1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ẩn dụ ý niệm buồn vui trong ca dao của người việt

107 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ THU TRANG ẨN DỤ Ý NIỆM BUỒN - VUI TRONG CA DAO CỦA NGƯỜI VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM THÁI NGUYÊN, NĂM 2019 Số h

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ THU TRANG

ẨN DỤ Ý NIỆM BUỒN - VUI TRONG CA DAO

CỦA NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ THU TRANG

ẨN DỤ Ý NIỆM BUỒN - VUI TRONG CA DAO

CỦA NGƯỜI VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã ngành: 8 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HÙNG VIỆT

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự

hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Hùng Việt Các nội dung nghiên cứu,

kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳhình thức nào

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn Hoàng Thị Thu Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp cuối khóa, em

đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn,khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Bangiám hiệu trường Cao đẳng Nghề số 1 Quốc phòng

Đặc biệt, với tất cả tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chânthành cảm ơn PGS.TS Phạm Hùng Việt - người đã hết lòng tận tình hướngdẫn, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp đã giúp

đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốtquá trình học tập và nghiên cứu đề tài này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân yêu đã luôn bên em,động viên, khích lệ em trong những ngày học tập ở trường

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 8 năm 2019

Tác giả luận văn Hoàng Thị Thu Trang

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC .iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Nguồn ngữ liệu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Ý nghĩa của đề tài 12

8 Bố cục của luận văn 13

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 14

1.1 Dẫn nhập 14

1.2 Khái quát về ngôn ngữ học tri nhận 14

1.2.1 Các khái niệm có liên quan 14

1.2.2 Ẩn dụ ý niệm 21

1.3 Một vài điểm khái quát về cao dao của người Việt 26

1.3.1 Khái niệm ca dao 26

1.3.2 Phạm trù tình cảm trong ca dao 27

1.4 Tiểu kết 28

Trang 6

Chương 2 ẨN DỤ Ý NIỆM BUỒN TRONG CA DAO CỦA NGƯỜI

VIỆT 29

2.1 Dẫn nhập 29

2.2 Mô hình cấu trúc ý niệm buồn trong ca dao của người Việt 29

2.2.1 Kết quả khảo sát các từ ngữ biểu thị tình cảm buồn trong ca dao của người Việt 29

2.2.2 Đặc điểm sử dụng các từ ngữ trực tiếp chỉ tình cảm buồn trong ca dao của người Việt 31

2.3 Những ẩn dụ ý niệm buồn trong ca dao của người Việt 34

2.3.1 Ẩn dụ “BUỒN LÀ NƯỚC MẮT” 34

2.3.2 Ẩn dụ “BUỒN LÀ THIÊN NHIÊN” 37

2.3.3 Ẩn dụ “BUỒN LÀ CHIA CÁCH” 42

2.3.4 Ẩn dụ “BUỒN LÀ ÂM THANH” 43

2.3.5 Ẩn dụ “BUỒN LÀ MỘT THỰC THỂ” 47

2.3.6 Ẩn dụ bản thể “BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA TÌNH CẢM BUỒN” 50

2.3.7 Ẩn dụ bản thể “BUỒN LÀ NHIỆT ĐỘ THẤP” 54

2.3.8 Ẩn dụ định hướng “BUỒN LÀ HƯỚNG XUỐNG DƯỚI” 56

2.4 Tiểu kết 57

Chương 3 ẨN DỤ Ý NIỀM VUI TRONG CA DAO CỦA NGƯỜI VIỆT .58

3.1 Dẫn nhập 58

3.2 Mô hình cấu trúc ý niệm vui trong ca dao của người Việt 58

3.2.1 Kết quả khảo sát các từ ngữ biểu thị tình cảm vui trong ca dao của người Việt 58

3.2.2 Đặc điểm sử dụng các từ ngữ trực tiếp chỉ tình cảm vui trong ca dao của người Việt 59

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

3.3 Những ẩn dụ ý niệm vui trong ca dao của người Việt 60

Trang 8

3.3.1 Ẩn dụ “VUI LÀ NỤ CƯỜI” 60

3.3.2 Ẩn dụ “VUI LÀ THIÊN NHIÊN” 63

3.3.3 Ẩn dụ “VUI LÀ SUM HỌP” 67

3.3.4 Ẩn dụ “VUI LÀ ÂM THANH” 71

3.3.5 Ẩn dụ “BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHỨA TÌNH CẢM VUI” 74

3.3.6 Ẩn dụ “VUI LÀ LỄ HỘI” 76

3.4 Tiểu kết 77

KẾT LUẬN 79

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát các từ ngữ biểu thị tình cảm buồn trong ca

dao của người Việt 30

Bảng 2.2 Các tương đồng ánh xạ ẩn dụ ý niệm Buồn là nước mắt 35

Bảng 2.3 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Nước mắt 36

Bảng 2.4 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Thiên nhiên 38

Bảng 2.5 Các tương đồng ánh xạ của ẩn dụ ý niệm Chia cách 42

Bảng 2.6 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Âm thanh 44

Bảng 2.7 Các tương đồng ánh xạ và dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Thực thể .47

Bảng 2.8 Các dụ dẫn của ẩn dụ bản thể Bộ phận cơ thể người là vật chứa tình cảm buồn 51

Bảng 2.9 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Nhiệt độ thấp 55

Bảng 2.10 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Hướng xuống dưới 56

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát các từ ngữ biểu thị tình cảm vui trong ca dao của người Việt 59

Bảng 3.2 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Cười 61

Bảng 3.3 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Thiên nhiên 64

Bảng 3.4 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Sum họp 68

Bảng 3.5 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Âm thanh 72

Bảng 3.6 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Bộ phận cơ thể người 74

Bảng 3.7 Các dụ dẫn của ẩn dụ ý niệm Lễ hội 76

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ học tri nhận là một cách tiếp cận ngôn ngữ dựa trên kinhnghiệm của con người về thế giới và cách thức mà con người tri giác và ý niệmhóa thế giới Nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận là nghiên cứu cách con người

tư duy, tri giác, hay nói cách khác là nghiên cứu ngôn ngữ với ý nghĩa làphương thức để tư duy của con người để từ đó tái hiện bức tranh ngôn ngữ sinhđộng về thế giới

Ẩn dụ là một biện pháp tu từ quen thuộc, ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiệntượng này bằng tên sự vật hiện tượng có nét tương đồng với nó nhằm làm tăngsức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt Nhưng dưới góc nhìn tri nhận thì ẩn dụđược gọi là ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận) Ẩn dụ ý niệm là một trong nhữnghình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hìnhthành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới;

là một cơ chế tri nhận nhờ đó những tri giác liên tục, tương tự đã trải quaquá trình phạm trù hóa được đánh giá lại trong những bối cảnh ý niệm mới Vềnguồn gốc, ẩn dụ ý niệm đáp ứng năng lực nắm bắt của con người và tạo ra sựgiống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau Với cách tiếpcận chung này, ẩn dụ ý niệm được xem như là cách nhìn một đối tượng nàythông qua một đối tượng khác và với ý nghĩa đó, ẩn dụ ý niệm là một trongnhững phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ Ẩn dụ ý niệmthường có quan hệ không phải với những thực thể cô lập, riêng lẻ mà với nhữngkhông gian tư duy phức tạp (những miền kinh nghiệm cảm tính và xã hội)

Xu hướng giương cao ngọn cờ “Dĩ nhân vi trung”, lấy con người làmtâm điểm đã thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu phạm trù tâm lý tình cảm vàđây được xem là một trong những đích quan trọng mà ngôn ngữ học tri nhậncần hướng tới Cứ liệu ngôn ngữ của phạm trù này là nguồn tài liệu sống giúpchúng ta hiểu sâu hơn về ngôn ngữ, văn hóa và tư duy của người sử dụng

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn

Trong số những thể loại văn học dân gian Việt Nam thì ca dao là thểloại phong phú cả về số lượng, nội dung, chủ đề và được nhiều thế hệ các nhànghiên cứu văn hoá, văn học, ngôn ngữ học… đi sâu nghiên cứu Nhiều côngtrình nghiên cứu đã phát hiện ra những cái hay, cái đẹp, những giá trị tinhthần thể hiện đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc ẩn chứa trong lớp ngôn từ giản

dị mà súc tích

Ca dao, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương phản ánh hiệnthực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phongtục tập quán riêng Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dântộc, quan hệ xã hội được phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằngnhững hình thức ngôn ngữ khác nhau Việc nghiên cứu ca dao sẽ giúp chúng

ta tìm hiểu sâu hơn về bản sắc dân tộc, quan niệm và tư duy về sự vật, hiệntượng cả về mặt đồng đại và lịch đại Trong thời đại công nghiệp hóa và hộinhập quốc tế hiện nay, sự tiếp xúc và giao thoa văn hóa đang làm mờ đi nhiềugiá trị truyền thống Nhiều yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể dần dần biếnmất khỏi đời sống xã hội Việc nghiên cứu ca dao người Việt sẽ giúp tái hiện

và bảo tồn những giá trị đó

Trong hệ thống từ ngữ mà ca dao sử dụng, ngoài những lớp từ ngữ chỉtrăng, hoa, chim muông, cỏ cây, màu sắc… thì hệ thống từ ngữ chỉ tình cảm

buồn - vui cũng khá phổ biến Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu

thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận, song

chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm buồn - vui trong ca

dao của người Việt để góp phần giải mã các tín hiệu ngôn ngữ trong ca dao

người Việt Đó chính là lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài: “Ẩn dụ ý niệm

buồn - vui trong ca dao của người Việt” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn

cao học của mình

Trang 12

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lí thuyết ngôn ngữ học cổ điển, ẩn dụ được coi là một vấn đềthuộc ngôn ngữ Nhà triết học Hi Lạp cổ đại là Aristotle đã xem ẩn dụ là hìnhthức trang trí trong ngôn ngữ nghệ thuật và hùng biện bằng phương thứcchuyển tên gọi trên nguyên tắc tương suy

Theo Aristotle, ẩn dụ là một cách thức làm mới ngôn ngữ, làm giàu cóthêm cho ngôn ngữ bằng cách cung cấp cho người nói những cách diễn đạt hấpdẫn hơn để biểu thị và bộ lộ chính mình Trong các hình thức hùng biện hoặcdiễn thuyết, ẩn dụ tạo nên sự “lạ hoá”, là phối hợp của “sự rõ ràng, sự mê hoặc

và sự ngạc nhiên”, và khi được sử dụng thích hợp có thể tác dụng dựa trên nhậnthức để sản sinh nghĩa mới

Tiếp thu những luận điểm về ẩn dụ trong hai công trình “Thuật hùngbiện” (Rhetoric) và “Thi ca” (Poetics) của Aristotle, từ thế kỉ XX, nhiều chuyênkhảo nghiên cứu về ẩn dụ đã xuất hiện Một số tác giả trình bày những quanđiểm truyền thống về ẩn dụ phải kể đến là: Barfield (1962), Black (1969),Cohen (1975), Goodman (1968), Verbrugge và Carrell (1977)…

Trong Việt ngữ học, ẩn dụ đã được nghiên cứu khá nhiều nhưng vẫn cónhững ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu Ẩn dụ thường được xem xét

từ hai góc độ phụ thuộc vào việc xác định đối tượng của các lĩnh vực nghiêncứu Ở góc độ thứ nhất, ẩn dụ được coi là đối tượng nghiên cứu của từ vựnghọc Ở phương diện này, ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển hoánghĩa cơ bản của các đơn vị từ vựng dựa vào mối quan hệ tương đồng giữa các

sự vật hay đối tượng Ở góc độ thứ hai, ẩn dụ được coi là đối tượng nghiên cứucủa phong cách học Ở phương diện này, ẩn dụ là một biện pháp tu từ nhằm tạonên những biểu tượng trong nhận thức của con người và ẩn dụ được khảo sáttrong những ngữ cảnh cụ thể gắn liền với văn bản

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn

Như vậy, theo quan điểm truyền thống, ẩn dụ thường được xem như đặctính của riêng ngôn ngữ, được từ vựng hoá trong các hình thức của từ ngữ và làmột vấn đề của lời nói hơn là vấn đề thuộc phạm trù tư tưởng và hành động Từkhi lí thuyết tri nhận ra đời, cùng với đó là sự hình thành lí thuyết ẩn dụ ý niệm,vấn đề về ẩn dụ ngày càng được quan tâm nghiên cứu tỉ mỉ và rộng rãi hơn

Black (1962) có lẽ là người đầu tiên coi ẩn dụ như là “công cụ tri nhận”,nghĩa là nó không phải chỉ là một phương cách biểu thị các tư tưởng bằng ngônngữ mà còn là một phương cách để tư duy về các sự vật Black cho rằng, ẩn dụchứa một “nội dung tri nhận xác thực” (positive cognitive content) MichaelReddy cũng cho rằng, ẩn dụ là một quỹ tích của những suy nghĩ chứ khôngphải của ngôn ngữ và nó là một phần đáng kể và thiết yếu của phương cách ướcđịnh tri nhận thế giới

Năm 1980, với công trình Metaphos We live by (Chúng ta sống trong ẩn

dụ), Lakoff và Johnson đã bắt đầu phát triển lí thuyết tri nhận về ẩn dụ và chỉ rõrằng “hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nóchúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ” Lúc này, ẩn dụ khôngchỉ được xem xét ở riêng phạm vi từ ngữ mà phải ở cả các phạm vi tư duy vàhành động Tiếp đó, qua một số công trình với một số nhà nghiên cứu khác,Lakoff đã phát triển tư tưởng về vai trò của ẩn dụ trong việc hình thành hệthống ý niệm của con người và cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên Học thuyết “trítuệ nhập thân” của Lakoff chủ trương nghiên cứu sự phụ thuộc của những nănglực tư duy của con người và những quan niệm về thế giới, kể cả những hệthống triết học vào những đặc điểm cấu tạo của cơ thể con người và bộ não conngười Những ý tưởng này đã mở ra những đường hướng cho lí thuyết tri nhận

về ẩn dụ mà cụ thể là lí thuyết ẩn dụ ý niệm và mối liên kết giữa ẩn dụ và tưduy Trong thực tế, bản thân thuật ngữ ẩn dụ ý niệm đã bao hàm rằng ẩn dụnằm ngay ở tư duy của con người và biểu hiện lên bề mặt ngôn ngữ Tư duy vàsau đó là ngôn ngữ về cơ bản là các quá trình ẩn dụ gắn liền với kinh nghiệm cánhân và các nền văn hoá

Trang 14

Mặc dù còn nhiều tranh luận nảy sinh về vấn đề ẩn dụ giữa các nhànghiên cứu khoa học tri nhận và các nhà ngôn ngữ học, nhưng kết quả củanhững cuộc tranh luận này đã đem lại một khối lượng ấn tượng các nghiên cứu

về ẩn dụ ý niệm Trong cuốn “Cơ thể trong tâm trí: cơ sở vật chất của ý nghĩa,

tưởng tượng và lí giải”, (Johnson, M (1987) The Body in the Mind The Bodily Basis of Meaning, Imagination, and Reason Chicago: UoC Press), M Johnson

cho rằng các lí luận ngữ nghĩa ngoài việc nghiên cứu các điều kiện chân thựccủa câu, còn cần nghiên cứu về phạm trù hóa, ẩn dụ, hoán dụ Trong cuốn sáchnày, Johnson đã trình bày hai cấu trúc tri nhận về lí giải và vận dụng ngôn ngữ:

sơ đồ hình ảnh (image schema) và cấu trúc ẩn dụ (metaphorical structure) và cơ

sở vật chất của chúng Vấn đề này được tiếp tục trình bày cụ thể hơn trongcuốn “Cơ sở ngữ pháp tri nhận” của Langacker (Langacker, W R (1987)

Foundations of Cognitive Grammar, Vol I Stanford: Stanford University Press) và cuốn Phạm trù của Lakoff, Ẩn dụ trong ngôn ngữ học tri nhận của

Gibbs và Steen (1997)…

Nhìn chung, các nhà khoa học như Lakoff, Kovecses, Johnson… đều chorằng, ẩn dụ ý niệm thường dựa trên kinh nghiệm thân thể, những ý niệm ẩn dụbiểu thị những cảm xúc của con người như buồn, vui, hạnh phúc, giận dữ…đều

có cơ sở sinh lí học và văn hóa dân tộc Ẩn dụ ý niệm không chỉ gắn với quátrình trải nghiệm của con người mà còn được lí giải thông qua bản đồ thầnkinh, đặc biệt là hệ thống cảm giác ở vỏ não Như vậy, ẩn dụ cũng được xem làmột hiện tượng tinh thần, tồn tại một cách vô thức và tạo thành các cơ chế thầnkinh tự nhiên Các nhà nghiên cứu như Srinivas Naryanan (1997), ChristopherJohnson (1997), Joseph Grandy (1997) đều thống nhất cho rằng ẩn dụ ý niệmxuất phát từ chính những trải nghiệm hàng ngày của con người và kinh nghiệmcảm giác là cơ sở để con người đưa ra những đánh giá chủ quan Năm 2002, G.Fauconnier và M Turner đã phát triển một lí thuyết về không gian pha trộn.Các tác giả cho rằng, phép ẩn dụ là một hiện tượng thần kinh và các ánh xạ ẩn

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn

dụ được thực hiện trên cơ sở vật lí giống như một bản đồ thần kinh Vì cơ chếcủa ẩn dụ phần lớn là vô thức, nên hàng ngày chúng ta suy nghĩ và nói mộtcách ẩn dụ dựa trên bản đồ ẩn dụ đã được hình thành trong bộ não

Bên cạnh những công trình kinh điển, lí thuyết ẩn dụ ý niệm còn cónhững ảnh hưởng sâu rộng tới mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy trong cáclĩnh vực khác như: văn chương, chính trị, pháp luật, quân sự, tôn giáo, kinh

tế, nhân chủng học văn hóa, toán học… Ở lĩnh vực văn chương, các tác giảnhư Lakoff và Turner (1987), More (1989) đã chứng minh rằng phép ẩn dụtrong thi ca hầu hết nằm ở các phần mở rộng và trong các trường hợp đặc biệt

ổn định, ẩn dụ ý niệm thông thường được sử dụng trong tư tưởng và ngôn ngữhàng ngày Các sáng tạo ẩn dụ của nhà thơ thường nằm trong cơ chế ánh xạ ẩn

dụ Ở lĩnh vực chính trị, pháp luật và xã hội, ẩn dụ được xem như một công cụpháp lí (Steven, Lakoff) Những nghiên cứu của Gibbs (1994), Lakoff (1987),Kovecses (1990), Fenendes và Johnson (1990) cho rằng ẩn dụ có những ứngdụng tích cực trong lĩnh vực đạo đức và kinh tế vì nó liên quan đến cả hai quátrình nhận thức và tâm lí Các tác giả Lakoff và Nunez (2000) cũng đã nghiêncứu cấu trúc ẩn dụ trong toán học, ứng dụng trong lĩnh vực toán học cổ điển caocấp

Tóm lại, trên thế giới, theo lí thuyết của khoa học tri nhận và với rấtnhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận thì khái niệm ẩn dụ ýniệm (hay ẩn dụ tri nhận) được hiểu là “một sự chuyển di (tranfer) hay một sựánh xạ (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hìnhtri nhận nguồn sang một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích” Ẩn dụ ý niệm vềbản chất là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận, một

cơ chế tri nhận với mục đích tạo ra những ý niệm mới hoặc làm sáng tỏ hơnnhững ý niệm mới trên nền văn hóa và tri thức kinh nghiệm của người bản ngữ

Ở Việt Nam, công trình “Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lí thuyết đại cươngđến thực tiễn tiếng Việt” (2005) của tác giả Lý Toàn Thắng có thể coi là nghiêncứu tổng quan đầu tiên về lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận Trong cuốn sách, tác

Trang 16

giả đặc biệt chú ý tới những sự khác biệt trong các mô hình (bức tranh) ngônngữ về thế giới, nguyên lí “dĩ nhân vi trung” của mô hình không gian về thếgiới, định hướng không gian và những cách thức biểu đạt chúng trong ngônngữ, bản đồ tri nhận không gian và sự hình dung các thuộc tính không gian.

Cùng với một số bài viết khác (Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian, Ngôn ngữ

số 4, 1994; Bản sắc văn hoá: thử nhìn từ góc độ tâm lí - ngôn ngữ, Ngôn ngữ

số 15, 2001; Thử nhìn lại một số vấn đề cốt yếu của ngôn ngữ học tri nhận, Tạp

chí khoa học ĐHQG Hà Nội, 2008…), tác giả đã cung cấp những khái niệmnền tảng cơ bản cho trào lưu nghiên cứu về ẩn dụ tri nhận ở Việt Nam

Tiếp đó, phải kể đến các công trình của tác giả Trần Văn Cơ như: Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ) (2007) và Khảo luận ẩn dụ tri nhận (2009) Cuốn sách Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ) của tác giả

Trần Văn Cơ cũng là một tài liệu quan trọng được coi như những nền móngban đầu của trào lưu nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam Ngoàiphần tổng luận, cuốn sách đề cập đến các vấn đề cụ thể như: tri nhận và hoạtđộng tri nhận, ý niệm và ý niệm hóa thế giới, bức tranh ngôn ngữ về thế giới,phạm trù và phạm trù hóa thế giới, ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm, cảm xúc và các môhình cảm xúc… Đặc biệt, nguyên lí “Dĩ nhân vi trung” cũng được tác giả bànluận khá kĩ, coi đây như là một phương pháp luận cơ bản phân biệt ngôn ngữhọc tri nhận với các ngôn ngữ học tiền tri nhận Năm 2009, tác giả Trần Văn

Cơ cho xuất bản cuốn Khảo luận - ẩn dụ tri nhận với nội dung cơ bản là lí

thuyết ẩn dụ ý niệm do hai tác giả người Mĩ G Lakoff và M Johnson đề

xướng Năm 2011, ông tiếp tục cho xuất bản cuốn Ngôn ngữ học tri nhận - Từ điển tường giải và đối chiếu giúp giải thích các thuật ngữ cơ bản trong ngôn

ngữ học tri nhận, cung cấp tiểu sử và tác phẩm cơ bản của các tác giả có liênquan trong khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới Một số bài viếttrên các báo, tạp chí của tác giả Trần Văn Cơ cũng đều xoay quanh các vấn đề

của ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là Việt ngữ học tri nhận như: Nhận thức, tri

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn

nhận - hai hay một? (Tìm hiểu thêm về ngôn ngữ học tri nhận); Việt ngữ học tri nhận; Về một hướng nghiên cứu tiếng Việt (Một số vấn đề lí thuyết và ứng dụng ngôn ngữ học tri nhận)…

Cũng trong trào lưu nghiên cứu về ẩn dụ theo quan điểm tri nhận, bằngviệc phân tích các ngữ liệu trong tiếng Việt, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã đưa racái nhìn chi tiết hơn về bản chất của ẩn dụ, giải phóng ẩn dụ khỏi sự trói buộc ởquan niệm chỉ là phép tu từ Quan điểm này thể hiện trong một số bài viết như:

Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (trong

sự so sánh với các dân tộc khác, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2002; Đặc trưng văn hoá

- dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nxb KHXH Hà Nội, 2008; Đặc trưng tư duy của người Việt qua ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ, Ngôn ngữ số 12, 2008.

Ứng dụng lí thuyết ẩn dụ ý niệm vào phân tích tiếng Việt và dựa trên sựkhảo sát các ngữ liệu tiếng Việt, nhiều bài viết, bài nghiên cứu, nhiều luận vănthạc sĩ, luận án tiến sĩ đã ra đời Có thể kể đến một số kết quả nghiên cứu củacác tác giả sau:

Nguyễn Đức Dân (2009), Tri nhận không gian trong tiếng Việt, Tạp chí

Nhân văn TP Hồ Chí Minh

Hà Thanh Hải (2011), Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh - Việt, Luận án Tiến sĩ

Ngữ Văn, ĐHQG TP Hồ Chí Minh

Nguyễn Thị Bích Hạnh (2011), Ẩn dụ tri nhận “Con người là cây cỏ” trong ca từ Trịnh Công Sơn, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 6.

Trang 18

Nguyễn Thị Bích Hạnh (2013), Ẩn dụ ý niệm “Đời người là một ngày” trong ca từ Trịnh Công Sơn, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 5.

Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014), Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn, Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa

học xã hội Việt Nam

Trịnh Thị Thanh Huệ (2012), Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, Luận án Tiến sĩ Ngữ

Nguyễn Ngọc Vũ (2008), Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt

có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận,

Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, ĐHKH Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh

Trần Bá Tiến (2012), Nghiên cứu thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Anh và tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận, Luận án Tiến

sĩ Ngữ Văn, Đại học Vinh

Nguyễn Thị Bích Hợp (2015), Ẩn dụ ý niệm phạm trù “đồ ăn” trong tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p : / / l r c tnu.edu.vn

Ngô Tuyết Phượng (2016), Ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Học viện Khoa học xã hội.

Trang 20

Trần Thị Lan Anh (2016), Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch của Lưu Quang Vũ, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Nguyễn Thị Hương (2017) Ẩn dụ ý niệm của phạm trù ăn uống trong tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt), Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Học viện

Khoa học xã hội

Nghiêm Hồng Vân (2018), Đối chiếu ẩn dụ ý niệm về ”vui mừng” và

”tức giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Học

viện Khoa học xã hội

Nguyễn Thị Thanh Huyền (2019), Ẩn dụ ý niệm về thị trường chứng khoán trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Học viện

Khoa học xã hội

Những công trình kể trên cho đến thời điểm này đã tạo nên một bứctranh toàn cảnh về tình hình nghiên cứu về ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học trinhận ở Việt Nam Chúng cung cấp cho các nhà nghiên cứu, bạn đọc và nhữngngười quan tâm nhiều vấn đề có tính lí luận và thực tiễn, có tính gợi mở và địnhhướng nhiều luận điểm thú vị Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy rằng trong

số những ngữ liệu cụ thể được đưa vào ứng dụng để khảo sát, những nghiêncứu về ẩn dụ ý niệm trong văn học dân gian nói chung và trong ca dao củangười Việt nói riêng mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa nhiều và chưa sâurộng Chúng tôi thiết nghĩ, việc lựa chọn và thực hiện đề tài nghiên cứu “Ẩn dụ

ý niệm buồn - vui trong ca dao của người Việt", trong tình hình như vậy, là mộthướng triển khai mới, có ý nghĩa cả trên phương diện lí thuyết và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích cơ bản của nghiên cứu này nhằm làm rõ mô hình tri nhận của

các ẩn dụ ý niệm buồn, vui trong ca dao của người Việt để từ đó làm phong phú

thêm những nghiên cứu về ẩn dụ tiếng Việt, một loại đơn vị ẩn chứa rất nhiềuđặc trưng văn hóa tộc người, cũng như góp phần làm sáng tỏ thêm đặc trưng tưduy ý niệm của người Việt thể hiện qua ca dao

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi đề ra một số nhiệm vụnghiên cứu cần phải thực hiện:

- Trình bày những vấn đề lí thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài

- Phân tích và làm rõ các ẩn dụ ý niệm về buồn thông qua các biểu thức

ngôn ngữ trong ca dao của người Việt

- Phân tích và làm rõ các ẩn dụ ý niệm về vui thông qua các biểu thức

ngôn ngữ trong ca dao của người Việt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Dựa vào cơ sở lý thuyết ngôn ngữ tri nhận, đối tượng nghiên cứu của

luận án là ẩn dụ ý niệm buồn - vui trong ca dao của người Việt.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm buồn - vui trong

ca dao người Việt trên nguồn ngữ liệu đã xác định Các vấn đề khác liên quanđến ngôn ngữ học tri nhận nói chung chỉ được chúng tôi tham khảo nhưphương tiện làm rõ hơn các mô hình ẩn dụ tri nhận trong ca dao của người Việt

5 Nguồn ngữ liệu

Nguồn tư liệu khảo sát là bộ tổng tập Kho tàng ca dao người Việt của

Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, (2001) NXB Văn hoá - thôngtin, Hà Nội Tư liệu này gồm 2 tập, được tuyển chọn từ những lời ca dao ra đờitrước cách mạng tháng Tám Số câu ca dao được tập hợp trong bộ sách này đạttới 12.487 lời (chưa kể dị bản) Công trình này cũng đã được đưa vào làmnguồn ngữ liệu tra cứu trong Ngân hàng từ ngữ tiếng Việt của Viện Từ điểnhọc và Bách khoa thư Việt Nam

Trang 22

6 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận văn gồm:

- Phương pháp miêu tả, phân tích ý niệm: được sử dụng để miêu tả, phântích các biểu thức ẩn dụ thuộc các phạm trù ý niệm trong ca dao người Việt Từviệc phân tích các ý niệm đó, làm rõ bản chất các mô hình ẩn dụ ý niệm đã cấutrúc hóa tri giác, tư duy và hoạt động nói chung của con người như thế nào vàphát hiện những đặc trưng riêng trong cách tri giác, tư duy và phản ánh thế giớicủa người Việt

- Thủ pháp thống kê - phân loại: Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng thủ

pháp thống kê, phân loại để thống kê số lượng và phân loại các biểu thức ẩn dụtheo các phạm trù ý niệm, từ đó đưa về hệ thống các ẩn dụ ý niệm cơ sở, ẩn dụ

ý niệm phái sinh trong phạm vi ngữ liệu đã xác định Đây là căn cứ thực tiễngiúp đề tài mang tính khách quan và thuyết phục

- Ngoài ra, đề tài cũng sẽ sử dụng một số thủ pháp của ngôn ngữ học trinhận là thủ pháp nội quan (phán đoán, suy luận về nội dung của các ý niệm)

7 Ý nghĩa của đề tài

7.1 Ý nghĩa lí luận

Về mặt lí luận, luận án góp phần tổng kết lại những luận điểm cơ bản củangôn ngữ học tri nhận liên quan trực tiếp đến việc nghiên cứu về ẩn dụ, từ đó,khẳng định vai trò thực sự của ngôn ngữ học tri nhận trong việc cung cấp mộtcái nhìn đầy đủ hơn về bản chất của ẩn dụ, mà cụ thể là coi ẩn dụ là cơ sở của

sự hình thành ý niệm, là một ánh xạ tinh thần đặc biệt có ảnh hưởng nhiều đốivới cách con người tư duy và hành động trong đời sống hằng ngày Luận văncũng trình bày những khái niệm then chốt trong khung lí thuyết ẩn dụ ý niệmnhư: phạm trù, điển dạng, nghiệm thân, miền ý niệm, nguồn và đích, các kiểuloại ẩn dụ ý niệm, quy trình nhận dạng ẩn dụ

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản: tìmhiểu phương thức thiết lập và các thành tố của cấu trúc mô hình tri nhận cũng

như các cơ sở để xây dựng nên ẩn dụ ý niệm buồn - vui trong ca dao người Việt.

Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm buồn - vui trong ca dao người Việt sẽ cho

thấy đặc trưng tri nhận của người Việt qua đó phản ánh bức tranh chân thực vềđời sống tâm hồn, tình cảm của người Việt mang đậm tư duy, văn hóa dân tộc

Đồng thời kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được phục vụcho công tác giảng dạy và học tập ca dao trong nhà trường

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Ẩn dụ ý niệm BUỒN trong ca dao của người Việt

Chương 3: Ẩn dụ ý niệm VUI trong ca dao của người Việt

Trang 24

1.1 Dẫn nhập

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

Ẩn dụ cho đến nay đã nhận được sự quan tâm của nhiều ngành khoa họcnhư văn học, triết học và tâm lí học tri nhận chứ không chỉ là từ ngôn ngữ học.Trong văn học, ẩn dụ truyền thống là một biện pháp tu từ gọi tên sự vật hiệntượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng nhằm tăng sứcgợi hình gợi cảm, tạo nên những sáng tạo nghệ thuật bất ngờ mang tính thẩm

mĩ cao Trong những năm gần đây, ngôn ngữ học tri nhận ra đời đã đưa đếncách nhìn mới về ẩn dụ, không chỉ xem ẩn dụ là sự trang trí hoa mĩ trên bề mặtcủa ngôn ngữ mà là một hiện tượng trong quá trình tư duy của con người Do

đó, ẩn dụ tri nhận đã trở thành tâm điểm của ngôn ngữ học, mở ra nhiều hướngnghiên cứu mới mẻ góp phần lí giải mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa - tưduy Trong chương này, chúng tôi tập trung đi vào giới thiệu khái quát về ngônngữ học tri nhận, cung cấp những thông tin cơ bản về ẩn dụ ý niệm cùng cáckhái niệm có liên quan

1.2 Khái quát về ngôn ngữ học tri nhận

1.2.1 Các khái niệm có liên quan

1.2.1.1 Tri nhận và ngôn ngữ học tri nhận

Theo Trần Văn Cơ, “tri nhận - là khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận” [4, tr.90] Từ tri nhận (cognition) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh cognition (the action or faculty of knowing or learning), là một trong những

lĩnh vực quan trọng của nghiên cứu tâm lý học, có nghĩa là: quá trình học tậphay quá trình để đạt được tri thức của con người

Theo Hà Ninh, “Tri nhận là kiến thức hoặc sự hiểu biết trong nghĩa rộng nhất của nó, tức là quá trình não người thực hiện thao tác xử lý về thế giới khách quan và các quan hệ của nó (cảm giác, tri giác, biểu tượng, ý niệm hóa, phạm trù hóa…), qua đó nhận thức sống động về thế giới” [dẫn theo 26, tr.7].

Trang 26

Nhà nghiên cứu người Mĩ P.Houston đã tổng kết năm định nghĩa về trinhận như sau:

(1) Tri nhận là xử lí thông tin

(2) Tri nhận là việc tính toán các tín hiệu về tâm lí

(3) Tri nhận là giải quyết vấn đề

(4) Tri nhận là tư duy

(5) Tri nhận là nhóm các hoạt động có liên quan như tri giác, kí ức, phánđoán, suy luận, hình thành ý niệm, sử dụng ngôn ngữ…

Dù hiểu theo ý nào thì đều thống nhất ở một điểm: tư duy là hạt nhân củatri nhận

Chính vì vậy, Trần Văn Cơ đã tổng kết lại: “Tri nhận biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lí (tinh thần, tư duy) - tri giác, phạm trù hóa, tư duy, lời nói… phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin Nó bao gồm cả việc con người nhận thức và đánh giá bản thân trong thế giới xung quanh và xây dựng bức tranh thế giới đặc biệt- tất cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người Tri nhận là tất cả các quá trình trong

đó những dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh…) để có thể lưu lại trong trí nhớ con người.” [4, tr.92].

Theo Macnoba (2005), tri nhận bao quát cả tri thức và tư duy được thểhiện bằng ngôn ngữ, vì vậy tri nhận, tri nhận luận có liên quan mật thiết tớingôn ngữ học, cụ thể:

(1) Tri nhận là cơ sở của ngôn ngữ, ngôn ngữ là cửa sổ của tri nhận

(2) Ngôn ngữ có thể thúc đẩy tri nhận phát triển

(3) Ngôn ngữ là công cụ củng cố và truyền tải thành quả tri nhận

Ngôn ngữ học tri nhận mới chỉ xuất hiện trong khoảng 20 năm trở lạiđây, dù còn rất non trẻ nhưng nó đã dần xác định được đối tượng và phạm vinghiên cứu của mình Do vậy, để nắm bắt được bản chất của tri nhận, chúng ta

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

cần phải hiểu ngôn ngữ học tri nhận là gì? Lý Toàn Thắng cho rằng: “đó là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó.” [37, tr.16].

Theo Trần Văn Cơ [4, tr.101], “Ngôn ngữ học tri nhận là một nhánh của khoa học tri nhận Nếu tri nhận luận có đối tượng nghiên cứu là trí tuệ, tư duy

và các quá trình tinh thần của con người, thì ngôn ngữ học tri nhận thiết lập mối quan hệ giữa đối tượng ấy với ngôn ngữ tự nhiên mà con người sử dụng trong giao tiếp thường nhật” Cũng theo tác giả này, “Ngôn ngữ học tri nhận là một nhánh của khoa học tri nhận Nếu tri nhận luận có đối tượng nghiên cứu là trí tuệ, tư duy và các quá trình tinh thần của con người, thì ngôn ngữ học tri nhận thiết lập mối quan hệ giữa đối tượng ấy với ngôn ngữ tự nhiên mà con người sử dụng trong giao tiếp thường nhật”[4, tr.101].

Đối tượng của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ tự nhiên của con ngườitrong mối quan hệ với con người, thực hiện chức năng làm công cụ của tư duy,công cụ xử lý và chế biến thông tin để tạo ra tri thức và cảm xúc của con người

Với đối tượng như vậy, ngôn ngữ học tri nhận thực hiện hai nguyên lí sau:

(1) Ngôn ngữ học tri nhận giương cao ngọn cờ “hướng tới con người”

(dĩ nhân vi trung) Nó nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ với con người.Đối tượng của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ tự nhiên của con người với tưcách là một bộ phận cấu thành của nhận thức

(2) Ngôn ngữ phản ánh mối tương quan giữa những nhân tố tâm lí, giaotiếp, chức năng và văn hóa

Nhiệm vụ của ngôn ngữ học tri nhận được cụ thể hóa bằng những vấn đềsau đây:

(1) Nghiên cứu các quá trình tạo sinh và hiểu ngôn ngữ tự nhiên

(2) Nghiên cứu vấn đề phạm trù hóa ngôn ngữ

Trang 28

(3) Nghiên cứu khái quát vấn đề ý niệm và ý niệm hóa thế giới

(4) Nghiên cứu các siêu phạm trù ngữ nghĩa tri nhận

(5) Nghiên cứu những ý niệm cảm xúc của con người

(6) Nghiên cứu ý niệm con người với bộ nhị nguyên xác/hồn

(7) Nghiên cứu các quan hệ ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ

Tóm lại, ngôn ngữ học tri nhận xuất phát từ quan điểm mới về ngôn ngữhọc cho rằng không thể phân tách ngôn ngữ với tri nhận, ngôn ngữ tự nhiên làkết quả của hoạt động trí tuệ, năng lực của con người, đồng thời là một bộ phậncấu thành nên tri nhận của nhân loại Ngôn ngữ học tri nhận coi ngôn ngữ làmột hoạt động tri nhận, với xuất phát điểm là tri nhận để từ đó nghiên cứu hình

thức, ý nghĩa của ngôn ngữ cũng như quy luật của nó, “là khoa học nghiên cứu ngôn ngữ dựa trên phương thức mà chúng ta trải nghiệm về thế giới và cách chúng ta cảm giác và ý niệm hóa về thế giới” (F.Ungerer và J.Schmid).

Như vậy, có thể thấy, ngôn ngữ học tri nhận là hướng nghiên cứu ngônngữ hoàn toàn mới nhưng cũng đã đạt được nhiều thành tựu trong việc lí giảinhững bí ẩn của ngôn ngữ

1.2.1.2 Phạm trù và phạm trù hóa

Phạm trù và phạm trù hóa chính là những khái niệm trung tâm của ngôn

ngữ, là “thứ mà được ưu tiên trên hết tất thảy các thứ khác” (M Ellis) khi

nghiên cứu ngôn ngữ Cho đến nay đã tồn tại hai cách tiếp cận vấn đề phạm trù

và phạm trù hóa:

Theo cách tiếp cận truyền thống, đứng đầu là Aristotle, sau được pháttriển bởi Jakobson, Fant và Helle (1951), Chomsky và Helle (1968),F.de.Saussure (1964), khi nghiên cứu vấn đề phạm trù đã phân biệt bản chấtcủa một vật đối với các biến thể của nó Theo đó, bản chất là thành phần cốt lõi

để tạo nên một vật nào đó: “bản chất là tất cả các phần nội tại trong sự vật được tìm hiểu và biểu thị không thể chia nhỏ được, và phá hủy chúng sẽ gây ra

sự phá hủy toàn bộ”; còn biến thể là cách thành tố phụ, không giữ vai trò quyết định trong việc tạo nên một vật nào đó “Biến thể là cái áp dụng và nói rõ sự thực cho một số thứ nhưng không cần thiết cũng như không thường xuyên”.

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

Lí thuyết này được ứng dụng trong rất nhiều công trình như Kats và

Foder (1963), Nida (1975)… Trần Văn Cơ trong “Ngôn ngữ học tri nhận” sau

khi dựa vào sự phát triển của lịch sử nghiên cứu vấn đề phạm trù đã chỉ ra rằng:

“Phạm trù là khái niệm chung nhất và nền tảng nhất phản ánh những thuộc tính và những quan hệ cơ bản và phổ biến của các hiện tượng của hiện thực và nhận thức Phạm trù là kết quả của sự khái quát hóa sự phát triển lịch sử của nhận thức và của thực tiễn xã hội” [4, tr.252].

Không chỉ trong khoa học chúng ta mới dùng đến khái niệm phạm trù.Trong đời sống thường nhật con người luôn luôn phải động chạm đến phạm trù,bởi lẽ con người suy nghĩ bằng phạm trù Theo các nhà ngôn ngữ học tri nhận,thế giới xung quanh ta bao gồm vô số sự vật và hiện tượng mà con người phảinhận diện, phân loại và đặt tên cho chúng; điều này không phải lúc nào cũng dễdàng Sự phân loại này là một quá trình tinh thần phức tạp thường được gọi là

“sự phạm trù hóa” mà sản phẩm của nó là “các phạm trù tri nhận” hay các “ý niệm” Quá trình phạm trù hóa có mục đích tập hợp những hiện tượng giống

nhau về mặt nào đó thành những lớp lớn hơn

Vậy theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, phạm trù là một trongnhững hình thái nhận thức của tư duy con người cho phép khái quát hóa kinhnghiệm của nó và việc phân loại nó

Phạm trù và phạm trù hóa là những khái niệm trung tâm của ngôn ngữ

học tri nhận Trong đó, phạm trù hóa là “vấn đề trung tâm nhất trong lý thuyết ngôn ngữ”, là “một thứ mà ưu tiên trên hết tất thảy các thứ khác” (Ellis) Vậy

phạm trù hóa là gì?

Phạm trù hóa là một trong những khái niệm then chốt trong việc miêu tả

hoạt động nhận thức của con người Theo Trần Văn Cơ, “Với nghĩa hẹp, phạm trù hóa là việc đưa những hiện tượng, đối tượng, quá trình…vào phạm vi kinh nghiệm, vào phạm trù và thừa nhận nó là một thành tố của phạm trù này, song với nghĩa rộng hơn thì đó là quá trình cấu tạo và phân suất chính bản thân các phạm

Trang 30

trù, là quá trình phân chia thế giới bên ngoài và thế giới bên trong của con người, quá trình sắp xếp các hiện tượng theo thứ tự số lượng ít hơn hoặc hợp nhất chúng lại Đồng thời đó là kết quả của hoạt động phân loại” [4, tr.253,

(3) Miền kinh nghiệm: miền kinh nghiệm là phạm vi hoạt động thực tiễncủa con người Trong mỗi nền văn hóa có những miền kinh nghiệm đặc thù đốivới nó Những miền kinh nghiệm này quy định các mối liên hệ trong các dâychuyền phạm trù

(4) Những mô hình lí tưởng: có những mô hình lí tưởng cũng có thể tạo

ra các mối liên hệ trong các phạm trù

(5) Kiến thức chuyên môn: kiến thức chuyên môn có ưu việt trước kiếnthức chung khi phạm trù hóa

(6) Không có những đặc tính chung: trong cơ sở của phạm trù khôngnhất thiết phải có những đặc tính chung cho tất cả các thành tố phạm trù

Như vậy, phạm trù và phạm trù hóa là những khái niệm then chốt trongviệc miêu tả hoạt động nhận thức của con người và là vấn đề trung tâm củangôn ngữ học tri nhận

1.2.1.3 Ý niệm và ý niệm hóa

Theo Trần Văn Cơ, ý niệm là đơn vị cơ sở của ngôn ngữ học tri nhận,

là đơn vị cơ bản được hình thành trong ý thức của con người Cơ sở hìnhthành ý niệm là kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người thu nhận được

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

Con người lấy chính kinh nghiệm của bản thân mình thể hiện trong ngôn ngữthông qua ý niệm

Trang 32

Trần Văn Cơ cho rằng [4, tr.141], ý niệm có cấu trúc trường - chức năngđược tổ chức theo mô hình TRUNG TÂM và NGOẠI VI Có thể hình dungtrường - chức năng của ý niệm như một vòng tròn to có chứa vòng tròn nhỏ tạitâm và những vòng tròn nhỏ khác giao nhau Hạt nhân là khái niệm, nằm ở

trung tâm của trường - chức năng Nó mang tính chất phổ quát, toàn nhân loại Nằm ở ngoại vi là những nét đặc thù văn hóa - dân tộc Vậy ý niệm là “cái chứa đựng” sự hiểu biết của con người về thế giới được hình thành trong ý

thức trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ Trong ý niệm có cáiphổ quát (khái niệm) và cái đặc thù (văn hóa được thể hiện dưới nhiều dạngkhác nhau) Cơ sở của ý niệm là kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con ngườithu nhận được thông qua quá trình tri giác thế giới bằng các cơ quan cảm giác,thông qua hoạt động tư duy và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ.Vậy có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của ý niệm như sau:

(1) Ý niệm là đơn vị cơ bản của hoạt động tri nhận của con người

(2) Ý niệm là một phạm trù lịch sử có khả năng biến đổi do hoạt động

tri nhận của con người thường xuyên biến đổi để lĩnh hội những kiến thứcmới về thế giới

(3) Ý niệm không tồn tại riêng lẻ, chúng liên kết lại với nhau tùy theo

lĩnh vực tri nhận của con người và tạo thành một hệ thống ý niệm

Cũng theo Trần Văn Cơ [4, tr.180 -181], ý niệm là một mảng của thế

giới do con người cắt ra bằng “lưỡi dao ngôn ngữ” để nhận thức Do vậy, sự

phân cắt thế giới thành từng mảng (ý niệm) theo cách nhìn thế giới khác nhau

của con người được gọi là “ý niệm hóa” thế giới tạo nên bức tranh ngôn ngữ về

thế giới Bức tranh ngôn ngữ về thế giới là biểu hiện thế giới quan của conngười được phác họa bằng chất liệu ngôn ngữ, do vậy, nó vừa có tính phổ quát,vừa có tính đặc thù dân tộc

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

Ngôn ngữ học tri nhận đề cao nguyên lí “dĩ nhân vi trung” (lấy con

người làm trung tâm), do vậy, ý niệm không chỉ biểu hiện sự hiểu biết (tri thức)của con người về tư tưởng mà còn ở những vấn đề thường nhật trong cuộcsống, ở cách con người ứng xử trong đời sống… Do vậy, Lakoff và Johnson

(1980) đã chỉ ra rằng: “hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó, chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ”.

Như vậy, ẩn dụ là một ví dụ điển hình về sự ý niệm hóa trong ngôn ngữ,vấn đề thú vị này sẽ được nghiên cứu kĩ ngay dưới đây

1.2.2 Ẩn dụ ý niệm

1.2.2.1 Khái niệm ẩn dụ ý niệm

Black (1962 - 1998) có lẽ là người đầu tiên coi ẩn dụ như là “công cụ trinhận” Sau này, với những nghiên cứu của Lakoff và Johnson đã cho chúng tathấy rằng ẩn dụ không chỉ được xem xét ở riêng phạm vi từ ngữ mà phải ở cácphạm vi tư duy và hành động Chúng ta không chỉ dùng các ẩn dụ được quyước hóa và từ vựng hóa, nhất là những ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận)

Theo Trần Văn Cơ, ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận) “là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới.

Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo

ra sự giống nhau giữa các cá thể và những lớp đối tượng khác nhau” [4, tr.293].

Lý Toàn Thắng, từ góc nhìn tri nhận luận quan niệm: “ẩn dụ ý niệm là một sự “chuyển di” (transfer)hay một sự “đồ họa”(mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận nguồn sang một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích” [37, tr.30].

Vậy ẩn dụ là một cơ chế tri nhận đặt trên cơ sở tri giác của con người(gồm năm giác quan) hoạt động liên tục nhằm tạo ra những ý niệm mới trongnhững bối cảnh ngôn ngữ và văn hóa của người bản ngữ Với cách tiếp cậnchung nhất, ẩn dụ ý niệm được xem như là cách nhìn một đối tượng này thôngqua một đối tượng khác, và với ý nghĩa đó, ẩn dụ là một trong những phươngthức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ

Trang 34

1.2.2.2 Đặc điểm của ẩn dụ ý niệm

Khác với ẩn dụ mĩ học, ẩn dụ ý niệm được xem là “công cụ tri nhận”, là

“chìa khóa mở ra sự hiểu biết”, “cơ sở của tư duy”, “là các quá trình nhận thức của những biểu tượng tinh thần của thế giới”, “là sự củng cố mối quan hệ giữa

ý thức và logic” Lakoff và Johnson đã đưa ra bốn đặc điểm của ẩn dụ tri nhận

như sau:

(1) Ẩn dụ ý niệm được biểu hiện bằng ngôn ngữ tự nhiên

(2) Phạm vi hành chức của ẩn dụ ý niệm là hoạt động giao tiếp bìnhthường của con người Những biểu ngữ ẩn dụ ý niệm thường gặp trong ca dao,tục ngữ, thành ngữ, truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, trong những ngôn bảnvăn hóa, chính trị, cả trong thơ ca, văn xuôi…

(3) Ẩn dụ ý niệm không phải là mệnh đề- đơn vị của logic hình thức(4) Ẩn dụ ý niệm hướng tới khả năng tác động vào lĩnh vực trí tuệ củacon người, nghĩa là cung cấp những tri thức mới theo nguyên lí: ý niệm hóa vàhiểu những hiện tượng loại này trong thuật ngữ các hiện tượng loại khác

1.2.2.3 Phân loại

Lakoff và John trong “Metaphors We Live by” đã chia ẩn dụ thành bốn

loại: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định hướng, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc (ẩn

dụ vật chứa).[1]

a Ẩn dụ cấu trúc

Ẩn dụ cấu trúc là những ẩn dụ ý niệm khi một ý niệm này được cấu trúchóa về mặt ẩn dụ trong thuật ngữ của một ý niệm khác Trong loại ẩn dụ này,miền nguồn cung cấp một cấu trúc tri thức tương đối phong phú cho miền ýniệm đích Hay nói cách khác, ẩn dụ cấu trúc là hiện tượng cấu trúc lại ý niệm

ở miền đích về mặt nghĩa sau khi nhận được những tri thức mới (những nétthuộc tính mới) do ý niệm ở miền nguồn ánh xạ lên Chúng tôi xin dẫn một ẩn

dụ cấu trúc điển hình trong “Metaphors We Live by” : THỜI GIAN LÀ TIỀN

BẠC Chúng tôi thấy ý niệm TIỀN BẠC (miền nguồn) đã cấu trúc hóa ý niệm

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

THỜI GIAN (miền đích) làm cho THỜI GIAN và TIỀN BẠC trở nên tươngđồng ở một bộ phận nào đó, thể hiện:

Trang 36

Anh đang tiêu phí thời gian của tôi

Anh có thể cho tôi ít phút được không?

Anh sử dụng (dùng) thời gian như thế nào?

Anh sắp hết thời gian rồi.

Anh đang phung phí thời gian cho một việc vô ích.

Cái máy này sẽ giúp anh tiết kiệm thời gian.

Tôi dành một ít thời gian mỗi ngày để chơi game.

Tôi đã tốn nhiều thời gian để học nấu ăn.

b Ẩn dụ định hướng

Ẩn dụ định hướng khác ẩn dụ cấu trúc ở chỗ không có sự sắp đặt lại vềmặt cấu trúc một ý niệm này trong thuật ngữ của một ý niệm khác, nhưng cótồn tại tổ chức của cả một hệ thống ý niệm theo mẫu của một hệ thống nào đó

khác Những trường hợp như vậy, ta gọi là những ẩn dụ định hướng, bởi vì đa

số những ẩn dụ tương tự có liên quan đến sự định hướng không gian với nhữngcặp đối lập kiểu “trên- dưới”, “trong- ngoài”, “trước- sau”, “sâu- nông”, “trungtâm- ngoại vi” Những cặp đối lập định hướng tương tự xuất phát từ chỗ thânthể của chúng ta có những thuộc tính nhất định và hoạt động theo một kiểu nhấtđịnh trong thế giới vật lí xung quanh ta Những ẩn dụ định hướng tạo cho ýniệm giá trị định hướng không gian, chẳng hạn: HẠNH PHÚC LÀ Ở TRÊN Ýniệm “HẠNH PHÚC” được định hướng lên trên và được biểu đạt: “Hôm naytôi cảm thấy phấn chấn lên”

HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊNhay: NỖI BUỒN ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI;

ĐẠO ĐỨC LÀ TRÊNhay: TỘI LỖI LÀ DƯỚI

Chúng ta hãy xem xét những biểu ngữ phản ánh ẩn dụ định hướng:

ĐẠO ĐỨC LÀ TRÊNTỘI LỖI LÀ DƯỚI

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

“Anh ta rất cao thượng.”

Cơ sở vật lí và xã hội của ẩn dụ ĐẠO ĐỨC LÀ TRÊN là: Là một con

người có đạo đức nghĩa là hành động phù hợp với những chuẩn mực đạo đức do

xã hội/ cá nhân đặt ra để duy trì sự hưng thịnh của nó ĐẠO ĐỨC LÀ TRÊN,bởi vì những hành vi có đạo đức tương quan với hưng thịnh của xã hội, theoquan điểm của xã hội/ cá nhân Do chỗ những ẩn dụ có lí do xã hội làm thànhmột bộ phận của văn hóa, nên quan điểm của xã hội/ cá nhân có ý nghĩa quyếtđịnh ở đây

d Ẩn dụ kênh liên lạc

“Kênh liên lạc” được hiểu như một vật chứa: nó chứa đựng thông tin để truyền đi Ẩn dụ kênh liên lạc là quá trình giao tiếp như sự vận động của nghĩa

Trang 38

“làm đầy” các biểu thức ngôn ngữ (vật chứa) cho “kênh” nối người nói vớingười nghe.

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN ht t p: / / l r c tnu.edu.vn

Theo cách hiểu này, có thể dẫn ra ẩn dụ kênh liên lạc:

BIỂU THỨC NGÔN NGỮ LÀ VẬT CHỨA ĐỐI VỚI Ý NGHĨA

Ví dụ về ẩn dụ kênh liên lạc:

- Khi bạn có một ý tưởng tốt, hãy đưa nó trực tiếp vào từ (nghĩa là “Khi

ở bạn xuất hiện một ý tưởng tốt, hãy lập tức diễn đạt nó bằng từ”)

- Những từ của nó mang ít ý nghĩa (nghĩa là “Những lời nó nói ít ý nghĩa”) 1.2.2.4 Quy trình nhận dạng ẩn dụ

Để tìm hiểu sự tri nhận về tình cảm buồn - vui trong ca dao của người

Việt, chúng tôi cần xác đinh được các ẩn dụ ý niệm Kế thừa các nghiên cứu

đi trước, trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn sử dụng quy trình nhận dạng

ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) do Pragglejaz đề xuất [2] vìquy trình này có tính ứng dụng cao và được công nhận rộng rãi bởi nhiềunhà nghiên cứu

Quy trình MIP thực hiện với 4 bước được chúng tôi lựa chọn diễn giảibằng ngữ liệu nghiên cứu cụ thể trong luận văn này như sau:

- Bước 1 là đọc các diễn ngôn về ca dao của người Việt để thiết lập hiểubiết về nghĩa

- Bước 2 là xác định các từ ngữ có tiềm năng sử dụng ẩn dụ và các từngữ có liên quan trong ngữ cảnh

- Bước 3 là xác định dạng thức của biểu thức có từ ngữ ẩn dụ tiềm tàng,đối chiếu các từ ngữ ẩn dụ tiềm tàng vào các MIỀN NGUỒN để gọi tên MIỀNNGUỒN và MIỀN ĐÍCH, từ đó xác định liệu biểu thức tìm được có phải làbiểu thức ẩn dụ hay không

- Bước 4 là gọi tên các biểu thức ẩn dụ: các từ ngữ ẩn dụ tiềm năng lúc

này trở thành từ biểu lộ ẩn dụ - trong luận văn này chúng tôi chọn gọi là dụ dẫn

(theo cách gọi của Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2019) Biểu thức hình thành bởi

dụ dẫn và các từ ngữ kết hợp khác gọi là biểu thức ẩn dụ.

Trang 40

1.3 Một vài điểm khái quát về cao dao của người Việt

1.3.1 Khái niệm ca dao

Theo cuốn Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia Khánh chủ biên) thì:

“Ca dao vốn là thuật ngữ Hán Việt, theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…” [20].

Theo Từ điển tiếng Việt, “Ca dao là thơ ca dân gian được truyền miệng

dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc Ca dao là thể loại văn vần, thường làm theo thể thơ lục bát” [27; tr.132].

Vũ Ngọc Phan định nghĩa về ca dao như sau: “Ca dao là một thể thơ dân gian, có thể phân nhỏ các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao” [26].

Nguyễn Xuân Kính cho rằng: “Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững trong phong cách Và ca dao đã thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian” [12; tr.56].

Như vật ca dao có thể hiểu là một thể loại trữ tình của văn học dân gian,

về hình thức, nó là thơ có nhịp điệu, có tiết tấu

Nội dung cơ bản của ca dao nhằm phản ánh tâm tư tình cảm, tâm hồn củacon người Việt Nam Ca dao là nguồn sữa tinh thần nuôi dưỡng trẻ thơ qua lờihát ru, là hình thức trò chuyện tâm tình của các chàng trai cô gái, là tiếng nóibiết ơn, tự hào về công đức của tổ tiên và anh linh của những người đã khuất, làphương tiện bộc lộ nỗi buồn hay niềm vui hân hoan của người lao động tronggia đình và xã hội Ca dao tựa hồ như tấm gương phản chiếu chân thực, rõ nétlịch sử và đời sống xã hội phong kiến cùng cuộc sống lao động, kinh nghiệmsản xuất của người nông dân xưa, qua đó, gửi gắm triết lí sống, những kinhnghiệm ứng xử tinh tế của các tác giả dân gian

Ngày đăng: 19/02/2020, 23:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Lan Anh (2016), Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch của Lưu Quang Vũ, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch của Lưu QuangVũ
Tác giả: Trần Thị Lan Anh
Năm: 2016
2. Diệp Quang Ban (2008), “Cognition: Tri nhận và nhận thức; Concept: Ý niệm hay khái niệm?”, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 2, tr. 1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cognition: Tri nhận và nhận thức; Concept: Ýniệm hay khái niệm?”, Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2008
3. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận - ghi chép và suy nghĩ, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận - ghi chép và suy nghĩ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 2007
5. Trần Văn Cơ (2007), “Nhận thức, tri nhận - Hai hay một? (Tìm hiểu thêm về ngôn ngữ học tri nhận)”, T/c Ngôn ngữ, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức, tri nhận - Hai hay một? (Tìm hiểu thêmvề ngôn ngữ học tri nhận)”, T/c "Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Năm: 2007
6. Trần Văn Cơ (2009), Khảo luận ẩn dụ tri nhận, Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận ẩn dụ tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2009
7. Trần Văn Cơ (2010), “Việt ngữ học tri nhận”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt ngữ học tri nhận”, Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Năm: 2010
8. Trần Văn Cơ (2011), Ngôn ngữ học tri nhận: Từ điển, tường giải và đối chiếu, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận: Từ điển, tường giải và đốichiếu
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2011
9. Trần Văn Cơ (20..), “Về một hướng nghiên cứu tiếng Việt (Một số vấn đề lí thuyết và ứng dụng ngôn ngữ học tri nhận)”, Tạp chí Đại học Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hướng nghiên cứu tiếng Việt (Một số vấn đềlí thuyết và ứng dụng ngôn ngữ học tri nhận)”, Tạp chí
10. Võ Thị Dung (2003), Tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học trinhận
Tác giả: Võ Thị Dung
Năm: 2003
11. Nguyễn Thiện Giáp (2011), “Về ngôn ngữ học tri nhận”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 9, tr 44-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ngôn ngữ học tri nhận”, Tạp chí "Ngônngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 2011
12. Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên (2001), Kho tàng ca dao người Việt, NXB Văn hoá - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca daongười Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên
Nhà XB: NXB Văn hoá - thông tin
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2011), “Ẩn dụ tri nhận “Con người là cây cỏ”trong ca từ Trịnh Công Sơn”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 6, tr. 118-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận “Con người là cây cỏ”trong ca từ Trịnh Công Sơn”, Tạp chí "Từ điển học và Bách khoa thư
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Năm: 2011
14. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2013), “Ẩn dụ ý niệm “Đời người là một ngày”trong ca từ Trịnh Công Sơn”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm “Đời người là một ngày”trong ca từ Trịnh Công Sơn”, Tạp chí "Từ điển học và Bách khoa thư
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Năm: 2013
15. Lê Thị Ánh Hiền (2011), Sức mạnh của ẩn dụ trong thi ca từ góc nhìn của Ngôn ngữ học tri nhận, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 3, Tr. 25- 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển học và Bách khoa thư
Tác giả: Lê Thị Ánh Hiền
Năm: 2011
16. Trịnh Thị Thanh Huệ (2012), Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu tên gọi bộ phận cơ thể người), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Học viện KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trongtiếng Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu têngọi bộ phận cơ thể người)
Tác giả: Trịnh Thị Thanh Huệ
Năm: 2012
17. Đỗ Việt Hùng (2002), “Ý và nghĩa - hai quan niệm về ngữ nghĩa học”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý và nghĩa - hai quan niệm về ngữ nghĩa học”,Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Năm: 2002
18. Phan Thế Hưng (2008), “Mô hình tri nhận trong ẩn dụ ý niệm”, T/c Ngôn ngữ, số 4, tr. 28-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tri nhận trong ẩn dụ ý niệm”, T/c Ngôn"ngữ
Tác giả: Phan Thế Hưng
Năm: 2008
19. Phan Thế Hưng (2009), Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh), Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứliệu tiếng Việt và tiếng Anh)
Tác giả: Phan Thế Hưng
Năm: 2009
20. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w