Cần tập trung phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, LNTT, tiểu thủ công nghiệp, đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật nhằm tạo việc làm cho người lao động, xây dựng cơ sở vững ch
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC
TẠI SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC TẠI SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 8.31.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ ANH TÀI
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của của tác giả Các số liệu được tác giả sử dụng trong bài luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn được tập hợp tại Sở Công thương tỉnh Thái Nguyên và chưa từng được ai nghiên cứu, công bố trong bất cứ công trình khoa học nào trước đó
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Huyền Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh, các giảng viên đã tham gia giảng dạy chương trình Cao học; các cán bộ của Phòng Đào tạo đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Đỗ Anh Tài - Người đã hướng dẫn tận tình cho tác giả để hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các cán bộ, công chức của Sở Công thương tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bàn bè đã khích
lệ, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Huyền Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn 2
4 Những đóng góp của luận văn 2
5 Kết cấu của Luận văn 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 4
1.1 Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho người lao động 4
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về việc làm và tạo việc làm 4
1.1.2 Vai trò của tạo việc làm cho người lao động 10
1.1.3 Nội dung tạo việc làm cho người lao động 13
1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm 25
1.2 Kinh nghiệm tạo việc làm ở một số địa phương 30
1.2.1 Kinh nghiệm về tạo việc làm của một số địa phương 30
1.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 32
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 34
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin: 36
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin: 36
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu, công cụ nghiên cứu: 37
2.3.1 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh thực trạng kinh tế xã hội của thị xã Phổ Yên 37
Trang 62.3.2 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh thực trạng lao động và việc làm của thị xã Phổ
Yên 37
2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng công tác giải quyết việc làm của thị xã Phổ Yên 38
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN 39
3.1 Giới thiệu khái quát về thị xã Phổ Yên 39
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 39
3.1.3 Đặc điểm dân số – lao động 41
3.2 Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho người lao động tại Thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2018 46
3.2.1 Thực trạng việc làm tại Thị xã Phổ Yên 46
3.2.2 Thực trạng công tác tạo việc làm tại Thị xã Phổ Yên 55
3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới tạo việc làm cho người lao động tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 68
3.3.1 Nhân tố khách quan 68
3.3.2 Nhân tố chủ quan 70
3.4 Đánh giá chung về thực trạng công tác tạo việc làm cho người lao động thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 72
3.4.1 Những kết quả đạt được 72
3.4.2 Các hạn chế, tồn tại 74
3.4.3 Nguyên nhân của các hạn chế, tồn tại 75
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN 77
4.1 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 77
4.1.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Phổ Yên đến năm 2025 77
4.1.2 Phương hướng tạo việc làm của thị xã Phổ Yên giai đoạn 2020-2025 79 4.2 Một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn thị xã Phổ Yên ,
Trang 7tỉnh Thái Nguyên 79
4.2.1 Giải pháp 1: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 79
4.2.2 Giải pháp 2: Thu hút đầu tư, phát triển các khu công nghiệp tạo việc làm cho người lao động 80
4.2.3 Giải pháp 3: Tăng cường hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn 81
4.2.4 Giải pháp 4: Phát triển làng nghề, tiểu thủ công nghiệp 82
4.2.5 Giải pháp 5: Phát triển thị trường lao động trên địa bàn thị xã giai đoạn 2020-2025 83
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 88
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thông tin thu thập nghiên cứu 34
Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016-2018 40
Bảng 3.2 Tổng hợp dân số thị xã Phổ Yên tính đến thời điểm 31/12/2018 41
Bảng 3.3 Biến động dân số thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016 – 2018 42
Bảng 3.4: Tổng hợp lao động qua đào tạo thị xã Phổ Yên giai đoạn tính đến thời điểm 31/12/2018 43
Biểu 3.5 Trình độ CMKT của lực lượng lao động thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016 – 2018………… 45
Bảng 3.6 Tình trạng việc làm của thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016-2018 47
Bảng 3.7 Quy mô và cơ cấu lao động có việc làm chia theo khu vực và giới tính của thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016-2018 48
Bảng 3.8: Quy mô và cơ cấu lao động làm việc theo ngành kinh tế của thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016-2018 50
Bảng 3.9: Quy mô và cơ cấu lao động có việc làm theo thành phần kinh tế của thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016-2018 52
Bảng 3.10 Thu nhập bình quân của thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016-2018 54
Bảng 3.11 Quy mô lao động làm việc trong ngành CN-XD thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016-2018 56
Bảng 3.12 Số lượng DNVVN giai đoạn 2016-2018 57
Bảng 3.13: Quy mô lao động trong ngành dịch vụ giai đoạn 2016-2018 63
Bảng 3.14: Tình hình sử dụng quỹ Quốc gia GQVL giai đoạn 2016-2018 68
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chứng minh, Nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ Để vận hành bộ máy Nhà nước, nhất thiết không thể thiếu sự tham gia của con người Nếu như Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị thì ĐNCBCC là lực lượng quan trọng trong vận hành bộ máy HCNN, giúp cỗ máy HCNN vận hành thông suốt, hiệu quả từ TW đến địa phương Xuyên suốt các thời kì, ĐNCBCC luôn phát huy vai trò trong phát triển đất nước, được xem là nguồn tài sản vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc, là “xương sống” của chính quyền Vì vậy, chất lượng ĐNCBCC có tính quyết định đến chất lượng của nền HCNN, hiệu quả công tác QLNN và sự phát triển của quốc gia
Ở nước ta, Đảng, Nhà nước luôn rất coi trọng vai trò của con người, luôn khẳng định quan điểm coi con người (đặc biệt là đối với CBCC) là trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng… Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2004)
Đất nước ta đang phấn đấu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo hướng công nghiệp hóa, ĐNCBCC của các Sở, Ban, ngành nói chung và của SCTTN nói riêng là đội ngũ đóng vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ này ĐNCBCC của Sở Công thương Thái Nguyên là lực lượng nòng cốt, tham mưu, điều hành và thực hiện các nhiệm vụ kinh
tế chính trị của Ngành Công thương trên địa bàn tỉnh, thúc đẩy phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên
Mặc dù thời gian qua, được sự quan tâm của các cấp ủy và chính quyền tỉnh Thái Nguyên trong việc phát triển nhân sự ngành Công thương nói chung và SCTTN nói riêng nhưng một bộ phận CBCC đã bộc lộ những yếu kém không những về TĐCM mà còn cả yếu kém về PCCT, giảm sút ý chí cách mạng, năng lực QLNN còn thấp, độ tuổi trung bình cao, TĐCM chưa phù hợp với sự thay đổi của cơ chế chính sách mới, mà trong đó yếu tố con người là nguyên nhân chủ chốt Xuất phát từ tình hình trên và từ thực tế quá trình khảo sát tại
SCTTN, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức tại Sở Công
thương tỉnh Thái Nguyên” cho luận văn cao học của mình, từ đó đề xuất những giải pháp và
kiến nghị để góp phần phát triển ĐNCBCC của Sở trong thời gian tới
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích, đánh giá về ĐNCBCC tại Sở Công thương tỉnh Thái Nguyên, luận văn đề xuất các biện pháp nhằm phát triển ĐNCBCC cho Sở Công thương nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung
+ Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển ĐNCBCC tại SCTTN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu phát triển ĐNCBCC tại SCTTN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài tập trung phân tích thực trạng phát triển ĐNCBCC tại SCTTN, các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển ĐNCBCC tại SCTTN
Về thời gian: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ 2016 đến 2018 Dữ liệu sơ cấp khảo sát vào tháng 4,5 năm 2019
4 Những đóng góp của luận văn
- Về mặt khoa học: Luận văn tổng hợp các vấn đề lý luận về CBCC, ĐNCBCC,
các nội dung liên quan đến phát triển ĐNCBCC và gắn lý luận với thực tiễn về phát triển ĐNCBCC tại một số địa phương tiêu biểu để rút ra bài học kinh nghiệm cho SCTTN
- Về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển ĐNCBCC tại SCTTN
theo các chỉ tiêu nghiên cứu để chỉ ra những điểm còn hạn chế, tồn tại đối với việc phát triển ĐNCBCC và nguyên nhân của hạn chế, tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm phát triển đội ngũ CBCC tại SCTTN
Trang 12Ngoài ra, Báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là là công trình nghiên cứu có
độ tin cậy, đảm bảo tính học thuật, có thể được sử dụng làm học liệu tham khảo cho các
nghiên cứu liên quan
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ĐNCBCC tại SCTTN
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển ĐNCBCC tại SCTTN
Chương 4: Giải pháp đẩy mạnh sự phát triển ĐNCBCC tại SCTTN
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho người lao động
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về việc làm và tạo việc làm
1.1.1.1 Khái niệm về việc làm
Lao động và việc làm có mối quan hệ gắn kết với nhau, vì vậy để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, chúng ta phải liên hệ đến phạm trù lao động
Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại
học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định Mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi
là chỗ làm hay việc làm”
Theo Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội “Việc làm là hoạt động lao động
của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, không bị pháp luật cấm Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân”
Hiện nay, việc làm được nghiên cứu qua 3 loại hình:
Thứ nhất là thực hiện công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó
Thứ hai là thực hiện công việc mang lại lợi ích cho bản thân Trong khi đó,
tư liệu sản xuất để thực hiện công việc đó thuộc quyền sở hữu toàn bộ hay một phần hoặc có quyền sử dụng chúng
Thứ bao là thực hiện công việc gia đình nhưng không có thu về tiền công, tiền lương cho công việc này Công việc này có thể là hoạt động sản xuất nông nghiệp gia
Trang 14đình hoặc phi nông nghiệp do chính thành viên trong gia đình quản lý, sở hữu
Theo Bộ Luật lao động 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật lao
động, hiệu lực từ 01/5/2013, NXB giao thông vận tải, Hà Nội: “Mọi hoạt động lao
động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm ra thành nhiều loại Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính”
Bên cạnh đó, việc làm còn được chia thành 3 loại sau:
Một là việc làm toàn thời gian: Làm một công việc đủ 8 giờ một ngày và 5 ngày một tuần
Hai là việc làm bán thời gian: Làm một công việc không đủ thời gian theo giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng một ngày và 5 ngày một tuần mà không liên tục và chỉ kéo dài khoảng nửa giờ đến 5 giờ một ngày
Ba là việc làm thêm: Làm một công việc không chính thức, không liên tục khi đã có một công việc chính thức và ổn định
Như vậy, ta thấy vấn đề việc làm được đề cập và nghiên cứ dưới rất nhiều khía cạnh và ngày càng được nhìn nhận một cách đúng đắn, khoa học và đầy đủ hơn cùng với sự phát triển của xã hội
1.1.1.2 Khái niệm lao động có việc làm, lao động không đủ việc làm, thất nghiệp
Người có việc làm: Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn
nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Đó là những người lao động có
công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận”
Lao động thiếu việc làm: Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế
nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Bao gồm những người
có việc làm không ổn định hoặc đang có việc làm (40 giờ trong 5 ngày trở lên) trong tuần lễ tham gia không đầy đủ thời gian làm trong ngày, trong năm và hưởng
Trang 15thu nhập rất thấp không đủ sống từ việc làm đó nhưng không thể kiếm được việc làm khác”
Người thất nghiệp: Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn
nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Người thất nghiệp là những
người, có thể và muốn làm việc, chủ động và tích cực đi tìm kiếm việc làm, nhưng không thể tổ chức được lao động vì không có chỗ làm việc trống hoặc là vì nghề nghiệp không phù hợp”
Ở Mỹ, người lao động là người có khả năng làm việc mong muốn tìm được việc làm, có đăng ký tìm việc làm ở các trung tâm dịch vụ việc làm hoặc liên hệ trực tiếp với người lao động nhưng không có việc làm trong tuần thực hiện điều tra tình trạng thất nghiệp Ở Liên Bang Đức thì cho rằng, người thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện các công việc ngắn hạn
Để quan niệm người thất nghiệp phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam
hiện nay, theo Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội: “Người thất nghiệp là những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang ở trong tình trạng không
có việc làm và đang đi tìm việc làm, đồng thời sẵn sàng đi làm ngay nếu được chấp nhận” Với quan niệm này, người thất nghiệp có thể là những công nhân trong các doanh nghiệp, học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, bồ đội xuất ngũ nhưng chưa có việc làm Những người trong độ tuổi lao động, hoặc ngoài độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu tìm việc làm thì không được coi là người thất nghiệp
1.1.1.3 Các khái niệm tạo việc làm, giải quyết việc làm
* Tạo việc làm
Một quốc gia nếu có tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao sẽ tác động xấu đến sự phát triển và ổn định về cả mặt kinh tế và xã hội Về mặt kinh tế, khi số lượng người lao động bị thất nghiệp lớn, tức là mức thất nghiệp cao, thì số lượng người lao động đó
và những tài nguyên liên quan đã bị phí phạm vì không có sự kết hợp để tạo ra của cải xã hội, tạo ra những giá trị kinh tế cần thiết Như vậy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bị giảm sút, ảnh hưởng đến thu nhập của dân cư, thu nhập quốc dân Về
Trang 16mặt xã hội, bộ phận người lao động bị thất nghiệp sẽ làm gia tăng các tệ nạn xã hội, tâm trạng, tinh thần của họ luôn luôn ở trong tình trạng chán nản, buồn bã, căng thẳng, khiến họ có những suy nghĩ tiêu cực thậm chí không lành mạnh, gây ảnh hưởng xấu hoặc nghiêm trọng đến những người xung quanh và xã hội Thất nghiệp luôn tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế, không thể loại bỏ nhưng có thể hạn chế tỷ lệ của nó
Vì vậy, trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020, Đảng ta đã xác định: “Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa nguồn lực lao động xã hội
là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược, là một tiêu chuẩn để định hướng cơ cấu kinh tế và lựa chọn công nghệ ở nước ta hiện nay”
Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân: “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để NLĐ có thể kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trường”
Như vậy, tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm một công việc với việc sử dụng các tư liệu sản xuất một cách phù hợp để tạo ra hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế
Nói chúng tạo việc làm là tất cả những hoạt động cần thiết để tạo được ra những công việc làm mới để những người lao động chưa có việc làm sẽ có được việc làm hoặc tạo thêm việc làm cho những NLĐ đang thiếu việc làm và giúp NLĐ
tự tạo việc làm
- Về phía NLĐ: NLĐ muốn tìm được công việc phù hợp với bản thân và có lương tốt thì phải tham gia các khóa đào tạo hoặc tự đào tạo bản thân, nâng cao chuyên môn kỹ thuật, năng lực của mình để có những kỹ năng nhất định đáp ứng được yêu cầu của vị trí công việc mình mong muốn
- Về phía người sử dụng lao động: Các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế có nhu cầu tuyển dụng lao động để tiến hành sản xuất kinh doanh Họ cần thông tin về thị trường, cần vốn, cần sức lao động, cần kinh nghiệm, cần sự quản lý khoa học, sự hiểu biết các chính sách của Nhà nước, các quy luật và xu hướng phát triển kinh tế
để có thể vận dụng linh hoạt, tăng quy mô hoạt động, đáp ứng được nhu cầu ngày
Trang 17càng cao của người lao động, tạo động lực cho họ làm việc ổn định Đồng thời ngày càng tạo ra nhiều vị trí công việc mới, thu hút lao động
- Về phía Nhà nước: Ban hành chính sách, cơ chế có liên quan đến lao động, tạo môi trường pháp lý ổn định và hợp lý cho hoạt động kinh tế
* Giải quyết việc làm
Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân: “Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả”
Do đó, có một công việc phù hợp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người lao động, giải quyết được yêu cầu này mới tạo cơ hội cho họ thực hiện quyền
và nghĩa vụ của một người công dân đối với đất nước và của một con người đối với
xã hội Việc làm chỉ được hình thành khi trên thị trường lao động, người sử dụng lao động và người lao động gặp được nhau và tiến hành thực hiện công việc Muốn giải quyết được việc làm phải xem xét ở cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của nhà nước trong việc quản lý lao động
Nói chung, giải quyết việc làm là tập hợp tất cả các biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội từ vĩ mô đến vi mô để giúp cho người lao động có được việc làm
1.1.1.4 Một số mô hình lý thuyết về tạo việc làm
* Lý thuyết tạo việc làm của John Maynard Keynes
J.M Keynes (1883- 1946) là một nhà kinh tế người Anh Ông có tác phẩm nổi tiếng là cuốn "Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ" xuất bản năm
1936 Trong đó, J.M Keynes xem xét việc làm trong mối quan hệ giữa sản lượng - thu nhập - tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm - việc làm Theo ông, “Trong một nền kinh
tế, khi sản lượng tăng, thu nhập tăng, đầu tư tăng thì việc làm tăng và ngược lại Tâm lý của quần chúng là khi tổng thu nhập tăng thì cũng tăng tiêu dùng, nhưng tốc
độ tăng tiêu dùng chậm hơn so với tăng thu nhập và có khuynh hướng tiết kiệm một phần thu nhập, làm cho cầu tiêu dùng có hiệu quả hay cầu tiêu dùng thực tế giảm tương đối so với thu nhập dẫn đến một bộ phận hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
Trang 18không có khả năng bán được Thừa hàng hóa là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, ảnh hưởng tới quy mô sản xuất ở chu kỳ tiếp theo, nên việc làm giảm, thất nghiệp tăng Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, khi quy mô đầu tư tư bản tăng thì hiệu quả giới hạn của tư bản đầu tư có xu hướng giảm sút tạo nên giới hạn chật hẹp về thu nhập của doanh nhân trong đầu tư tương lai”
Khi giới hạn hiệu quả kinh tế còn lớn hơn lãi suất thì các doanh nghiệp mới tiếp tục nghiên cứu mở rộng đầu tư Còn lại thì họ sẽ thu hẹp quy mô sản xuất khiến cho nhiều lao động mất việc, tỷ lệ thất nghiệp tăng, nên Keynes cho rằng để tăng việc làm, giảm thất nghiệp thì phải tăng tổng cầu của nền kinh tế Cụ thể, Chính phủ thực hiện vai trò trò kích thích tiêu dùng để tăng tổng cầu Biện pháp chủ yếu là tăng các khoản chi tiêu của chính phủ, khuyến khích các tổ chức kinh tế hoặc tư nhân đầu tư vào sản xuất kinh doanh bằng các chính sách ưu đãi của Chính phủ như giảm thuế, giảm lãi suất, hỗ trợ đầu tư, thậm chí tăng lượng tiền giấy cấp cho ngân sách để tăng đầu tư và trang trải các khoản chi tiêu tăng của Chính phủ
* Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế của Athur Lewis
Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Luận văn thạc sĩ Quản trị Nhân lực, Trường Đại học Lao động Xã hội: “Lý thuyết này của Athur Lewis - nhà kinh tế học Jamaica ra đời vào những năm 50 của thế kỷ XX, được giải thưởng Nobel 1979 Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là chuyển số lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước lạc hậu Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển Bởi vì trong khu vực nông nghiệp, đất đai chật hẹp, lao động lại quá dư thừa Ngoài số lao động cần đủ cho sản xuất nông nghiệp, còn có lao động thừa làm các ngành nghề lặt vặt, buôn bán nhỏ, phục vụ trong gia đình và lao động phụ nữ Số lao động dôi dư này không có công ăn việc làm Nói cách khác, họ không có tiền lương và thu nhập Vì vậy, việc di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp có hai tác dụng Một là, chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp, chỉ để lại lượng lao động đủ để tạo ra sản lượng cố định Từ đó nâng cao sản lượng theo đầu người đồng thời tạo việc làm cho số lao động dôi dư trong nông nghiệp”
Trang 19* Lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Harris Todaro
Lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Todaro ra đời vào thập kỷ 60-70 của thế kỷ XX Ông nghiên cứu việc làm thông qua sự di chuyển lao động dựa trên việc thực hiện điều chỉnh thu nhập, tiền lương giữa các khu vực kinh
tế khác nhau Ông cho rằng ở khu vực nông thôn, đa số người lao động có thu nhập thấp hoặc trung bình Khi có cơ hội, họ sẽ di chuyển từ vùng nông thôn lên thành thị, nơi có thu nhập cao hơn
Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Luận văn thạc sĩ Quản trị Nhân lực, Trường Đại học Lao động Xã hội: “Mô hình Harris Todaro cho phép giải thích được
lý do tồn tại tình trạng thất nghiệp ở các đô thị tại các nước đang phát triển, và tại sao người dân lại chuyển tới các thành phố mặc dù đang tồn tại nan giải vấn đề thất nghiệp Để giải quyết vấn đề này, mô hình Harris - Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức Đó là khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động, không hoàn toàn là bất hợp pháp, nhưng thường cũng không được sự thừa nhận chính thức của xã hội và hầu hết các hoạt động này đều không đăng ký với nhà nước”
Nói chung, các lý thuyết về việc làm trên đều có mục tiêu nghiên cứu chung
là sự ảnh hưởng của mối quan hệ cung cầu lao động đối với việc làm Tuy nhiên, các lý thuyết đó đều chưa làm nổi lên được vai trò của Chính phủ bằng những hệ thống chính sách về kinh tế, xã hội của mình để tạo được việc làm cho người lao đọng, điều tiết và ổn định nền kinh tế Nhưng trên cơ sở những lý thuyết ban đầu
đó, định hướng gợi mở cho tác giải khi tiến hành nghiên cứu thực trạng công tác tạo việc làm cho người lao động ở Thị xã Phổ Yên nói riêng và người lao động ở Việt Nam nói chung để tìm ra những giải pháp hữu hiệu, phù hợp để giải quyết việc làm
1.1.2 Vai trò của tạo việc làm cho người lao động
1.1.2.1 Trên bình diện kinh tế - xã hội
Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất Kinh tế phát triển
sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế
Mỗi người dân ở trong độ tuổi lao động mà có công việc thì mới có thu nhập
Trang 20để đảm bảo cho nhu cầu cuộc sống của mình và gia đình Chính vì vậy, công tác tạo việc làm có ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ cuộc sống của dân cư
Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Luận văn thạc sĩ Quản trị Nhân lực, Trường Đại học Lao động Xã hội: “Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn
về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, ) vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp) Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau rồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có”
Đối với nhiều ngành kinh tế, lao động là một nguồn lực quan trọng không thể thay thế được Vì vậy có thể nói, lao động chính là một trong những nhân tố góp phần tạo nên thu nhập quốc dân, tăng trưởng kinh tế Do đó, nền kinh tế phải có sự cân đối hài hòa giữa việc đảm bảo cung cầu lao động, tạo được việc làm cho nguồn lao động Có như vậy, việc làm và kinh tế mới đảm bảo duy trì được mối quan hệ hài hòa và nền kinh tế đảm bảo xu hướng phát triển bền vững, đồng thời đảm bảo lợi ích và phát huy năng lực tiềm tàng của nguồn lao động
Gia đình là tế bào của xã hội, cá nhân cấu thành nên gia đình Việc làm của mỗi cá nhân cũng vì thế mà tác động trực tiếp đến xã hội, bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực Nếu đảm bảo được việc làm cho tất cả các cá nhân trong xã hội thì
sẽ giảm thiểu sự phát sinh các mẫu thuẫn nội tại xã hội, hạn chế các tiêu cực, tệ nạn
xã hội, bản thân con người cũng được duy trì nhân cách và trí tuệ tốt Bởi vì mỗi con người đều có nhu cầu có việc làm, ngoài việc để có thu nhập đảm bảo các nhu cầu của cuộc sống thì còn có mong muốn phát triển và tự hoàn thiện bản thân, nên nếu không có việc làm, lòng tự tin của con người sẽ bị tác động, cảm giác xa lánh, lạc lõng với cộng đồng xã hội, gây ra những tệ nạn xã hội Ngoài ra, việc làm của một bộ phận người lao động không được đảm bảo sẽ tạo ra khoảng cách phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt, nảy sinh ra nhiều mâu thuẫn và ảnh hưởng tới tình hình ổn định chính trị của đất nước
Chính vì vai trò vô cùng quan trọng của việc làm đối với từng cá nhân, đối
Trang 21với nền kinh tế, xã hội nên Nhà nước cần phải có những chính sách, biện pháp cụ thể và hữu hiệu để giải quyết được sự đòi hỏi về việc làm của nhân dân
1.1.2.2 Trên bình diện chính trị - pháp lí
Thất nghiệp, không có việc làm không những có hậu quả lớn tới kinh tế - xã hội của một quốc gia và còn đe dạo tới an ninh quốc gia, sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Chính vì vậy ở bất kì quốc gia nào, việc làm đã, đang và sẽ luôn là vấn đề cấp thiết, nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gia đình đồng thời cũng là vấn đề xã hội lâu dài, vừa cấp bách nếu không được giải quyết tốt
có thể trở thành vấn đề chính trị
Đối với bình diện pháp lý, việc làm là một trong những quyền cơ bản của con người, có việc làm mới có quan hệ lao động, vì vậy việc làm chính là nền tảng hình thành, là nội dung và là công cụ để duy trì quan hệ lao động Nếu việc làm không tồn tại thì quan hệ lao động cũng vì thế mà bị triệt tiêu vì không có chủ thể, cũng không còn nội dung để tồn tại
1.1.2.3 Trên bình diện Quốc gia - Quốc tế
Đối với mỗi Quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ phận
có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung Tại đa số các quốc gia thì chính sách xã hội của nhà nước đều tập trung vào các lĩnh vực về lao động, bảo đảm việc làm, bảo hiểm xã hội Chính sách việc làm là chính sách cơ bản nhất của Quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội
Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, theo Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Luận văn thạc sĩ Quản trị Nhân lực, Trường Đại học Lao động Xã hội: “Vấn đề lao động việc làm không chỉ dừng lại ở phạm vi Quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính Quốc tế sâu sắc Vấn đề hợp tác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được đặt ra đồng thời với việc chấp nhận lao động ở nước khác đến làm việc tại nước mình Điều này giúp cân bằng lao động Lao động từ nước kém phát triển sang làm việc ở nước phát triển, từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động Trong thị trường đó, cạnh tranh không chỉ còn là vấn đề giữa những NLĐ mà còn trở thành vấn đề giữa các Quốc gia” Từ đó vấn đề lao động việc làm còn được điều
Trang 22chỉnh hoặc chịu sự ảnh hưởng chi phối của các công ước Quốc tế về lao động Các nước dù muốn hay không cũng phải áp dụng hoặc tiếp cận với những “luật chơi chung” và “sân chơi chung” càng ngày càng khó khăn và quy mô hơn
1.1.2.4 Đối với từng thành viên xã hội
Kể từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, theo đó quan niệm
về việc làm và vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách giải quyết việc làm đã
có những thay đổi cơ bản Điều 55 Hiến Pháp năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ” Từ quan niệm nay đã mở ra bước chuyển căn bản trong
nhận thức về việc làm Trên cơ sở này, Bộ Luật lao động 2012, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều Bộ luật lao động hiệu lực từ 01/5/2013, NXB giao thông vận tải,
Hà Nội: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
1.1.3 Nội dung tạo việc làm cho người lao động
1.1.3.1 Tạo việc làm thông qua phát triển kinh tế
Theo Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại
học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã hội Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng kinh tế Nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh
tế Tăng trưởng kinh tế thường tạo việc làm cho người dân nhưng mức độ còn phụ thuộc vào mối quan hệ vốn, lao động và công nghệ Thời gian vừa qua, đóng góp của các yếu tố vốn và lao động vào tăng trưởng khá cao Trong điều kiện trình độ khoa học, công nghệ còn thấp, tăng trưởng dựa vào vốn và lao động hay tăng trưởng theo chiều rộng là phù hợp và tạo được nhiều việc làm Đối với các quốc gia có trình độ công nghệ, đầu tư như Việt Nam, tăng trưởng kinh tế là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với vấn đề tạo việc làm”
Cơ cấu kinh tế hoàn thiện sẽ là cơ sở cho sự tăng trưởng kinh tế Giai đoạn hiện nay, cơ cấu kinh tế của nước ta đang trong quá trình chuyển dịch tích cực, phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế thế giới Tỷ trọng
Trang 23ngành công nghiệp và dịch vụ gia tăng, ngược lại giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP Nguồn lao động cũng dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực kinh tế công nghiệp và dịch vụ, từ nông thôn ra thành thị Như vậy, các lao động qua đào tạo nghề hoặc lao động có trình độ sẽ có nhiều cơ hội hơn Nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang hướng tới hội nhập kinh tế thế giới Quá trình hội nhập này là một thách thức lớn đối với nước ta nhưng cũng là một cơ hội to lớn của nền kinh tế Trong bối cảnh đó, nguồn cung lao động của nước ta rất dồi dào, tuy nhiện trình độ lao động của nước ta không cao, không đáp ứng được yêu cầu đặt của thị trường lao động, dẫn tới tình trạng lao động nước ta đang dư thừa nhưng lại vẫn phải tìm kiếm và nhập khẩu lao động có trình
độ từ các nước tiên tiến khác
* Về phát triển công nghiệp:
Đối với một quốc gia, ngành công nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, các chiến lược phát triển kinh tế xã hội chủ lực là kinh tế công nghiệp Các nước phát triển thì ngành công nghiệp đã đạt được những thành tựu vượt bậc, tiến tới nền kinh tế tri thức Đối với Việt Nam, việc phát triển ngành công nghiệp cũng đặc biệt quan trọng khi mà nền kinh tế đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Để phát triển ngành công nghiệp, đồng thời tạo ra nhiều việc làm cho lao động nước nhà là một nhiệm vụ tương đối khó khăn Cần tập trung phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, LNTT, tiểu thủ công nghiệp, đầu tư phát triển
hạ tầng kỹ thuật nhằm tạo việc làm cho người lao động, xây dựng cơ sở vững chắc cho sản xuất, kinh doanh của ngành kinh tê công nghiệp Vì vậy, Nhà nước cũng cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư, thu hút các dự án, mở trọng sản xuất kinh doanh
Mặt khác, để phát triển ngành công nghiệp đồng thời giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện thì cần tập trung khuyến khích phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động dịch chuyển về vùng nông thôn, chuyển hình thức gia công sang sản xuất thành phẩm, xuất khẩu trực tiếp nhằm tăng thêm lao động đồng thời tăng giá trị của nền công nghiệp nước nhà và khả năng cạnh
Trang 24tranh trên thị trường Tập trung vào việc phát triển các ngành công nghiệp chủ lực,
có khả năng cạnh tranh, lợi thế so sánh như chế biến nông sản và thực phẩm, dệt, may mặc, chế biến gỗ
* Về phát triển dịch vụ:
Theo Nguyễn Tiệp (2007), Giáo trình thị trường lao động, NXB Lao động -
Xã hội, Hà Nội: “Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của ngành dịch vụ ngày càng quan trọng Dịch vụ được xem là một lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân bao hàm tất cả những hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống dân cư Hoạt động dịch vụ bao hàm cả hoạt động thương mại Hiện nay xuất hiện nhiều ngành nghề phi nông nghiệp đòi hỏi phải có các dịch vụ đầu tư vào như vận tải, kho bãi, viễn thông, thương mại, sự đa dạng đó dẫn đến sự đa dạng hóa nghề nghiệp của lao động nông thôn không làm nông nghiệp gia tăng cả về số lượng và tỷ trọng Quá trình chuyển dịch lao động có việc làm là điều tất yếu và chắc chắn được diễn ra mạnh mẽ trong thời gian tới Không những vậy, thu nhập và đời sống của người dân ngày càng được cải thiện nên nhu cầu về các ngành dịch vụ càng được quan tâm, nâng cao hơn so với trước đây, đặc biệt về ngành dịch vụ ăn uống, nhà hàng, làm đẹp, giải trí ”
Ngành dịch vụ được phát triển sẽ góp phần làm tăng số lượng việc làm Thực hiện đa dạng hóa các ngành dịch vụ sẽ thu hút những lao động đang dư thừa ở vùng nông thông hoặc ở khu vực công nghiệp trong quá trình CNH – HĐH sang, thực hiện đúng quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, làm giảm thiểu tỷ lệ trạng thất nghiệp Đồng thời, cùng với quá trình phát triển ngành dịch vụ cũng góp phần làm tăng chất lượng việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, phát huy năng lực, khả năng tiềm tàng của đội ngũ lao động
Đối với những địa phương có tiềm năng về du lịch thì việc khai thác các tiềm năng này bằng cách đầu tư phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh trên địa bàn sẽ thúc đẩy quá trình phát triển ngành dịch vụ, giúp cho cả lao động chưa qua đào tạo có được công ăn việc làm Cùng với đó là gắn du lịch với các làng nghề phát triển Viêc xây dựng hệ thống dịch vụ thương mại, chợ mua bán phục vụ khách du lịch cũng tạo thêm nhiều việc làm cho lao động đang thất nghiệp
Trang 25* Về phát triển nông - lâm - ngư nghiệp:
Theo Nguyễn Thị Thơm, Phí Thị Hằng (2009), Giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa, NXB Chính Trị Quốc gia, Hà Nội
“Nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên
sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội Đồng thời, nông nghiệp cũng là ngành cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác Nông nghiệp giúp phát triển thị trường nội địa, việc tiêu dùng của người nông dân và mạng dân cư nông thôn đối với hàng hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng (vải, đồ gỗ, dụng cụ gia đình, vật liệu xây dựng), hàng hóa tư liệu sản xuất (phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, trang thiết bị, máy móc) là tiêu biểu cho sự đóng góp về mặt thị trường của ngành nông nghiệp đối với quá trình phát triển kinh tế”
Ngành nông nghiệp sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong cơ cấu kinh
tế Sự chuyển dịch cơ cấu này khiến lực lượng lao động trong nông nghiệp giảm dần, đất đai trong nông nghiệp cũng thu hẹp lại do xu hướng đô thị hóa Ngành nông nghiệp lúc này vừa là nhân tố vừa là điều kiện để thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
Hiện đại hóa ngành nông nghiệp, phát triển ngành nông nghiệp đồng nghĩa với việc nhân lực cần thiết cho nông nghiệp giảm đi, diện tích đất trồng trọt cũng giảm, chăn nuôi hiện đại phát triển Nước ta đang hướng tới một nền kinh tế công nghiệp hóa, ngành nông nghiệp hiện đại chỉ còn chiếm khoảng 10% lao động Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu lao động, nguồn lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong ngành công nghiệp và dịch vụ, thu nhập cao hơn nên đời sống cũng được ổn định hơn
Vì vậy, trong xu hướng kinh tế CNH – HĐH, nếu muốn lượng lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp được ổn định, có những chỗ việc làm tốt hơn cho người lao động thì phải đảm bảo được năng suất sản phẩm, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả và sự bền vững của ngành nông nghiệp
Theo Nguyễn Thị Thơm, Phí Thị Hằng (2009), Giải quyết việc làm cho lao
Trang 26động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa, NXB Chính Trị Quốc gia, Hà Nội
“Phát triển sản xuất nông nghiệp phải gắn kết chặt chẽ sản xuất với công nghiệp bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ; tích tụ ruộng đất, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung; Trên cơ sở đổi mới tư duy, tiếp cận thị trường, kết hợp ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất, nước, nhân lực được đào tạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái để khai thác có hiệu quả lợi thế và điều kiện tự nhiên của mỗi vùng, mỗi địa phương để phát triển ngành nông nghiệp”
Bên cạnh đó, quá trình phát triển ngành nông nghiệp phải phù hợp với sự dịch chuyển cơ cấu lao động trong ngành nông nghiệp, gắn với phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu công nghệ, kỹ thuật hiện đại Nhà nước cũng cần có các chính sách huy động được các nguồn lực trong xã hội như lao động, đất đai, rừng biển, hội nhập được với quốc tế
* Về phát triển làng nghề truyền thống - tiểu thủ công nghiệp:
Theo Nguyễn Tiệp (2007), Giáo trình thị trường lao động, NXB Lao động -
Xã hội, Hà Nội: “LNTT là những thôn, làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu chiếm phần chủ yếu trong năm Các sản phẩm làm ra của các làng nghề có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hoá trên thị trường Mặt hàng sản xuất của các làng nghề chính là sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, bản thân nó là dạng sơ khai của công nghiệp, đồng thời việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và máy móc hiện đại vào quá trình sản xuất sẽ thúc đẩy công nghiệp phát triển Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn đã mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, các dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm”
Đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì sự phát triển của các làng nghề truyền thống có ý nghĩa quan trọng Hoạt động của các LNTT đã đóng góp đáng kể và việc tăng tỷ trọng sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và công nghiệp, giảm đi tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp, giúp người lao động chuyển từ khu vực thu nhập thấp sang khu vực phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Khi đó, kinh tế nông thôn sẽ không còn là ngành
Trang 27nông nghiệp đơn thuần nữa mà sẽ có các ngành tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng đồng hành phát triển
Ngoài ra, ở khu vực nông thôn có sẵn các nguồn lực như điều kiện tự nhiên,
cơ sở vật chất, tiềm năng vốn, nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất do đó việc phát triển LNTT, tiểu thủ công nghiệp sẽ có điều kiện để huy động tối đa các nguồn lực cho cho sự phát triển ngành nghề Khi đó, việc sản xuất được thúc đẩy, hàng hóa tạo ra ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng được nâng cao, đáp ứng ngày càng đa dạng các yêu cầu của thị trường Với giá trị kinh tế và xuất khẩu của mình, các sản phẩm của LNTT góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế nông thôn Lao động ở ngành này thì trình độ cao, có vốn làm quản lý, thợ lành nghề thì làm thợ chính, người không có vốn, trình độ thấp thì làm phục vụ, những công đoạn đơn giản, từ đó góp phần thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo ở nông thôn
Quan trọng hơn nữa là các LNTT được phát triển, mở rộng quy mô thì sẽ là nơi giải quyết nhiều việc làm cho lao động ở nông thôn, tạo điều kiện tăng tu thụ cho người lao động, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp thuần túy sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Ở các vùng nông thôn hiện nay, đất canh tác nông nghiệp càng ngày càng bị thu hẹp do bị đô thị hóa dẫn tới tỷ lệ lao động thiếu việc làm, bị thất nghiệp tăng cao Do đó, công tác tạo việc làm, giải quyết thất nghiệp trở nên cấp bách, cần sự chung sức của các ngành nghề và lĩnh vực một cách đồng bộ Để giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống dân cư thì việc phát triển các làng nghề, tiểu thủ công nghiệp là một yếu tố rất quan trọng, cần phải được hỗ trợ phát triển
Việc phát triển các LNTT sẽ hình thành một lực lượng lao động có tay nghề cao cũng như một tập hợp các nghệ nhân nghề mới Từ nguồn lao động này sẽ học tập và nghiên cứu tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học vào hoạt động sản xuất tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành giảm, tăng khả năng cạnh tranh Kết quả lại có điều kiện để quay trở lại đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn, nâng cao trình độ lao động, tác phong lao động, tính tổ chức và kỷ luật chuyên nghiệp của người lao động Đây lại là điều kiện để tạo thuận lợi cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất và hoạt động dịch vụ trong
Trang 28LNTT Do đó, muốn phát triển LNTT, tiểu thủ công nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì điều cần thiết là phải tạo lập được đội ngũ thợ lành nghề, nghệ nhân giỏi, thợ giỏi, có tâm huyết với nghề và nhiệt tình truyền nghề cho lớp trẻ
* Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Theo Trần Việt Tiến (2012), “Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng
và định hướng hoàn thiện”, Tạp chí kinh tế và phát triển: “Các doanh nghiệp vừa và
nhỏ có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại - dịch vụ phát triển Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp Phát triển DNVVN tạo ra sự năng động, linh hoạt cho toàn bộ nền kinh tế, trong việc thích nghi với những thay đổi của thị trường trong nước và quốc
tế Các DNVVN có ưu thế là năng động, dễ thay đổi cơ cấu sản xuất, thích ứng nhanh với tình hình, đó là những yếu tố rất quan trọng trong kinh tế thị trường để đảm bảo khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả của sản xuất kinh doanh”
Trong tổng số các đơn vị sản xuất kinh doanh thì các DNVVN chiếm phần lớn, trên dưới 90% tổng số các doanh nghiệp, có vị trí hết sức quan trọng vào việc gia tăng thu nhập quốc dân của quốc gia và ngày càng gia tăng mạnh mẽ, tốc độ gia tăng cao hơn hơn các doanh nghiệp lớn
Các DNVVN có vai trò to lớn trong việc giải quyết một số lượng lớn lao động chưa có việc làm, góp phần tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ gia đình trên toàn quốc Nếu chỉ tính về tác dụng tạo công ăn việc làm thì các DNVVN vượt trội hơn hẳn so với các khu vực khác, góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, góp phần ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội của đất nước
1.1.3.2.Tạo việc làm thông qua xuất khẩu lao động
Tạo việc làm thông qua XKLĐ là việc các cơ quan Nhà nước (bao gồm các
Trang 29cơ quan quản lý và các tổ chức chính trị, xã hội,… có chức năng liên quan đến XKLĐ) và các doanh nghiệp XKLĐ bằng các việc làm của mình tìm kiếm, khai thác, thu hút, tổ chức các hoạt động, tạo ra cơ chế và chính sách, đặt NLĐ (chủ thể cần tìm việc) vào các chỗ làm việc trống được đặt ở nước ngoài, tại các thị trường khác nhau với đòi hỏi về yêu cầu của NLĐ khác nhau, yêu cầu về ngành nghề khác nhau, có điều kiện làm việc, mức thu nhập, chế độ đãi ngộ khác nhau Thuật ngữ XKLĐ được sử dụng ở Việt Nam để chỉ hoạt động chuyển dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác Tham gia vào quá trình này gồm 2 bên: Bên nhập khẩu lao động và bên XKLĐ
Theo quy định tại điều 6 của Luật số 72/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định về NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì NLĐ có thể đi XKLĐ theo 4 hình thức cụ thể như sau :
Thứ nhất là “Thông qua doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài Các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ là loại hình doanh nghiệp được Bộ LĐ-TB&XH cấp giấy phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài Doanh nghiệp khai thác hợp đồng, đăng
ký với cơ quan có thẩm quyền, tổ chức tuyển chọn lao động, đưa và quản lý NLĐ ở nước ngoài”
XKLĐ theo hình thức này được coi là một loại hình kinh doanh dịch vụ đem lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp từ đó hình thành nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong hoạt động XKLĐ, thúc đẩy việc mở rộng thị trường XKLĐ, tăng lượng các hợp đồng cung ứng, chất lượng lao động ngày càng được nâng cao
để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh của các doanh nghiệp Đây là hình thức phổ biến nhất được nhiều NLĐ lựa chọn, hiện nay và trong thời gian tới NLĐ đi XKLĐ theo hình thức này là chủ yếu
- Ưu điểm: Thống nhất cao trong việc quản lý, chỉ đạo, điều hành, có cơ sở
để thực hiện các mục tiêu tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo cho NLĐ, thuận lợi cho việc bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, tạo sự tin cậy cho phía đối tác, là cơ sở để hợp tác bền vững, đây là hoạt động phi lợi nhuận, chi phí xuất khẩu được giảm tới mức thấp nhất tạo điều kiện cho nhiều NLĐ tham gia
Trang 30- Nhược điểm : Hạn chế về số lượng thị trường xuất khẩu, NLĐ không được chủ động về thời gian đi xuất khẩu, yêu cầu cao, chặt chẽ trong tuyển chọn lao động, hạn chế số lượng lao động xuất khẩu
Thứ hai là “Thông qua doanh nghiệp nhận thầu, tổ chức, cá nhân đầu tư ở nước ngoài Đây là hình thức mà các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Việt Nam trúng thầu ở nước ngoài, đưa NLĐ của doanh nghiệp mình đi làm việc ở các công trình trúng thầu ở nước ngoài hoặc các tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, đưa NLĐ Việt Nam sang làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh do tổ chức, cá nhân này đầu tư thành lập ở nước ngoài NLĐ đi theo hình thức này phải là NLĐ đã có hợp đồng lao động với doanh nghiệp và chỉ đi làm việc tại các công trình trúng thầu hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh do tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập ở nước ngoài”
- Ưu điểm: NLĐ không mất các chi phí xuất khẩu, có việc làm, thu nhập ổn định do có quyền lợi và nghĩa vụ trực tiếp với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư
ra nước ngoài, thuận lợi trong công tác quản lý, bảo vệ NLĐ ở nước ngoài
- Nhược điểm: Số lượng doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài
ở nước ta còn rất hạn chế nên NLĐ được xuất khẩu theo hình thức này không nhiều Thời gian làm việc ở nước ngoài phụ thuộc vào thời gian hoàn thành công việc của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài
Thứ ba là “Thông qua doanh nghiệp XKLĐ theo hình thức thực tập, nâng cao tay nghề Đây là hình thức XKLĐ mới được đưa vào điều chỉnh trong Luật, hình thức này xuất hiện tương đối nhiều trong những năm qua tại các doanh nghiệp, nhất là ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp XKLĐ theo hình thức này phải có hợp đồng với cơ sở thực tập ở nước ngoài để đưa NLĐ đi làm việc theo hình thực tập, nâng cao tay nghề, có hợp đồng đưa NLĐ đi thực tập”
Với hình thức này thì NLĐ không mất các khoản chi phí xuất khẩu, có điều kiện thuận lợi trong việc học tập, nâng cao tay nghề tại cơ sở thực tập ở nước ngoài Tuy nhiên, hình thức này chỉ dành cho NLĐ đang làm việc tại các doanh nghiệp có nhu cầu đưa lao động của doanh nghiệp đi thực tập, nâng cao tay nghề tại các cơ sở
ở nước ngoài, nên cũng giống như hình thức xuất khẩu thông qua doanh nghiệp
Trang 31nhận thầu, tổ chức, cá nhân đầu tư ở nước ngoài là các hình thức xuất khẩu riêng biệt, không mang tính phổ biến rộng rãi
Thứ tư là “NLĐ tự đi theo hình thức hợp đồng cá nhân Đây là hình thức NLĐ chủ yếu đi thông qua các mối quan hệ họ hàng giới thiệu, được bảo lãnh hoặc chủ sử dụng lao động cũ tuyển dụng lại lần thứ hai, số lượng đi không nhiều NLĐ
ký hợp đồng trực tiếp với chủ, không thông qua bên trung gian môi giới Khi có hợp đồng trực tiếp đến Sở LĐ-TB&XH nơi thường trú để đăng ký hợp đồng cá nhân và khi làm việc ở nước ngoài thì đăng ký công dân với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước sở tại”
Hình thức này được Nhà nước khuyến khích do mang lại nhiều lợi ích kinh
tế cho NLĐ, không mất các khoản chi phí xuất khẩu, gia tăng tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của NLĐ Nhưng quyền lợi của NLĐ cũng khó được đảm bảo nếu NLĐ thiếu trách nhiệm khi tham gia XKLĐ
1.1.3.3 Đào tạo nghề cho người lao động
Theo Luật Giáo dục nghề nghiêp số 74/2014/QH13 quy định: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”
Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học
Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: "Những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong pham vi một nghề hoặc nhóm nghề Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ,
có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm,
tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn”
Thực hiện đào tạo nghề sẽ có tác động vào sự chuyển dịch cơ cấu lao động
Trang 32Yêu cầu của quá trình CNH – HĐH đòi hỏi người lao động phải được đào tạo nghề được trang bị kỹ năng, được rèn luyện nâng cao năng lực khi họ dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ Bởi vì, khi hoạt động trong khu vực thuần nông nghiệp thì phần lớn người lao động chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc trình độ không phù hợp với yêu cầu về công việc của khu vực công nghiệp Khi đã được đào tạo nghề thì người lao động sẽ có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, thậm chí kiếm được việc làm có mức thu nhập cao Chính vì vậy, đào tạo nghề chính là cốt lõi của sự thay đổi việc làm phù hợp với xu hướng biến động của nền kinh tế.xã hội
Trong qua trình cạnh tranh về nhân lực thì lao động đã qua đào tạo nghề rất được chú ý Thể hiện qua chất lượng hàng hóa khi xuất khẩu hay khả năng cung cấp lao động theo các yêu cầu của thị trường lao động quốc tế Ở các nước kinh tế phát triển thì tỷ lệ lao động có qua đào tạo, tay nghề cao hơn so với Các nước phát triển
tỷ trọng lao động làng nghề cao lớn hơn so với lao động có trình độ kém, không qua đào tạo, tay nghề thấp và không có tay nghề Ở Việt Nam, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc trung sẽ ngày càng nhiều và thế hệ lao động qua đào tạo sẽ là thế hệ nòng cốt, đại biểu cho thế hệ lao động tương lai
1.1.3.4 Phát triển thị trường lao động
Theo Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội: “Thị trường lao động là thị
trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công”
Với nền kinh tế mở, hội nhập quốc tế hiện nay, nước ta sẽ có được nhiều cơ hội, tuy nhiên thách thức cũng không nhỏ đối với sự phát triển thị trường lao động
Sự tham gia quá trình phân công phân đoạn trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu sẽ yêu cầu phân bố lại lao động và gắn chặt lợi ích của các quốc gia về thị trường lao động Khi đó, các quốc gia sẽ cần các công ty xuyên quốc gia để làm tác nhân giúp quốc gia tham gia nhiều hơn vào hệ thống sản xuất toàn cầu Với vai trò là nơi sử dụng lao động đa quốc gia, các công ty này sẽ có xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn lao động mới, thay đổi các yêu cầu truyền thống, phù hợp với luật pháp của
Trang 33từng quốc gia Có cạnh tranh quốc tế về phân công lao động cũng sẽ thúc đẩy cạnh tranh và phân công lao động trong nước
Theo Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội: “Các Trung tâm Giới thiệu việc
làm chính là cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm góp phần phát triển thị trường lao động Mục tiêu chung của phát triển thị trường lao động là đảm bảo có một thị trường hiện đại, hiệu quả, cạnh tranh và công bằng, góp phần giải quyết việc làm và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước”
Đối với các cấp huyện, thị trường lao động được phát triển bằng một số hình thức hỗ trợ người lao động đi làm việc ở tỉnh khác hoặc xuất khẩu lao động sang nước ngoài Hoặc đơn giản là hỗ trợ các khu công nghiệp tuyển dụng được công nhân vào làm việc
1.1.3.5 Các chương trình, mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm cho người lao động
Theo Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội: “Vốn cho vay của Quỹ quốc gia
về việc làm (gọi là Quỹ cho vay giải quyết việc làm) được dùng để cho vay hỗ trợ các dự án nhỏ nhằm tạo thêm việc làm, được quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương Mục đích của cho vay vốn để giải quyết việc làm nhằm góp phần tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động, phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người có nhu cầu làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”
Vốn cho vay của Quỹ quốc gia về việc làm được sử dụng cho các đối tượng được vay vốn như: Hộ kinh doanh cá thể; tổ hợp sản xuất; hợp tác xã; cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật; DNNVV, Trung tâm Giáo dục Lao động - Xã hội
và các hộ gia đình Những năm qua, nguồn vốn này cũng chưa được sử dụng hiệu quả như mong muốn Dự kiến ban đầu là sẽ tạo điều kiện cho khoảng 1,7-1,8 triệu lao động tìm được việc làm nhưng sau đến nay thì chỉ mới có 1,3 triệu lao động tìm
Trang 34được việc làm thông qua vay vốn, chỉ đáp ứng được 76,5% so với yêu cầu
Ở cấp huyện, ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch, thực hiện sử dụng vốn một các có hiệu quả tối đa Chỉ tiêu vay vốn được giao về cho các cấp xã, ở đây thực hiện đảm bảo quy trình và đạt kết quả tốt
1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm
1.1.4.1 Nhân tố khách quan: Điều kiên tự nhiên của địa phương
Điều kiện tự nhiên của mỗi địa phương là nhân tố có tính chất tự nhiên đầu tiên ảnh hưởng đến việc gia tăng nguồn việc, tạo việc làm cho người lao động, trước hết phải nói đến nhân tố có tính chất tự nhiên, vốn có sẵn ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương Các điều kiện tự nhiên của địa phương như đất đai, khoáng sản, khí hậu, địa hình, hạ tầng giao thông Đây là những nền tảng cơ bản đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển
Theo Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội: “Với những thuận lợi về vị trí
địa lý, địa hình, hệ thống giao thông sẽ tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, phát triển kinh tế; đồng thời tạo cho địa phương có khả năng, cơ hội và nguồn lực lớn hơn trong việc khai thác, phát huy các nguồn lực nội tại cũng như khai thác, thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần tạo việc làm cho người lao động không chỉ trong nội tại địa phương đó mà còn có khả năng thu hút lao động của các địa phương lân cận tìm kiếm việc làm”
Các vùng miền, các địa phương có điều kiện tự nhiên khác nhau về cả vị trí địa lý thuận lợi hoặc khó khăn, thời tiết mỗi vùng miền cũng khác nhau về nhiệt độ,
độ ẩm, bão lũ hay hạn hán Đây là những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Do đó, các quốc gia nói chung, địa phương nói riêng dựa trên điều kiện tự nhiên của mình để nghiên cứu các giải pháp tạo việc làm cho người lao động đạt hiệu quả cao nhất
Tiềm năng khoáng sản, sông ngòi, đất đai, rừng, biển cũng ảnh hưởng lớn tới công tác tạo việc làm của địa phương Đất đai là một nguồn tài nguyên quan trọng
cơ bản, là tư liệu lao động cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là đối với ngành nông nghiệp, đối với công nghiệp đất đai cũng là một nguồn tài nguyên quan trọng
Trang 35Địa phương nào có nguồn quỹ đất dồi dào, thuận lợi sẽ thu hút đầu tư, xây dựng và
mở rộng nhiều khu công nghiệp, tạo việc làm cho lao động địa phương và các khu vực lân cận
Bên cạnh đó, phong cảnh tự nhiên, các di tích lịch sử, đền, chùa cũng là một loạt các lợi thế của từng địa phương Lợi thế này quyết định địa phương đó có khả năng để thúc đẩy sự phát triển của ngành dịch vụ du lịch hay không, có khả năng tạo thêm công ăn việc làm cho lao động đã được đào tạo chuyên nghề ngành
du lịch hoặc lao động phổ thông phục vụ Nếu địa phương chỉ có đất rộng thì tập trung thúc đẩy hoạt động thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp
Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực tiễn ở
Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội: “Các chính sách vĩ mô của Nhà nước
có vai trò to lớn trong việc tạo việc làm, đồng thời điều chỉnh việc làm phù hợp với mục tiêu, trình độ phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ Có rất nhiều chính sách tác động đến việc làm như chính sách tạo vốn, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách đào tạo nghề hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động”
Nếu Nhà nước xây dựng được các chính sách vĩ mô đúng đắn và hợp lý sẽ là một yếu tố thuận lợi, tạo động lực và môi trường thích hợp cho các các doanh nghiệp, những người sử dụng lao động mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường đầu
Trang 36tư, vì vậy sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Ngược lại, nếu các chính sách đó bị sai lệch hoặc không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp, tạo tâm lý không tốt trong quá trình hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh, thu hẹp quy mô sản xuất, làm số lượng việc làm giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn
Do đó, trình độ hoạch định và mức độ khả thi, hiệu quả của các chính sách, đường lối của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế và quản lý xã hội được thể hiện rõ ràng nhất và đầu tiên ở khả năng tạo ra việc làm, số lượng và chất lượng của việc làm cho người lao động
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt ưu tiên hướng các chính sách xã hội vào công tác tạo việc làm cho nhân dân Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta nhấn mạnh: “Phương hướng quan trọng nhất là Nhà nước cùng toàn thể nhân dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế - xã hội Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật, phát triển dịch vụ việc làm Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh - quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn”
Xuất phát từ định hướng đó, hàng loạt các chính sách kinh tế và xã hội tập trung phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm đã được nhà nước ta triển khai như: tạo điều kiện về đất đai, thuế, tín dụng cho các chủ đầu tư trong và ngoài nước đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, lĩnh vực sản xuất, khuyến khích sản xuất hàng hóa xuất khẩu, khuyến khích tìm kiếm thị trường xuất khẩu lao động hiệu quả, tăng cường giáo dục, đào tạo nghề cho người lao động
Sự cần thiết phải bảo vệ người sử dụng lao động bảo vệ NSDLĐ có vai trò quan trọng trong quan hệ lao động, cần thiết phải bảo vệ NSDLĐ trong quan hệ lao động bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, trong quan hệ pháp luật, các chủ thể đều phải chịu sự điều chỉnh
Trang 37chung của pháp luật do vậy NSDLĐ cũng cần được bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
Thứ hai, NSDLĐ là một bên không thể thiếu để hình thành và duy trì quan
hệ lao động (QHLĐ), khi không đạt được lợi ích trong quá trình sử dụng lao động thì họ sẽ không thể tiếp tục đầu tư sản xuất kinh doanh, không giải quyết việc làm cho người lao động (NLĐ) và ngưng trệ sự phát triển kinh tế đất nước Vì vậy, bảo
vệ NSDLĐ sẽ dẫn đến QHLĐ có thể phát triển bền vững, NLĐ mới có điều kiện ổn định việc làm, đảm bảo cuộc sống;
Thứ ba, xuất phát từ xu thế chung trong quy định pháp luật lao động (PLLĐ) của các nước trên thế giới Thay vì chỉ cố gắng bảo vệ NLĐ với quan niệm bên yếu thế trong QHLĐ, các nước đã thay đổi và cân bằng lợi ích giữa hai chủ thể này;
Thứ tư, có sự tổ chức, quản lý và điều hành của NSDLĐ sẽ tạo ra môi trường lao động trình độ cao, có tính kỷ luật NLĐ sẽ làm việc với cường độ hợp lý để tạo ra của cải vật chất Khi đó lợi ích của NSDLĐ cũng được tăng lên và họ sẽ có điều kiện trả lương cho NLĐ cao hơn, bảo đảm cho NLĐ làm việc trong điều kiện tốt hơn
Các biện pháp bảo vệ người sử dụng lao động Với tư cách là một chủ thể trong quan hệ lao động, NSDLĐ được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bằng các biện pháp như:
- Yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
- Yêu cầu xử phạt vi phạm hành chính đối với NLĐ
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại, áp dụng phạt hợp đồng đối với NLĐ
- Tham gia vào tổ chức đại diện NSDLĐ
1.1.4.2.2 Môi trường đầu tư, nguồn lực tài chính
Phương thức tạo việc làm thông qua hoạt động đầu tư trong nước và trực tiếp của người dân là một trong những phương thức tạo việc làm hiệu quả Điều kiện để
có thể tiến hành đầu tư là vốn, môi trường đầu tư và các chính sách đầu tư gắn với công nghệ kỹ thuật sản xuất, các khâu đầu vào, đầu tư của quá trình sản xuất Nếu môi trường đầu tư thuận lợi sẽ gia tăng được đầu tư, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Kinh tế có tăng trưởng thì mới có thêm nhiều việc làm được tạo ra, nhiều lĩnh vực tăng trưởng sẽ tạo ra càng nhiều việc làm Muốn vậy các
Trang 38chính sách khuyến khích đầu tư phải hợp lý và hiệu quả, doanh nghiệp có điều kiện
để phát triển, kinh tế địa phương, kinh tế ngành cũng phát triển theo Ngoài các chính sách thu hút đầu tư trong nước, đầu tư của người dân cũng cần phải có các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vì khối lượng vốn của nước ngoài khi quyết định đầu tư vào nước ta là rất lớn, khả năng tạo việc làm với số lượng cao
Nguồn lực tài chính vô cùng quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế
xã hội của một quốc gia, thể hiện sức mạnh của nhà nước về mặt kinh tế Nguồn lực tài chính bao gồm: ngân sách nhà nước, vốn của dân, vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài, vốn tín dụng Tất cả đều chung một mục tiêu là tập trung phát triển kinh tế xã hội của đất nước tùy theo các lĩnh vực khác nhau Bản chất của nguồn lực là hữu hạn, do đó huy động chúng như nào, phân bổ và sử dụng phải hợp lý ra sao là một yêu cầu quan trọng được đặt ra Nếu quốc gia có được một nguồn lực tài chính dồi dào và ổn định thì các mục tiêu kinh tế xã hội nói chung và mục tiêu về phát triển việc làm cũng được quan tâm và tập trung đầu tư thực hiện, hiệu quả được tốt hơn Ví dụ như có nguồn ngân sách đầu tư cho công tác đào tạo nghề cho người lao động thì có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của các đơn vị nước ngoài đối với lao động nước ngoài hoặc tiến hành cho người lao động vay vốn để đi xuất khẩu lao động
1.1.4.2.3 Thị trường lao động
Hiện nay, dân số Việt Nam đạt khoảng hơn 100 triệu người, có thể nói nước
ta đang trong thời kỳ dân số vàng Con số 100 triệu người cho thấy nước ta có lực lượng lao động vô cùng dồi dào Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, dân số tăng nhanh sẽ tạo áp lực về việc làm và phát triển kinh tế Nền kinh tế chậm phát triển sẽ ít thu hút đầu tư, dẫn tới tình trạng dư thừa lao động, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Với một lực lượng lao động dồi dào như vậy, chúng ta sẽ làm như thế nào để không lãng phí nguồn lực này? Chỉ bằng cách nâng cao chất lượng lao động Lao động có chất lượng là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế và thu hút đầu tư Lao động chất lượng thấp sẽ khó thu hút đầu tư và trình độ công nghệ thấp Ngược lại, lao động có chất lượng cao sẽ thu hút đầu tư, đáp ứng yêu cầu về nhân lực của các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam, tạo cơ hội tăng thêm việc làm,
Trang 39tăng thêm thu nhập cho người lao động Đến thời điểm này, nước ta cũng đang thu hút rất nhiều các doanh nghiệp, tập đoàn lớn phát triển sản xuất kinh doanh như: Samsung, Microsoft, Canon, Intel… giúp giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động địa phương
Tuy nhiên, nhiều địa bàn lao động nông nghiệp vẫn còn số lượng lớn thì nguồn lao động lại dồi dào, sẵn có nhưng chất lượng lao động lại thấp, không có trình độ tay nghề hay chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của việc chuyển dịch cơ cấu lao động sang công nghiệp và dịch vụ Ở khu vực này, cơ cấu lao động chưa rõ ràng, tỷ lệ thất nghiệp khi không có mùa vụ cao Muốn nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động nông thôn, đảm bảo đáp ứng đượcyêu cầu của các doanh nghiệp sản xuất hoặc các khu công nghiệp có nhu cầu lao động nhiều thì phải thực hiện và thực hiện hiệu quả công tác đào tạo nghề cho người lao động
1.2 Kinh nghiệm tạo việc làm ở một số địa phương
1.2.1 Kinh nghiệm về tạo việc làm của một số địa phương
1.2.1.1 Kinh nghiệm tạo việc làm ở thị xã Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
Thanh Miện thuộc tỉnh Hải Dương, là một huyện lớn nằm cách thành phố Hải Dương 30km và cách thủ đô Hà Nội hơn 50km Huyện Thanh Miện là đầu mối giao thông, nối liền rất nhiều huyện, thị trong tỉnh và các tỉnh như Hưng Yên, Thái Bình, giao giữa rất nhiều đường quốc lộ Vị trí địa lý của huyện là một nhân tố tự nhiên rất thuận lợi để huyện phát triển kinh tế - xã hội, từ đó khả năng tạo được nhiều việc làm cho người lao động qua việc kinh doanh vận tải hay hàng hóa và dịch vụ Có điều kiện thuận lợi như vậy thì chính quyền huyện đòi hỏi phải giải quyết tốt việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp
Kinh nghiệm tạo việc làm của huyện Thanh Miện, Hải Dương:
Lãnh đạo huyện Thanh Miện xác định: Ổn định quy mô dân số, phát triển dân số phải căn cứ và xuất phát từ sự phát triển của kinh tế và khả năng tạo việc làm Ngoài ra, huyện Thanh Miện chủ trương thúc đẩy phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các chính sách và chương trình cho người dân vay vốn với nhiều ưu đãi
Phát triển dịch vụ - việc làm: Huyện Thanh Miện đã đẩy mạnh hoạt động của
Trang 40các trung tâm tư vấn giới thiệu việc làm, lập các dự án tạo việc làm hoặc dự án tạo thêm việc làm, tư vấn luật lao động liên quan đến việc làm như: công tác tuyển dụng và sử dụng lao động, các chế độ chính sách liên quan đến người lao động
Tăng cường xuất khẩu lao động: giải quyết việc làm theo hướng xuất khẩu lao động được nhiều nước trên thế giới áp dụng rất thành công Huyện Thanh Miện cũng đã rất thành công trong việc thực hiện tốt công tác này, nó không những góp phần giải quyết một phần lực lượng lao động thất nghiệp mà còn là một hướng đào tạo nghề hiệu quả, đồng thời góp phần tạo nguồn ngoại tệ và phát triển kinh tế của huyện Thanh Miện trong thời gian vừa qua
1.2.1.2 Kinh nghiệm của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Huyện Hiệp Hòa thuộc tỉnh Bắc Giang, là một huyện trung du phía Tây Nam Bắc Giang, cách thành phố Bắc Giang 30 km và cách thủ đô Hà Nội 50 km Vị trí địa lý của huyện Hiệp Hòa tiếp giáp rất nhiều vùng kinh tế Với lợi thế về địa bàn
và giao thông thuận tiện, lại tiếp giáp với các vùng kinh tế lớn trong và ngoài tỉnh, Hiệp Hòa đã sử dụng nhiều cơ chế, chính sách nhằm tìm kiếm, thu hút, tạo điều kiện về cơ chế chính sách để phát triển kinh tế - xã hội huyện, đặc biệt là phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ, góp phần tạo nhiều chỗ làm việc mới Kinh nghiệm tạo việc làm ở huyện Hiệp Hòa là:
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất thành phẩm hàng hóa lớn để xuất khẩu Từ đó, chuyển dịch cơ cấu lao động sang làm việc trong ngành công nghiêp – xây dựng và dịch vụ Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tạo ra được nhiều việc làm tại địa phương cho người lao động
Có các chính sách thuận lợi để tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, phát triển ngành dịch vụ tại các điểm du lịch và các làng nghề của địa phương để thu hút lực lượng lao động có trình độ cao, đồng thời cũng tạo ra nhiều công việc phổ thông cho lao động chưa qua đào tạo Tăng cường công tác giáo dục - đào tạo nghề cho người lao động, các nghề đào tạo luôn gắn với nhu cầu và đáp ứng theo yêu cầu của thị trường lao động trong nước và cả xuất khẩu lao động