên cứu và phân tích để đưa ra những giải thích hành vi của các thành viên trong nhóm Theo cách tiếp cận cổ điển của thuyết học tập thì hành
vi trong nhóm có thể xuất hiện khi nó được kích thích Trong nghiên cứu này khi NVXH nhắc nhở, hướng dẫn một thành viên A về những hành vi không được khuyến khích thì thành viên đó đã thay đổi hành vi của mình Đây là kết quả của việc đưa ra sự kích thích thay đổi hành vi của thân chủ trong nhóm
Một phương pháp học tập theo thuyết này khá phổ biến là tạo ra môi trường có điều kiện, đơn cử như hành vi của thân chủ A sẽ lập lại hành vi của chính mình nếu như hành vi đó nhận được phản ứng tích cực của NVXH, như vậy cần tạo ra môi trường có điều kiện để thân chủ A tiếp tục củng cố hành vi Ngược lại nếu như các thành viên nhận được sự phản hồi khó chịu thì anh ta
sẽ cố gắng tránh có các biểu hiện kiểu đó trong tương lai Bên cạnh đó thuyết này còn giúp cho việc giải thích hành vi lây chuyền từ thành viên này sang thành viên khác nếu như được các thành viên trong nhóm hưởng ứng
Khi vận dụng NVXH cần phải biết khen, thưởng, động viên khích lệ để khuyến khích những hành vi được coi là chuẩn mực ví dụ như cần có những lời khen khuyến khích động viên những thành viên làm tốt các động tác sau khi được hướng dẫn và ngược lại có những hình phạt để nhắc nhở các thành viên trong nhóm trách lặp lại những hành vi không phù hợp Ngoài ra NVXH cần phải biết vận dụng các kỹ năng, môi trường và cơ hội để các khuôn mẫu hành vi tích cực của thành viên nhóm xuất hiện và lặp đi, lặp lại giúp các thành viên trong nhóm nhận thức được các khuôn mẫu và có thời gian để thực hành
Trang 3531
Do bị khuyết tật vận động nên các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện các KNTPV như tự ăn, uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân…do vậy khi ứng dụng hoạt động CTXH nhóm với nhóm thân chủ NVXH cần hết sức linh hoạt và chủ động trong suốt quá trình để khuyến khích nhóm thân chủ học tập những kỹ năng tích cực, lặp đi, lặp lại nhiều lần để hình thành được những kỹ năng tự phục vụ trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ
1.2.3 Thuyết vai trò
* Nội dung cơ bản của thuyết
Thuyết vai trò được ra đời với sự đóng góp lớn của khoa học xã hội và tâm lý học Thuyết vai trò có mối quan hệ chặt chẽ đến thuyết “chức năng cấu trúc” của các tác giả Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim Thuyết này nhấn mạnh đến tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành lên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững
Thuyết cho rằng vì mỗi cá nhân thường chiếm giữ các vị trí nào đó trong xã hội và tương ứng với các vị trí đó là các vai trò Vai trò bao gồm một chuỗi các luật lệ hoặc các chuẩn mực như là một bản kế hoạch hoặc đề án để chỉ đạo hành vi Những vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạt được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng chỉ ra những nội dung hoạt động cần thiết đòi hỏi phải có trong một bối cảnh hoặc tình huống cho sẵn Thuyết cũng cho rằng một phần các hành vi xã hội ngày càng quan sát được chỉ đơn giản là những việc mà con người thực hiện trong vai trò của họ Do vậy, khi
đề cập tới vai trò cho một vị trí nào đó, người ta có thể dự đoán trước được một phần lớn các hành vi của người đó trong vị trí mà họ đang có
Như vậy, với nhận định hành vi cá nhân là các hoạt động để thực hiện vai trò, vị trí của một cá nhân Khi vai trò phù hợp với khả năng của cá nhân
Trang 3632
thì người đó đảm trách tốt vai trò được phân công Thuyết cũng cho rằng, muốn thay đổi hành vi một cá nhân, cần tạo cơ hội cho họ thay đổi vai trò Công tác xã hội đã vận dụng luận điểm này cùng với các phương pháp tiếp cận khác nhau để thực hiện can thiệp cho đối tượng của mình [16, tr91]
* Ứng dụng
Thuyết vai trò được áp dụng vào phương pháp CTXH nhóm để nhận biết trong nhóm tồn tại các vị trí, vai trò khác nhau và các vị trí, vai trò này được phân công, thể hiện bởi các thành viên nhóm Mỗi vị trí thể hiện chi tiết các vai trò bao gồm một chuỗi các chức năng cần thiết Vì vậy, khi là thành viên nhóm trong CTXH nhóm, các cá nhân là thành viên luôn đóng một vai trò cụ thể nào đó với những yêu cầu, nhiệm vụ được giao để thực hiện vai trò
và họ luôn cố gắng để hoàn thành các chức năng đó Vận dụng thuyết này NVXH tác nghiệp cùng nhóm để xác định và phân công vị trí, đảm nhận vai trò phù hợp cho mỗi thành viên nhóm để họ tham gia tích cực, thể hiện phát huy vai trò góp phần thực hiện mục tiêu chung của nhóm
1.3 Ứng dụng mô hình phát triển trong Công tác xã hội nhóm để hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật
1.3.1 Nội dung chính của mô hình
Xuất phát từ nội dung đề tài trên tác giả đã lựa chọn mô hình phát triển trong các mô hình tiếp cận công tác xã hội nhóm để can thiệp, trợ giúp và hình thành các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động tại Trung tâm
* Lịch sử phát triển của mô hình
Mặc dù Công tác xã hội trên thế giới ra đời rất sớm nhưng đến những năm 30 của thế kỷ XX công tác xã hội nhóm mới được công nhận một cách chính thức và được đưa vào thảo luận Đến những năm 50 và 60 của thế kỷ
XX được coi là thời điểm xây dựng và phát triển các mô hình công tác xã hội
Trang 3733
nhóm Một lần nữa công tác xã hội nhóm khảng định được là một phương pháp của nghề chuyên môn công tác xã hội, phương pháp này có những bước phát triển mạnh mẽ trong nghề nghiệp
Ở Việt Nam những hoạt động sinh hoạt nhóm đã bắt nguồn từ rất lâu đời trong văn hóa tương thân, thương ái…những hoạt động ban đầu đã khơi nguồn cho công tác xã hội nhóm phát triển xuất phát từ tinh thần tự nguyện, tính từ thiện, nhân đạo trong cộng đồng làng xã Tuy mô hình công tác xã hội nhóm chưa được phổ biến và nhân rộng trong hoạt động hỗ trợ những người
dễ bị tổn thương, nhưng việc đào tạo công tác xã hộ nhóm đã được thực hiện
từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho đến nay
Quá trình phát triển của phương pháp công tác xã hội nhóm có cơ sở hình thành từ rất lâu được ghi lại tại nước Anh và Mỹ vào những năm của thế
kỷ XIX Tuy nhiên, phương pháp này chỉ mới thực sự được công nhận là một phương pháp trong nghề công tác xã hội từ những năm 1930 của thế kỷ XX Với khoảng thời gian trên 80 năm phát triển chính thức và theo hình thức chuyên nghiệp, công tác xã hội nhóm đã được công nhận là một phương pháp giúp đỡ hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống con người, đặc biệt
là những người dễ bị tổn thương Hiện nay, CTXH nhóm được sử dụng rộng rãi trong nghề CTXH cả về đào tạo và phương pháp thực hành Ở Việt Nam, phương pháp này đã được đào tạo và đây được coi là một cơ sở khoa học cho việc phát triển trành một phương pháp của nghề CTXH chuyên nghiệp [16,tr31]
* Các đặc điểm chính của mô hình phát triển trong công tác xã hội nhóm
Mô hình này là mô hình hướng tới phát triển cho các thành viên nhóm
có những khó khăn Nhóm cung cấp cơ hội và môi trường để cho các thành viên nhận thức, mở mang và thay đổi suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của mình
Trang 3834
và những người khác Nhóm phát triển nhấn mạnh nhiều đến sự tự hoàn thiện của bản thân cá nhân các thành viên trong nhóm [16, tr48]
* Mục đích can thiệp mô hình phát triển trong công tác xã hội nhóm
Chú trọng đến mục tiêu cá nhân trong nhóm như ( Chia sẻ cảm xúc, tình cảm, kinh nghiệm đương đầu với khó khăn) Áp dụng mô hình này vào
đề tài nghiên cứu can thiệp nhằm tìm hiểu thực trạng về công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ khuyết tật nói chung và công tác giáo dục kỹ năng tự phục
vụ cho trẻ khuyết tật vận động tại Trung tâm nói riêng Qua đó đưa ra đề xuất thực hiện công tác xã hội nhóm cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh Lượng giá kết quả trước và sau khi can thiệp để đánh giá tính hiệu quả của mô hình can thiệp từ đó đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp cung ứng các dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp, toàn diện, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu của trẻ khuyết tật tại trung tâm
1.3.2 Cách thức ứng dụng mô hình vào thực hiện luận văn
Sử dụng mô hình phát triển trong công tác xã hội nhóm vào trợ giúp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động tại Trung tâm theo tiến trình Công tác xã hội nhóm như sau:
Bước 1 Chuẩn bị và thành lập nhóm
- Chọn nhóm viên và chuẩn bị môi trường hoạt động
- Xác định mục đích và mục tiêu sinh hoạt nhóm
- Đánh giá nguồn lực, tiềm năng và sự hỗ trợ bên ngoài Phân tích lực trường tác động
- Xây dựng kế hoạch, dự thảo chương trình hoạt động của nhóm
Bước 2 Nhóm bắt đầu hoạt động
- Giới thiệu các thành viên trong nhóm
- Xác định lại mục tiêu hoạt động của nhóm
Trang 3935
- Thảo luận và đưa ra những nguyên tắc hoạt động của nhóm
- Giúp các nhóm viên cảm nhận là một phần của nhóm
- Định hướng phát triển của nhóm và dự báo về những khó khăn cản trở trong tiến trình
Bước 3 Can thiệp/thực hiện nhiệm vụ
về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống, kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật nói chung
Trang 4036
Việc ứng dụng công tác xã hội nhóm để hình thành và phát triển các kỹ năng tự phục vụ cho TKTVĐ trong việc giáo dục học sinh khuyết tật tại Trung tâm cần phải có sự nghiên cứu cụ thể để đưa ra các phương pháp, các cách làm cụ thể cho giáo viên có thể áp dụng vào công việc của mình để phát triển KNTPV cho TKTVĐ
Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ định hướng cho việc nghiên cứu đề tài “Áp dụng công tác xã hội nhóm để hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 1 khuyết tật vận động tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Bắc Ninh”