1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí của khách hàng tại trung tâm thương mại tt

12 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 332,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Niềm vui mua sắm được tiếp cận ở nhiều góc độ với đa dạng chủ đề như: tập trung làm rõ quan điểm mua sắm là một hình thức giải trí Moss, 2007; phân khúc khách hàng dựa trên cảm nhận và q

Trang 1

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Với 93,7 triệu dân, phần đông là dân số trẻ có nhu cầu mua sắm cá nhân cao

cùng nhu cầu hội nhập thế giới, thị trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá là một trong

những thị trường mới nổi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư bán lẻ đa quốc gia trên thế

giới

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, doanh thu bán lẻ năm 2017 có

mức tăng trưởng tốt, ước tính 2.937,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,7% tổng mức và tăng

10,9% so với năm 2016 Cùng với đó là sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng của hệ

thống bán lẻ truyền thống, tính đến hết tháng 12/2017, cả nước có 8.539 chợ truyền

thống tập trung chủ yếu ở nông thôn (chiếm 75%) và số chợ đầu mối là 83 chợ

(chiếm 0,97%) Về kênh bán lẻ hiện đại, cả nước có 957 siêu thị tại 62/63 tỉnh/thành

phố (duy nhất Hà Giang là tỉnh chưa có siêu thị) và 189 TTTM tại 51/63 tỉnh/thành

phố, tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ

Chí Minh, Cần Thơ,… số siêu thị và TTTM tại các thành phố lớn này lần lượt chiếm

khoảng 47% và 50% trên tổng số siêu thị và TTTM của cả nước

1.2 Lý do chọn đề tài

Xét về mặt học thuật, ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, niềm vui mua

sắm trong bán lẻ đã là chủ đề hấp dẫn các nhà nghiên cứu trên thế giới (Store, 1954;

Martineau, 1958) Niềm vui mua sắm được tiếp cận ở nhiều góc độ với đa dạng chủ đề

như: tập trung làm rõ quan điểm mua sắm là một hình thức giải trí (Moss, 2007); phân

khúc khách hàng dựa trên cảm nhận và quan điểm của họ đối với mua sắm (El-Aldy

2007); tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng (Ibrahim và

cộng sự, 2002; Mirela Mihić và Ivana Kursan Milaković, 2017) Những nghiên cứu về

TNMS mang giải trí được lựa chọn thực hiện đối với đa dạng loại hình bán lẻ trên thế

giới như: cửa hàng, siêu thị, trực tuyến, khu mua sắm và TTTM Tuy nhiên những yếu tố

thành phần ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng sẽ khác nhau tùy theo đặc điểm

của bối cảnh nghiên cứu, đối tượng khảo sát và loại hình bán lẻ, yếu tố này có thể có ý

nghĩa trong nghiên cứu này những lại không có giá trị trong nghiên cứu khác Đối với

loại hình bán lẻ TTTM, hướng nghiên cứu riêng biệt những yếu tố thuộc TTTM có ảnh

hưởng đến TNMSGT của khách hàng mới chỉ nhận được sự quan tâm của một số ít các

nhà khoa học trên thế giới, tại Việt Nam hướng nghiên cứu này dường như bị bỏ ngỏ Vì

vậy, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam (được đánh giá là thị trường mới nổi khu vực

Châu Á) và loại hình bán lẻ TTTM cần có thêm nghiên cứu với mong muốn đóng góp

thêm “điểm mới” trong lĩnh vực bán lẻ trên thế giới: trường hợp nghiên cứu điển hình

đối với thị trường mới nổi như Việt Nam

Xét về mặt thực tiễn, Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng với tỷ lệ chi tiêu

cho cá nhân cao đồng thời nhu cầu hội nhập đã làm thay đổi nhận thức tiêu dùng và tác động không nhỏ tới thói quen và xu hướng tiêu dùng của người dân Việt, đặc biệt

là giới trẻ Mua sắm tại kênh bán lẻ hiện đại như siêu thị, cửa hàng tiện lợi, TTTM đang trở thành thói quen và xu hướng lựa chọn của người Việt ngày nay Ngày nay các TTTM đều được chuẩn hóa về thiết kế, hàng hóa và dịch vụ, vì vậy cạnh tranh bằng chất lượng hàng hóa hay giá cả không còn là công cụ đắc lực của các nhà bán lẻ nữa,

mà phải sử dụng TNKH Nhà bán lẻ thành công là những nhà bán lẻ tạo ra được TNMSGT cho khách hàng (Shaw và Ivens, 2002) Thực tế cho thấy trong giai đoạn vừa qua, bên cạnh sự xuất hiện TTTM mới của các tập đoàn bán lẻ trong nước và quốc

tế (tập đoàn Vingroup, tập đoàn Aeon Nhật Bản) tại nhiều thành phố lớn ở Việt Nam,

là những TTTM phải tái cấu trúc (Tràng Tiền Plaza tại Hà Nội), thậm chí phải đóng cửa vì tình trạng vắng khách kéo dài (Thuận Kiều Plaza tại thành phố Hồ Chí Minh, Hàng Da, Grand Plaza tại Hà Nội hay chuỗi TTTM Parkson Plaza tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh,….) do không nắm bắt được nhu cầu và xu hướng tiêu dùng mới của người Việt, đặc biệt không tạo được TNMSGT cho khách hàng khi tới TTTM Như vậy, để thu hút và xây dựng lòng trung thành đối với khách hàng thuộc thế hệ mới này, các nhà quản lý TTTM cần phải dựa trên nền tảng TNMSGT, từ đó xây dựng những chiến lược kinh doanh phù hợp với sự thay đổi của mô hình bán lẻ và

xu hướng tiêu dùng của người Việt ngày nay

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn tại Việt Nam, đề tài “Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí của khách hàng tại trung tâm thương mại” được lựa chọn nghiên cứu là cần thiết và có giá trị về mặt học thuật

cũng như thực tiễn đối với thị trường bán lẻ Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung

1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của luận án

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận án nhằm xác định những yếu tố ảnh hưởng tới TNMSGT của khách hàng tại TTTM ở Việt Nam, những người mua sắm hàng hóa/ dịch vụ

Câu hỏi nghiên cứu

- TNMSGT được hiểu và đo lường như thế nào dưới góc độ khách hàng mua sắm hàng hóa/dịch vụ?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng tại TTTM ở Việt Nam?

- Mỗi yếu tố có mức độ ảnh hưởng như thế nào đến TNMSGT của khách hàng tại TTTM ở Việt Nam?

Trang 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

- Trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí của khách hàng tại TTTM ở

Việt Nam

- Những yếu tố ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng tại TTTM ở

Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng khảo sát: là những người mua sắm hàng hóa/ dịch vụ trong TTTM

- Về mặt nội dung: luận án tập trung nghiên cứu những yếu tố thuộc TTTM có

ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng

1.4 Phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu định tính là nghiên cứu nhằm khám phá ra các lý thuyết khoa học,

dựa vào các nghiên cứu trước đây Với mục tiêu nghiên cứu xác định những yếu tố

thuộc TTTM ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng tại Việt Nam

Nghiên cứu định lượng là phương pháp truyền thống trong nghiên cứu khoa học,

trên cơ sở thu thập dữ liệu thị trường để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

1.5 Kết quả nghiên cứu mới

Đóng góp mới về mặt học thuật

Luận án xây dựng và kiểm định mô hình những yếu tố thuộc TTTM ảnh hưởng

đến TNMSGT của khách hàng ở Việt Nam, một quốc gia có thị trường mới nổi, mô

hình gồm 7 yếu tố: Hàng hóa; Không gian mua sắm; Vị trí; Tiện ích; Ẩm thực và Giải

trí; An toàn; Vận hành

Luận án xây dựng thang đo TNMSGT mới, đó là thang đo “Hành vi trải

nghiệm” với 3 tiêu chí đánh giá, thang đo này chưa được kiểm định trong các nghiên

cứu trước

Luận án xây dựng và hoàn thiện thang đo 7 yếu tố thuộc TTTM cho phù hợp

với điều kiện thực tế của thị trường Việt Nam

Luận án phân khúc khách hàng thành hai nhóm dựa trên quan điểm của khách

hàng về mua sắm, gồm phân khúc mua sắm giải trí và phân khúc mua sắm thực dụng

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

Luận án giúp cho các nhà quản lý TTTM ở Việt Nam xác định những yếu tố

thuộc TTTM ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng Đồng thời xác định mức độ

ảnh hưởng của từng yếu tố tới TNMSGT của khách hàng, đây là cơ sở để các nhà

quản lý TTTM tập trung cải thiện những yếu tố có tầm ảnh hưởng quan trọng, nhằm

xây dựng một mô hình bán lẻ TTTM phù hợp với thời đại và xu hướng tiêu dùng của

người dân Việt ngày nay

Kết quả phân khúc khách hàng của luận án là căn cứ để các nhà quản lý TTTM lựa chọn phân khúc khách hàng mục tiêu và từ đó xây dựng những chiến lược kinh doanh phù hợp

Cuối cùng, luận án là tài liệu tham khảo hữu ích trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập

1.6 Kết cấu của luận án

Kết cấu chính của luận án gồm 5 chương:

Chương 1: Phần mở đầu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và những hàm ý quản trị kinh doanh

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Trải nghiệm khách hàng

Trải nghiệm là một khái niệm rộng, đó là cảm xúc, cảm nhận và kiến thức mà một người có được khi họ tham gia vào một hoạt động nào đó (Gupta và Vajic, 2000)

và họ có được trải nghiệm ở hầu hết thời gian dù họ có muốn hay không Trải nghiệm được đặc trưng bởi: sự tích cực tham gia, hòa nhập hoàn toàn của con người vào một

sự kiện nào đó và trạng thái tâm lý của họ (Pine và Gilmore, 1998)

TNKH có thể được hiểu như sau: khi tương tác với bất kỳ một sản phẩm, một dịch vụ hay một tổ chức nào đó khách hàng đều có trải nghiệm và mỗi khách hàng sẽ

có những trải nghiệm khác nhau dù họ trải nghiệm cùng bối cảnh như nhau Trải nghiệm này sẽ tạo ra trạng thái cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực cho khách hàng tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể, bắt nguồn từ việc so sánh giữa mong muốn của khách hàng với cảm nhận trải nghiệm mà khách hàng đạt được

2.1.2 Mua sắm mang tính giải trí

Mua sắm mang tính giải trí được hiểu là hoạt động mua sắm được đặc trưng bởi niềm vui và sự hài lòng của người mua sắm có được từ quá trình mua sắm mà không nhất thiết phải mua được hàng hóa/ dịch vụ (Guiry và Lutz, 2000) Tính giải

trí của hoạt động mua sắm giống như khi con người tham gia vào các hoạt động giải trí khác, thậm chí một số người cho rằng mua sắm còn thú vị và có khả năng giúp họ giải trí nhiều hơn so với việc tham gia các hoạt động vui chơi giải trí khác

2.1.3 Trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí

Trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí có thể hiểu là toàn bộ trải nghiệm mang lại trạng thái cảm xúc tích cực, tạo nên sự vui vẻ và hài lòng cho khách hàng khi họ mua sắm Trạng thái cảm xúc này giống như trạng thái cảm xúc khách hàng có được khi họ

Trang 3

tham gia hoạt động giải trí thuần túy hoặc các hoạt động tiêu khiển khác mang lại, trạng

thái cảm xúc này đặc trưng bởi sự hài lòng, sự tự do cảm nhận và trạng thái tâm lý của

khách hàng (Jones, 1999) Với quan điểm này TNMSGT được đo lường thông qua khả

năng đạt được tính “giải trí” của khách hàng và được đo lường bởi sự thoải mái, vui vẻ,

giảm căng thẳng, thư giãn và giải trí Tuy nhiên, nếu xem xét ở góc độ kết quả, khi

khách hàng đạt được cảm xúc giải trí trong mua sắm, họ thường tăng thời gian lưu lại

các cửa hàng, tăng chi tiêu, tăng mua sắm ngẫu hứng và tăng cảm giác thích thú đối với

các cửa hàng (Babin và cộng sự, 1994; Donovan và cộng sự, 1994; Jones, 1999) đồng

thời tác động đến ý định quay trở lại (Sit và cộng sự, 2003; Hart và cộng sự, 2007) Do

đó, trong phạm vi nghiên cứu này, NCS mong muốn xem xét TNMSGT của khách hàng

không chỉ ở góc độ cảm xúc mà còn ở góc độ hành vi của khách hàng tại TTTM

2.1.4 Trung tâm thương mại

Phạm vi nghiên cứu này, NCS sử dụng thuật ngữ TTTM để chỉ những nơi mua

sắm hiện đại theo mô hình “n trong 1” xuyên suốt luận án và áp dụng khái niệm

TTTM theo Quy chế Siêu thị, TTTM ban hành kèm theo Quyết định số:

1371/2004/QĐ-BTM của Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương Việt

Nam) ngày 24 tháng 9 năm 2004 đã đưa ra khái niệm về TTTM như sau: “Trung tâm

thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng, bao

gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ; hội trường, phòng họp,

văn phòng cho thuê… được bố trí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công

trình kiến trúc liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ

thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh,

thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh thương nhân và thoả

mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng”

2.2 Tổng quan nghiên cứu những công trình trên thế giới và trong nước

Các nghiên cứu về bán lẻ luôn thu hút các nhà nghiên cứu trên thế giới bởi sức

hấp dẫn đặc biệt của lĩnh vực này Theo trình tự thời gian có thể kể đến các nhà

nghiên cứu như: Martineau (1958), Lindquist (1974), Bell (1999), Oppewal và

Timmermans (1999), Jones (1999), Leo và Phillippe (2002), Sit và cộng sự (2003),

Hart và cộng sự (2007), Yeu Teng Wong và cộng sự, 2012; Mohamad Saadvà

Madiha Metawie, 2015; Mirela Mihić và Ivana Kursan Milaković, 2017…

Những nghiên cứu này tập trung vào nhiều chủ đề, thứ nhất là tập trung tìm

hiểu những yếu tố thuộc nhà bán lẻ (cửa hàng/ TTTM) và ảnh hưởng của chúng tới

niềm vui mua sắm và hành vi của khách hàng Thứ hai, những yếu tố thuộc khách

hàng (gồm yếu tố tâm lý khách hàng như: động cơ mua sắm, định hướng mua sắm

hay một số yếu tố cá nhân khác như khả năng tài chính, thái độ đối với quảng cáo,

nhu cầu cá nhân, nhạy cảm về giá, ) ảnh hưởng đến niềm vui mua sắm và hành vi

của khách hàng Thứ ba, nghiên cứu tổng hợp những yếu tố nhà bán lẻ và khách hàng

ảnh hưởng đến niềm vui mua sắm và hành vi của khách hàng Mặt khác, kết quả của những nghiên cứu này còn phân khúc khách hàng thành nhiều nhóm theo hành vi và cảm nhận của họ đối với hình ảnh nhà bán lẻ khi mua sắm

Kết quả tổng quan các công trình khoa học đã công bố trên thế giới và trong nước liên quan đến niềm vui mua sắm và TNMSGT của khách hàng cho một số kết luận như sau:

(1) Thỏa mãn khách hàng không còn là yếu tố có thể giữ chân được khách hàng,

mà TNKH mới là yếu tố củng cố và duy trì lòng trung thành của khách hàng thế hệ mới này

(2) Mua sắm là một hình thức giải trí, nhiều người đã lựa chọn mua sắm thay cho hoạt động giải trí thông thường khác

(3) Có nhiều phân khúc khách hàng trong bán lẻ, tuy nhiên nổi lên hai phân

khúc khách hàng điển hình, một là, những khách hàng mua sắm để giải trí (được gọi

là khách hàng mua sắm giải trí), hai là, những khách hàng coi mua sắm như một việc

bắt buộc phải làm/ nhiệm vụ phải hoàn thành (được gọi là khách hàng mua sắm thực dụng)

(4) Nghiên cứu về niềm vui mua sắm và những yếu tố ảnh hưởng đến

TNMSGT của khách hàng tập trung vào ba hướng, một là nghiên cứu độc lập những yếu tố thuộc nhà bán lẻ (cửa hàng và TTTM), hai là nghiên cứu độc lập những yếu tố thuộc khách hàng, ba là nghiên cứu hỗn hợp nhiều yếu tố (nhà bán lẻ và khách hàng)

Như vậy, Như vậy, kết quả tổng quan có thể nhận thấy những nghiên cứu về loại hình bán lẻ TTTM và TNMSGT của khách hàng tập trung chủ yếu tại các quốc gia ở phương tây, nơi có nền kinh tế phát triển, hoạt động bán lẻ xuất hiện từ sớm và

có những thành công nhất định Đối với thị trường mới nổi ở Châu Á và trên thế giới, các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào Singapore, Hàn Quốc, Malaysia, Tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về vấn đề này và chỉ nghiên cứu đối với loại hình bán lẻ siêu thị Trong khi đó, các loại hình bán lẻ hiện đại khác ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt loại hình bán lẻ TTTM đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ, phát triển theo hướng đa năng nhằm thỏa mãn đa dạng nhu cầu của khách hàng mỗi khi tới TTTM dường như bị bỏ ngỏ Hơn nữa, cảm xúc của khách hàng phụ thuộc vào cảm nhận của họ mỗi khi tiếp xúc với những yếu tố thuộc TTTM Vì vậy, mô hình TTTM hiện đại và phù hợp với thị hiếu NTD Việt, cung cấp TNMSGT cho khách hàng trở nên cấp thiết đối với nhà quản lý TTTM Xuất phát từ

lý luận và sự cấp thiết của thực tiễn trên, NCS lựa chọn nghiên cứu riêng biệt những yếu tố thuộc TTTM ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng Từ đó loại bỏ những yếu tố thuộc TTTM không phù hợp và bổ sung những yếu tố phù hợp với dữ liệu thị

Trang 4

trường Đồng thời, kết quả tổng quan cho thấy TNMSGT của khách hàng được đo

lường ở góc độ cảm xúc, tuy nhiên khi xem xét ở góc độ kết quả, khách hàng đạt

được tính giải trí trong quá trình mua sắm họ thường lưu lại lâu hơn, chi tiêu nhiều

hơn và mua sắm ngẫu hứng Vì vậy, trong nghiên cứu này, NCS mong muốn phát

triển thang đo TNMSGT dưới góc độ hành vi với mong muốn đóng góp thêm lý

thuyết mới vào kho tài liệu nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về lĩnh vực này

2.3 Khung nghiên cứu

2.3.1 Mô hình nghiên cứu dự kiến

Với xu hướng tiêu dùng “n trong 1”, TTTM đã trở thành điểm đến lý tưởng

cho NTD Việt Nam, họ có thể mua sắm những nhu yếu phẩm hàng ngày cho đến

những mặt hàng thời trang cũng như các dịch vụ vui chơi giải trí, ẩm thực, giáo

dục,… cho tất cả các thành viên trong gia đình Điều này cho thấy 7 thuộc tính

TTTM ban đầu của Sit và cộng sự (2003) tương đối đầy đủ và phù hợp với những

thuộc tính TTTM của Việt Nam hiện nay Do đó, NCS kế thừa mô hình nghiên cứu

của Sit và cộng sự (2003) để xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu của luận án

Mô hình nghiên cứu ban đầu của luận án được mô tả như sau:

Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu ban đầu

Nguồn: NCS đề xuất

2.3.2 Thang đo nghiên cứu nháp 1

Bảng 2.1: Tổng hợp khái niệm và thang đo những yếu tố hình ảnh

trung tâm thương mại của Sit và cộng sự (2003)

Hàng hóa (Merchandising)

Hàng hóa là thuộc tính cốt lõi của

Hàng hóa có thương hiệu Cửa hàng có bán những thương hiệu tôi

Hàng hóa

An toàn

Khả năng tiếp cận

Không gian mua sắm

Dịch vụ

Ẩm thực

Giải trí

Trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí

TTTM, được mô tả bởi sự đa dạng của hàng hóa, sự hiện diện của hàng hóa có thương hiệu và những thương hiệu được yêu thích

yêu thích

Đa dạng hàng hóa

Khả năng tiếp cận (Accessibility)

Khả năng tiếp cận TTTM được mô tả gồm khả năng tiếp cận vi mô và khả năng tiếp cận vĩ mô Khả năng tiếp cận vi mô đề cập đến bãi đỗ xe, khả năng di chuyển dễ dàng trong TTTM

Khả năng tiếp cận vĩ mô đề cập đến điều kiện di chuyển tới TTTM

Gần nhà Đường đi lại dễ dàng Bãi đỗ xe có đủ chỗ

Dễ dàng tìm thấy lối ra vào TTTM

Dễ dàng đi vòng quanh TTTM Thời gian mở cửa thích hợp với tôi

Không gian mua sắm (Atmospherics)

Không gian mua sắm của TTTM được mô tả bởi chất lượng bầu không khí của TTTM như âm nhạc, ánh sáng, nhiệt độ cùng với trang trí và màu sắc của TTTM

Nhạc nền dễ chịu Màu sắc thời trang Trang trí hiện đại Ánh sáng đầy đủ

Có điều hòa nhiệt độ

Dịch vụ (Service)

Dịch vụ trong TTTM được đề cập đến gồm dịch vụ dành cho cá nhân khách hàng và các dịch vụ chung Trong đó dịch vụ dành cho cá nhân khách hàng được giới hạn bởi hành vi của nhân viên thông qua biểu hiện về thái

độ và kiến thức của nhân viên Dịch

vụ chung cung cấp các tiện ích liên quan đến tình trạng di chuyển nhanh chóng trong TTTM và khu vực nhà vệ sinh của TTTM Cả hai loại dịch vụ này được gọi là dịch vụ bổ sung cho việc bán hàng (sản phẩm chính) của TTTM

Sự hỗ trợ nhiệt tình của nhân viên tại quầy thông tin

Thái độ lịch sự của nhân viên tại quầy thông tin

Đáp ứng dịch vụ nhanh chóng tại quầy thông tin

Sự hiểu biết của nhân viên tại quầy thông tin Đồng phục gọn gàng của nhân viên tại quầy thông tin

Sự giúp đỡ của bộ phận quản lý TTTM Thái độ tích cực của bộ phận quản lý TTTM Thang cuốn đầy đủ

Thang máy đầy đủ

Có biển thông tin chỉ dẫn

Có tờ rơi về trung tâm Nhà vệ sinh sạch sẽ

Trang 5

Yếu tố Thang đo

Nhà vệ sinh dễ tìm Nhà vệ sinh có vị trí thuận tiện

Vệ sinh tổng thể của TTTM

Ẩm thực (Food)

Ẩm thực là một thuộc tính giải trí của

TTTM, chúng cung cấp thời gian

nghỉ ngơi cần thiết trong thời gian

mua sắm hoặc khi kết thúc hoạt động

mua sắm của khách hàng, chúng

được đại diện bởi khu ẩm thực

Khu ẩm thực

Giải trí (Entertainment)

Giải trí được đánh giá là một thuộc

tính đặc thù của TTTM trong việc tạo

ra môi trường giải trí trong TTTM từ

đó dẫn đến TNMS vui vẻ và thú vị,

thuộc tính giải trí của TTTM bao

gồm sự kiện giải trí và khu vui chơi

giải trí

Khu vui chơi giải trí riêng biệt (rạp chiếu phim, khu vui chơi)

Nhiều loại hình giải trí theo mùa (biểu diễn)

An toàn (Security)

An toàn được khái quát bởi sự an

toàn của bản thân khách hàng khi tới

TTTM như an toàn trong khu vực gửi

xe, nhà vệ sinh, trong TTTM hay sự

an toàn của hệ thống thang máy,

thang cuốn và sự hiện diện của nhân

viên bảo vệ

Xe tôi an toàn trong bãi đậu xe

An toàn của bản thân trong khu vực gửi

xe

An toàn của bản thân trong TTTM

An toàn của thang cuốn

An toàn của thang máy

Có nhân viên bảo vệ làm nhiệm vụ

An toàn của bản thân trong nhà vệ sinh

Nguồn: Sit và cộng sự (2003)

Bảng 2.2: Thang đo trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí

Thoải mái

Lê Văn Huy (2011)

Vui vẻ

Căng thẳng

Thư giãn

Giải trí

Nguồn: Lê Văn Huy (2011)

2.3.3 Giả thuyết nghiên cứu dự kiến

H 1 : Hàng hóa có ảnh hưởng tích cực đến TNMSGT của khách hàng

H 2 : Khả năng tiếp cận có ảnh hưởng tích cực đến TNMSGT của khách hàng

H 3 : Không gian mua sắm có ảnh hưởng tích cực đến TNMSGT của khách hàng

H 4 : Dịch vụ có ảnh hưởng tích cực đến TNMSGT của khách hàng

H 5 : Ẩm thực có ảnh hưởng tích cực đến TNMSGT của khách hàng

H 6 : Giải trí có ảnh hưởng tích cực đến TNMSGT của khách hàng

H 7 : An toàn có ảnh hưởng tích cực đến TNMSGT của khách hàng

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Theo tổng hợp của NCS đến tháng 12/2017, trên địa bàn thành phố Hà Nội có

18 TTTM (phụ lục 3A) đạt quy mô theo Quy chế siêu thị, TTTM ban hành kèm theo Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24 tháng 09 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), trong đó có 3 TTTM hạng I, 6 TTTM hạng II

và 9 TTTM hạng III

Đặc điểm những TTTM hạng I:

Hạng I có 3 TTTM, gồm 2 TTTM (Vicom Mega Mall- Times City và Vincom Mega Mall- Royal City) của tập đoàn Vingroup và Aeon Mall Long Biên của tập đoàn bán lẻ Aeon Nhật Bản

Đặc điểm những TTTM hạng II:

Hạng II có 6 TTTM, trong đó có 3 TTTM thuộc tập đoàn Vingroup (Vincom

Bà Triệu, Vincom Center Nguyễn Chí Thanh, Vincom Plaza Long Biên) và 3 TTTM khác là: Mipec center Tây Sơn; Savico Mega Mall Long Biên; Lotte Shopping Center

Đặc điểm những TTTM hạng III:

Hạng III gồm 9 TTTM: Ruby Plaza, Artemis, Vincom Center Phạm Ngọc Thạch; Mipec Center Long Biên; Tràng Tiền Plaza Shopping Center; Big C Thăng Long; IPH Shopping Center- Xuân Thủy; Vincom Plaza Bắc Từ Liêm; The Garden Shopping Center- Mễ Trì Xét theo vị trí, 9 TTTM này đều tọa lạc tại các quận khác nhau của Hà Nội và có giao thông thuận tiện

3.2 Thiết kế nghiên cứu

3.2.1 Quy trình nghiên cứu

Trang 6

Quy trình nghiên cứu được thiết kế theo 4 bước: thứ nhất là nghiên cứu tài liệu,

thứ hai là nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm), thứ ba là

nghiên cứu định lượng sơ bộ và thứ tư là nghiên cứu định lượng chính thức

3.2.2 Dữ liệu, phương pháp thu thập dữ liệu và công cụ phân tích dữ liệu

Trong luận án này NCS sử dụng hai loại dữ liệu: thứ cấp và sơ cấp

Dữ liệu thứ cấp là các công trình khoa học đã công cố có liên quan đến lĩnh

vực nghiên cứu của luận án và các thông tin về thị trường nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp là những thông tin mới được thu thập lần đầu tiên để phục vụ

cho nghiên cứu, cụ thể là đặc điểm TTTM và ý kiến, quan điểm của các đối tượng

khảo sát về TNMSGT của khách hàng tại TTTM

Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:

Đối với các công trình khoa học đã công bố: NCS tra cứu theo từ khóa thông

qua các trang tìm kiếm như google, google Schoolar, Siencedirect, Proquest,

Emerald,

Đối với dữ liệu về thị trường: NCS tìm kiếm từ niêm giám thống kê, tạp chí

chuyên ngành, thông tin từ các công ty nghiên cứu thị trường, báo cáo nội bộ của các

TTTM

Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:

Để thu thập dữ liệu sơ cấp: kỹ thuật quan sát được áp dụng đối với TTTM; kỹ

thuật phỏng vấn sâu cá nhân, thảo luận nhóm, phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu khảo

sát tại TTTM và phỏng vấn gián tiếp qua internet bằng công cụ google + được sử

dụng trong nghiên cứu định tính và định lượng nhằm thu thập ý kiến, quan điểm của

các chuyên gia, các nhà quản lý, chủ gian hàng, nhân viên của TTTM và khách hàng

mua sắm tại TTTM

Công cụ phân tích dữ liệu:

Đối với dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phiếu khảo sát, NCS sử dụng phần

mềm SPSS V.22 để phân tích

3.3 Nghiên cứu định tính

3.3.1 Thiết kế nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính: là bước nghiên cứu quan trọng tiếp theo trong quá trình

nghiên cứu nhằm phát hiện những yếu tố thuộc TTTM phù hợp với bối cảnh nghiên

cứu tại thị trường Việt Nam Đồng thời điều chỉnh, bổ sung thang đo những yếu tố

cho phù hợp với thị trường Việt Nam Kết quả nghiên cứu định tính là xây dựng mô

hình nghiên cứu và xác định thang đo nháp 2 cho luận án

Phương pháp thu thập dữ liệu và chọn mẫu trong nghiên cứu định tính

Trong nghiên cứu này kỹ thuật quan sát, kỹ thuật phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm được sử dụng nhằm thu thập dữ liệu cho nghiên cứu định tính

Mô tả mẫu nghiên cứu

Phỏng vấn sâu cá nhân được thực hiện với: 06 chuyên gia (03 chuyên gia marketing ở lĩnh vực đào tạo, 03 chuyên gia trong lĩnh vực bán lẻ); 10 đối tượng khác nhau làm việc tại TTTM (quản lý của TTTM, chủ gian hàng và nhân viên của TTTM) Đặc điểm nhân khẩu học của các đối tượng khảo sát được mô tả trong phụ lục 1B

Thảo luận nhóm được thực hiện với 2 nhóm khách hàng thường xuyên của TTTM Cụ thể: một, nhóm khách hàng là nhân viên văn phòng/công sở (gồm 8 người), gồm cả nam và nữ, độ tuổi từ 25- 40, với đặc điểm chung thích mua sắm tại TTTM, có sức mua tốt Hai, nhóm khách hàng là sinh viên (gồm 8 người)

3.3.2 Kết quả nghiên cứu định tính

Kết quả quan sát trung tâm thương mại

Về TTTM: Kết quả quan sát 18 TTTM cho thấy các TTTM này đều hội tụ những yếu tố cần thiết nhằm thỏa mãn “n trong 1” nhu cầu của khách hàng

Về khách hàng: tương đối đa dạng, từ học sinh, sinh viên đến những người đi làm, hưu trí Họ đến để mua sắm, đi siêu thị, đi dạo chơi, săn hàng giảm giá, tham dự

sự kiện, ăn uống, sử dụng các dịch vụ giải trí như xem phim, chơi games,… Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm về những yếu tố thuộc TTTM đã phát hiện 8 thuộc tính thuộc TTTM (Hàng hóa; Không gian mua sắm; Khả năng tiếp cận; Dịch vụ cá nhân; Tiện ích; Ẩm thực; Giải trí; An toàn) được đánh giá là có ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng

Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cho thấy TNMSGT đều được hiểu đúng nghĩa đồng thời TNMSGT của khách hàng không chỉ được xem xét ở góc độ cảm xúc mà cần xem xét ở góc độ hành vi Do đó, NCS bổ sung thêm thang đo hành

vi vào mô hình nghiên cứu để đo lường TNMSGT của khách hàng tại TTTM

Kết quả thảo luận cho thấy có 2 quan điểm về mua sắm được hình thành, một

là quan điểm coi mua sắm là một loại hình giải trí, hai là quan điểm coi mua sắm như

là công việc bắt buộc hoàn thành

Mô hình nghiên cứu chính thức và giả thuyết nghiên cứu

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu định tính, mô hình những yếu tố thuộc TTTM ảnh hưởng đến TNMSGT của khách hàng được mô tả như hình 3.2

Trang 7

Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu chính thức của luận án

Nguồn: NCS đề xuất

Đồng thời giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

Bảng 3.1: Giả thuyết nghiên cứu chính thức

Thang đo “Cảm xúc” Thang đo “Hành vi”

H 1a : Hàng hóa có ảnh hưởng tích cực

đến cảm xúc của khách hàng

H 1b : Hàng hóa có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 2a : Không gian mua sắm có ảnh

hưởng tích cực đến cảm xúc của khách

hàng

H 2b : Không gian mua sắm có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 3a : Khả năng tiếp cận có ảnh hưởng

tích cực đến cảm xúc của khách hàng

H 3b : Khả năng tiếp cận có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 4a : Dịch vụ cá nhân có ảnh hưởng

tích cực đến cảm xúc của khách hàng

H 4b : Dịch vụ cá nhân có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 5a : Tiện ích có ảnh hưởng tích cực

đến cảm xúc của khách hàng

H 5b : Tiện ích có ảnh hưởng tích cực hành vi của khách hàng

H 6a : Ẩm thực có ảnh hưởng tích cực

đến cảm xúc của khách hàng

H 6b : Ẩm thực có ảnh hưởng tích cực hành vi của khách hàng

H 7a : Giải trí có ảnh hưởng tích cực

đến cảm xúc của khách hàng

H 7b : Giải trí có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 8a : An toàn có ảnh hưởng tích cực

đến cảm xúc của khách hàng

H 8b : An toàn có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

Nguồn: NCS đề xuất

Hàng hóa

Không gian mua sắm

An toàn

Khả năng tiếp cận

Dịch vụ cá nhân

Tiện ích

Ẩm thực

Giải trí

Trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí

- Cảm xúc

- Hành vi

3.4 Nghiên cứu định lượng

3.4.1 Thiết kế nghiên cứu định lượng

Quy trình chọn mẫu trong nghiên cứu định lượng

Hình 3.2: Quy trình chọn mẫu trong nghiên cứu định lượng

Nguồn: NCS tự xây dựng Thiết kế bảng hỏi

Nội dung bảng hỏi được thiết kế trên cơ sở kết quả nghiên cứu định tính Kết cấu bảng hỏi trong cả hai giai đoạn sơ bộ và chính thức gồm các nội dung chính: (i) Hành vi của khách hàng khi mua sắm tại TTTM, (ii) Nhận định của khách hàng về những yếu tố ảnh hưởng đến TNMSGT của KH; (iii) Cảm nhận TNMSGT của khách hàng; (iv) Thông tin cá nhân

Bảng hỏi được xây dựng dựa trên thang đo Likert với 5 mức, mức 1- Rất không đồng ý; mức 2- Không đồng ý; mức 3- Bình thường; mức 4- Đồng ý; mức 5- Rất đồng

ý

Phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu định lượng

Trong nghiên cứu này, NCS sử dụng hai phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

cho nghiên cứu định lượng đối với cả hai giai đoạn sơ bộ và chính thức, một là thu thập trực tiếp tại điểm (tại TTTM) thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi, hai

là thu thập gián tiếp qua internet Thời gian thực hiện khảo sát sơ bộ là tháng 4/2017

và chính thức là tháng 5, 6/2017

Phân tích dữ liệu trong nghiên cứu định lượng

Dữ liệu trong nghiên cứu này được phân tích bằng phần mềm SPSS Trình tự phân tích dữ liệu được thực hiện tương ứng với từng giai đoạn nghiên cứu: sơ bộ và chính thức

Giai đoạn nghiên cứu định lượng sơ bộ chỉ thực hiện phân tích hệ số Cronbach’s alpha để đánh giá độ tin cậy của thang đo Giai đoạn chính thức được thực hiện nhằm kiểm định mô hình và giả thuyết thống kê, dữ liệu được phân tích theo trình tự như sau: Phân tích thống kê mô tả; Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha; Phân tích nhân tố EFA; Phân tích thống kê suy diễn, luận án sử dụng kiểm định sự khác biệt và kiểm định mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc; phân tích hồi quy tuyến tính bội

Xác định tổng thể nghiên cứu

Xác định khung mẫu

Xác định kích thước mẫu

Xác định phương pháp chọn mẫu

Tiến hành chọn mẫu

Trang 8

3.4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ

Thang đo được điều chỉnh sau nghiên cứu định tính được đưa vào bảng hỏi

phục vụ cho nghiên cứu sơ bộ định lượng Thông qua việc phân tích hệ số

Cronbach’s Alpha, các thang đo sẽ được đánh giá mức độ tin cậy Kết quả phân

tích cho thấy các biến thành phần của các biến tổng (Hàng hóa, Không gian mua

sắm, Khả năng tiếp cận, Dịch vụ cá nhân, Tiện ích, Ẩm thực, Giải trí, An toàn)

đều có hệ số tương quan biến tổng đều > 0.3 và hệ số conbach alpha nếu loại biến

đều > 0.6 Như vậy, các thang đo đều đạt độ tin cậy Kết quả nghiên cứu định

lượng chính thức được trình bày trong chương 4

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Để đạt được kích thước mẫu mong muốn là 500 quan sát, NCS thực hiện thu

thập dữ liệu bằng cách 2 cách, một là điều tra trực tiếp tại 18 TTTM ở Hà Nội, hai là

khảo sát gián tiếp qua internet Kết quả điều tra đã thu thập được dữ liệu chính thức

của 495 đáp viên, trong đó thu thập tại TTTM đạt 381 đáp viên và qua internet là 114

đáp viên Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng khảo sát (phụ lục 5) được mô tả

trong bảng 4.1 như sau:

Bảng 4.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng khảo sát

Giới

tính

Tình

trạng hôn

nhân

Trình

độ học

vấn

nghiệp Nhân viên văn phòng (Doanh nghiệp) 114 23.03%

Công nhân trực tiếp sản xuất (Doanh nghiệp) 85 17.17% Công chức/viên chức (Hành chính sự nghiệp) 81 16.36%

Thu nhập

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu SPSS của NCS

4.2 Kết quả đánh giá thang đo chính thức

4.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo (phân tích Cronbach’ Alpha)

Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo 7 biến độc lập, có 2 biến quan sát bị loại là KN5 và KN6 (thuộc biến Khả năng tiếp cận)

Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo biến phụ thuộc, có 1 biến quan sát bị loại là CX5 (thuộc biến phụ thuộc Cảm xúc)

4.2.3 Đánh giá giá trị thang đo (phân tích EFA)

Kết quả đánh giá giá trị thang đo biến độc lập

Kết quả phân tích nhân tố EFA những yếu tố thuộc TTTM cho thấy 7 nhân tố được rút trích với tổng phương sai trích là: 70,767 phản ánh phân tích nhân tố giải thích được 70,767% Mặt khác khi xem xét ma trận xoay các biến quan sát có hệ số tải nhỏ hơn 0,5 và hội tụ về nhiều nhân tố, do đó theo nguyên tắc kiểm định EFA thì

sẽ loại các biến này, chỉ các biến quan sát chỉ hội tụ về một nhân tố có hệ số tải lớn hơn 0,5 sẽ được giữ lại

Nhân tố 1: Kết quả phân tích nhân tố EFA (phụ lục 8A) cho thấy có 8 biến

quan sát cùng tải về nhân tố 1 là HH1, HH2, HH3, HH4, HH5, HH6, HH8, HH9 Biến quan sát HH7 hội tụ về nhân tố thứ bảy Xét về mặt nội dung cho thấy 8 biến này vẫn mô tả về hàng hóa của TTTM, vì vậy nhân tố thứ nhất sẽ gồm 8 biến quan

sát và vẫn được giữ nguyên tên gọi là “Hàng hóa”

Nhân tố 2: Kết quả phụ lục 8A chỉ ra 7 biến quan sát cùng tải về nhân tố 2,

gồm: 04 biến quan sát DV1, DV2, DV3, DV4 của yếu tố “Dịch vụ khách hàng”;

01 biến quan sát HH7 của yếu tố “Hàng hóa”; 01 biến quan sát TI9 của yếu tố

“Tiện ích” và 01 biến quan sát GT4 của yếu tố “Giải trí” Xét về mặt nội dung có

Trang 9

thể thấy các biến quan sát này phản ánh cách thức vận hành của TTTM Như vậy,

nhân tố 2 gồm có 7 biến quan sát phản ánh cách thức vận hành của TTTM và

được đặt tên là “Vận hành”

Nhân tố 3: Phụ lục 8A cho thấy có 8 biến quan sát cùng tải về nhân tố 3 là TI1,

TI2, TI3, TI4, TI5, TI6, TI7, TI8 (TI9 hội tụ về nhân tố thứ bảy) Xét về mặt nội

dung, 8 biến này vẫn mô tả về những tiện ích chung mà TTTM cung cấp cho khách

hàng trong quá trình mua sắm tại TTTM Như vậy, nhân tố 3 gồm 8 biến quan sát và

được giữ nguyên tên thang đo ban đầu là “Tiện ích”

Nhân tố 4: Có 6 biến quan sát cùng tải về nhân tố 4 là AT1, AT2, AT3, GT1,

GT2, GT3 Trong đó có 3 biến quan sát thuộc thang đo ẩm thực là AT1, AT2, AT3 và

3 biến còn lại của thang đo giải trí là GT1, GT2, GT3 (GT4 hội tụ về nhân tố thứ

bảy) Ba biến quan sát của thang đo gốc Ẩm thực hội tụ cùng với 3 biến quan sát của

hoạt động Giải trí, điều này có thể hiểu ở góc độ thị trường là các loại hình ăn uống

và vui chơi giải trí đều phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn dành cho khách hàng Vì

vậy, nhân tố 4 gồm 6 biến quan sát và được đặt tên là Ẩm thực và Giải trí

Nhân tố 5: Quan sát phụ lục 8A cho thấy có 6 biến quan sát cùng tải về nhân tố

2 là KG1, KG2, KG3, KG4, KG5, KG6 Như vậy thang đo “Không gian mua sắm”

không có gì thay đổi

Nhân tố 6: Được hội tụ bởi 4 biến quan sát: KN1, KN2, KN3, KN4, đây là bốn

biến quan sát của thang đo “Khả năng tiếp cận” Xét về mặt nội dung có thể thấy 4

biến quan sát này đều phản ánh vị trí của TTTM, vì vậy nhân tố 6 gồm 4 biến quan

sát và được đặt tên là “Vị trí”

Nhân tố 7: Là sự hội tụ của 4 biến quan sát: AN1, AN2, AN3, AN4 Xét về

mặt nội dung cho thấy 4 biến này vẫn phản ánh vấn đề an toàn của khách hàng khi ở

TTTM, vì vậy nhân tố 7 gồm 4 biến quan sát và vẫn được giữ nguyên tên gọi là An

toàn

Kết quả đánh giá giá trị thang đo biến phụ thuộc

Kết quả phân tích nhân tố EFA cho TNMSGT của khách hàng cho thấy 2 nhân

tố được rút trích với tổng phương sai trích là: 63,045 phản ánh phân tích nhân tố giải

thích được 63,045% Mặt khác, kết quả ma trận xoay (phụ lục 8B) cho thấy các biến

quan sát của hai nhân tố này đều có hệ số tải lớn hơn 0,5, do đó các biến quan sát đều

được giữ lại

Nhân tố 1: Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thấy có 5 biến quan sát cùng tải

về nhân tố 1 là CX1, CX2, CX3, CX4, CX6 Xét về mặt nội dung cho thấy 5 biến này

vẫn phản ánh cảm xúc của khách hàng khi tới TTTM, vì vậy nhân tố thứ nhất sẽ gồm

5 biến quan sát và vẫn được giữ nguyên tên gọi là “Cảm xúc”

Nhân tố 2: Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thấy có 3 biến quan sát cùng tải

về nhân tố 2 là HV1, HV2, HV3 Như vậy nhân tố 2 sẽ gồm 3 biến quan sát của thang

đo gốc hành vi, do đó vẫn được giữ nguyên tên gọi là “Hành vi”

Từ kết quả phân tích EFA, mô hình nghiên cứu được điều chỉnh lại như sau

Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu chính thức của luận án

Nguồn: NCS đề xuất

Giả thuyết nghiên cứu được đề xuất trong bảng 4.5 như sau:

Bảng 4.2: Giả thuyết nghiên cứu chính thức Thang đo “Cảm xúc” Thang đo “Hành vi”

H 1a : Hàng hóa có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc của khách hàng

H 1b : Hàng hóa có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 2a : Không gian mua sắm có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc của khách hàng

H 2b : Không gian mua sắm có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 3a : Vị trí có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc của khách hàng

H 3b : Vị trí có ảnh hưởng tích cực hành

vi của khách hàng

H 4a : Tiện ích có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc của khách hàng

H 4b : Tiện ích có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 5a : Ẩm thực và Giải trí có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc của khách hàng

H 5b : Ẩm thực và Giải trí có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 6a : An toàn có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc của khách hàng

H 6b : An toàn có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

H 7a : Vận hành có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc của khách hàng

H 7b : Vận hành có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của khách hàng

Nguồn: NCS đề xuất

Hàng hóa Không gian mua sắm

Vị trí Tiện ích

Ẩm thực và Giải trí

An toàn Vận hành

Trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí

- Cảm xúc

- Hành vi

Trang 10

4.2.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo sau phân tích EFA (Cronbach’ Alpha)

Sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA, có 43 biến quan sát của 7 thang đo biến

độc lập được mã hóa lại được đem vào phân tích Cronbach’s Alpha Kết quả đánh giá độ

tin cậy của thang đo biến độc lập chính thức (phụ lục 9) được khái quát như sau các biến

thành phần có hệ số tương quan biến tổng đều > 0,3 và hệ số conbach alpha nếu loại

biến đều > 0,6, vì vậy các thang đo đạt độ tin cậy để thực hiện các phân tích tiếp theo

Tương tự như vậy, 8 biến quan sát của 2 thang đo biến phụ thuộc được đem

vào phân tích Cronbach’s Alpha, kết quả phân tích cho thấy các biến thành phần có

hệ số tương quan biến tổng đều > 0,3 và hệ số conbach alpha nếu loại biến đều > 0,6,

vì vậy các thang đo đạt độ tin cậy để thực hiện các phân tích tiếp theo

4.2.4 Đánh giá giá trị trung bình của thang đo

Kết quả đánh giá giá trị trung bình của thang đo cho thấy thang đo 7 biến độc

lập và 2 biến phụ thuộc trong mô hình đủ điều kiện để thực hiện kiểm định và phân

tích tiếp theo

4.3 Phân tích mối quan hệ giữa những yếu tố thuộc trung tâm thương mại

với trải nghiệm mua sắm mang tính giải trí của khách hàng

4.3.1 Phân tích mối quan hệ giữa những yếu tố thuộc trung tâm thương mại

với cảm xúc của khách hàng

Kiểm định giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa những yếu tố thuộc

TTTM với cảm xúc của khách hàng

Kết quả phân tích cho thấy hệ số tương quan của những yếu tố thuộc TTTM

(Hàng hóa, Không gian mua sắm, Vị trí, Tiện ích, Ẩm thực và Giải trí, An toàn, Vận

hành) với cảm xúc khách hàng đều lớn hơn 0 phản ánh những yếu tố này có mối quan

hệ cùng chiều với cảm xúc của khách hàng Đồng thời mức ý nghĩa các kiểm định

đều nhỏ hơn 0.05 phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc TTTM với cảm xúc

H1a; H2a; H3a; H4a;H5a; H6a; H7a được chấp nhận trong nghiên cứu này

Phân tích mức độ ảnh hưởng của những yếu tố thuộc TTTM tới cảm xúc của

khách hàng

Để phân tích mức độ ảnh hưởng của những yếu tố thuộc TTTM đến TNMSGT

của khách hàng ở góc độ cảm xúc, NCS sử dụng mô hình phân tích hồi quy tuyến

tính bội với 7 biến độc lập (7 yếu tố) ảnh hưởng đến biến phụ thuộc là cảm xúc (gọi

là mô hình 1) Kết quả phân tích như sau:

R2 điều chỉnh của mô hình 1 với biến phụ thuộc là “cảm xúc” của khách hàng đạt

0,420, điều này chứng tỏ biến độc lập giải thích được 42% sự biến động của biến phụ

thuộc “cảm xúc” của khách hàng Mức ý nghĩa của kiểm định F nhỏ hơn 0,05 phản ánh

mô hình phân tích hồi quy là phù hợp Mức ý nghĩa của kiểm định t- kiểm định về hệ số

hồi quy và hệ số chặn của mô hình đều nhỏ hơn 0.05 phản ánh các hệ số chặn và hệ số hồi

quy của mô hình đều có ý nghĩa thống kê Giá trị VIF của các biến độc lập đều nhỏ hơn 10, phản ánh các biến độc lập có hiện tượng đa cộng tuyến nhưng ở mức độ được chấp nhận Mặt khác, cảm xúc của khách hàng về TNMSGT chịu ảnh hưởng bởi 7 yếu tố

là: Hàng hóa, Không gian mua sắm; Vị trí, Tiện ích, Ẩm thực và Giải trí, An toàn, Vận hành Trong đó, biến Hàng hóa là biến có ảnh hưởng mạnh nhất đến Cảm xúc

của khách hàng do có hệ số hồi quy bằng 0,321 Các biến độc lập khác có mức độ ảnh hưởng tiếp theo lần lượt là: Ẩm thực và Giải trí (hệ số hồi quy bằng 0,303); Không gian mua sắm (hệ số hồi quy bằng 0,283); Vị trí (hệ số hồi quy bằng 0,265); Quản lý (hệ số hồi quy bằng 0,219); Tiện ích (hệ số hồi quy bằng 0,202) và biến An toàn có ảnh hưởng yếu nhất (hệ số hồi quy bằng 0,114)

4.3.2 Phân tích mối quan hệ giữa những yếu tố thuộc trung tâm thương mại với hành vi của khách hàng

Kiểm định giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa những yếu tố TTTM với hành vi của khách hàng

Kết quả phân tích cho thấy hệ số tương quan của những yếu tố thuộc TTTM (Hàng hóa, Không gian mua sắm, Vị trí, Tiện ích, Ẩm thực và Giải trí, An toàn, Vận hành) với hành vi khách hàng đều lớn hơn 0 phản ánh những yếu tố này có mối quan

hệ cùng chiều với cảm xúc của khách hàng Đồng thời mức ý nghĩa các kiểm định đều nhỏ hơn 0,05 phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc TTTM với cảm xúc

H1b; H2b; H3b; H4b;H5b; H6b; H7b được chấp nhận trong nghiên cứu này

Phân tích mức độ tác động của những yếu tố thuộc TTTM tới hành vi của khác hàng

Để phân tích mức độ tác động của những yếu tố thuộc TTTM đến TNMSGT ở góc

độ hành vi, NCS sử dụng mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội với 7 biến độc lập (7 yếu tố) ảnh hưởng đến biến phụ thuộc là hành vi (gọi là mô hình 2) Kết quả phân tích như sau:

R2 điều chỉnh của mô hình 2 với biến phụ thuộc là “hành vi” của khách hàng đạt 0,482, điều này chứng tỏ biến độc lập giải thích được 48,2% sự biến động của biến phụ thuộc “hành vi” của khách hàng Mức ý nghĩa của kiểm định F nhỏ hơn 0,05 phản ánh mô hình phân tích hồi quy là phù hợp Mức ý nghĩa của kiểm định t – kiểm định về hệ số hồi quy và hệ số chặn của mô hình đều nhỏ hơn 0,05 phản ánh các hệ số chặn và hệ số hồi quy của mô hình đều có ý nghĩa thống kê Các giá trị VIF của các biến độc lập đều nhỏ hơn 10 phản ánh các biến độc lập có hiện tượng đa cộng tuyến nhưng ở mức độ được chấp nhận Mặt khác, kết quả nghiên cứu chỉ ra TNMSGT ở góc độ hành vi của khách

hàng chịu ảnh hưởng của 7 biến độc lập là: Hàng hóa, Không gian mua sắm; Vị trí, Tiện ích, Ẩm thực và Giải trí, An toàn, Vận hành Trong đó, biến Hàng hóa có ảnh

hưởng mạnh nhất đến hành vi do có hệ số hồi quy bằng 0,297 Những biến độc lập khác có mức độ ảnh hưởng tiếp theo lần lượt là: Vị trí (hệ số hồi quy bằng 0,281);

Ẩm thực và Giải trí (hệ số hồi quy bằng 0,244); Không gian mua sắm (hệ số hồi quy

Ngày đăng: 19/02/2020, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w