1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử cổ trung đại việt nam ở trường THPT tại tỉnh quảng ninh

158 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tâm lí học và giáo dục học Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong tập 1, cuốn “Giáo dục học” NXB Giáo dục, 1987 đã nêu một cách khái quát và tương đối đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LAM THỊ THANH HƯỜNG

SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ CỔ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Ở TRƯỜNG THPT TẠI TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LAM THỊ THANH HƯỜNG

SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ CỔ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Ở TRƯỜNG THPT TẠI TỈNH QUẢNG NINH

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: “Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử

cổ trung đại Việt Nam ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu

của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác và chưa từng được ai công bố ở bất cứ tài liệu nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019

Tác giả

Lam Thị Thanh Hường

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

em được học tập và nghiên cứu trong suốt khóa học

Tôi xin cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh; Ban lãnh đạo, giáo viên môn Lịch sử và học sinh Trường TH, THCS & THPT Văn Lang, Trường THPT Minh

Hà, Trường THPT Đông Triều, Trường THPT Hòn Gai, Trường THPT Lương Thế Vinh; Ban Quản lí Khu di tích núi Bài Thơ (Hạ Long - Quảng Ninh) đã nhiệt tình giúp

đỡ tôi trong quá trình điều tra và tiến hành thực nghiệm sư phạm

Cảm ơn người thân, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ để bản thân tôi hoàn thành khóa học nói chung và nghiên cứu đề tài nói riêng

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019

Tác giả

Lam Thị Thanh Hường

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Giả thuyết khoa học 11

7 Đóng góp mới của đề tài 11

8 Cấu trúc đề tài 11

Chương 1 SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13

1.1 Cơ sở lí luận của việc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 13

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 13

1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng KTLM trong dạy học lịch sử 15

1.1.3 Mối quan hệ giữa kiến thức lịch sử với kiến thức các môn học khác 22

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 27

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh 31

1.2.1 Về phía giáo viên 31

1.2.2 Về phía học sinh 34

Chương 2 MỘT SỐ HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ CỔ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT TỈNH QUẢNG NINH 37

2.1 Vị trí, mục tiêu và nội dung chính phần Lịch sử cổ trung đại Việt Nam trong Sách giáo khoa lịch sử lớp 10 ở trường THPT 38

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.1.1 Vị trí 38

2.1.2 Mục tiêu 38

2.1.3 Nội dung cơ bản 40

2.1.4 Xác định những bài học sử dụng KTLM trong dạy học trên lớp Lịch sử cổ trung đại Việt Nam 41

2.1.5 Những yêu cầu khi sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử cổ trung đại Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) - Lịch sử 10, chương trình chuẩn 49

2.2 Một số hình thức, biện pháp sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh 53

2.2.1 Sử dụng KTLM trong dạy học trên lớp 53

2.2.2 Sử dụng KTLM trong dạy học di sản tại thực địa 68

2.3 Thực nghiệm sư phạm 77

2.3.1 Mục đích của thực nghiệm 77

2.3.2 Nội dung thực nghiệm 78

2.3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 78

2.3.4 Tiến hành thực nghiệm 79

2.3.5 Kết quả thực nghiệm 80

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BCH : Ban Chấp hành CNXH : Chủ nghĩa xã hội

GD : Giáo dục GDCD : Giáo dục công dân GDTX : Giáo dục thường xuyên

GV : Giáo viên

HS : Học sinh KTLM : Kiến thức liên môn NXB : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tế phần Lịch sử cổ trung đại Việt Nam 65 Bảng 2.3 Thống kê bài học lịch sử tích hợp dạy học di sản tại Quảng Ninh

phần Lịch sử cổ trung đại Việt Nam 70 Bảng 2.4 Bảng thống kê kết quả thực nghiệm dạy học trên lớp 80 Bảng 2.5 Bảng thống kê kết quả thực nghiệm dạy học di sản 82

Hình:

Hình 1.1 Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm dạy học trên lớp 81

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nghị quyết số 29/NQ-TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, ngày 4

tháng 11 năm 2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã nhấn mạnh vấn đề căn cốt của đổi mới giáo dục là

“chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [2] Theo đó, phương pháp dạy học phải thay

đổi căn bản theo hướng:Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học

Sự bùng nổ thông tin trong thời đại toàn cầu hóa, đặc biệt ảnh hưởng của cuộc cách mạng 4.0 đã làm cho kiến thức của nhân loại tăng lên vô cùng nhanh chóng Để người học lĩnh hội một cách chủ động, linh hoạt và chọn lọc khối lượng tri thức khổng

lồ của nhân loại và hình thành những năng lực căn cốt thích ứng với cuộc sống, các nhà giáo dục không còn cách nào khác ngoài việc phải thay đổi chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học dạy học Đây cũng là biện pháp ưu tiên hàng đầu,

là con đường duy nhất đúng cho sự chuyển đổi mục tiêu giáo dục từ trang bị nội dung kiến thức sang phát hiện, phát triển năng lực của người học

1.2 Là một bộ môn thuộc nhóm ngành khoa học xã hội, việc dạy học Lịch sử trong các trường trung học phổ thông không nằm ngoài những yêu cầu chung của ngành giáo dục trong bối cảnh hiện nay Hơn nữa, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học để thu hút sự say mê, hứng thú của học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục Lịch sử đã được

đề cập đến rất nhiều trong thời gian gần đây Vai trò, thế mạnh của môn Lịch sử trong giáo dục tư tưởng, thái độ, nhận thức của học sinh quan trọng như thế nào là điều chúng

ta không cần bàn cãi Không phải ngẫu nhiên, Xi xê rông - một chính trị gia nổi tiếng

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

của La Mã thời cổ đại đã khẳng định“Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống” Nhưng hiện tượng “chán” Lịch sử lại ngày càng phổ biến Việc lí giải nguyên nhân cũng đã được

đưa ra và mấu chốt vẫn xoay quanh phần lớn ở phương pháp dạy học hiện nay

Theo đó, kiến thức lịch sử không đơn thuần gói gọn trong việc nghiên cứu, tìm hiểu, hệ thống những sự kiện, hiện tượng, nhân vật trong bộ môn lịch sử, mà cần có sự

hỗ trợ của các môn khoa học liên ngành Vì thế, việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử sẽ góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực

1.3 Khóa trình Lịch sử cổ trung đại Việt Nam thể hiện lịch sử dân tộc từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX Tuy nhiên, nội dung này đưa vào chương trình lịch sử lớp 10 hiện hành chỉ có thời lượng trên lớp là 15 tiết học, sắp xếp từ bài 13 đến bài 28 là 14 tiết học kiến thức mới (tiết 19 đến tiết 34 trong phân phối chương trình chuẩn), và tiết thứ 15 là kiểm tra 45 phút Như vậy, để có thể giúp học sinh tiếp cận và thấu hiểu được lịch sử dân tộc thời kì này, giáo viên phải thực sự quan tâm đến đổi mới phương pháp một cách phù hợp, hiệu quả nhất, giúp học sinh vừa có được kiến thức trọng tâm, chi tiết lại vừa có cái nhìn tổng thể quá trình dựng nước, giữ nước của cha ông Những kiến thức liên môn nếu được khai thác và sử dụng phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học khóa trình lịch sử trên đây

Xuất phát từ những lí do đó, tôi chọn đề tài “Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ở trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh” cho luận văn thạc sĩ của mình để góp phần nâng cao chất lượng dạy

học bộ môn Lịch sử nói chung, dạy học Lịch sử cổ trung đại Việt Nam nói riêng trong các trường THPT tại Quảng Ninh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc sử dụng KTLM nói chung và KTLM trong dạy học lịch sử nói riêng đã và

đang được các nhà lý luận dạy học, các nhà giáo dục lịch sử trong và ngoài nước nghiên cứu, đề cập đến trong các công trình nghiên cứu Trong quá trình sưu tầm, tìm hiểu tư liệu phục vụ đề tài, tôi đã tiếp cận được những nguồn tài liệu về vấn đề sử dụng KTLM sau:

2.1 Tài liệu nước ngoài

2.1.1 Tài liệu giáo dục học

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Các nhà giáo dục Xô Viết trước đây rất coi trọng các mối liên hệ giữa các môn học, hơn nữa là sự phối kết hợp giữa các giáo viên của những bộ môn khác nhau trong

nhà trường Nhà giáo dục học T.A.I Lina trong cuốn “Giáo dục học” (NXB Giáo dục

Hà Nội, 1973) cho rằng: “Ngày nay, không một khoa học nào được giảng dạy mà lại không sử dụng những số liệu của các khoa học tiếp cận khác, những tài liệu, những sự kiện và những thí dụ lấy từ trong cuộc sống hàng ngày và từ các lĩnh vực tri thức khác nhau” [50; tr.245] Trong phần nhiệm vụ của việc giảng dạy kĩ thuật tổng hợp tác giả viết: “Việc xác lập mối liên hệ giữa các bộ môn nhằm vạch ra cho học sinh thấy mối liên hệ qua lại của các khoa học” [50; tr.253] Những nghiên cứu trên cho chúng ta

thấy, sự liên hệ giữa các môn học trong trường phổ thông cũng gắn bó mật thiết, tác động qua lại như các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống

Cùng quan điểm trên, nhà giáo dục học nổi tiếng người Nga, M.T.Ogơrôtnhicôp

nhấn mạnh: “…giải thích những tài liệu nghiên cứu bằng những môn học khác nhau xung quanh môn học đó” [39; tr.43]

Trong cuốn “Phương pháp và kĩ thuật lên lớp trong trường phổ thông” (Tập 1),

NXB Giáo dục, 1975, tác giả N.M.Iacôplép đã nhấn mạnh vai trò của dạy học liên môn

“…là hệ thống công tác liên hệ hữu cơ giữa các giáo viên các bộ môn khác - tức là mối liên hệ giữa các bộ môn” [42; tr.35]

L.F.Kharlamốp trong tác phẩm “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” (NXB Giáo dục, 1979) đã chỉ rõ tác dụng, ý nghĩa của việc vận dụng kiến thức các môn học: “Việc giáo viên có khả năng tìm được mối liên hệ giữa các vấn

đề mà các nhà bác học đã nghiên cứu với điều mà các em đã học ở nhà trường thuộc một môn học nào đó cũng gây cho học sinh niềm hứng thứ đặc biệt với việc học tập tài liệu mới” [27; tr.102] Rõ ràng, sự liên hệ kiến thức liên môn vừa giúp làm sáng tỏ nội

dung đang học lại vừa tạo hứng thứ cho các em trong học tập

Tác giả M Alêcxêep trong tác phẩm “Phát triển tư duy học sinh”(NXB Giáo dục, 1976) cũng bàn đến vấn đề logic trong quá trình dạy học “Bất cứ một yếu tố nào trong hệ thống tri thức ở nhà trường bao giờ cũng đòi hỏi học sinh phải biết một yếu

tố tri thức khác thì mới hiểu được, mặt khác nó lại là cơ sở để hiểu một yếu tố tri thức khác nữa… Toàn bộ hệ thống tri thức học tập trong nhà trường đều có mối liên hệ móc

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

xích như vậy, giữa các yếu tố của mình Trong việc dạy học nhất thiết phải tính đến mối liên hệ này” [37; tr.19]

Cuốn “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” của Giselle Kniep có đề cập đến qui trình xây dựng các đơn vị bài học tích hợp là gì nêu “Tích hợp nội dung là hình thức kết nối với nội dung trong nội bộ môn học và giữa các môn học với nhau” [19; tr.27] Việc giáo viên Khoa học xã hội sử dụng nghệ thuật, văn học, địa

O.Martin-lí để giúp học sinh hiểu rộng hơn một vùng văn hóa là một ví dục về tích hợp nội dung trong phạm vi lớp học Hay khi một giáo viên Khoa học xã hội và một giáo viên tiếng Anh dạy một đơn vị bài học về văn hóa do hai người cùng xây dựng làm lu mờ ranh

giới giữa hai bộ môn thì cũng là ví dụ cho sự tích hợp nội dung giữa các môn học “Cả hai hình thức tích hợp nội dung trên đều được gọi là chương trình liên môn” [19; tr.27]

Trong các công trình nghiên cứu của mình, Linđa đã chỉ ra vai trò của người

thầy là vô cùng quan trọng “Thầy giáo là người có kiến thức toàn diện và có trình độ văn hóa cao Ngoài kiến thức chuyên môn của mình, các thầy giáo cần phải hướng vào một vài lĩnh vực khác của khoa học và kĩ thuật mà hiện nay thanh niên ta bất cứ ngành nào cũng yêu thích” [49; tr.229]

Bàn về những phẩm chất của người giáo viên, James H.Stronge trong cuốn

“Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả” (NXB Giáo dục, 2011) do Lê Văn Canh dịch đã nhận định: “Giảng dạy là nơi gặp gỡ của nhiều ngành học phức hợp và liên quan đến việc tương tác với nhiều học sinh đa dạng và phức hợp” [25; tr.93]

Tác giả Robert J.Marzano, với cuốn sách “Nghệ thuật và khoa học dạy học” do GS.TS Nguyễn Hữu Châu dịch, cũng khẳng định: “Trong thực tế, không có một chiến thuật dạy học riêng lẻ nào đáp ứng được yêu cầu của việc xử lí tích cực kiến thức trong quá trình trải nghiệm với kiến thức trọng tâm mới” [48; tr.47]

2.1.2 Tài liệu giáo dục lịch sử

Trong cuốn sách “Lịch sử là gì”, tác giả N.A.E Rô-phê-ép (NXB Giáo dục, 1981) chỉ ra: “Không có bộ môn khoa học nào có thể phát triển một cách đơn độc”

[40; tr.147] Tác giả đã nêu được mối quan hệ giữa lịch sử với các khoa học nghiên cứu

xã hội khác nhau, như xã hội học, dân tộc học, tâm lí xã hội,… rất khăng khít “Sở dĩ

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

các khoa học này xích lại gần nhau vì chúng cùng nghiên cứu một đối tượng như nhau”

[40; tr.147]

Cuốn sách “Bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử” của tác giả I.Ia.Léc-ne

(Viện Khoa học Giáo dục, 1968) đề cập đến mối liên hệ giữa các tri thức khác nhau có

mối quan hệ với nhau: “Ở chỗ nào nến tài liệu cho phép, chỗ nào có những vấn đề gần gũi với nhau thì khả năng đó phải được sử dụng” [24; tr.149] “Bất kì tri thức lịch sử nào là thông tin lĩnh hội đầu tiên được thực hiện nếu như nó được tổng hợp với các tri thức khác nhau của chúng Cần dần dần dạy cho học sinh hiểu được tính đa diện, đa dạng của các quan hệ đó” [24; tr.177] Khẳng định này chỉ rõ, trong quá trình dạy học

giáo viên cần chú ý đến tính đa dạng, đa chiều của mỗi vấn đề

Nhà giáo dục N.G.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử” (NXB Giáo dục, 1973) cũng chỉ ra: “Để có một giờ học tốt, người giáo viên phải kết hợp được nhiều khâu khác nhau, quan trọng nhất là tham khảo các tài liệu để làm cho nội dung bài giảng phong phú, chính xác,…” [41; tr.23] “Phải sử dụng không ngừng và có hệ thống tất cả mọi nguồn tư liệu muôn hình muôn vẻ” [41; tr.76] Tác giả đã cho ta thấy được

tầm quan trọng của việc sử dụng các nguồn tài liệu khác nhau để chuẩn bị một giờ học bởi chính việc tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau sẽ giúp bài giảng thêm sinh động, giúp học sinh hứng thú hơn

Như vậy có thể thấy, thông qua các công trình nghiên cứu trên, vấn đề sử dụng KTLM trong dạy học đã được bàn tới ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, tất cả đều có xu hướng chung về quan điểm thừa nhận vai trò, ý nghĩa, tác dụng của KTLM trong việc nâng cao hiệu quả giờ dạy, bài học cũng như góp phần thu hút và gây hứng thú cho học sinh

2.2 Tài liệu trong nước

Thể hiện sự tương đồng với những nghiên cứu của các học giả nước ngoài, nhiều tài liệu của các nhà giáo dục học Việt Nam cũng đề cập tới sự cần thiết của việc sử dụng KTLM trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng

2.2.1 Tài liệu tâm lí học và giáo dục học

Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong tập 1, cuốn “Giáo dục học” (NXB Giáo dục,

1987) đã nêu một cách khái quát và tương đối đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của việc sử

dụng kiến thức liên môn: “Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được khai thác trong mối liên hệ giữa các môn học Các mối liên hệ giữa các môn học,

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

phản ánh bản chất biện chứng của nhận thức khoa học, giúp xem xét một sự vật hay một hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau” [45; tr.123] Đồng thời, các tác giả cũng đưa ra phương hướng hoàn thiện nội dung dạy học và nhấn mạnh: “Tăng cường mối liên hệ giữa các môn học” [45; tr.200]

Đặng Thành Hưng trong cuốn “Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật” (NXB Đại học Quốc gia, HN, 2002) cho rằng: “Trong khoa học giáo dục còn có những

bộ môn, chuyên ngành, liên môn lấy những quan hệ qua lại làm đối tượng” [23; tr.15]

Tác giả đã đề cập đến những khả năng khác của vấn đề sử dụng KTLM trong dạy học

là ngành học nghiên cứu cụ thể mối liên hệ qua lại giữa các ngành học

Trần Bá Hoành với cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” (NXB ĐHSP Hà Nội, 2006) nhấn mạnh phương pháp học tích cực trong

đó đề cập đến vấn đề giáo dục theo mục tiêu với nội dung “xuyên môn” và “liên môn”

Cuốn giáo trình triết học Mác - Lênin (NXB Chính trị Quốc gia, 2006) có đoạn

viết: “Tùy theo khoa học cụ thể mà có thể tích hợp các môn khoa học khác lại với nhau như: Lí-Hóa-Sinh; Văn-Sử-Địa Ở mức độ cao, sự tích hợp này sẽ hình thành những môn học mới, chứ không phải là một sự lắp ghép thông thường các môn riêng rẽ lại với nhau Các môn vẫn giữ vị trí độc lập với nhau, chỉ tích hợp những phần gần nhau

Ở mức độ thấp, việc tích hợp được kiến thức hiện tượng trong mối quan hệ liên môn đến các bộ môn khác, không trình bày trùng lặp trong biên soạn sách giáo khoa và quá trình dạy học mà chỉ khai thác, vận dụng các kiến thức có liên quan đến các bộ môn khác” [6]

2.2.2 Tài liệu giáo dục lịch sử

Đầu tiên phải kể đến cuốn sách “Bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1992 - 1996, dùng cho giáo viên phổ thông cấp II” bàn về phương pháp lịch sử cũng đã khẳng định:

“Thực hiện nguyên tắc liên môn trong dạy-học lịch sử Điều này không chỉ làm cho việc tiếp thu của các em được toàn diện, sâu sắc mà còn gây hứng thú học tập Bộ môn lịch sử liên quan đến kiến thức của nhiều môn học về khoa học xã hội cũng như khoa học tự nhiên cho nên việc đưa những kiến thức môn học khác có liên quan sẽ nâng cao chất lượng học tập, mà cũng tiết kiệm được thời gian học” [4; tr.74]

Cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ

biên (NXB Giáo dục, 1998) đã đề cập đến một số nguyên tắc dạy học thường xuyên có

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

mặt trong quá trình dạy học lịch sử Những nguyên tắc này làm cho việc sử dụng hệ thống phương pháp sinh động, cụ thể, có hiệu quả sư phạm cao như nguyên tắc dạy học

liên môn, nguyên tắc dạy học nêu vấn đề…: “Dạy học liên môn và tính kế thừa trong việc học tập các khóa trình lịch sử làm cho các em nhận thức sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiểu được tính toàn diện của lịch sử Điều này khắc phục được tình trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của học sinh Nắm được mối liên hệ kiến thức giữa các môn học, tính hệ thống của các tri thức lịch sử sẽ giúp các em có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất qui luật chi phối sự phát triển của lịch sử” [31; tr.165]

Tác giả Phan Ngọc Liên và Trịnh Đình Tùng (Chủ biên) trong cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trung học cơ sở” (NXB Giáo dục,

1998), một lần nữa khẳng định vai trò của việc sử dụng kiến thức của các môn học khác

nhau trong quá trình dạy và học lịch sử: “Trong học tập lịch sử, học sinh phải tích cực tiến hành nhiều biện pháp sư phạm để cụ thể hóa thời gian, địa điểm, diễn biến của sự kiện xảy ra trong quá khứ với nhiều nguồn tư liệu khác nhau (tài liệu lịch sử, văn học, tài liệu địa phương, hiện vật, tài liệu truyền miệng,…) Thông qua quan sát bản đồ, đọc

kí hiệu, nội dung lịch sử được biểu diễn trên bản đồ, việc sử dụng bản đồ lịch sử còn góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng đọc bản đồ, củng cố thêm về kiến thức địa lí…” [32; tr.81]

Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập 1 (NXB Đại học sư phạm Hà

Nội, 2010) do tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên) cũng đã khẳng định dạy học liên môn

là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạy học ở trường phổ thông nói chung,

môn lịch sử nói riêng “Một số nước đã tiến hành tích hợp ở nhiều mức độ khác nhau…

Ở nước ta, nguyên tắc liên môn được chú trọng nhiều, nhằm làm cho kiến thức các môn học bổ sung cho nhau, hiểu sâu sắc hơn các sự kiện đang học… Việc dạy học theo nguyên tắc liên môn đòi hỏi giáo viên lịch sử không chỉ có kiến thức vững chắc về bộ môn mà còn phải nắm vững nội dung, chương trình các môn học được giảng dạy ở trường phổ thông, trước hết là Văn học, Địa lý, Giáo dục công dân Học sinh có vai trò tích cực, chủ động trong việc học tập theo nguyên tắc liên môn, vì ở đây các em huy động những kiến thức đã học để hiểu sâu, toàn diện một sự kiện Các em được ôn tập,

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

củng cố, tổng hợp các kiến thức ở mức cao hơn và biết vận dụng thông minh trong học tập” [33; tr.343]

Bên cạnh đó, quan điểm về dạy học liên môn trong bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông còn được đề cập đến trong các bài viết trên các tạp chí Giáo dục, Nghiên

cứu lịch sử… Tiêu biểu như bài của các tác giả Nguyễn Quang Vinh “Dạy học theo quan điểm liên môn” (đăng trên Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 10/1986), Trần Văn Cường “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy học các vấn đề về văn hóa trong sách giáo khoa lịch sử THPT” (tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 12/1997), tác giả Trần Viết Thụ với bài “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy học các vấn đề văn hóa trong SGK lịch sử”, Trần Đức Minh “Vận dụng quan điểm liên môn - một yếu tố nâng cao tính tích cực học tập của học sinh” (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 4/1999) Mỗi bài viết

khai thác, phân tích một khía cạnh, nội dung cụ thể nhưng đền thể hiện sự cần thiết cũng như vai trò, ý nghĩa của nguyên tắc liên môn trong việc nâng cao hiệu quả bài học cũng như chất lượng bộ môn

Vấn đề sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học cũng đã được nghiên cứu qua một số đề tài khóa luận của sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh như:

- Tác giả Phạm Văn Thiện: “Sử dụng kiến thức văn học, địa lí, chính trị trong giờ học lịch sử ở trường THPT theo nguyên tắc liên môn”, luận văn thạc sĩ khoa học

năm 2012, trường Đại học Giáo dục

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Trinh: “Sử dụng kiến thức liên môn

để giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 - 1954) THPT - Chương trình chuẩn”

- Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung: “Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Việt Nam (thế kỉ X - thế kỉ XV) lớp 7 trường THCS”, năm 2016

Ngoài ra, hưởng ứng cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn trong dạy - học ở trường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động, nhiều khía cạnh cụ thể của

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

việc sử dụng kiến thức liên môn đã được các tác giả dự thi (gồm cả giáo viên và học sinh) đề cập tới tương đối phong phú, cụ thể và sinh động

Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học và nhiệm vụ giáo dục trung học năm

2014 - 2015; 2015 - 2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đặt việc dạy học tích hợp liên môn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của môn học, năm học

Đáng chú ý, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 đã nhấn mạnh việc

sử dụng KTLM trong dạy học ở trường phổ thông: “Dạy học tích hợp là quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua

đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới từ đó phát triển năng lực cần thiết” [18;

tr.67]

Việc tìm tòi, nghiên cứu các nguồn tài liệu trên đã hỗ trợ cho bản thân tôi có được những tư liệu tham khảo quan trọng, quí giá trong việc xác định, lựa chọn và nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên, bản thân tôi nhận thấy, chưa có tài liệu nào

đề cập một cách hệ thống vấn đề sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử

cổ trung đại Việt Nam nói chung và ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh Vì vậy, trên cơ

sở kế thừa thành quả những công trình trước đó, đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu cơ

sở lí luận, thực tiễn và đề xuất một số biện pháp cụ thể sử dụng KTLM trong dạy học phần Lịch sử cổ trung đại Việt Nam theo thực tiễn các trường THPT ở tỉnh Quảng Ninh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là quá trình vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử cổ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Lịch sử 10 - chương trình chuẩn, ở trường THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cơ sở, biện pháp sử dụng kiến thức liên môn trong các bài học nội khóa, ngoại khóa thuộc phần lịch sử cổ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Lịch sử 10 - chương trình chuẩn, tại các trường THPT ở tỉnh Quảng Ninh

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trên cơ sở lí luận, thực tiễn của việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử, đề tài đề xuất những biện pháp ứng dụng cụ thể việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học trên lớp và dạy học di sản tại thực địa phần lịch sử cổ trung đại Việt Nam ở các trường THPT tỉnh Quảng Ninh

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận về phương pháp dạy học phát triển năng lực nói chung

và vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử nói riêng nhằm nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục

- Điều tra, phân tích thực trạng giảng dạy lịch sử ở trường THPT tại Quảng Ninh, lấy đó làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp vận dụng kiến thức liên môn để nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử cổ trung đại Việt Nam

- Xác định những bài học nội khóa sử dụng kiến thức liên môn để nâng cao chất lượng bộ môn nói chung và phần Lịch sử cổ trung đại Việt Nam nói riêng

- Đề xuất cụ thể các biện pháp vận dụng kiến thức liên môn trong các bài nội khóa, dạy học thực địa thuộc phần lịch sử cổ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Lịch sử 10 - chương trình chuẩn

- Tiến hành thực nghiệm, xử lí kết quả, phân tích để rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Đề tài dựa theo nguyên lý phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục nói chung, nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử nói riêng trong các trường THPT trong điều kiện đất nước mở cửa, hội nhập

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: dựa vào những nguồn tài liệu tâm lí học, giáo dục học, giáo dục lịch sử để khái quát những cơ sở lí luận của đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

+ Phân tích, khảo sát đánh giá điều kiện thực tế tại địa phương và thực trạng dạy học lịch sử cổ trung đại Việt Nam trong các trường THPT tỉnh Quảng Ninh để tổng quan cơ sở thực tiễn của việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học

+ Điều tra cơ bản qua sử dụng phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp đối tượng liên quan đề tài là giáo viên lịch sử, học sinh tại một số trường trên địa bàn Quảng Ninh (tập trung trước hết tại trường TH, THCS & THPT Văn Lang cùng một số trường trên địa bàn thành phố Hạ Long) Thống kê các số liệu, dữ liệu từ kết quả điều tra và phân tích, đánh giá vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp sư phạm mà luận văn đề xuất, làm căn cứ rút ra kết luận khoa học của đề tài

6 Giả thuyết khoa học

Vận dụng kiến thức liên môn vào các bài học trên lớp và dạy học di sản tại thực địa trong chương trình Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ở các trường THPT tỉnh Quảng Ninh đúng với phương pháp dạy học hiện đại phù hợp điều kiện thực tiễn sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn tại địa phương

7 Đóng góp mới của đề tài

Về mặt lí luận: thông qua quá trình tổng hợp, nghiên cứu, thực nghiệm, đề tài

góp phần làm phong phú hơn lí luận và phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học nói chung và phương pháp vận dụng kiến thức liên môn nói riêng trong bộ môn Lịch sử ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh

Về mặt thực tiễn: đề tài góp phần đề xuất và tổ chức các giờ học vận dụng kiến

thức liên môn trong chương trình Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ở các trường THPT tại Quảng Ninh; cung cấp thêm các hình thức, biện pháp nâng cao hiệu quả giờ dạy mà giáo viên Lịch sử THPT có thể ứng dụng; bổ sung chủ đề, nội dung, phương pháp giáo dục về các di tích lịch sử văn hóa của tỉnh nhà qua hoạt động trải nghiệm ở các nhà trường; làm phong phú hơn hình thức tổ chức dạy học bộ môn Lịch sử ở cấp THPT tỉnh Quảng Ninh

Những kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn trên của đề tài sẽ góp phần thúc đẩy sự đổi mới mục tiêu giáo dục, tiếp cận và phát triển toàn diện các năng lực của học sinh THPT của địa phương

8 Cấu trúc đề tài

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 2 chương:

Chương 1: Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử ở trường THPT Một số vấn đề lí luận và thực tiễn

-Chương 2: Một số hình thức, biện pháp sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận của việc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm “kiến thức”

Trong cuộc sống, khái niệm “kiến thức” được chúng ta sử dụng thường xuyên

và phổ biến ở nhiều phương diện, lĩnh vực khác nhau Vì vậy, khi xét về bản chất khái

niệm “Thế nào là kiến thức?” lại có khá nhiều quan niệm phong phú, đa dạng

Với ngành giáo dục học, “Kiến thức là sự thông hiểu và lưu trữ trong trí nhớ những sự kiện cơ bản của khoa học và những qui tắc kết luận và qui luật xuất xứ từ những sự kiện ấy” [26; tr.14] Tác giả Trần Viết Vượng, trong cuốn Giáo dục học cho rằng, “kiến thức là hệ thống những khái niệm, phạm trù, những qui tắc, lí thuyết của từng môn học mà học sinh cần phải nắm vững Kết quả học tập môn học được đánh giá bằng khả năng nhận thức của học sinh với số lượng và chất lượng kiến thức đó”

[58; tr.84-85]

Với các nhà sinh lí học, “kiến thức” chẳng quan là một dạng nhất định của

những mối liên hệ tạm thời, được tạo trên vỏ các bán cầu đại não do ảnh hưởng những

kích thích bên ngoài và hoạt động tư duy tích cực của chủ thể nhận thức Như vậy,“kiến thức” chỉ mang tính “tạm thời”, không tồn tại mãi Nếu không thường xuyên “nhắc lại”, “kiến thức” đã hình thành trên vỏ đại não đó sẽ bị lu mờ, thậm chí biến mất và bị

thay thế bởi điều mới mẻ hơn

Theo từ điển Tiếng Việt, “kiến thức” được định nghĩa “là những điều hiểu biết

do học tập, tìm hiểu mà có” [47; tr.635]

Như vậy có thể thấy, tùy theo góc độ tiếp cận mà mỗi ngành khoa học sẽ đưa ra

những định nghĩa cụ thể khác nhau về “kiến thức” song tất cả đều đi tới điểm chung khẳng định “kiến thức” là kết quả của quá trình nhận thức “Kiến thức” chính là những

kinh nghiệm có được trong quá trình lao động, sản xuất, nghiên cứu, học tập nhằm

chinh phục tự nhiên, phát triển cuộc sống của con người Vì vậy, “kiến thức” trở thành

công cụ hữu ích, trang bị cho con người trong quá trình phát triển Ngược lại, qua thực

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tiễn, “kiến thức” lại được kiểm chứng, bổ sung làm cho phong phú, chân xác hơn Và cuối cùng, một cách bao quát nhất có thể xác định, “kiến thức” là những hiểu biết về

tự nhiên, xã hội mà con người có được do quá trình học tập, tìm hiểu mà có

1.1.1.2 Khái niệm “kiến thức lịch sử”

Kiến thức lịch sử thuộc phạm trù ý thức xã hội Việc nắm vững kiến thức lịch

sử là cơ sở đầu tiên giúp chúng ta hiểu đúng hiện thực lịch sử một cách chính xác, khách quan Kiến thức lịch sử là nền tảng cho sự nhận thức, tìm hiểu, nghiên cứu qui luật phát triển trong tương lai

Kiến thức lịch sử phát triển theo nhận thức của con người “Một trong những mặt quan trọng của lịch sử là sưu tầm và nghiên cứu các sự kiện, những tế bào cơ bản của hiện thực Sự kiện có thể coi là nguyên liệu để hình thành tri thức khoa học”[43;

tr.5] Khi khoa học lịch sử ra đời, kiến thức lịch sử được sắp xếp, khái quát, trừu tượng hóa để từ đó rút ra qui luật phát triển xã hội

Kiến thức lịch sử ghi lại lịch sử chân thật của con người, phản ánh quá trình phát sinh, phát triển khách quan của tự nhiên và xã hội theo trình tự thời gian Vì vậy nó có tác động lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành thế giới quan khoa học

Kiến thức của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là những hiểu biết trang bị cho học sinh về lịch sử phát triển của xã hội loài người, được khoa học lịch sử xác nhận

và ghi chép chủ yếu trong các cuốn sách giáo khoa lịch sử “Kiến thức lịch sử phổ thông gồm nhiều yếu tố: sự kiện, nhân vật, địa điểm, thời gian, khái niệm… phản ánh

sự hiểu biết về những lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng…”[23; tr.7-8]

Như vậy, kiến thức lịch sử là sự phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, là kết quả nghiên cứu của ngành khoa học lịch sử, được sử dụng vào nhận thức và hoạt động xã hội giúp con người hiểu một cách đầy đủ về quá trình phát triển của lịch sử loài người

1.1.1.3 Khái niệm về kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử

Môn học Lịch sử ở trường phổ thông có chức năng cung cấp cho học sinh những tri thức về sự phát sinh, phát triển của mọi mặt đời sống xã hội loài người Theo đó, kiến thức lịch sử không tách biệt, riêng lẻ mà là sự tổng hòa những kiến thức giữa ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Đặc điểm này đặt ra yêu cầu với người

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

giáo viên dạy Lịch sử là phải chọn lọc, tổng hợp những khái niệm, nội dung từ những môn học khác nhau trong chương trình giáo dục phổ thông để làm nổi bật kiến thức lịch sử học sinh cần lĩnh hội Xác định những điểm đồng tâm trong tri thức các bộ môn

ở trường phổ thông với kiến thức lịch sử để đạt tới mục tiêu giáo dục toàn diện chính

là biểu hiện của việc sử dụng KTLM trong dạy học lịch sử

Đối với học sinh, KTLM giúp các em nhận thức được sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, hiểu được tính toàn diện của lịch sử Điều này góp phần khắc phục tình trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của học sinh Khi học lịch sử có

sử dụng KTLM, học sinh sẽ phát huy được vai trò chủ động của người học khi huy động những kiến thức đã học ở các bộ môn khác để lí giải sự kiện, hiện tượng trong lịch sử Điều này sẽ trực tiếp giúp học sinh tự củng cố kiến thức đã biết, mở rộng kiến thức mới và vận dụng giải quyết những tình huống phát sinh trong quá trình học tập Như vậy, phương pháp sử dụng KTLM sẽ trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả giờ học, phát huy năng lực tư duy, sáng tạo cho học sinh, giúp các em có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, qui luật khách quan trong sự phát triển của lịch sử

1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng KTLM trong dạy học lịch sử

1.1.2.1.Đổi mới giáo dục trong bối cảnh của cuộc cách mạng 4.0

Đặt trong bối cảnh ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của cuộc Cách mạng 4.0, thời đại số với sự bùng nổ thông tin, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đã và đang chuyển mình mạnh mẽ, toàn diện trên các lĩnh vực để không ngừng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, cũng trong điều kiện đó, cơ hội lớn luôn đi kèm với những thách thức, đòi hỏi mới Ngay từ Hội nghị lần thứ VIII, BCH Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ ra mục tiêu chung cho toàn

Đảng, toàn dân là: “Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo

vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa Việt Nam, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”

[18; tr.3]

Với ngành giáo dục, Đảng ta cũng đặc biệt quan tâm và đưa ra những chỉ đạo cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu chung của thời đại Cũng trong Nghị quyết của Hội nghị Trung

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ương VIII, khóa XI, Đảng nêu rõ: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện,… yêu gia đình, yêu Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân và đất nước” [18; tr.9] Luật Giáo dục 2005 đã thể chế hóa mục tiêu giáo dục phổ thông là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng phẩm chất, năng lực của công dân, đáo ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [36; tr.23]

Đặc biệt, Nghị quyết 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và như cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” Kèm theo đó

là đề ra mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông: “Đổi mới giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát triển, bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [2; tr.9]

Như vậy, mục tiêu tổng quát nhất cho giáo dục hiện nay là hướng tới sự phát triển toàn diện, giúp người học có phẩm chất và năng lực tiếp nhận, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phát huy tối đa khả năng của bản thân, từng bước trở thành công dân toàn cầu trong thời đại hội nhập Do đó, việc sử dụng KTLM được xem như là một trong những giải pháp tích cực để đáp ứng những yêu cầu đó

1.1.2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông

Bộ môn Lịch sử nằm trong hệ thống chương trình giáo dục phổ thông nói chung

Vì vậy, mục tiêu hướng tới của bộ môn được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chung của giáo dục, của cấp học và dựa trên quan điểm, đường lối định hướng chung của Đảng

và Nhà nước Cụ thể, mục tiêu của môn Lịch sử ở trường THPT nhằm giúp học sinh

có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở thế hệ trẻ nhân sinh quan, thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, tinh thần cách mạng, bồi dưỡng năng lực

tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội

Mục tiêu của việc dạy học lịch sử ở trường THPT được thể hiện chủ yếu qua việc hình thành cho HS những kiến thức, kĩ năng và thái độ, năng lực, phẩm chất:

Thứ nhất, hình thành kiến thức: giúp học sinh tiếp cận những kiến thức cơ bản

trong tri thức lịch sử dân tộc và thế giới, bao gồm: sự kiện, nhân vật, thời gian, không gian, các khái niệm, thuật ngữ lịch sử, những hiểu biết về quan điểm lí luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu, học tập phù hợp với yêu cầu bộ môn và trình độ nhận thức của học sinh

Thứ hai, hình thành thái độ: giúp hình thành cho học sinh những quan điểm tư

tưởng, lập trường, phẩm chất, đạo đức, nhân cách, tình cảm đúng đắn, trung thành với

lí tưởng XHCN, góp phần đào tạo con người cách mạng toàn diện, có tinh thần yêu Tổ quốc; Bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, yêu quê hương, có thái độ tích cực vì

xã hội, vì cộng đồng; Yêu lao động, sống nhân ái, có niềm tin, ý thức kỉ luật, tuân thủ pháp luật; trân trọng các dân tộc và văn hóa trên thế giới, có tinh thần đoàn kết quốc tế, hữu nghị, yêu hòa bình, đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội; nhận thức đúng qui luật phát triển khách quan của lịch sử, giúp các em vững tin vào sự nghiệp xây dựng CNXH của đất nước

Thứ ba, phát triển toàn diện kĩ năng, năng lực, phẩm chất: rèn cho học sinh

những kĩ năng đặc trưng của bộ môn như: ghi nhớ các sự kiện, miêu tả, tường thuật, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa Kĩ năng làm việc với sách giáo khoa, tài liệu tham khảo liên quan Kĩ năng thuyết trình, trình bày trước đám đông; làm và sử dụng đồ dùng trực quan; quan sát, đọc bản đồ lịch sử; ứng dụng công nghệ thông tin vào học tập Rèn cho các em biết vận dụng KTLM trong học tập để hiểu sâu sắc kiến thức và vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn Năng lực hợp tác, tự học, tư duy độc lập, sáng tạo

1.1.2.3 Đặc trưng của kiến thức lịch sử

Muốn đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng bộ môn, trước hết, mỗi giáo viên cần phải xác định được đặc trưng cơ bản của kiến thức lịch sử Từ đó, chúng ta mới có thể đề xuất, ứng dụng và thực hành những phương pháp dạy học tích

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cực, trong đó có sử dụng KTLM để giảng dạy tốt bộ môn Lịch sử ở trường THPT Có thể nêu ra đây năm đặc trưng cơ bản của kiến thức lịch sử như sau:

- Tính quá khứ: Lịch sử là những sự việc đã diễn ra, có thật và tồn tại khách

quan trong quá khứ Vì vậy, không thể phán đoán, suy luận hay tưởng tượng để nhận

thức lịch sử mà cần phải thông qua những “dấu tích” của quá khứ, những chứng cứ về

sự tồn tại của các sự vật, sự việc đã diễn ra trong khoảng không gian và thời gian nhất định Lịch sử là quá trình phát triển liên tục, hợp qui luật của xã hội loài người từ lúc xuất hiện con người trên Trái Đất tới nay Vì vậy, dạy học lịch sử có những khó khăn nhất định Học sinh không thể trực tiếp quan sát sự kiện lịch sử mà chỉ có thể tri giác qua các tài liệu lịch sử, thông qua đồ dùng trực quan để hiểu biết về các sự kiện lịch

sử Tuy nhiên, trong khó khăn này, giáo viên cũng có thể kết hợp rèn luyện cho học sinh khả năng tưởng tượng, tái tại lịch sử trong quá trình tiếp cận và lĩnh hội tri thức lịch sử

- Tính không lặp lại: Sự kiện lịch sử mang tính không lặp lại về không gian và

thời gian Mỗi sự kiện, hiện tượng chỉ xảy ra trong thời gian và không gian nhất định Điều này đòi hỏi giáo viên khi trình bày một sự kiện, hiện tượng lịch sử phải khắc sâu được những đặc điểm cốt lõi của nó để giúp học sinh phân biệt với những sự kiện khác

- Tính cụ thể: Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình phát triển của các quốc

gia, dân tộc Theo đó, lịch sử mỗi đất nước, mỗi dân tộc đều có những đặc thù riêng do những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cụ thể qui định Đồng thời, trong lịch sử của từng quốc gia, dân tộc đó, tùy theo sự thay đổi của không gian và thời gian thì các tri thức lịch sử cũng thay đổi theo Vì vậy, giảng dạy lịch sử không thể thiếu việc trình bày chi tiết các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử Người thầy càng mô tả chi tiết bao nhiêu thì kiến thức lịch sử càng trở nên hấp dẫn, sinh động, gần gũi và thu hút bấy nhiêu

- Tính hệ thống (tính logic lịch sử): Nội dung tri thức lịch sử vô cùng phong phú,

phản ánh mọi lĩnh vực đời sống xã hội loài người trên tất cả các phương diện: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, khoa học - kĩ thuật… Vì vậy, ngành khoa học lịch sử cũng có đối tượng nghiên cứu vô cùng phong phú, phức tạp Điều này đòi hỏi giáo viên trong quá trình giảng dạy kiến thức cho học sinh phải luôn chú ý đến các mối

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quan hệ ngang dọc, trước sau của các vấn đề lịch sử, phải diễn đạt và trình bày một cách logic để học sinh thấy được mối quan hệ nội tại giữa các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa…

- Tính thống nhất giữa “sử” và “luận”: Đặc trưng khoa học lịch sử là ngành

nghiên cứu về quá khứ, những cái đã qua và không lặp lại Việc ghi chép lại các sự kiện là nguồn sử liệu quí giá để lưu giữ thông tin Trước khi học thuyết khoa học của Mác ra đời, các sử gia đề ghi chép sử dựa trên lập trường của giai cấp thống trị, bị chi phối bởi quan điểm giai cấp nặng nề, đôi khi phản ánh lịch sử chưa khách quan Chỉ khi chủ nghĩa Mác xuất hiện, khoa học lịch sử mới trở thành một khoa học chân chính

Vì vây, việc học tập, nghiên cứu, dạy học lịch sử cần dựa vững chắc vào những nguyên

lí của chủ nghĩa Mác, có như vậy thì phần “luận” mới đảm bảo tính khoa học và vận

dụng có hiệu quả vào cuộc sống

Những đặc trưng trên của kiến thức lịch sử đòi hỏi mỗi giáo viên lịch sử phải có kiến thức liên môn sâu rộng, phải biết liên hệ, vận dụng kiến thức đồng tâm giữa các môn học để cung cấp cho học sinh những tri thức lịch sử đúng đắn, chính xác, khoa học và mang tính hệ thống, hoàn chỉnh Khi làm được điều này, học sinh sẽ thấy được tầm quan trọng của bộ môn lịch sử, góp phần gây hứng thú và sự say mê học tập bộ môn từ học sinh

1.1.2.4 Đặc điểm nhận thức của học sinh trung học phổ thông trong học tập lịch sử

Ở lứa tuổi của học sinh THPT, các em đã có sự phát triển cơ bản về thể chất, tâm lí, nhận thức gần hoàn thiện như người trưởng thành Đây là giai đoạn chuyển giao

từ trẻ vị thành niên sang lứa tuổi thanh niên, người lớn nên xu hướng chung là các em

muốn thể hiện và chứng tỏ “cái tôi” của bản thân với những người xung quanh Trong

hoạt động học tập, các em đã có năng lực hoạt động độc lập, có khả năng tư duy, trừu tượng hóa Tính chủ định trong quá trình nhận thức đã phát triển, sự tri giác có mục đích đã đạt mức độ khá cao, sự ghi nhớ chủ định giữ vai trò chủ đạo Đặc biệt, thái độ học tập của học sinh THPT có ý thức rõ hơn ở cấp dưới, hứng thú đối với môn học đã phân hóa rõ, bước đầu hình thành khuynh hướng nghề nghiệp Do đó, người giáo viên cần phải biết khơi gợi được hứng thú, khiến các em tự tin, say mê nghiên cứu lĩnh vực mình ưa thích và môn học mà các em sẽ lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai Thậm

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chí, các em còn tiềm ẩn rất nhiều khả năng nghiên cứu khoa học, nếu được hỗ trợ, hướng dẫn từ giáo viên, khả năng đó sẽ được phát huy với hiệu quả cao Cùng với sự trưởng thành về thể chất, tâm lí, năng lực tư duy nhận thức của học sinh cũng ngày càng được thể hiện rõ nét hơn Các em có xu hướng thích tìm hiểu và khám phá Học sinh THPT đã biết nhận định, đánh giá đúng sai về kiến thức trong bài giảng của thầy, biết cập nhật những thông tin khoa học mới bằng những phương tiện hiện đại, sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Vì vậy, để thuyết phục được các em, không có cách nào hiệu quả hơn ngoài việc bản thân mỗi giáo viên phải trang bị cho mình những vốn hiểu biết sâu rộng, vượt ra ngoài khuôn khổ kiến thức bộ môn chuyên ngành, xâu chuỗi và vận dụng được KTLM giữa các môn học một cách logic, hệ thống để giảng dạy cho học sinh

Nhận thức lịch sử cũng giống như quá trình nhận thức chung là đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ cụ thể đến khái quát hóa Tuy nhiên, việc lĩnh hội các tri thức lịch sử lại mang một số nét riêng xuất phát từ đặc thù bộ môn Học sinh không thể trực tiếp quan sát sự kiện lịch sử đã xảy ra mà hoạt động này chỉ được thực hiện gián tiếp thông qua các tư liệu lịch sử Các em phải tự tạo được những biểu tượng sinh động, chân thực để có thể tiếp cận gần và hiệu quả nhất với các kiến thức lịch sử Làm được vậy, học sinh sẽ dễ dàng nắm bắt được nội hàm sự kiện, khái niệm lịch sử, bản chất vấn đề và từ đó sẽ từng bước rút ra được qui luật chung trong sự vận động của lịch sử Tuy nhiên, để đạt được kết quả nhận thức đó của học sinh, mỗi giáo viên phải luôn sáng tạo trong phương pháp giảng dạy, tìm tòi các phương thức tiếp cận kiến thức một cách cụ thể, sinh động nhất giúp các em tạo biểu tượng lịch sử chân xác

1.1.2.5 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

Đổi mới giáo dục đang được toàn xã hội quan tâm Trong đó, phương pháp dạy

học được xem như yếu tố trung tâm, cốt lõi của việc đổi mới giáo dục.Phương pháp

thuyết trình gắn với quan điểm: “Lấy người dạy làm trung tâm” không còn phù hợp

với phương pháp dạy học mới ngày nay Đổi mới phương pháp dạy học trong đổi mới giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở

để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 phù hợp với xu thế phát triển chương trình giáo dục của các nước tiên tiến, nhằm thực hiện yêu cầu của Nghị

quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội: “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”[44] Đổi mới phương pháp dạy học là một giải

pháp được xem là then chốt, có tính đột phá cho việc thực hiện chương trình này

Nhận thức sâu sắc về điều đó, việc đổi mới tư duy giáo dục trong thời đại tri

thức nhằm đáp ứng sự thay đổi của cuộc sống là một tất yếu, bởi vì “khi hệ thống tri thức có những thay đổi thì sớm hoặc muộn, nhanh hoặc chậm, năng lực tư duy và hoạt động của con người cũng phải thay đổi Đời sống hiện thực biến đổi luôn đặt ra những vấn đề mới, buộc con người phải suy nghĩ, tìm kiếm những lời giải đáp và những phương tiện để giải quyết vấn đề Những tri thức mới ra đời bổ sung và bồi đắp cho hệ thống tri thức đã có, làm thay đổi cách nhìn nhận, thay đổi từng phần thế giới quan, dẫn đến thay đổi cả phương thức hoạt động của con người và cộng đồng Điều đó cũng

có nghĩa rằng, những tri thức mới đã làm thay đổi tư duy của con người”[21; tr.78]

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương VIII khóa

XI nhấn mạnh: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”[2] Trong đó, tập trung hình thành cho học sinh “năng lực công dân, năng lực thực hành và vận dụng kiến thức vào thực tiễn” Phát triển năng lực là một trong những yêu cầu quan trọng, thể hiện rõ nhất

việc đổi mới mực tiêu giáo dục Năng lực được hiểu là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu

tố (kiến thức, kĩ năng, thái độ, động cơ, hứng thú…) nhằm thực hiện công việc có hiệu quả Quan niệm này chi phối toàn bộ các yếu tố của quá trình giáo dục, từ nội dung, phương pháp đến đánh giá kết quả học tập Mục tiêu phát triển năng lực nhằm khắc phục tình trạng quá chú trọng vào trang bị kiến thức hàn lâm, lí thuyết mà thiếu đi việc hình thành cho người học những kĩ năng thực hành, vận dụng, khả năng tư duy sáng tạo… Mục tiêu phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học đã khắc phục tối

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ưu phương pháp dạy học lấy người dạy là trung tâm, góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông còn chú trọng đổi mới ở tất cả các khâu của quá trình dạy học Định hướng khái quát này được thể hiện cụ thể ở một số điểm sau:

- Về mục tiêu dạy học: Chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức

sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội

- Về nội dung các môn học: sẽ được “tinh giản, cơ bản, hiện đại, giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành và vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn”[2]

- Về chương trình giáo dục phổ thông: sẽ được xây dựng thành một chỉnh thể

xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12; tích hợp cao ở các lớp/cấp học dưới; phân hóa mạnh ở các lớp/cấp học cao hơn, nhất là ở trung học phổ thông Số môn học bắt buộc giảm nhiều; học sinh được tự chọn các môn học chuyên đề phù hợp với năng lực và sở thích, gắn với định hướng nghề nghiệp sau này

- Về phương pháp dạy và học: phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận

dụng kiến thức, kĩ năng của người học, tập trung dạy cách học, cách nghĩ và tự học,

theo phương châm “giảng ít, học nhiều” Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và

truyền thông trong dạy và học; đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học…

- Về hình thức dạy học: Cần chú trọng đến dạy học tích hợp và dạy học phân hóa

- Việc kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục: sẽ được đổi mới theo hướng

chuyển từ đánh giá kiến thức người học nắm được sang đánh giá việc hình thành năng lực, phẩm chất của người học Kết hợp chặt chẽ kết quả đánh giá định kì với kết quả thi; đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò; đánh giá của nhà trường và đánh giá của

xã hội

Như vậy, thực hiện theo yêu cầu đổi mới giáo dục mà Đảng chỉ đạo, việc sử dụng KTLM trong dạy học nói chung và ở bộ môn Lịch sử THPT nói riêng là phương pháp tích cực, phù hợp, góp phần vào hiệu quả của công cuộc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự phát triển xã hội

1.1.3 Mối quan hệ giữa kiến thức lịch sử với kiến thức các môn học khác

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Ngày nay, khi khoa học - công nghệ, thông tin phát triển mạnh mẽ đã khiến cho các khoa học khác nhau gắn bó ngày càng mật thiết Các ngành khoa học dựa vào những thành tựu nghiên cứu của nhau để làm sáng rõ vấn đề cụ thể trong mỗi chuyên ngành Việc dạy và học các bộ môn khoa học cơ bản trong nhà trường cũng không nằm ngoài qui luật phát triển chung đó

Theo C.Mác: “Lịch sử là khoa học của các khoa học”, vì vậy, việc học tập lịch

sử một cách toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống là yêu cầu khách quan, phù hợp với đặc trưng kiến thức lịch sử Việc học tập lịch sử theo đó đòi hỏi sự uyên bác nhất định nhưng cũng đảm bảo sự phù hợp với trình độ học sinh Các bộ môn nằm trong chương trình giáo dục phổ thông đã được các nhà nghiên cứu giáo dục thống nhất, sắp xếp để sao cho học sinh khi tiếp cận, lĩnh hội kiến thức sẽ có những điểm đồng tâm, kiến thức môn học này sẽ góp phần hỗ trợ làm sáng rõ hay củng cố kiến thức của môn học kia, hoặc ngược lại Đặc biệt, các môn thuộc nhóm Khoa học xã hội (Lịch sử, Ngữ văn, Địa lí, Giáo dục công dân) có mối liên hệ rất chặt chẽ bởi đều có đối tượng nghiên cứu chung là con người và cuộc sống của con người Tuy chức năng và nhiệm vụ của mỗi môn, mỗi ngành khác nhau nhưng đều có chung một mục đích là phục vụ con người, phục vụ cuộc sống Điều này chính là cơ sở để các nhà khoa học giáo dục đề ra nguyên tắc liên môn trong dạy học Nói cách khác, việc vận dụng KTLM trong dạy học

là xuất phát từ cơ sở phương pháp luận vững chắc chứ không phải là sự gán ghép tùy tiện

Có thể chỉ ra mối liên hệ kiến thức giữa Lịch sử với các bộ môn trong chương trình giáo dục THPT, mà trước hết là nhóm bộ môn Khoa học xã hội như sau:

1.1.3.1.Mối quan hệ giữa kiến thức Lịch sử và Văn học

Khoa học lịch sử nghiên cứu về những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong quá khứ

và không lặp lại Vì vậy, để có được những tri thức lịch sử chính xác, đúng đắn, khách quan, các nhà nghiên cứu phải dựa vào rất nhiều nguồn tư liệu khác nhau trong đó có

tư liệu văn học

Trong khi đó ta biết, các tác phẩm văn học là sự phản ánh cuộc sống Mỗi tác phẩm văn học đều ít nhiều thể hiện chất liệu lịch sử trong đó Bởi, khi sáng tác một tác phẩm, tác giả phải thâm nhập, tìm hiểu thực tế, nghiên cứu các kiến thức lịch sử liên

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quan bối cảnh tác phẩm, tìm chất liệu hiện thực để xây dựng cái cốt lõi, “xương sống”

của tác phẩm Dòng văn học dân gian cũng chứa đựng nhiều tầng thông tin phản chiếu

sự thật lịch sử (Ví dụ như những truyện cổ tích, truyền thuyết “Mị Châu - Trọng Thủy”,

“Sơn Tinh - Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”… hàm chứa nhiều yếu tố phản ánh thực tiễn

lịch sử) Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” (của tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sửu,

Nguyễn Khắc Phi), tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ, do cá nhân hoặc tập thể sáng tạo, phản ánh bằng hình tượng cuộc sống con người, biểu hiện bằng tâm

tư, tình cảm, thái đô của chủ thể trước thực tại Các tác phẩm xuất hiện vào thời kì xảy

ra sự kiện lịch sử và phản ánh sự kiện ấy bằng hình tượng văn học, phản ánh hiện thực

xã hội lúc bấy giờ một cách sinh động, cụ thể Có rất nhiều tác phẩm văn học mà bản

thân nó là nguồn tư liệu lịch sử hết sức hùng hồn, xác thực như: “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi, “Tuyên ngôn độc lập” của

Hồ Chí Minh… Những tác phẩm văn học chính luận này, giá trị văn học và giá trị lịch

sử hòa quyện vào nhau tạo nên sự hoàn hảo của tác phẩm

Như vậy, việc giáo viên khai thác, sử dụng một cách hợp lí các tác phẩm văn học trong dạy học lịch sử là điều vô cùng cần thiết Nó vừa giúp giáo viên cung cấp một cách cụ thể, sáng rõ kiến thức lịch sử vừa giúp học sinh cảm nhận tri thức lịch sử sinh động, gần gũi Dạy học theo hướng vận dụng liên môn tri thức lịch sử và văn học còn có tác dụng giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức trọng tâm, trực tiếp nâng cao hiệu quả, chất lượng bài học

1.1.3.2 Mối quan hệ giữa kiến thức Lịch sử và Địa lí

Khoa học Địa lí và khoa học Lịch sử có mối liên hệ đặc biệt Khi nghiên cứu lịch sử, các nhà khoa học buộc phải căn cứ vào bối cảnh cụ thể, với thời gian và không

gian được xác định Ph Ăng ghen viết: “Tồn tại ngoài thời gian cũng vô lí như tồn tại ngoài không gian” Việc xác định các sự kiện lịch sử trong thời gian và không gian là

điều kiện bắt buộc để giúp học sinh nhận thức những sự kiện riêng biệt như là những mắt xích liên tục của các quá trình lịch sử hợp qui luật diễn ra trên lãnh thổ nhất định

và trong hoàn cảnh lịch sử - địa lí tương ứng

Hai bộ môn Lịch sử và Địa lí ở trường phổ thông theo đó hàm chứa rất nhiều điểm tương đồng về nội dung, kĩ năng và phương pháp dạy học Về nội dung, Lịch sử

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

và Địa lí (phần địa lí kinh tế - xã hội, dân cư) tuy có những mục tiêu cụ thể riêng nhưng đều thuộc nhóm Khoa học xã hội nhân văn, đều nghiên cứu những vấn đề của con người, xem xét các mối quan hệ mang tính qui luật trong lĩnh vực kinh tế, xã hội Các vùng lãnh thổ Việt Nam, khu vực Đông Nam Á, châu Âu, châu Á, đều được bộ môn Lịch sử và Địa lí nghiên cứu Mặc dù, môn Địa lí chú ý đến yếu tố không gian, lãnh thổ của các sự vật, hiện tượng đang diễn ra hiện nay còn môn Lịch sử chú ý đến tính lịch đại, đến quá trình hình thành và phát triển của xã hội nhưng xét cho cùng đều hướng tới bổ sung cho nhau, giúp học sinh có được những tri thức đầy đủ, toàn diện về những sự vật, hiện tượng được nghiên cứu Về mặt phương pháp, trong quá trình dạy học, giáo viên Lịch sử hay Địa lí đều chủ yếu vận dụng các phương pháp dạy học theo lối qui nạp, đi từ phân tích các hiện tượng, sự kiện cụ thể đơn lẻ để dẫn tới những nhận xét, kết luận mang tính khái quát; đều trang bị cho học sinh cách thức làm việc với các nguồn thông tin khác nhau để hình thành những năng lực cần thiết, vận dụng kiến thức được học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn Trong khai thác phương tiện trực quan hỗ trợ dạy và học, hai môn Lịch

sử, Địa lí đều sử dụng bản đồ, lược đồ như nguồn tri thức quan trọng Mặc dù đối tượng

và mục tiêu cụ thể khi sử dụng khác nhau nhưng qui trình, phương thức xác định kiến thức từ bản đồ, lược đồ trang bị cho học sinh đều cơ bản tuân theo những bước giống nhau Vì vậy, giáo viên vận dụng tốt kiến thức, kĩ năng của môn Địa lí trong dạy học Lịch sử (và ngược lại) sẽ tích cực nâng cao chất lượng dạy học đồng thời còn có ý nghĩa giảm tải cho học sinh trong quá trình học tập, giúp các em thấy hứng thú và say mê môn học hơn

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa kiến thức Lịch sử và Giáo dục công dân

Mục tiêu của giáo dục trong trường phổ thông là hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, trang bị cho các em những hiểu biết cơ bản về văn hóa, đạo đức, kiến thức, kĩ năng để trở thành những công dân tốt cho xã hội Từ đó có thể thấy, môn Lịch sử và Giáo dục công dân có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ để cùng góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục chung Môn Giáo dục công dân trang bị cho các em những tri thức nền tảng về sự vận động, phát triển khách quan của sự vật, hiện tượng; hướng tới hình thành thế giới quan, nhân sinh quan khoa học; giáo dục lí tưởng, lòng yêu nước, tin tưởng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nước… Vì vậy, kiến thức của bộ môn này nếu được giáo viên Lịch sử vận dụng trong quá trình giảng dạy sẽ hỗ trợ tích cực cho học sinh khi nhận thức về qui luật phát triển trong lịch sử, phương thức nhìn nhận, đánh giá các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong quá khứ để từ đó vận dụng vào cuộc sống, giải quyết các vấn đề thực tiễn Hơn thế nữa,

bộ môn Lịch sử và Giáo dục công dân còn có những đơn vị kiến thức tương đồng khi cùng xem xét về đối tượng cụ thể trong đời sống con người như: tìm hiểu về nguồn gốc, đặc điểm, sự hình thành, phát triển truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam; tìm hiểu về Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; về Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng… Chính vì thế, để nâng cao hiệu quả giờ học Lịch sử, người giáo viên nhất thiết cần phải nắm được những nội dung cơ bản trong khóa trình môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông để vận dụng vào các bài học, giải thích các đơn vị kiến thức lịch sử theo nguyên lí chủ nghĩa Mác - Lê nin, phát huy một cách hiệu quả nhất

mối quan hệ “Văn Sử Triết bất phân” trong quá trình dạy học theo nguyên tắc liên

môn

1.1.3.4 Mối quan hệ giữa kiến thức Lịch sử với các môn học khác

Tri thức lịch sử là sự phản ánh toàn bộ những giá trị văn hóa mà con người tạo

ra trong quá trình phát triển, chinh phục tự nhiên và cải biến xã hội Vì vậy, bộ môn Lịch sử còn có những bài học tìm hiểu về các thành tựu văn hóa, khoa học - kĩ thuật, nghệ thuật của con người qua các giai đoạn lịch sử Theo đó, bản thân người giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử không chỉ nắm sâu kiến thức chuyên ngành, hiểu rõ chương trình những môn thuộc nhóm Khoa học xã hội mà còn phải có những hiểu biết nhất định về Khoa học tự nhiên, kĩ thuật, nghệ thuật, khảo cổ học, dân tộc học… để từ đó hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức liên môn đã học trong chương trình để hiểu thêm về tri thức lịch sử

Ví dụ, giáo viên Lịch sử cần vận dụng kiến thức liên môn với nhóm môn Khoa học tự nhiên khi giảng dạy về văn hóa cổ đại phương Đông, phương Tây; bài thành tựu văn hóa thời cận đại để có thể hướng dẫn học sinh vận dụng những kiến thức đã học về một số định lí, định đề Pitago, Talét, Ácsimét, Ơcơlít… giải thích và thấy được đóng góp của các nhà khoa học đối với sự phát triển của loài người Cũng trong nhóm bài học về thành tựu văn hóa, giáo viên Lịch sử cũng cần có những hiểu biết cơ bản về

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc… để giúp học sinh lĩnh hội một cách hiệu quả nhất những thành tựu của con người ở mỗi giai đoạn phát triển cụ thể trong lịch sử, giúp các em biết trân trọng những thành quả chung trong văn hóa nhân loại, ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc

Hiện nay các nước có nền giáo dục tiên tiến đang phát triển mạnh giáo dục STEM (tích hợp Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học) Trên nền tảng đó, các nhà giáo dục đang phổ biến rộng rãi giáo dục STEAM (kết hợp giữa Nghệ thuật với các môn học STEM truyền thống) STEAM là một phương pháp tiếp cận giáo dục kiểu mới, trong đó Khoa Học, Công Nghệ, Kỹ Thuật, Nghệ Thuật, và Toán Học được sử dụng để giảng dạy và hướng dẫn cho học sinh Nó nhấn mạnh việc học tập dựa trên thực hành thay vì theo cách giáo dục truyền thống trang bị kiến thức lý thuyết STEAM là một sự chuyển đổi từ cách thức đánh giá chất lượng giáo dục dựa vào tiêu chuẩn điểm số để chuyển sang mục đích giúp học sinh hiểu được sự liên quan giữa các khối kiến thức và có thể vận dụng tốt vào thực tế

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

Sử dụng KTLM là một trong những yêu cầu chỉ đạo của Đảng về đổi mới một cách căn bản và toàn diện giáo dục, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống Đây được xem như nguyên tắc cần tuân thủ trong dạy học ở trường phổ thông nói chung và bộ môn Lịch sử nói riêng bởi môn Lịch sử cung cấp cho học sinh tri thức

về nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nên có sự liên quan mật thiết đến kiến thức của các bộ môn khác

Sử dụng KTLM được coi là phương pháp, cách thức không thể thiếu trong việc tiếp cận đến bản chất của vấn đề học tập, giúp giáo viên đưa nội dung bài học vượt ra khỏi khuôn khổ của sách giáo khoa, mở rộng tri thức và giúp học sinh thấy được tính

hệ thống, thống nhất trong các tri thức được trang bị ở trường phổ thông cũng như tăng cường khả năng vận dụng vào thực tiễn Người giáo viên khi làm tốt việc khai thác KTLM trong dạy học chính là đã và đang tích cực thực hiện đổi mới phương pháp để nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung

Vận dụng KTLM trong giảng dạy lịch sử ở trường THPT mang lại những ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện trên cả ba mặt hình thành kiến thức, phát triển kĩ năng, hình thành tư tưởng, tình cảm cho học sinh

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Về mặt kiến thức:

Chức năng của môn Lịch sử về mặt kiến thức là cung cấp những tri thức cơ bản

về quá trình phát triển của xã hội loài người và lịch sử dân tộc Vì vậy, việc nắm vững các sự kiện lịch sử cần có sự hỗ trợ từ những hiểu biết trong nhiều môn khoa học khác nhau Như vậy, việc sử dụng nhiều nguồn tài liệu, ở các lĩnh vực khác nhau có tác dụng cung cấp cho học sinh những cơ sở để tạo biểu tượng lịch sử một cách chân thực và chính xác Từ đó, học sinh có thể hình thành khái niệm, nêu qui luật và rút ra bài học lịch sử

Ví dụ, khi dạy bài 19 “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ

X - XV”- Lịch sử 10, để học sinh lí giải được ý nghĩa của việc nghĩa quân Lam Sơn,

khi đánh bại quân Minh nhưng đã cấp ngựa, cấp thuyền cho quân giặc về nước, giáo viên có thể nêu và phân tích một số câu thơ trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:

“…Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo…”

và xâu chuỗi thêm một số quan điểm trị nước khác của giai cấp phong kiến Việt Nam

để giúp học sinh thấy được tư tưởng nhân đạo là xuyên suốt, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, nhân dân lên trên hết

KTLM còn giúp học sinh tránh được những lỗ hổng kiến thức khi học tách rời các môn học Nhờ đó, các em hiểu được sâu sắc kiến thức lịch sử và gây được hứng thú học tập

Ví dụ, khi dạy bài 14 “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” - Lịch sử

10, để giúp học sinh xác định rõ về phạm vi, ranh giới giữa ba quốc gia cổ đại hình thành trên lãnh thổ Việt Nam, giáo viên cần khai thác lược đồ Việt Nam và sử dụng những kiến thức môn Địa lí hỗ trợ giải thích Ngoài ra, cũng trong bài này, giáo viên còn có thể vận dụng kiến thức Địa lí khi giảng và làm rõ về vị trí của thành Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội), hay sử dụng kiến thức môn Giáo dục công dân khi nói về nguồn gốc sự hình thành lòng yêu nước của nhân dân ta

Như vậy, việc dạy học vận dụng KTLM sẽ tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh lựa chọn những nội dung kiến thức phù hợp cho việc giảng dạy và học tập, tránh tình trạng quá tải trong thời đại số, bùng nổ thông tin Đồng thời, phương pháp này

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cũng giúp khắc sâu kiến thức trọng tâm, tạo sự logic, hệ thống trong quá trình lĩnh hội tri thức

- Về mặt kĩ năng:

Sử dụng KTLM trong dạy học sẽ giúp học sinh phát huy được tính tích cực và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo Đồng thời, phương pháp này còn giúp các em vận dụng linh hoạt kiến thức của các môn học liên quan và khắc sâu kiến thức cơ bản Từ

đó, các em sẽ có hứng thú trong việc tìm tòi, phát hiện, khám phá các nguồn trí thức mới Khi tích cực độc lập hoạt động nhạn thức để làm rõ kiến thức cũng là lúc các em phát triển được các khả năng nhận thức trong học tập lịch sử Nếu đã hiểu được kiến thức thì các em sẽ hình thành được các kĩ năng bộ môn như: phân tích, so sánh, nhận định, đánh giá và liên hệ, vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống

- Về tư tưởng, tình cảm, thái độ:

Bộ môn Lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục con người phát triển toàn diện, đặc biệt là hình thành ở các em những tư tưởng, tình cảm đúng đắn như: sự khâm phục, yêu quí đối với người lao động; lòng tự hào, biết ơn những anh hùng dân tộc; yêu nước, yêu quê hương, tự hào dân tộc; gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống; tin tưởng và trung thành vào Đảng, vào lí tưởng xã hội chủ nghĩa… Từ đó, bản thân các

em sẽ tự ý thức được trách nhiệm của mình với gia đình, nhà trường và xã hội; tự giác rèn luyện, học tập, tu dưỡng Để phát huy hơn nữa những ưu thế đó, người giáo viên cần sử dụng tốt KTLM trong dạy học, khai thác tri thức lịch sử để học sinh có thể hình thành và phát triển những tư tưởng, tình cảm chân thiện mĩ một cách tự nhiên và chủ động, tránh tình trạng giáo điều, hoặc nặng về tính tuyên truyền

Ví dụ, khi dạy bài 22 “Tình hình kinh tế ở các thế kỉ XVI - XVIII” - Lịch sử 10,

giảng về sự hưng khởi của các đô thị như: Thăng Long, Phố Hiến, Hội An, Thanh Hà,… giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức địa lí tự nhiên để giúp các em xác định được vị trí của các đô thị và giải thích tác dụng của vị trí đó đối với sự phát triển của hoạt động trao đổi, buôn bán trong ngoài nước Ở đây, học sinh cũng có thể vận dụng kiến thức của bộ môn Giáo dục công dân về qui luật cung - cầu để phân tích về các mặt hàng được trao đổi chủ yếu lúc bấy giờ Hoặc, giáo viên cũng có thể sưu tầm thêm các câu ca dao, tục ngữ nói về sự phồn vinh của các đô thị nước ta trong

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

các thế kỉ XVI - XVIII như:“Thứ nhất Kinh Kì, thứ Nhì Phố Hiến”… Như vậy, học

sinh có thể sử dụng đa chiều các kiến thức được học để khai thác và tìm hiểu rõ về các

đô thị ở thế kỉ XVI - XVIII

KTLM theo đó có tác dụng bồi dưỡng quan điểm biện chứng, xây dựng cho học sinh niềm tin khoa học Các em sẽ thấy được sự hỗ trợ kiến thức giữa các bộ môn, cảm thấy thú vị khi sử dụng chính kiến thức mình có ở môn học khác lí giải kiến thức của môn Lịch sử (hay ngược lại) Qua đó, việc hình thành tư tưởng, tình cảm, thái độ đúng đắn sẽ trở nên phù hợp, logic và hiệu quả

- Định hướng phát triển năng lực, phẩm chất:

Sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử có ý nghĩa to lớn trong việc định hướng phát triển năng lực cơ bản cho học sinh THPT như: năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực thực hành bộ môn… Từ đó cũng góp phần tích cực vào việc hình thành những phẩm chất yêu lao động, yêu quê hương đất nước, yêu hòa bình… cho các em

Ví dụ, khi dạy bài 20 “Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc trong các thế kỉ

X - XV” - Lịch sử 10, giáo viên có thể sử dụng công nghệ thông tin, thiết lập bảo tàng

ảo về các công trình kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu của dân tộc ta trong các thế kỉ X -

XV Trên cơ sở bảo tàng ảo, giáo viên có thể giao bài tập về nhà theo nhóm cho học sinh tìm hiểu những thông tin giới thiệu về các công trình kiến trúc hoặc điêu khắc, đóng vai là những hướng dẫn viên bảo tàng để giới thiệu về các công trình văn hóa của dân tộc Qua đây, học sinh sẽ được rèn luyện những năng lực về sử dụng công nghệ thông tin, làm việc độc lập, hợp tác, phân chia nhiệm vụ nhóm, khả năng thuyết trình trước tập thể… Đồng thời, học sinh cũng mở rộng thêm hiểu biết những kiến thức về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, biết khâm phục sự sáng tạo của các nghệ nhân và trách nhiệm gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa dân tộc

Như vậy, xét tổng thể các mục tiêu cần đạt của bộ môn về kiến thức, kĩ năng, tư tưởng tình cảm, định hướng phát triển năng lực và phẩm chất chúng ta thấy, việc sử dụng KTLM là một lựa chọn phù hợp, tích cực, phát huy được hiệu quả thực tiễn trong dạy và học Lịch sử, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn nói riêng và kết quả giáo dục nói chung trong nhà trường THPT

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh

Việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông đã và đang mang lại những hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Để nhằm nắm bắt được thực trạng sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử ở THPT, đặc biệt là ở chương trình lớp 10 tại tỉnh Quảng Ninh, tôi đã tiến hành khảo sát bằng hình thức phát phiếu điều tra (phụ lục 1.1, 1.3),

phỏng vấn trực tiếp đối với giáo viên và học sinh ở một số trường trong tỉnh (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Danh sách các trường phổ thông tham gia khảo sát

Số GV được hỏi

ý kiến

Số HS được hỏi

Cụ thể như sau:

1.2.1 Về phía giáo viên

Trước hết, để điều tra xem GV có nắm được những vấn đề chỉ đạo, lí luận chung nhất về nguyên tắc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử hay không, chúng tôi đưa ra hai câu hỏi:

- Một là: Theo Thầy (Cô), nguyên tắc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử có nằm trong chủ trương đổi mới phương pháp dạy học hiện nay không?

- Hai là: Thầy (Cô) hiểu việc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử có nghĩa là gì?

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Kết quả thu về, 100% GV xác định sử dụng KTLM nằm trong yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay và xác định đúng bản chất sử dụng KTLM dạy học Lịch

sử là sử dụng kiến thức của những ngành khoa học có liên quan đến nội dung của bài học Lịch sử.Từ đó có thể kết luận, GV đã có ý thức tìm hiểu và thực hiện chủ trương đổi mới nói chung và việc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử nói riêng

Về mức độ ưu tiên sử dụng các loại KTLM, câu hỏi số 3 trong phiếu điều tra

chúng tôi đưa ra: “Theo thầy (cô), trong dạy học Lịch sử thường sử dụng KTLM của môn học nào?” Có tới 84,2% GV được hỏi trả lời họ thường sử dụng kiến thức của

các môn Khoa học xã hội như: Văn học, Địa lí, GDCD…47.3%GV cho biết họ sử dụng thêm cả kiến thức các ngành khác như: âm nhạc, hội họa, kiến trúc… Đặc biệt, có 21%

GV còn sử dụng kiến thức của nhóm môn Khoa học tự nhiên để lí giải một số thành tựu khoa học - kĩ thuật mà con người đạt được trong các bài học về thành tựu văn hóa Như vậy, việc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử ở thực tiễn hoàn toàn phù hợp với

cơ sở lí luận về sự gắn bó mật thiết giữa Lịch sử với các môn Khoa học xã hội và cũng liên quan ít nhiều tới các ngành khác thuộc nhóm Nghệ thuật và Khoa học tự nhiên

Để thu thập thông tin về nhận thức tầm quan trọng và mức độ, cách thức sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử, tôi đưa ra nhóm 5 câu hỏi với kết quả cụ thể (Bảng 1.2

- Phụ lục).

Như vậy, tất cả GV được điều tra, dù mức độ đánh giá có thể là rất cần thiết hoặc cần thiết nhưng tựu chung đều cho rằng, cần sử dụng KTLM trong dạy học Lịch

sử và phương pháp này thực tiễn đã mang lại hứng thú trong học tập cho học sinh Chỉ

có một GV cho rằng việc sử dụng KTLM để tạo hứng thú học tập cho HS là bình thường Điều này có thể được giải thích bằng phương pháp, cách thức áp dụng cụ thể chưa thực sự phát huy hiệu quả để thu hút học sinh

Từ nhận thức về tác dụng của của việc sử dụng KTLM, 100% GV đều có ý thức chủ động vận dụng phương pháp này trong giảng dạy cũng như hướng dẫn học sinh học Lịch sử ở mức độ thường xuyên hoặc thỉnh thoảng (theo đặc thù bài học) Tuy nhiên, nhìn theo tỉ lệ thu về từ phiếu điều tra có thể thấy, việc sử dụng thường xuyên chiếm tỉ lệ thấp hơn hẳn Đại đa số các thầy cô mới chỉ áp dụng ở một số bài đặc thù (như về thành tựu văn hóa, khoa học - kĩ thuật), đôi khi còn mang tính hình thức, chưa

Ngày đăng: 20/02/2020, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w