1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn các tỉnh khu vực duyên hải trung bộ

174 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể ra như các tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh trong quá trình phát triển gần đây bộc lộ rõ sự thiếu liên kết, khi Thanh Hóa và Hà Tĩnh dần bứt phá chứng tỏ quá trình tập trung

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

- -

PHẠM VIỆT BÌNH

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH

KHU VỰC DUYÊN HẢI TRUNG BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ HỌC

\

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

- -

PHẠM VIỆT BÌNH

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH

KHU VỰC DUYÊN HẢI TRUNG BỘ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này, này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận án

Phạm Việt Bình

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Hoàng Linh và GS.TS Nguyễn

Kế Tuấn vì những hướng dẫn, góp ý về mặt học thuật bên cạnh việc chia sẻ kinh nghiệm, tạo động lực cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện bài luận án Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Hồ Đình Bảo, những lời khuyên của thầy giúp tôi tự tin hơn bên cạnh việc hoàn thiện luận án đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng về mặt học thuật

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình: bố mẹ tôi - người luôn đứng sau, hỗ trợ về mặt tinh thần để tôi có được quyết tâm cao nhất trong quá trình học tập và trải nghiệm nghiên cứu khoa học; em trai tôi - người hỗ trợ tôi trong đời sống, giúp tôi có nhiều thời gian hơn để tập trung vào hoàn thiện bài nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời tri ân đến các đồng nghiệp của tôi tại Khoa Kinh tế & Quản

lý, Đoàn Thanh Niên, Trung tâm Hỗ trợ việc làm & Khởi nghiệp của trường Đại học Điện lực bên cạnh các thầy cô trong Khoa Kinh tế học và Viện Đào tạo Sau đại học của trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án

Xin chân thành và trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận án

Phạm Việt Bình

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 9

1.1 Các nghiên cứu về tác động của các nhân tố nguồn lực đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 9

1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 9

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 13

1.2 Các nghiên cứu về tác động của thể chế đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 14

1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước 14

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 15

1.3 Các nghiên cứu về tác động của liên kết vùng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 16

1.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước 16

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 19

1.4 Các nghiên cứu về tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng kinh tế 22

1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước 22

1.4.2 Các nghiên cứu trong nước 22

1.5 Kết luận rút ra từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 24

1.5.1 Kết luận rút ra 24

1.5.2 Hướng nghiên cứu trọng tâm của luận án 25

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 27

2.1 Các khái niệm cơ bản 27

2.1.1 Cơ cấu ngành kinh tế 27

Trang 6

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 27

2.1.3 Các xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 30

2.2 Cơ sở lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 32

2.2.1 Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 33

2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh 41 2.3 Khung phân tích của nghiên cứu 52

2.4 Quy trình nghiên cứu chung 52

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI TRUNG BỘ 55

3.1 Khái quát về các tỉnh trong khu vực duyên hải Trung Bộ 55

3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tỉnh trong khu vực 55

3.1.2 Chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các tỉnh trong khu vực 56

3.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế các tỉnh duyên hải Trung Bộ 58

3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương giai đoạn 1995-2005 58

3.2.2 Chuyển dịch cơ cấu GDRP ngành kinh tế của các địa phương giai đoạn 2006-2017 60 3.2.3 Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế của các địa phương giai đoạn 2006-2017 64

3.2.4 Đánh giá chuyển dịch cơ cấu GDRP ngành kinh tế của các địa phương thông qua chỉ số chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 66

3.3 Đánh giá khái quát về thực trạng của liên kết vùng trong khu vực 67

3.3.1 Tình hình chung về liên kết vùng trong khu vực 67

3.3.2 Điển hình liên kết vùng Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam 68

3.4 Đánh giá khái quát về thể chế chính sách của các địa phương thông qua chỉ số PCI và các chỉ số thành phần 73

3.5 Đánh giá khái quát về các nhân tố nguồn lực của các địa phương trong khu vực 79

3.5.1 Thực trạng về vốn đầu tư trên địa bàn 79

3.5.2 Thực trạng về chất lượng lao động trên địa bàn 79

3.5.3 Thực trạng về quy mô nền kinh tế và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương 80

3.6 Đánh giá chung về thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương trong khu vực 81

CHƯƠNG 4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI TRUNG BỘ 82

Trang 7

4.1 Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế các tỉnh duyên hải Trung Bộ 82

4.1.1 Mô hình lý thuyết 82

4.1.2 Mô tả số liệu 87

4.1.3 Phương pháp ước lượng 92

4.1.4 Kết quả thực nghiệm 99

4.2 Đánh giá chung 117

CHƯƠNG 5 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CÁC NHÂN TỐ ĐỂ THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÁC TỈNH KHU VỰC DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG 120

5.1 Bối cảnh về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 120

5.1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước 120

5.1.2 Cơ hội và thách thức với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành các tỉnh trong khu vực 124

5.2 Định hướng hoàn thiện các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương trên địa bàn 125

5.3 Một số giải pháp đề xuất 127

5.3.1 Hoàn thiện thể chế 127

5.3.2 Phát triển các quan hệ liên kết nội vùng và liên vùng 128

5.3.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 130

5.3.4 Cải thiện chất lượng vốn đầu tư, đẩy mạnh xây dựng hạ tầng khoa học và công nghệ 131

5.3.5 Xây dựng nền tảng đáp ứng với nhu cầu của thời đại kinh tế số 132

5.4 Khuyến nghị về chính sách 133

KẾT LUẬN 137

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 139 TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BRICS Nhóm các quốc gia có nền kinh tế mới nổi

CDCCN Chuyển dịch cơ cấu ngành

CECODES Trung tâm bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học

Mặt trận tổ quốc Việt Nam

ICOR Hệ số phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư

NSLĐ Năng suất lao động

OLS Mô hình số liệu gộp

PAPI Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

R&D Nghiên cứu và phát triển

REM Mô hình tác động ngẫu nhiên

SSA Phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng

TCTK Tổng cục Thống kê

UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc

VCCI Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh một số đặc trưng cơ bản của học thuyết tân cố điển và kinh tế học

thể chế mới 48

Bảng 3.1 Cơ cấu GDRP ngành kinh tế của các địa phương giai đoạn 1995-2005 58

Bảng 3.2 Thời gian lưu trú của khách du lịch 71

Bảng 3.3 Các điểm tham quan có nhiều khách du lịch đến nhất trong khu vực 72

Bảng 3.4 Các sản phẩm du lịch chính ở cấp vùng được xác định tiên phong - thông qua sự thống nhất giữa các cơ quan quản lý và doanh nghiệp 72

Bảng 4.1 Tóm tắt các biến trong mô hình hồi quy đánh giá các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu GDP giữa ngành kinh tế 85

Bảng 4.2 Tóm tắt các biến trong mô hình hồi quy đánh giá các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế 86

Bảng 4.3: Năng suất lao động của các tỉnh trên địa bàn giai đoạn 2008-2017 89

Bảng 4.4 Quy trình lựa chọn mô hình 98

Bảng 4.5 Thống kê mô tả các biến trong mô hình (1) 99

Bảng 4.6 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình (1) 100

Bảng 4.7 Thống kê mô tả các biến thuộc chỉ số thành phần trong chỉ số PCI trong mô hình nghiên cứu 100

Bảng 4.8 Thống kê mô tả các biến trong mô hình (2) 101

Bảng 4.9 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình (2) 101

Bảng 4.10 Kết quả ước lượng thực nghiệm mô hình (1) 102

Bảng 4.11 Kết quả ước lượng thực nghiệm mô hình (2) 105

Bảng 4.12 Kết quả ước lượng thực nghiệm mô hình (1) 107

Bảng 4.13 Kết quả ước lượng thực nghiệm mô hình (1) với sự lựa chọn các chỉ số thành phần của chỉ số PCI 112

Bảng 4.14 Kết quả ước lượng thực nghiệm mô hình (2) 114

Bảng 5.1 Cơ cấu GDP theo ngành của Việt Nam giai đoạn 2000-2017 122

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình đàn ngỗng bay 37

Hình 2.2 Khung phân tích của luận án 52

Hình 2.3 Quy trình nghiên cứu của đề tài 54

Hình 3.1 Cơ cấu GRDP theo giá hiện hành phân theo ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn các địa phương, từ năm 2006 - 2017 60

Hình 3.2 Cơ cấu GRDP theo giá hiện hành phân theo ngành công nghiệp và xây dựng trên các địa phương, từ năm 2006 - 2017 62

Hình 3.3 Cơ cấu GRDP theo giá hiện hành phân theo ngành dịch vụ trên địa bàn các địa phương, từ năm 2006 - 2017 63

Hình 3.4 Cơ cấu lao động phân theo ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn các địa phương, từ năm 2006 - 2017 64

Hình 3.5 Cơ cấu lao động phân theo ngành công nghiệp và xây dựng trên địa bàn các địa phương, từ năm 2006 - 2017 65

Hình 3.6 Cơ cấu lao động phân theo ngành dịch vụ trên địa bàn các địa phương, từ năm 2006 - 2017 65

Hình 3.7 Chỉ số chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế các địa phương, từ năm 2006 - 2017 66

Hình 3.8 “Điểm số PCI” của các địa phương 74

Hình 3.9 Chỉ số Hỗ trợ doanh nghiệp 75

Hình 3.10 Chỉ số Chi phí không chính thức 75

Hình 3.11 Chỉ số Chi phí thời gian 76

Hình 3.12 Chỉ số gia nhập thị trường 76

Hình 3.13 Chỉ số Thiết chế pháp lý 77

Hình 3.14 Chỉ số Tiếp cận đất đai 77

Hình 3.15 Chỉ số Đào tạo lao động 78

Hình 3.16 Chỉ số Tính minh bạch 78

Hình 3.17 Chỉ số Tính năng động 78

Hình 4.1 Vốn đầu tư phân theo 3 thành phần kinh tế tại các tỉnh trên địa bàn 87

Hình 4.2 Vốn đầu tư vào khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo tại các tỉnh trên địa bàn 88

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một vấn đề kinh điển và đã có rất nhiều nghiên cứu về các vấn đề liên quan trên thế giới cũng như trong nước Thực tế vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại các nước đang phát triển như Việt Nam vẫn là chủ

đề đáng lưu tâm Công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước nói chung hay trên địa bàn các địa phương nói riêng vẫn đòi hỏi nội dung cốt lõi về việc các địa phương thực hiện quá trình chuyển dịch các ngành với cơ cấu có phù hợp hay không, gắn với khai thác lợi thế, thực hiện hiệu quả các nguồn vốn, bộ máy công quyền hoạt động minh bạch hay nâng cao trình độ khoa học công nghệ Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho tất cả các địa phương với ba miền được phân định Bắc - Trung - Nam cùng các đặc trưng khác nhau hiện tại không còn phù hợp Mặc dù đã có những bước chuyển biến trong quy hoạch, thu hút kêu gọi nhà đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu chuyển dịch ngành kinh tế phi nông nghiệp như Thanh Hóa, Hà Tĩnh hay Quảng Nam đã chuyển dịch tương đối hiệu quả sang ngành công nghiệp hay Quảng Bình, Đà Nẵng hoặc Khánh Hòa nhằm đẩy nhanh sự tăng trưởng tỷ trọng của ngành dịch vụ Tuy nhiên, các địa phương còn lại với cùng chung các đặc điểm về địa lý, văn hóa - xã hội lại chưa làm được điều tương tự

Khu vực duyên hải miền Trung bao gồm các tỉnh, thành phố đồng bằng nằm ở miền Trung Việt Nam, đặc điểm chung của các tỉnh, thành phố này đó là đều tiếp giáp với biển Bên cạnh đó, địa hình đồng bằng bị cắt xẻ bởi các nhánh núi ăn sát ra biển, ví

dụ như, dãy núi Hoành Sơn - đèo Ngang, dãy nũi Bạch Mã - đèo Hải Vân, dãy nũi Nam Bình Định - đèo Cả Do đó, địa hình của vùng đồng bằng này mang tính chất chân núi - ven biển Kinh tế biển từ xưa đến nay luôn được người dân ở dọc dài miền Trung tận dụng để nuôi sống bản thân hay sau này là phát triển kinh tế địa phương Ngoài ra, hạ tầng giao thông với sân bay, cảng biển trải dài đều đặn trên các tỉnh thành cũng là những

hỗ trợ đắc lực để khu vực nằm giữa đất nước này có thể mang đến một động lực phát triển mới, bắt nhịp với xu thế phát triển của hai đầu đất nước Khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế Chân Mây hay khu kinh tế Nhơn Hội đang được kỳ vọng trở thành những khu kinh tế trọng điểm, mang đến giá trị sản xuất cao Được thời tiết ủng hộ và sự hiện hữu của các đảo lớn nhỏ do sự hình thành trong quá khứ mang đến cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tiềm lực rõ ràng về phát triển du lịch, nổi bật trong số đó là Phong Nha - Kẻ Bàng, Đà Nẵng - Hội An, Vân Phong - Quy Nhơn - Nha Trang - Cam Ranh - Ninh Chữ - Mũi Né Hơn nữa, với hệ thống cảng nước sâu như Đà

Trang 12

Nẵng, Quy Nhơn hay cảng biển đang được quy hoạch xây dựng tại vịnh Vân Phong là đầu mối giao thông, trạm trung chuyển giúp kích thích sự phát triển công nghiệp trong toàn vùng Ngoài những điểm chung, sự khác biệt về khí hậu, thời tiết do cấu tạo địa chất, địa hình, vị trí với đường xích đạo, chí tuyến đã phân chia khu vực đồng bằng trải dài từ Bắc vào Nam của Việt Nam này thành hai vùng có phần riêng biệt, đó là Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ Không có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành dịch vụ như vùng Duyên hải phía Nam trong khu vực, khu vực Bắc Trung Bộ thời gian

về trước tập trung chủ yếu về ngành nông nghiệp, tốc độ phát triển không đồng đều cùng với sự trì trệ thấy rõ trong kết quả kinh tế xã hội đang đặt ra một dấu hỏi lớn về năng lực

tự thân phát triển của một vài tỉnh trong khu vực này Khu vực cửa ngõ vào miền Trung này đang cần một luồng gió mới trong quy hoạch hay cơ chế để có được sự trỗi dậy đúng như kỳ vọng về tiềm năng tại vùng đất chứng kiến nhiều dấu ấn lịch sử của đất nước

Tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại các địa phương bên cạnh những thành tựu của các địa phương cụ thể chưa đánh dấu được sức ảnh hưởng của việc liên kết các tỉnh/thành phố có địa giới hành chính cạnh nhau, mặt khác nhóm các địa phương trước năm 1990 cùng thuộc một địa phương có chung đặc điểm lịch sử và văn hóa - xã hội không có sự kết hợp hiệu quả nào nhằm thúc đẩy, hỗ trợ nhau trong việc định hướng phát triển các ngành kinh tế Có thể kể ra như các tỉnh Thanh Hóa - Nghệ

An - Hà Tĩnh trong quá trình phát triển gần đây bộc lộ rõ sự thiếu liên kết, khi Thanh Hóa và Hà Tĩnh dần bứt phá chứng tỏ quá trình tập trung phát triển ngành công nghiệp

rõ ràng của hai địa phương khi tỷ trọng GRDP ngành này đến năm 2017 là khoảng 40%, trong khi Nghệ An là địa phương có vị trí tiếp giáp thì vẫn chững lại khoảng 30% và dường như chưa xác định được cụ thể phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của bản thân địa phương Bên cạnh đó, trong việc tạo ra một cơ chế chung cho quy hoạch và phát triển, đó là khu vực các tỉnh Bắc Trung Bộ, cả ba tỉnh đều tự mình đưa

ra những quy hoạch giao thông phụ trợ cho phát triển công nghiệp của họ, ví dụ như sân bay và cảng biển Không có được tiếng nói chung về xây dựng cơ chế đồng bộ là lý giải cho thực tế này, xu hướng cạnh tranh trực tiếp với địa phương ngay kế bên vẫn đẩy các cụm khu công nghiệp không có được sự liên kết hỗ trợ nhau, ví dụ như ở đây là Nghi Sơn -Nam Cấm - Vũng Áng Khu vực trọng điểm kinh tế miền Trung theo cách phân định của Chính phủ tỏ ra cải thiện hơn với điển hình liên kết vùng du lịch giữa Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam, tuy nhiên những liên kết các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp vẫn cần được quan tâm và thực hiện hiệu quả trên bình diện toàn vùng

Các nhân tố truyền thống ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại địa phương có thể kể tên như nguồn lực về vồn, nguồn lực về lao động hay

Trang 13

trình độ khoa học và công nghệ Thực tế khu vực duyên hải Trung Bộ trong thời gian qua đã thu hút được những nguồn vốn tương đối lớn để xây dựng được nền tảng cơ bản

để phục vụ quá trình chuyển dịch sang các ngành công nghiệp, ví dụ như tập trung quy hoạch các khu công nghiệp tại các vị trí phù hợp, xây dựng hệ thống giao thông nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển cũng như vận tải của doanh nghiệp, có các chính sách phù hợp để ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm trên địa bàn Hay như đề cập đến khu vực dịch vụ, các địa phương cũng đã tận dụng nguồn lực về tài nguyên - thiên nhiên sẵn có để có quy hoạch cụ thể đồng bộ hỗ trợ dịch

vụ du lịch bên cạnh cung cấp nền tảng về hậu cần tương đối hiệu quả cho các ngành dịch vụ liên quan phát triển Tuy nhiên, vấn đề cần quan ngại đầu tiên là sự chênh lệch giữa các địa phương về thu hút các nguồn vốn bên cạnh tồn tại sự cạnh tranh để có được các nguồn lực đến từ các nguồn lực uy tín, thứ hai hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn chia theo các thành phần kinh tế là một vấn đề cần được đánh giá cụ thể nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế ngành, từ đó có được chiến lược đúng đắn để có được các chỉ tiêu phát triển kinh tế ổn định, bền vững Ngoài ra, đề cập đến nguồn lực về lao động, các địa phương trên toàn khu vực dường như vẫn chưa tạo được cơ chế phù hợp

để đào tạo nguồn lực từ các ngành có năng suất thấp như nông nghiệp để tham gia vào các chuỗi sản xuất giá trị cao hay có được vị trí phù hợp với bộ phận trong ngành có thu nhập hấp dẫn như dịch vụ Bên cạnh đó, việc thu hút hay giữ chân nguồn lực lao động lao động chất lượng cao cũng là một vấn đề cần quan tâm nữa trong chính sách cụ thể của từng địa phương, dựa trên đặc điểm và điều kiện nội tại của quy mô tỉnh/thành phố Nhắc đến trình độ và nền tảng khoa học - công nghệ, các quốc gia tại châu Á đạt được các thành tựu vượt bậc trong phát triển các ngành công nghiệp nặng như Hàn Quốc trong việc chế tạo máy móc, công nghiệp ô-tô hay Xinh-ga-po trong việc phát triển ngành dịch

vụ hiện đại là tập trung vào nghiên cứu, có chính sách hỗ trợ phù hợp, tập trung chuyển giao, từ đó sở hữu các công nghệ mới nhất bên cạnh quy hoạch cho các địa phương hay khu vực phù hợp với điều kiện tự nhiên để tạo động lực cho kinh tế vùng hay địa bàn

Đề cập đến một nhân tố dần thể hiện vai trò quan trọng trong tái cơ cấu nền kinh

tế trong thời gian gần đây đó là thể chế Nhân tố này được đề cập trong nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như gần đây tại Việt Nam nhờ sự xuất hiện của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ năm 2007 Các địa phương tại Việt Nam nói chung hay các tỉnh duyên hải Trung Bộ từ đây cũng đã có được chỉ báo nhằm cải thiện các bộ phận liên quan nhằm đạt được các đánh giá tích cực hơn, từ đó cải thiện rõ rệt về cung cách điều hành cũng như thực hiện hiệu quả về thủ tục, chính sách về các mặt để đạt được chuyển biến trong bộ máy, thu hút được các nguồn lực về cả vốn, lao động hay cách nhìn nhận

Trang 14

để chuyển hướng kinh tế linh động, tương thích với bối cảnh của quốc tế, quốc gia hay liên kết các địa phương trong vùng

Nghiên cứu đi trước như của Nguyễn Thị Minh (2009) hay Nguyễn Thị Cẩm Vân (2015) đánh giá ảnh hưởng của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới tăng trưởng kinh tế tại các địa phương tại Việt Nam hay Vũ Thị Thu Hương (2017) đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến quá trình chuyển dịch lao động giữa các ngành tại các địa phương tại Việt Nam trong các giai đoạn khác nhau Như vậy, chưa nghiên cứu nào tập trung đi sâu vấn đề với khu vực được coi là chưa đạt được hiệu quả chuyển dịch ngành kinh tế đúng như kỳ vọng của Chính phủ Với nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch ngành kinh tế về tỷ trọng GDP và cả tỷ trọng lao động bên cạnh kiểm định ảnh hưởng của quá trình này đến tăng trưởng kinh tế tại các địa phương khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam Bối cảnh chung của sự phát triển kinh tế của đất nước đặt ra cho khu vực giàu tiềm năng này những vấn đề cần giải quyết Việc giải quyết được những khó khăn nội tại và tận dụng được những lợi thế sẽ đem đến những cơ hội mới cho phát triển kinh tế - xã hội nhìn chung của các địa phương trong toàn vùng, cụ thể bằng phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ đưa

ra những giải đáp chính xác dựa trên các luận cứ khoa học về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương trong vùng, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch đúng hướng, vững vàng đóng góp vào sự cân bằng trong phát triển kinh tế - xã hội của khu vực so sánh với miền Bắc và miền Nam của quốc gia

2 Câu hỏi và mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án:

- Luận án phân tích, đánh giá các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn các tỉnh trong vùng duyên hải Trung bộ Từ đó, đề xuất các phương hướng, giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn các tỉnh trong vùng theo yêu cầu bền vững và hiệu quả

Từ những nội dung được đề cập ở trên, nghiên cứu đặt ra các câu hỏi nhằm giải quyết vấn đề cụ thể như sau:

(i) Các nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn từ khu vực tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài có ảnh hưởng như thế nào đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế?

(ii) Số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động trong vùng có ảnh hưởng thế nào đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn các tỉnh trong vùng?

Trang 15

(iii) Việc hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư trong vùng nói chung

và ở mỗi địa phương trong vùng có ảnh hưởng thế nào đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn mỗi địa phương trong vùng?

(iv) Các địa phương gần nhau, có chung các đặc điểm về văn hóa và địa lý đã liên kết với nhau để tạo nên các động lực mới giúp cải thiện chất lượng tăng trưởng hay chưa, các liên kết này đang đóng góp ra sao vào chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế; các nhân tố ảnh

hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, sự dịch chuyển giữa các ngành cơ bản và các nhân tố tác động đến quá trình này trên địa bàn các tỉnh trong khu vực duyên hải Trung Bộ

Chủ trương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở các địa phương là khác nhau, phụ thuộc vào địa bàn, phụ thuộc vào thế mạnh của địa phương Điều này là không thể phủ nhận, tuy nhiên việc tạo ra một cơ chế liên kết giữa các địa phương trên vĩ mô được Chính phủ kỳ vọng để tạo ra sức bật cho dải đất nhiều tiềm năng mà vẫn chưa được khai thác triệt để này Cạnh tranh nội bộ vùng tương đối khốc liệt cho thấy chưa có một liên kết mạnh mẽ trong chủ trương chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương

Để có thể có kết quả tích cực hơn về thúc đẩy các ngành kinh tế phù hợp với từng khu vực, Chính phủ cũng như các địa phương trong nội bộ vùng cần lành mạnh hóa hơn chủ trương, từ đó xây dựng nên những cơ chế chung hiệu quả nhằm có được sự chuyển dịch đúng hướng với đặc điểm của từng khu vực cũng như tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành nhanh hơn

Tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp trung bình trên toàn vùng tính đến năm

2017 là 18,26% vẫn là một con số lớn dựa trên những kỳ vọng về chuyển dịch cơ cấu

mà Chính phủ đề ra đối với khu vực Việc thu hút và phân phối nguồn lực cũng như tạo những liên kết phát triển tích cực như Vĩnh Phúc - Hà Nội - Hưng Yên - Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh ở miền Bắc hay Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bình Dương - Bà Rịa-Vũng Tàu - Bình Phước - Tây Ninh là điều mà dải đất ven biển của 14 tỉnh thành chưa thực hiện hiệu quả Nghiên cứu sẽ tập trung đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại 14 địa

Trang 16

phương khu vực miền Trung, từ đó đề ra giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình này diễn ra đúng hướng

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được phân tích theo ngành công nghiệp/xây dựng, ngành nông/lâm nghiệp/thuỷ sản, ngành dịch vụ, cấp độ tỉnh

Không gian nghiên cứu: 14 tỉnh thuộc khu vực duyên hải miền Trung bao gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận

Thời gian nghiên cứu: giai đoạn từ 2007-2017 Số liệu thu thập thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, số liệu thường niên được tổng hợp từ các địa phương và công bố vào tháng 7 năm tiếp theo, do đó nghiên cứu chỉ tiếp cận được với số liệu năm 2017 và kết quả ước lượng được xem là đảm bảo về mẫu nghiên cứu và khoảng thời gian 11 năm từ năm 2007 đến 2017 là khoảng thời gian chứng kiến những sự biến động quan trọng của nền kinh tế Việt Nam nói chung hay các địa phương trên toàn quốc cũng như địa bàn duyên hải Trung Bộ

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê mô tả để đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, mô tả các biến số sử dụng trong các mô hình định lượng

Phương pháp kinh tế lượng:

Nghiên cứu sử dụng các mô hình số liệu mảng để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại địa bàn 14 tỉnh khu vực miền Trung

Cụ thể với mô hình hồi quy số liệu mảng tĩnh, tác giả sẽ dựa trên quy trình phù hợp để lựa chọn giữa các mô hình số liệu gộp (pooled OLS), mô hình số liệu mảng tác động

cố định (fixed effect model - FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (randong effect model

- REM) Ngoài ra, mô hình số liệu mảng động với phương pháp mô-men tổng quát hệ thống (System General Methods of Moments - S-GMM) sẽ được áp dụng nhằm tăng hiệu quả về mặt ý nghĩa của các biến trong mô hình nhờ giải quyết vấn đề nội sinh

Trang 17

5 Ý nghĩa lý luận và thực tế của đề tài

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn các tỉnh trong khu vực, kế thừa và phát triển dựa trên nội dung các nhà khoa học đi trước đã tâp trung nghiên cứu

- Nghiên cứu mô hình định lượng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh

• Về thực tế:

- Đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại các tỉnh duyên hải Trung Bộ trong thời gian vừa qua, tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ đã đạt được kỳ vọng đề ra hay chưa

- Đánh giá những kết quả tích cực, những hạn chế tồn tại của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại các địa phương trong vùng, cụ thể với đánh giá định hướng chuyển dịch, đi kèm các chính sách phục vụ định hướng đã được thực hiện hiệu quả hay chưa và xu hướng liên kết các địa phương lân cận để tạo động lực cho quá trình CDCCN,

từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được thực hiện ra sao

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các tỉnh/thành phố trong vùng, qua đánh giá bao gồm các nhân tố lớn chính như nhân tố tập hợp các nguồn lực bao gồm vốn, lao động, khoa học - công nghệ, đặc điểm cụ thể của quy mô địa phương, thể chế và ảnh hưởng của liên kết vùng kinh tế

- Vận dụng nghiên cứu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh, các khu vực có chung đặc điểm hay vùng duyên hải Trung Bộ Từ đó, đề xuất định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn và các giải pháp cũng như các khuyến nghị cụ thể về chính sách

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án được chia thành năm chương:

Trang 18

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của các nhân tố đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh

Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế các tỉnh duyên hải Trung Bộ Chương 4: Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế các tỉnh duyên hải Trung Bộ

Chương 5: Giải pháp khai thác các nhân tố để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế các tỉnh duyên hải Trung Bộ

Trang 19

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH

KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 Các nghiên cứu về tác động của các nhân tố nguồn lực đến chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế

Các mô hình kinh tế kinh điển đã chỉ ra các động lực cơ bản để có thể phát triển một nền kinh tế hay chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hiệu quả sẽ dựa trên các nguồn lực về vốn, lao động và khoa học - công nghệ Dưới đây là phần tổng hợp của nghiên cứu về những tài liệu đi trước đánh giá tác động của các nhân tố vừa đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Đề cập đến các nhân tố về nguồn lực ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, nguồn lực về tiền tệ được xem là mấu chốt cho việc tạo động lực cho quá trình Thứ nhất, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là hệ quả trong quá trình hội nhập quốc tế của các nước đang phát triển Bên cạnh những nhược điểm vì chịu ảnh hưởng từ nền kinh tế lớn thì nguồn vốn này cũng cho thấy những lợi ích không nhỏ của nó trong quá trình đổi mới của họ Kayani và cộng sự (2012) trong nghiên cứu của họ về quá trình hội nhập của các nước Đông Á chỉ ra rằng Trung Quốc bị ảnh hưởng lớn bởi vốn đầu tư

từ các doanh nghiệp nước ngoài Do không có được những đổi mới kịp thời về khoa học công nghệ nên các sản phẩm công nghệ của họ xuất khẩu đều dưới sự chỉ huy của các doanh nghiệp có vốn đầu tư không phải từ trong nước Nhật Bản hay Hàn Quốc là ví dụ cho việc sử dụng nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài mà không chịu sự ảnh hưởng rất hiệu quả, Nhật Bản đi trước và Hàn Quốc theo sau đó trong việc học tập và ứng dụng nhanh chóng những công nghệ mà nước ngoài đầu tư cho họ chứ không cho các tổ chức nước ngoài thành lập những cơ sở sản xuất ngay tại đất nước mình trong thập niên 60 của thế

kỷ 20 Những chính sách đúng đắn về tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại hai quốc gia hiện tại đã phát triển châu Á trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Nicolas và cộng

sự (2013) Nghiên cứu khác về các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Phillipines, Thái Lan hay các nước thuộc nhóm BRICS (nhóm các quốc gia có nền kinh tế mới nổi) cũng cho thấy ảnh hưởng to lớn của FDI đến sự thay đổi về cơ cấu ngành kinh tế cũng như tăng trưởng (Andreff, 2016; Jongwanich và Kohpaiboon, 2013) Cũng do ảnh hưởng lan tỏa của động lực do nguồn vốn đến từ các

Trang 20

doanh nghiệp lớn từ ngoài nước, các doanh nghiệp trong nước của các quốc gia dần lớn mạnh và phần nào đó là nguồn đầu tư hiệu quả cho quá trình chuyển dịch cơ cấu cũng như tăng trưởng kinh tế

Trên thực tế, chi tiêu chính phủ và quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hay tăng trưởng kinh tế đều có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, nó không đơn thuần như mối quan hệ tuyến tính trong phân tích hồi quy Vì vậy, các tác giả có thể đưa ra những kết quả khác nhau dựa vào phương pháp và số liệu họ thu thập được và sử dụng

Sử dụng phương pháp GMM với số liệu của 15 nước đang phát triển trong giai đoạn

từ năm 1972 đến năm 1999, Ghosh và Gregoriou (2008) chỉ ra rằng các nước đang phát triển đang phân bổ các nguồn lực của họ một cách không hợp lý, họ chi quá nhiều cho việc đầu tư mà không mang lại hiệu quả tương xứng như là chi thường xuyên Và

nó hàm ý cho kết luận, chi thường xuyên tăng lên tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên chi tiêu cho đầu tư cho một kết quả ngược lại Nghiên cứu đi trước của Devarajan và cộng sự (1996), Ghafoor và cộng sự (2000); Ranasinghe và Masaru (2014) đều cho kết quả tương tự

Ngoài ra, trình độ khoa học - công nghệ cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Châu Âu là một trong những khu vực có được sự phát triển kinh tế mạnh mẽ nhờ chú trọng vào công nghệ cao, Piekut (2013) so sánh nguồn vốn dành cho khoa học công nghệ tại nhiều quốc gia trên thế giới

và đưa ra những nhận định rằng: các nước phát triển hàng đầu ở châu Âu như Phần Lan, Đan Mạch hay Thụy Điển đều dành một lượng vốn cho khu vực này lớn như các cường quốc trên thế giới như Mỹ hay Nhật Bản Nguồn ngân sách của chính phủ lớn cùng với những sự đầu tư mạnh mẽ từ khối tư nhân đã mang đến một sự phát triển mạnh mẽ tại các quốc gia này Điều tương tự cũng được ghi nhận tại Đức hay Áo, những nước đã dành những sự đầu tư đều đặn cho nghiên cứu và phát triển qua một giai đoạn thời gian dài đáng kể Một điểm sáng nữa được chứng kiến tại châu Á, với Hàn Quốc đã bước vào một trong những nước phát triển trên thế giới sau khi đạt được những thành công xứng đáng vì tập trung vào phát triển công nghiệp công nghệ cao Điều ngược lại được tác giả chỉ ra tại các nước Đông Âu như Rumani, Bulgari, Litva, Phần Lan, Slovakia và Lít va, sự yếu kém về việc phát triển khoa học và hoạt động sáng tạo tại các doanh nghiệp tư nhân được phân tích trong nghiên cứu Duy nhất tại khu vực này chứng kiến

sự khác biệt trong nhận thức về công nghệ cao đó là Slovenia với một nguồn vốn dồi dào dành cho việc tạo ra những hoạt động kinh doanh với kỳ vọng mang đến năng suất cao hơn trong tương lai Bên cạnh đó, các quốc gia khác của châu Âu như Estonia, Cộng hòa Séc hay Hungary được tác giả đánh giá là các quốc gia theo kịp với xu hướng nhờ

Trang 21

việc dành những khoản đầu tư đáng kể cho khoa học và sự thay đổi trong việc đa dạng hóa các loại hình kinh doanh năng động, hiệu quả hơn Tựu chung lại, tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu và phát triển được nhà nghiên cứu chứng minh trong nghiên cứu của mình tại khu vực Trung cũng như Đông Âu Ngoài ra, việc liên kết giữa sự đầu

tư và doanh nghiệp đã mang đến những giải pháp sáng tạo mới, nó gián tiếp tạo ra tăng trưởng doanh số của khu vực sản xuất cũng như tiết kiệm được nguồn lực, chi phí Cũng nhận ra được một hệ thống hiệu quả trong việc đầu tư khoa học và công nghệ tại Estonia

và Hàn Quốc, Kshetri (2014) phân tích việc tạo ra một hệ sinh thái giữa chính quyền với các doanh nghiệp để mang đến sự khác biệt trong con số tăng trưởng kinh tế tại đây Vai trò của các tổ chức tư nhân được nhắc đến rất cụ thể trong hoạt động hiệu quả của hệ sinh thái này, trong khi Estonia chứng tỏ được sự hiệu quả hơn trong chất lượng của các

tổ chức thì Hàn Quốc cho thấy sự mạnh mẽ của mình trong việc liên kết giữa chính phủ

và các doanh nghiệp Sự đa dạng trong việc phát triển công nghệ cao được Hàn Quốc phát huy nhưng Estonia nhờ việc tạo ra những tổ chức nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp

đã mang đến cho họ nhiều cơ hội hơn để phát triển mặc dù hiện tại những phát triển cơ bản chỉ thấy ở mảng công nghệ thông tin Việc xác định rõ ràng vai trò của khoa học và công nghệ đã mang đến cho hai chú hổ của châu Á và vùng Baltic này những phát triển vượt bậc qua những con số phát triển ấn tượng của họ trong giai đoạn từ 1995 đến 2013 Cộng đồng khởi nghiệp tại hai quốc gia này được tạo điều kiện tối đa để gia nhập và phát triển, 78,3 % các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Hàn Quốc sống sót trong năm năm đầu của họ và 69,3% duy trì hoạt động trong vòng 10 năm tiếp theo Con số tại Estonia

là 57% trong năm năm đầu tiên (Lee, 2003) Ngoài những nghiên cứu về các quốc gia

đã thành công trong việc thay đổi cơ cấu ngành kinh tế thông qua đầu tư vào nghiên cứu công nghệ thì cũng có những nghiên cứu chỉ ra những yếu kém trong việc phát triển kinh tế do không chú trọng vào khu vực này, Fedulova (2013) trong nghiên cứu của mình đã phân tích thực trạng của Liên bang Nga và Ukraina trong quá trình phát triển kinh tế từ năm 2000 đến 2011 và nêu ra rằng chính việc thiếu đầu tư nguồn vốn xứng đáng cũng như cơ chế chính sách dành cho khu vực doanh nghiệp chính là lý do làm hai nền kinh tế này tụt hậu so với các cường quốc khác trên thế giới Kết luận tương tự cũng được Gomułka (2016) kết luận trong nghiên cứu của tác giả Mặc dù đạt được những thành tựu nhất định trong quá trình chuyển dịch kinh tế với GDP tăng gấp 2,3 lần vào năm 2013 so với chỉ tiêu cùng kỳ năm 1989, tuy nhiên với lượng vốn dành cho khoa học công nghệ của cả Chính phủ hay khu vực tư nhân ít ỏi, hệ thống hỗ trợ sáng tạo khoa học đối mặt với nhiều rủi ro và không có được sự vững vàng trong quá trình đổi mới và phát triển của mình

Trang 22

Năng suất và chất lượng của lao động cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng

rõ rệt đến chuyển dịch cơ cấu ngành, những nghiên cứu trong giai đoạn trước những năm 2000 tập trung ở các nước công nghiệp phát triển Vì vậy, kết quả thu được tương đối giống nhau Fagerberg (2000) cũng cho rằng thay đổi trong cơ cấu lao động cũng tác động không nhỏ tới năng suất lao động và từ đó tác động gián tiếp tới tăng trưởng kinh tế tại vương quốc Anh trong nửa đầu của thế kỷ 20 Ngoài ra, sự thay đổi của năng suất lao động cũng được tác giả đánh giá thông qua số liệu của khu vực chế biến - chế tạo trong thời kỳ 1973-1990 tại 39 quốc gia trong đó bao gồm cả các nước đang phát triển Vai trò của công nghệ mới cũng được chỉ ra ở đây, thời gian đầu của cách mạng công nghiệp, mối quan hệ đơn thuần chỉ giữa sản lượng, năng suất và việc làm Sự phát triển của các ngành có hàm lượng phát triển khoa học công nghệ cao, như điện tử và vật liệu tổng hợp vượt lên hẳn các ngành kinh tế truyền thống, từ đó đòi hỏi nhân công cần

có trình độ cao hơn và gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của năng suất lao động Tuy nhiên trong nửa sau của thế kỷ 20, mối quan hệ đấy trở nên mờ nhạt hơn Cách mạng điện tử viễn thông đã tạo ra năng suất cao khó tin, tuy nhiên tổng số việc làm trong ngành này không có sự đột biến lớn Thực tế cho thấy việc phân chia lao động lại diễn

ra nhiều hơn tại các ngành công nghiệp truyền thống - nơi mà năng suất lao động thường rất thấp Và tương ứng như vậy, hiệu ứng này thường xảy ra hơn tại các nước đang phát triển Cũng sử dụng mô hình như Fagerberg (2000), Peneder (2003) phân tích sự tăng trưởng của NSLĐ trong liên minh châu Âu vào thời kỳ 1995-1999 thành 3 nguồn, trong

đó có hiệu ứng chuyển dịch tĩnh, hiệu ứng chuyển dịch động và hiệu ứng tăng trưởng nội bộ các ngành Tác giả đánh giá rằng thay đổi cơ cấu lao động có đóng góp cả thuận chiều và ngược chiều đến tăng trưởng NSLĐ, nhưng tính trung bình, thay đổi cơ cấu chỉ

có tác động yếu đến chỉ tiêu đánh giá NSLĐ Lý do được đưa ra đó là một số loại hình ngành công nghiệp đạt được tỷ lệ tăng trưởng NSLĐ cao hơn một cách có hệ thống so với các ngành khác Chủ đề về sự tăng trưởng NSLĐ rất được các nhà khoa học quan tâm trong thời gian bấy giờ, Ghani và Suri (1999) cho thấy sự tác động mạnh mẽ của hiệu ứng nội ngành tại Malaysia trong giai đoạn từ 1981 đến 1997 khi hiệu ứng thay đổi

cơ cấu lao động chỉ ảnh hưởng khoảng 20% đến sự tăng trưởng của NSLĐ tại quốc gia này Bosworth và Collins (2008) tiến hành nghiên cứu tương tự tại Ấn Độ và Trung Quốc trong thời gian từ 1978 đến 2004, hiệu ứng nội ngành cũng cho thấy sự lấn át của mình tại hai quốc gia này Cũng so sánh hai thị trường là Trung Quốc và Ấn Độ trong thời gian từ 1980 đến 2004, Saccone và Valli (2009) cũng chỉ ra kết quả tương tự tuy nhiên mức độ ảnh hưởng là khác nhau với hiệu ứng thay đổi cơ cấu lao động Cụ thể, ảnh hưởng của hiệu ứng này tại Ấn Độ được cho thấy là gấp đôi so với Trung Quốc Nghiên cứu trong thời gian gần đây của McMillan và Rodrik (2011) với dữ liệu của 38

Trang 23

quốc gia bao gồm 29 quốc gia đang phát triển và 9 quốc gia có thu nhập cao từ năm

1990 đến 2005 Kết quả của hai nhà khoa học này tập trung vào khoảng cách giữa NSLĐ giữa khu vực hiện đại và khu vực truyền thống của nền kinh tế tại các nước đang phát triển, và hiệu ứng chuyển dịch cơ cấu hay sự di chuyển của người lao động từ khu vực truyền thống sang hiện đại được coi là có tác động lớn đến năng suất lao động hay quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở những quốc gia này Tuy nhiên, không phải nền kinh tế nào cũng cho thấy sự tác động của hiệu ứng này, kết quả tại các nước châu

Mỹ Latinh và châu Phi cho kết quả ngược lại

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, hiệu quả của đầu tư công cũng là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhằm đưa ra những định hướng đúng đắn cho chính phủ để có được kế hoạch chi tiêu đúng đắn Ba phương pháp cơ bản mà các nhà khoa học Việt Nam thường sử dụng trong nghiên cứu của mình đó là (i) phương pháp phân tích chỉ số ICOR; (ii) phương pháp VECM (Vector Autogressive Error Correction Model); (iii) phương pháp ước lượng hàm sản xuất và phương pháp phân phối trễ tự hồi quy ARDL (Autogressive Distributed Lag) Sử dụng phương pháp đầu tiên, Bùi Trinh (2009) và Vũ Tuấn Anh (2010) đều đưa ra nhận định rằng đầu tư công tại Việt Nam không đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu hay tăng trưởng kinh tế so với các quốc gia khác có trình độ phát triển tương đương, mặt khác còn không tạo ra hiệu ứng

rõ rệt như là đầu tư tư nhân Phương pháp thứ hai được Tô Trung Thành (2012) áp dụng với số liệu từ năm 1985 đến 2010 cùng đưa ra kết luận như hai tác giả nêu trên, tỷ lệ tăng vốn đầu tư công không tương xứng như kỳ vọng (với 1% tăng lên thì chỉ thu về 0,05% vào tăng trưởng sản lượng) Khuyến nghị được đưa ra đó là nên cắt giảm đầu tư công để hỗ trợ tăng trưởng bằng đầu tư nhân, tạo ra những cơ hội khác cho các nguồn vốn khác bằng việc xã hội hóa, không nên tập trung vai trò của Nhà nước vào những khu vực mà các doanh nghiệp có thể đảm trách tốt nhiệm vụ của mình Nghiên cứu tiếp theo của Phó Thị Kim Chi; Trần Thị Kim Dung; Đỗ Văn Lâm; Chu Thị Nhường; và Lương Thu Hương (2013) sử dụng phương pháp thứ ba cũng mang đến kết quả tương

tự cho thực trạng sử dụng nguồn vốn đến từ ngân sách nhà nước tại Việt Nam trong giai đoạn từ 1995 - 2001 và nhắc đến thêm việc không tìm thấy sự lấn át hay vai trò thúc đẩy của đầu tư công đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) Cũng nhắc đến tầm quan trọng của FDI trong bối cảnh phát triển kinh tế tại Việt Nam, Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Lê Hoàng Phong (2014) đánh giá rằng tác động của các đơn vị kinh

tế ngoài quốc doanh là lớn nhất, tiếp đó là vốn đầu tư nước ngoài và cuối cùng là nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Hàm ý của hai tác giả trong nghiên cứu của mình đó là một

Trang 24

mặt cải cách đầu tư công nhằm mang đến hiệu quả cao hơn, mặt khác cũng nhắc đến sự rút lui của Nhà nước trong những ngành kinh tế mà doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn nước ngoài chứng minh được sự công tâm của họ

Việt Nam trong gần hai thập kỷ vừa qua đang cho thấy những bước tiến mạnh

mẽ về tăng trưởng kinh tế trong đó quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đóng góp vào

sự tăng trưởng một phần không nhỏ trong sự phát triển Nghiên cứu về NSLĐ cũng là một chủ đề mà các nhà khoa học Việt Nam quan tâm trong thời gian gần đây Bên cạnh những nghiên cứu về lý thuyết cách tiếp cận và cách tính chỉ tiêu năng suất thì cũng có những nghiên cứu thực nghiệm đánh giá sự tăng trưởng về NSLĐ và mức độ

sử dụng lao động Điển hình trong đó là nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuệ Anh và Bùi Thị Phương Liên (2007) khi lần đầu tiên áp dụng phương pháp SSA để phân tích sự thay đổi trong cơ cấu lao động cũng như NSLĐ tại Việt Nam trong giai đoạn 1991 -

2006 Kết quả của hai nhà khoa học chỉ ra sự đóng góp đáng kể của sự chuyển dịch lao động từ những ngành có NSLĐ thấp sang những ngành có mức NSLĐ cao hơn đến

sự tăng trưởng về NSLĐ tổng thể của Việt Nam Ngoài ra, hiệu ứng NSLĐ nội bộ các ngành có ảnh hưởng giảm dần sau ba giai đoạn thực hiện các kế hoạch kinh tế mới, giai đoạn 1991 - 1995, 1995 - 2000, 2000 - 2006 Nghiên cứu tại địa phương cụ thể là Quảng Nam, tác giả phân tích sự chuyển dịch cơ cấu từ 1998 đến 2010 và chỉ ra rằng tăng trưởng NSLĐ của các ngành đóng góp khoảng 57,79% còn chuyển dịch cơ cấu lao động ảnh hưởng khoảng 42,21% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tăng trưởng NSLĐ chịu ảnh hưởng từ việc lao động di chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực có năng suất cao là công nghiệp và xây dựng

1.2 Các nghiên cứu về tác động của thể chế đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Một trong những quan tâm gần đây của các nhà nghiên cứu đến chất lượng tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế hay của bộ phận địa phương là ảnh hưởng của bộ máy chính quyền hay hiểu rộng hơn là thể chế Việc quan tâm một cách đúng đắn, thực hiện những thay đổi với mục tiêu lành mạnh hóa thể chế dường như đang tạo ra những tín hiệu tích cực, giúp các địa phương có được các bước chuyển dịch hiệu quả hơn sang các ngành có năng suất cao

1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Nhận thức của bộ máy chính quyền hay thể chế quản lý cũng là một nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch giữa cơ cấu các ngành kinh tế Kinh nghiệm thành công của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới đã chỉ ra rằng, định hướng đúng đắn của

Trang 25

Nhà nước sẽ rút ngắn thời gian quá trình công nghiệp hoá, với những nước này là trên dưới 30 năm Ở một chiều hướng khác, các nước hay địa phương sẽ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” nếu sự dẫn dắt của Nhà nước không có sự kiến tạo phát triển Evens (1995) cho rằng để thực hiện thành công những chiến lược phát triển, bộ máy Nhà nước cần phải có được sự thống nhất và nhất quán về mặt tổ chức Cụ thể hơn, một cơ cấu nhất quán, ràng buộc được lợi ích của cá nhân từng quan chức với mục tiêu chung của

tổ chức là điều phối quá trình phát triển Chính chiến lược đúng đắn của nhà nước đã đưa Hàn Quốc hay Hồng Kông trở thành những nền kinh tế tri thức có sự phát triển bền vững (Ka-Lun, 2012; Kim, 2008) Cũng cần nhắc đến định hướng tăng trưởng kinh tế xanh tại Hàn Quốc với mục tiêu đẩy lùi ô nhiễm môi trường đến từ các hoạt động sản xuất từ nền công nghiệp mạnh mẽ của họ, Mathews (2012) chỉ ra rằng chính sự đồng thuận của Chính phủ trong chính sách đã và đang mang đến cho sự phát triển của họ một màu sắc mới chứ không phải sự đánh đổi như thời gian trước Hay như Chính phủ Malaysia tạo ra một cộng đồng dành cho người dân để đóng góp ý kiến cho những cải tiến phát minh để cân bằng giữa những hoạt động cụ thể về kinh tế và sức cạnh tranh của hàng hóa của họ Hơn nữa cộng đồng này cần phải được liên kết với các tổ chức giáo dục và nền công nghiệp, từ đó mới tạo ra được một môi trường đủ mạnh, đủ sức để đưa ra những biện pháp hiệu quả cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (Iqbal

và Rasli, 2014) Các nước như Trung Quốc hay Việt Nam cũng đang cố gắng để tiếp thu những thành tựu về chính sách để loại trừ những rủi ro về môi trường cho xã hội

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước

Sự can thiệp của Nhà nước có thể tác động tích cực và tiêu cực tới chuyển dịch cơ cấu ngành hay tới tăng trưởng kinh tế Một mặt, chủ trương, định hướng phát triển đúng đắn sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch Mặt khác, nếu nó không được thực hiện chính xác sẽ dẫn đến nhưng kết quả xấu cho tăng trưởng kinh tế Điển hình là bài học của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, trong

đó có cả Việt Nam trong thời gian từ 1950 đến 1980 Nghiên cứu của Nguyễn Kế Tuấn (2016a) đề cao vai trò của Nhà nước trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế tại Việt Nam trong thời gian gần đây, tác giả nhấn mạnh việc phải thay đổi tư duy nhận thức từ vai trò quản lý, theo đó chất lượng vận hành (hiệu lực, hiệu quả) hay chất lượng của những cá nhân trong bộ máy (năng lực, bản lĩnh, phẩm chất) được chú trọng phải cải thiện “Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng”, “Chức năng kiểm tra, kiểm soát hoạt động đúng chức năng”, “xây dựng nền hành chính phục vụ” hay “dân chủ, thu hút các lực lượng xã hội tham gia vào đầu tư và quản lý sự phát triển” là những giải pháp mà tác giả đề ra đối với Chính phủ Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên

Trang 26

cứu về thực trạng về chính sách cũng như các hiệu quả của bộ máy hành chính công cũng được VCCI (2017) hay UNDP Vietnam (2017) đánh giá hàng năm Chính những chỉ báo này giúp các địa phương nhận ra được tầm quan trọng của thể chế, việc cần thiết phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp cũng như người dân

1.3 Các nghiên cứu về tác động của liên kết vùng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Việc đánh giá về mối quan hệ giữa các chủ thể về địa lý trong các khu vực ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của vùng đó như thế nào đã được các nhà nghiên cứu thực hiện tương đối rộng rãi trên thế giới và xem là nền tảng để có được những bước phát triển vững chắc Việt Nam có đặc điểm địa lý kéo dài từ Bắc xuống Nam, các địa phương miền Bắc và miền Nam dường như đang có được liên kết phù hợp và mạch lạc hơn, phần tiếp theo sẽ tổng hợp những nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá ảnh hưởng của liên kết vùng kinh tế

1.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Để có được sự phát triển bền vững của cả nền kinh tế, địa phương hay các vùng kinh tế cần phải xác định và xây dựng được kế hoạch rõ ràng nhằm đạt được kết quả được giao Thực tế ở các nước trên thế giới đã chứng minh rằng, nếu phân chia rõ ràng các vùng kinh tế, sự liên kết giữa chính sách của các địa phương được đảm bảo thì khu vực nhóm các địa phương đó sẽ tạo ra hiệu quả về chuyển dịch cao nhất có thể Nghiên cứu của Florida (1996) chỉ ra sự liên kết hiệu quả tại khu vực Trung Tây nước Mỹ Với diện tích rộng lớn, cường quốc này có chính sách đặc thù cho từng khu vực khác nhau, đảm nhiệm những trọng trách rõ ràng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các ngành trong nền kinh tế Khu vực kinh tế này của Hoa Kỳ bao gồm 12 tiểu bang và là đầu tàu trong nền kinh tế sản xuất tại liên bang này trong giai đoạn những năm 1982 đến 1990 Những nhà máy tại đây được thống kê là đạt hiệu quả cao hơn khoảng 20% so với phần còn lại của quốc gia rộng lớn này với sự đầu tư với ngành giao thông vận tải nếu tính trên mỗi người dân là cao hơn 16% khi được so sánh Một vài lý do nổi bật được liệt kê

ra đó là (i) sự chuyển dịch từ nền sản xuất truyền thống sang nền công nghiệp và dịch

vụ với công nghệ hiện đại (ii) sự cải thiện trong khâu sản xuất với việc cắt giảm nhân công và lương lao động (iii) sự tăng trưởng về thương mại và xuất khẩu sang các quốc gia khác (iv) sự chuyển dịch trong cơ cấu sản xuất theo từng bang khác nhau (Florida, 1996) Cùng chung quan điểm về sự phân chia hiệu quả các vùng kinh tế của Mỹ, Caselli

và Coleman II (2001) miêu tả sự thay đổi của khu vực Trung Tây từ kinh tế thuần nông nghiệp chuyển sang các ngành kinh tế đa dạng hơn và nhờ đó bắt kịp sự phát triển của khu Đông Bắc - vốn được coi là trụ cột trong phát triển kinh tế của cường quốc này

Trang 27

Mục tiêu nghiên cứu của hai tác giả này cũng là đưa ra những bằng chứng về kinh nghiệm phát triển của liên bang Bắc Mỹ này để các nước đang phát triển học hỏi mô hình tăng trưởng phù hợp và giải quyết vấn đề về sự khác nhau trong thu nhập của các nước Nghiên cứu tiếp theo của Venkataraman (2004) về các khu vực kinh tế đặc biệt của Mỹ đó là thung lũng Silicon hay Bangalore tại Ấn Độ chỉ ra rằng chỉnh phủ cần 7 yếu tố để có thể thành công với sự chuyển dịch trong ngành kinh tế, đó là ý tưởng mới,

mô hình về vai trò của các bên, các diễn đàn không chính thức, các cơ hội phụ thuộc vào địa thế của từng vùng, mạng lưới an toàn, khả năng tiếp cận vào các thị trường lớn

và các nhà lãnh đạo điều hành nhạy bén với thời cuộc Cũng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các khu vực, Etzkowitz và Klofsten (2005) chỉ ra ba cột trụ được coi là nền tảng để tạo ra những bước đột phá, thứ nhất là doanh nghiệp, chính phủ và các tổ chức giáo dục Nếu ba cột trụ này có sự phối kết hợp nhịp nhàng với nhau sẽ tạo ra một nền kinh tế bền vững với nòng cốt là trí thức, cụ thể trong nghiên cứu của hai tác giả này là Thụy Điển và Đan Mạch

Không chỉ các nước đã phát triển mà các nước đang phát triển cũng tập trung chú trọng vào chuyển dịch các ngành kinh tế theo địa bàn và theo khu vực Castanhar và cộng sự (2008) nghiên cứu về mô hình sản xuất các sản phẩm về nội thất tại một thành phố được xem là có trình độ phát triển trung bình tại miền Nam của Brazil Kết quả cho thấy tầm quan trọng của sự thay đổi trong tư tưởng của bộ phận doanh nghiệp tại địa phương này Sự thay đổi trong tư duy kết hợp cùng với các yếu tố về văn hóa và xã hội

đã tạo ra sự thành công cho loại hình sản xuất sản phẩm này Nó đã tạo ra sự khác biệt trong đời sống của thành phố này nói chung, chỉ trong khoảng 3 thập kỷ từ một thành phố thuần nông nghiệp sang thành phố tập trung hơn vào phát triển các ngành công nghiệp Sự tham gia và thay đổi của khoảng 150 doanh nghiệp kiểu mẫu đã tạo ra khoảng

8000 công việc trực tiếp và 25000 công việc gián tiếp cho lao động tại địa phương Khu vực này còn đóng góp cho tổng sản phẩm của thành phố hơn 800 triệu USD mỗi năm, đây quả thực là một con số ấn tượng với các nước cùng chung điều kiện tại Nam Mỹ Một lo ngại được chỉ ra ở nghiên cứu trước của Venkataraman (2004), đó là sự phát triển không bền vững của địa bàn nếu các doanh nghiệp không có được cho mình những thay đổi thực sự về công nghệ Tuy nhiên, thực tế với nghiên cứu này cho thấy cần phải

có hai giai đoạn thay đổi với điều kiện của các nước có ít tiềm lực về tài chính như Brazil Giai đoạn thứ nhất sẽ chứng kiến sự di chuyển của khu vực tư nhân từ hệ thống sản xuất truyền thống sang một nền kinh tế có cơ sở là công nghiệp với hiệu quả cao hơn Tiếp đó là giai đoạn thứ hai với các ngành công nghiệp của các cụm trong khu vực

sẽ có bước tiến mới nhờ thay đổi về công nghệ và bổ sung các ngành công nghiệp dựa

Trang 28

trên những sự phát triển mới này Với sự tiến triển tích cực từ ngành công nghiệp đồ gỗ tại Brazil này sẽ giúp địa phương thu hút những ngành khác, ví dụ như hậu cần, thiết bị phụ trợ và thiết kế sản phẩm Cũng đánh giá vai trò của chuyển dịch cơ cấu của các thành phố cụ thể, Giyarsih (2014) so sánh hai thành phố tại Indonesia trong sức ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nói chung Số thành phố phát triển ở Indonesia đã đạt đến 13 thành phố vào năm 2006 từ con số 8 vào năm 1990, nổi bật trong đó là sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp Nghiên cứu của tác giả nhằm chỉ ra tầm quan trọng của việc xác định rõ ràng các hành lang kinh tế, cụ thể ở đây là Yogyakarta - Surakarta, và bốn biến số được sử dụng để đánh giá, đó là mật độ dân số, tỷ lệ tăng dân số, tỷ lệ phần trăm hộ gia đình phi nông nghiệp và tỷ lệ phần trăm khu vực xây dựng Kết quả cho thấy rằng ảnh hưởng của thành phố Maguwoharjo là cao hơn Jatirejo vì yếu tố vị trí (Maguwoharjo nằm ở vị trí thuận lợi hơn trong việc tiếp cận các trục đường chính) bên cạnh vai trò của Jatirejo là thấp hơn trong tác động đến cường

độ biến đổi của khu vực so với Yogyakarta Khu vực Đông Âu cũng chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ về việc quy hoạch phát triển theo khu vực, cụ thể như sự liên kết cả về tính theo khu vực lãnh thổ là quốc gia như Cộng hòa Séc và Slovakia trong nghiên cứu của Pavlinek (1992) trong thời gian từ 1945 đến 1989 Tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chính sách phát triển về xã hội, nhất là giáo dục, trang bị những kỹ năng cho người lao động, tiếp theo đến sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng

Ngoài ra, theo Havlik (2008) và Medhurst và Henry (2011), các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nội dung khá đa dạng từ vấn đề liên quan đến kinh tế chính trị học, kinh tế học và các nhánh chuyên ngành thuộc ngành kinh

tế Trong đó, việc nghiên cứu tác động giữa các nhân tố đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được rất nhiều nhà khoa học quan tâm Lý thuyết thay đổi cơ cấu được xây dựng và phát triển nhằm giải thích cơ chế một nền kinh tế chuyển từ trạng thái kém phát triển dựa trên sản xuất nông nghiệp truyền thống sang một nền kinh tế phát triển dựa trên cơ sở sản xuất công nghiệp hiện đại Cơ sở cho việc phân tích sự thay đổi cơ cấu kinh tế, sự thay đổi trong cơ cấu lao động, sự di chuyển lao động giữa khu vực nông thôn gắn với sản xuất nông nghiệp và khu vực thành thị gắn với sản xuất công nghiệp được xây dựng giữa trên lý thuyết về thay đổi cơ cấu Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh

tế hay cơ cấu lao động còn phụ thuộc vào những yếu tố nội tại và bên ngoài của nền kinh tế Vì vậy không thể phủ nhận được rằng quá trình hội nhập quốc tế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và gián tiếp tác động đến tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế

Trang 29

Việc liên kết các địa phương hay tạo ra liên kết vùng kinh tế sẽ có được ảnh hưởng tổng thể trong mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành Hirschman (1958) với cách tiếp cận nghiên cứu đầu vào - đầu ra sử dụng khái niệm liên kết ngược (backward linkages, upstream linkages) và liên kết xuôi (forward linkages, downstream linkages)

để nghiên cứu các mối quan hệ ngành và liên ngành Nghiên cứu cho rằng các hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effect) xuất phát từ nhu cầu cung ứng đầu vào của một ngành mới được thiết lập; trái ngược thì hiệu ứng liên kết xuôi xuất hiện từ việc sử dụng đầu ra của ngành đó kéo theo sự hình thành của một ngành khác Cụ thể, một ngành mới được thiết lập sẽ kéo theo hoạt động sản xuất nhằm phục vụ đầu vào cho hoạt động đó; bên cạnh đó, điều đó cũng kéo theo các hoạt động khác sử dụng đầu ra của ngành như đầu vào của mình trừ các ngành sản xuất hàng hoá cuối cùng Hiệu ứng liên kết tạo ra các tác động mạnh mẽ tạo ra các khoản đầu tư mới dựa trên sự vận động của các mối quan hệ đầu vào - đầu ra Lý thuyết phát triển của Hirschman nhấn mạnh vào việc tập trung nguồn lực cho các ngành có các mối liên kết mạnh, từ đó tạo ra sức lan toả cho các ngành phụ trợ Ngoài ra, nhà nghiên cứu nêu ra hiệu ứng tiêu cực trong việc liên kết sản xuất và tiêu dùng, điển hình với việc thu nhập tăng lên dẫn đến sự suy tàn của các nghề thủ công (Hirschman, 1977) Một thuật ngữ được sử dụng phổ biến hiện nay đó là công nghiệp phụ trợ, khi phát triển một ngành công nghiệp cụ thể như sản xuất và lắp ráp ô tô thì các nhà sản xuất sẽ cần các đơn vị địa phương cung ứng cho mình các sản phẩm liên quan, ví dụ như lốp, ắc quy Đề cập đến nghiên cứu đầu vào - đầu ra, Miller

và Blair (2009) đã giới thiệu phương pháp nghiên cứu định lượng về hạch toán vùng, kết toán vùng và bảng IO cho vùng đơn lẻ và liên vùng Với việc lượng hoá, quan điểm của nhà nghiên cứu là cần tối ưu hoá giá trị gia tăng cho vùng liên kết, chi phí giao thông

và chi phí sản xuất được đề cập phải được tính toán hợp lý nhất tạo ra một không gian vùng hợp lý Cùng quan điểm này có các nghiên cứu của Capello (2015) Do đó, một liên kết vùng hiệu quả cần được kết nối nhau bằng hạ tầng giao thông hiệu quả và đòi hỏi cả nguồn nhân lực chất lượng

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Nhắc đến phát triển kinh tế thời gian trước, chúng ta chủ yếu nhắc đến các khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hay là Đông Nam Bộ, những nơi có ưu thế về điều kiện

tự nhiên cũng như vị trí địa lý Tuy nhiên trong thời gian gần đây, chúng ta chứng kiến

sự tăng trưởng mạnh mẽ của các tỉnh/địa bàn vốn không được đánh giá cao hoặc có những nhược điểm về mặt địa lý Minh chứng rõ ràng nhất đó là ở khu vực các tỉnh ở Trung Trung Bộ, điển hình như Quảng Nam, Đà Nẵng hay Quảng Ngãi Cụ thể, Đà Nẵng nổi lên là một điểm đến về du lịch hấp dẫn, Quảng Nam hay Quảng Ngãi đã và

Trang 30

đang xây dựng cho mình được nền kinh tế hướng đến ngành công nghiệp phụ trợ với một cách làm bài bản Tác giả Võ Duy Khương (2010) đã chỉ ra sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế của Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2009 Cụ thể, ngành nông nghiệp có tỷ trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội giảm từ 9,7% trong năm 1997 xuống 7,9% tại thời điểm năm 2000, ngành dịch vụ không thay đổi nhiều trong tỷ trọng nhìn chung, tuy nhiên tỷ trọng cơ cấu lao động lại tăng từ 37,2% lên 58% năm 2000 Sự thay đổi lớn nhất chứng kiến tại khu vực công nghiệp và xây dựng với sự tăng lên trong tỷ trọng từ 35,3% năm 1997 lên 40,2% năm 2000 Định hướng đúng đắn của chính quyền địa phương về phát triển du lịch đã tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ trong giai đoạn từ 2005 đến năm 2010, với sự tăng trưởng mạnh của khu vực dịch vụ với tốc độ tăng trưởng bình quân trong các năm là 19,01% Ngoài ra, tác giả cũng nhắc đến chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần của thành phố thông qua việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, tiếp cận đất đai, ban hành các chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư cho một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm; triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh (Võ Duy Khương, 2010)

Các nghiên cứu tại Việt Nam về liên kết vùng tương đối phong phú Trần Thị Thu Hương (2017) đánh giá các nhân tố liên kết các địa phương trong vùng, cụ thể tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu đã đưa ra các nhân tố chính ảnh hưởng,

đó là động cơ liên kết của các địa phương trong vùng, quy định pháp lý về liên kết các địa phương trong vùng, nhân tố bộ máy vùng Để có thể có được liên kết vùng hiệu quả cần cải thiện tất cả các nhân tố này, bên cạnh đó nghiên cứu cũng đưa ra những mô hình hiệu quả để có thể thúc đẩy liên kết từ ví dụ thực tiễn của các nước Ví dụ như Hàn Quốc đưa ra cách phân vùng theo chức năng, (i) vùng kinh tế lớn với 5 vùng có dân số tối thiểu 5 triệu người tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn có hạ tầng giao thông và hậu cần phục vụ cho sản xuất các sản phẩm xuất khẩu, (ii) địa bàn tỉnh với số lượng 13 địa phương nhằm chủ yếu phục vụ cho nhiệm vụ giai đoạn trước và dần dịch chuyển sang các mục tiêu mới, (iii) địa phương nhỏ hơn (163 khu vực kém phát triển) phát triển các ngành công nông nghiệp truyền thống, tập trung cải thiện chất lượng dịch vụ xã hội bao gồm chăm sóc sức khỏe và điều kiện ăn ở Quy hoạch phát triển, thu hút đầu tư và quan trọng nhất đó là cơ chế phối hợp điều hành nội vùng hay liên vùng chưa mang sự đột phá Thực tế cho thấy rằng chưa tồn tại cơ chế hay động lực để liên kết giữa các địa phương là gần như bằng không Mối quan hệ lỏng lẻo này dẫn đến chênh lệch về trình độ phát triển, cụ thể đó là mức sống của người dân, điều kiện kết

Trang 31

cấu hạ tầng, các dịch vụ văn hoá, giáo dục hay y tế Mặt khác, nó còn dẫn đến sự trùng lặp về cơ cấu ngành, lĩnh vực đầu tư giữa các tỉnh, thành phố trong vùng dẫn đến cạnh tranh không hiệu quả và triệt tiêu các lợi thế của các địa phương Tư tưởng chỉ quy hoạch theo địa giới hành chính làm cho sức cạnh tranh của các đơn vị, doanh nghiệp không cao trên thị trường Hơn nữa, chính điều này làm cho môi trường đầu tư thiếu đi tính hấp dẫn, bởi doanh nghiệp họ muốn tận dụng nguồn lực của đồng bộ dịch vụ, ví dụ như sân bay, cảng biển, thứ mà không phải địa phương nào ở Việt Nam cũng có được Tóm lại, mấu chốt đó là định hướng của các tỉnh trong một vùng tương đồng nhau với một quy mô thị trường nhỏ đã dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh này Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại được đưa ra đó là (i) Thể chế quản trị còn thiếu khuôn khổ Mâu thuẫn giữa cơ chế quản trị giữa các địa phương dẫn đến hiệu quả, tính khả thi của việc xác lập các vùng kinh tế - xã hội còn kém Chủ thể quản lý và cơ chế của vùng kinh tế - xã hội cần được xác lập rõ ràng hơn Việc tồn tại các chủ thể độc lập tác động tiêu cực đến hiệu năng vận hành của các "vùng kinh tế" (ii) Tư tưởng đổi mới còn chưa được các cấp chính quyền đề cao, dẫn đến sự kém chú trọng đến liên kết Các chính sách còn ràng buộc thì chắc chắc sẽ không tạo bước đột phá trong nền kinh tế thị trường hiện nay Tư duy về mô hình tăng trưởng cần được thay đổi mặc dù các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị hay chương trình hành động của Chính phủ hay trong Hội thảo quốc

tế “Liên kết vùng trong quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng

ở Việt Nam - 04/2016” đều đã được đề cập Nội dung về phát triển các vùng kinh tế chưa được các tỉnh, thành phố chú trọng đúng mực Do vậy, quy hoạch giữa các tỉnh cũng thiếu sự phối hợp Quy hoạch vùng chưa xong đã có quy hoạch riêng của địa phương hay quy hoạch tổng thể chưa được duyệt thì quy hoạch của các ngành đơn lẻ đã thực hiện xong Điều này dẫn đến tình trạng quy hoạch chồng lấn về mặt hành chính - lãnh thổ (iii) Nguồn vốn đầu tư công hạn hẹp, các nhà đầu tư tư nhân hay mang vốn ngoại có quyền lựa chọn tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, chạy đua thu hút đầu tư giữa các tỉnh nằm cạnh nhau Vô hình chung, nó tạo ra lợi ích cho cả các bên bị giảm sút, không đơn thuần ở cấp quốc gia mà còn là ở các vùng hoặc ngay trong các tỉnh (iv) Phân định vùng còn nhiều vấn đề đặt ra cần nghiên cứu Phép cộng nhiều đơn vị hành chính - lãnh thổ với nhau như hiện nay chưa tạo ra được sự hiệu quả trong cơ chế quản

lý Các lãnh thổ có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý tương đối giống nhau, trình độ phát triển kinh tế có các điểm chung lại là điểm phản tác dụng trong quy hoạch của cả vùng, bởi vì chỉ có một chủ trương dành cho toàn bộ các địa phương Đặc trưng khác biệt của các tỉnh thành khác nhau cần được chú trọng để tạo ra điểm nhấn trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực

Trang 32

1.4 Các nghiên cứu về tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng kinh tế

1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Các mô hình kinh tế tân cổ điển cũng đã đề cập đến tác động của chuyển dịch cơ cấu hay cụ thể hơn là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu thời gian tiếp theo ứng dụng các mô hình kinh tế lượng để đánh giá cụ thể hơn mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành với tăng trưởng kinh tế, các mô hình này dựa trên các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế Với sự đánh giá từ con đường phát triển của các quốc gia khác nhau, tựu chung lại GDP tăng lên chịu ảnh hưởng nhiều bởi quá trình hình thành vốn, áp dụng và thay đổi khoa học công nghệ đi cùng với việc đào tạo và mở rộng nguồn lực về lao động Bên cạnh đó, với quan điểm của cơ cấu ngành kinh tế, tăng trưởng đi kèm với quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất để tạo ra năng suất cao hơn và mang lại những sản phẩm đáp ứng sự thay đổi của cầu, ngoài ra nó cũng tác động đến sự dịch chuyển nguồn lực về vốn cũng như lao động từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao

Các nghiên cứu của De Melo và Robinson (1982), Akita và Hermawan (2000) hay Hayashi (2005) đánh giá ảnh hưởng của thay đổi cơ cấu dựa trên mô hình vào-

ra Mặc dù mẫu nghiên cứu là khác nhau nhưng kết quả đều cho thấy đóng góp của các thành phần khác nhau trong sự thay đổi cơ cấu ảnh hưởng đến tăng trưởng của

bộ phận các quốc gia được đánh giá Ngoài ra, nghiên cứu điển hình về việc sử dụng

mô hình số liệu mảng để xem xét mối quan hệ giữa công nghiệp hóa (hay nói rộng hơn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế) với tăng trưởng ở 39 nền kinh tế là của Chenery

và cộng sự (1986) Tác giả sử dụng các biến đo lường tỷ lệ đầu tư trong GDP, sự gia tăng chất lượng lao động, sự chuyển dịch lao động và vốn ra khỏi nông nghiệp hay tăng trưởng xuất khẩu và đo lường mức độ phát triển để xem xét tác động của chúng đến tốc độ tăng trưởng sản lượng và lực lượng lao động Nghiên cứu chỉ ra rằng xu hướng dịch chuyển nguồn lực từ khu vực có năng suất thấp sang các khu vực có năng suất cao hơn tạo động lực tăng trưởng quan trọng cho các nước đang phát triển hơn

là các nước phát triển

1.4.2 Các nghiên cứu trong nước

Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế và mô hình cơ bản của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được rất nhiều nhà khoa học Việt Nam quan tâm và nghiên cứu Trước thời kỳ đổi mới, nghiên cứu của Vũ Tuấn Anh (1982) được coi là nghiên cứu toàn diện và cập nhật xu hướng thời đại trong thời điểm bấy giờ Những lý luận

cơ bản về thay đổi lực lượng lao động cũng như sự cần thiết phải tập trung đầu tư vào

Trang 33

công nghiệp đã được ông đề cập Tiếp theo sự khởi nguồn này, rất nhiều nghiên cứu đưa ra cơ sở lý luận dùng để định hướng và thực trạng về chuyển dịch cơ cấu ngành tại Việt Nam qua từng giai đoạn, điển hình trong đó là công trình của Ngô Đình Giao (1994), Đỗ Hoài Nam (1996); Đỗ Hoài Nam (2003); Lê Du Phong (1999) và Bùi Tất Thắng (1994) Bên cạnh đó, mô hình và lộ trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa được Võ Đại Lược (1998), Trần Đình Thiên (2003) và

Đỗ Hoài Nam (2010) đề cập trong những nghiên cứu của mình Chi tiết hơn, các nhà khoa học còn đưa ra những tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh

tế, ví dụ như vốn, lao động, năng suất nhân tố tổng hợp Tất cả những yếu tố này đều tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành (2002) cho rằng đóng góp lớn nhất vào GDP của Việt Nam là yếu tố vốn Tuy nhiên, Trần Thọ Đạt (2005) lại chỉ ra rằng GDP của Việt Nam trong giai đoạn từ 1986 - 2004 trừ năm 2003 chịu ảnh hưởng lớn nhất của tổng năng suất các yếu tố tổng hợp Cũng đồng quan điểm với Nguyễn Xuân Thành, Cù Chí Lợi (2008) bằng việc sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas cho rằng việc gia tăng vốn và lao động chiếm vai trò chủ yếu trong động lực tăng trưởng trong suốt thời gian từ năm 1990 đến năm 2006 Nghiên cứu của Vũ Thành Hưởng và Trần Hữu Phước (2014) cũng đưa ra kết quả tương tự Điều dẫn đến sự khác nhau trong kết quả này đó là việc lựa chọn các chỉ tiêu đo lường cho các yếu tố tác động trong mô hình mà các nhà nghiên cứu lựa chọn

Các công trình tập trung vào ảnh hưởng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế vào tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam được làm rõ hơn trong những nghiên cứu của Viện Chiến lược phát triển và các nhà khoa học sau đây Nguyễn Quang Thái (2004)

áp dụng phương pháp tính hệ số cosϕ để đưa ra sự khác nhau giữa tốc độ phát triển của Việt Nam với các nước khác dưới sự tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu Luận án Tiến sỹ Kinh tế của Hoàng Hương Giang (2010) đề cập đến ảnh hưởng của khu vực nông nghiệp và công nghiệp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu tại Việt Nam

và đưa ra định hướng về chú trọng vào nông nghiệp để tạo ra sức bật cho tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ mật thiết lẫn nhau giữa chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng được khẳng định trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương (2011) Phương pháp hạch toán tăng trưởng được sử dụng để lượng hoá ảnh hưởng của các yếu tố như tỷ trọng ngành nông nghiệp, vốn đầu tư và tỷ lệ tăng của dân số trong độ tuổi lao động Cùng chung quan điểm về ảnh hưởng của các nhân tố đến quá trình chuyển dịch, luận án Tiến sỹ của Mai Văn Tân (2014) đánh giá tác động đến tăng trưởng kinh tế tại một trong những đầu tàu là Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả của nghiên cứu cho rằng

Trang 34

yếu tố tác động lớn nhất đến tăng trưởng kinh tế tại trung tâm kinh tế miền Nam Việt Nam này là vốn đầu tư, và chịu ảnh hưởng không đáng kể từ năng suất lao động và

cơ cấu xuất khẩu

1.5 Kết luận rút ra từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

1.5.1 Kết luận rút ra

1.5.1.1 Các nội dung thống nhất có thể kế thừa

Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam tương đối đa dạng, theo nhiều cách tiếp cận khác nhau và sử dụng nhiều mô hình khác nhau Tuy nhiên, tựu chung phần lớn các nghiên cứu tập trung đánh giá ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu đến tăng trưởng kinh tế chứ chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành - được đánh giá trong các nghiên cứu từ trước là rất quan trọng, tác động trực tiếp đến tăng trưởng của một quốc gia hay một địa phương Phần còn lại các nghiên cứu tập trung đánh giá ảnh hưởng thì chỉ đề cập đến một vài ảnh hưởng, ví dụ như của năng suất lao động và quy mô đầu tư công hoặc đầu tư tư nhân lên quá trình chuyển dịch nói chung, có thể kể đến chuyển dịch cơ cấu lao động chứ chưa đề cập cụ thể đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Mặt khác, phần lớn những nghiên cứu gần đây đều sử dụng các công cụ về kinh tế lượng để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố Các nghiên cứu thực nghiệm trở nên hiệu quả và mang đến kết quả đáng tin cậy hơn và nhìn chung các nghiên cứu đã thống nhất về mặt lý luận về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Xem xét tất cả những nghiên cứu đi trước, mỗi nghiên cứu đều đưa ra những nhận định riêng rẽ về tác động của từng nhân tố đến quá trình phát triển kinh tế nói chung Do đó, tác giả kỳ vọng thừa kế và phát triển một mô hình để đánh giá tổng thể ảnh hưởng của các nhân tố đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Ngoài ra, những nghiên cứu đi trước tập trung nghiên cứu và đánh giá tác động trên sự chuyển dịch của toàn bộ nền kinh tế mà chưa tập trung đến địa bàn tỉnh hay một khu vực bao gồm một nhóm các tỉnh nằm liền kề nhau

1.5.1.2 Khoảng trống nghiên cứu

Thứ nhất, khoảng trống về lý thuyết khi đánh giá tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn các địa phương, các tác giả hay nghiên cứu đi trước chưa đề cập đến tổng thể ảnh hưởng của các nhân

tố đến quá trình này mặc dù tồn tại các nghiên cứu riêng rẽ về từng nhân tố, một mặt

là tác động của các nhân tố này đến tăng trưởng kinh tế nói chung chứ không đánh

Trang 35

giá đến quy mô của địa phương hoặc khu vực, mặt khác chỉ đánh giá tác động của quá trình của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng, các nghiên cứu này có đánh giá đến tác động đến địa phương dựa trên mô hình số liệu mảng Tác giả kỳ vọng sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá hiệu quả các nhân tố đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành đến các địa phương thuộc khu vực duyên hải Trung Bộ, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế diễn ra hiệu quả hơn

Thứ hai, khoảng trống về không gian nghiên cứu khi nghiên cứu tập trung đánh giá khu vực duyên hải Trung Bộ, các nghiên cứu đi trước dường như chỉ tập trung đến toàn bộ 63 tỉnh/thành phố trong tổng thể quốc gia Hai khu vực lớn khác

đã được nhiều nghiên cứu đi trước tập trung khai thác như Bắc Bộ và Nam Bộ hiện tại đã đạt được những thành tựu cụ thể và cũng có thể dẫn đến sự bão hòa trong thu hút các nhà đầu tư mới, khu vực duyên hải Trung Bộ từ đó trở nên hấp dẫn hơn với nhiều đặc điểm phù hợp, ngoài ra khu vực có vị trí địa lý quan trọng, hạ tầng giao thông cũng đã được đầu tư tương đối bài bản trong thời gian vừa qua, bên cạnh sự thay đổi về tư duy của bộ máy quản lý hay kỳ vọng của Chính phủ do có nhiều tiềm năng để phát triển các ngành gắn liền với các khu công nghiệp, địa điểm du lịch Nghiên cứu sẽ tập trung đánh giá những điểm bất hợp lý trong quy hoạch trong phát triển ngành với mỗi địa phương cũng như ảnh hưởng của các vấn đề như lao động để quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại khu vực có được bước chuyển hợp lý

và đặc biệt là bền vững

1.5.2 Hướng nghiên cứu trọng tâm của luận án

Từ khoảng trống nghiên cứu được tổng hợp ở phần trước, tác giả đề xuất các giả thuyết đặt ra để giải quyết trong luận án này:

(i) Thể chế, chính sách tác động tích cực đến chuyển dịch nhằm mục đích giảm

tỷ trọng GDP nông nghiệp trên toàn khu vực bên cạnh thúc đẩy lao động di chuyển sang các ngành có NSLĐ cao hơn, cụ thể các vấn đề của thể chế, chính sách được đánh giá thông qua các chỉ số thành phần của chỉ số PCI

(ii) Liên kết các địa phương tạo thành một vùng kinh tế có mối quan hệ mật thiết giúp quá trình chuyển dịch ngành kinh tế, nhất là các ngành mới như dịch vụ thực thi hiệu quả và đúng hướng

(iii) Các nguồn vốn, cụ thể vốn đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư công, vốn đầu tư

tư nhân làm quá trình chuyển dịch từ nông - lâm nghiệp sang công nghiệp cũng như dịch

vụ tại các địa phương trên địa bàn diễn ra hiệu quả

Trang 36

(iv) Cải tiến về khoa học công nghệ giúp các ngành có giá trị thặng dư cao như công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm được tỷ trọng lớn hơn

(v) Năng suất lao động tăng lên đi cùng các hiệu ứng dịch chuyển đáp ứng nhu cầu của quá trình chuyển dịch các ngành có năng suất cao như công nghiệp - xây dựng

Trang 37

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 2.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1 Cơ cấu ngành kinh tế

“Cơ cấu kinh tế là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể nền kinh tế, thể

hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các

thể hiện ở quan hệ tỷ lệ về mặt số lượng mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế Xu hướng cho thấy rằng các quốc gia luôn

đề cao phát triển kinh tế với tốc độ cao, đi kèm là tăng trưởng bền vững Do vậy, vai trò,

tỷ trọng giữa các ngành kinh tế, giữa các vùng, lãnh thổ các thành phần kinh tế phải được xác định một cách cụ thể Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi quốc gia qua mỗi giai đoạn thời gian khác nhau sẽ là căn cứ để xác định cho chiến lược phát triển trong thời gian đó

Ngô Thắng Lợi (2013) phân chia cơ cấu kinh tế ra thành các loại sau: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực thể chế, cơ cấu tái sản xuất, cơ cấu thương mại quốc tế Trong đó, nội dung về cơ cấu ngành kinh tế được nghiên cứu và quan tâm, cũng trong nghiên cứu của mình tác giả nhấn mạnh rằng nguyên tắc phân ngành xuất phát từ tính chất phân công xã hội, và

từ đó được phân thành 3 ngành gộp hay 3 khu vực, cụ thể là khu vực I bao gồm các ngành nông - lâm - ngư nghiệp; Khu vực II là các ngành công nghiệp và xây dựng; Khu vực III gồm các ngành dịch vụ Đây là các chia các khu vực theo lĩnh vực cấp một - cấp lớn nhất

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.1.2.1 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Chenery và cộng sự (1986) hay Syrquin (1988) đã chỉ ra rằng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có thể hiểu phổ biến nhất rằng đó là chiến lược của một quốc gia để có được một chuyển dịch bền bỉ và hiệu quả trong việc phân loại và phát triển các ngành kinh tế trong từng giai đoạn thời gian mặc dù nó được định nghĩa dưới nhiều quan điểm khác nhau của các nhà khoa học khác nhau Sự thay đổi về hiện trạng nền kinh tế là không thể tránh khỏi, việc xuất hiện thêm các ngành hay mất đi những ngành hiện hữu

Trang 38

tùy thuộc vào bối cảnh của quốc gia hay thế giới Ngoài ra, cũng phụ thuộc vào từng thời điểm khác nhau quy mô và tốc độ tăng trưởng của mỗi ngành là khác nhau Như vậy, quá trình CDCCN là quá trình diễn ra một cách liên tục, tùy thuộc vào đặc điểm của nền kinh tế (điều kiện bên trong và bên ngoài) trong từng giai đoạn khác nhau và mục đích lớn nhất đó là tăng trưởng và phát triển kinh tế

Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn

đi kèm với sự phát triển của một quốc gia, đặc biệt trong đó là CDCCN kinh tế, nội dung chủ yếu ở đây là sự chuyển dịch tỷ trọng từ nông nghiệp sang công nghiệp nhằm đạt được một sản lượng đầu ra với chất lượng và đầu ra cao hơn Tựu chung lại, quá trình CDCCN luôn hiện hữu trong chu trình phát triển của một nền kinh tế và nó luôn đi kèm với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Cơ cấu kinh tế được phân loại như sau: cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng - lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế Sau thời gian tương đối dài thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nước ta đang dần chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, và nó là nội dung quan trọng nhất của đại hội Đảng khẳng định cơ cấu kinh tế nhất thiết phải được định hướng một cách

hợp lý Nội dung này cơ bản đã được tổng hợp qua cách mô tả, định nghĩa:“Quá trình

thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu

2.1.2.2 Các chỉ số đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Đo lường tỷ trọng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Tác giả sử dụng cách đánh giá tỷ trọng giữa các ngành với nhau nhằm đánh giá tốc độ chuyển dịch giữa các ngành, công thức được miêu tả như sau:

Trang 39

Với chỉ tiêu này, nghiên cứu sẽ đánh giá được ảnh hưởng của các nhân tố đến chuyển dịch cơ cấu GDP hoặc lao động giữa các ngành cụ thể, ví dụ như người lao động

di chuyển từ ngành nông nghiệp sang công nghiệp chịu ảnh hưởng từ các nhân tố nào,

từ đó đưa ra các giải pháp hoặc tỷ trọng GDP đóng góp vào nền kinh tế địa phương nhờ chuyển dịch từ nông nghiệp sang dịch vụ có thể chịu tác động lớn bởi thể chế của chính tỉnh/thành phố đó, dẫn đến các khuyến nghị cho các địa phương khác có thể học hỏi nếu muốn chuyển dịch mạnh cơ cấu ngành kinh tế của mình sang khối ngành các sản phẩm

i mô tả cho ngành thứ i (i= 1, 2, 3, …, n)

 và  lần lượt là tỷ trọng của ngành i tại thời kỳ nghiên cứu và thời kỳ gốc được tính bằng phần trăm (%)

Với chỉ số chuyển dịch cơ cấu nói chung, chỉ số này càng cao miêu tả cho sự thay đổi hay chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành kinh tế lại càng sôi động, mạnh mẽ

Trong đó  là tỷ trọng lao động của ngành i tại thời điểm t,

 là tốc độ tăng lao động của ngành i tại thời điểm t,

 là tốc độ tăng lao động chung

Với chỉ số này, tốc độ tăng lao động của mỗi ngành trong ngành trong nền kinh

tế nếu tương đương với tốc độ tăng lao động của cả nền kinh tế thì giá trị của LI bằng

0 Mặt khác, nếu chỉ số này lớn sẽ mô tả sự biến động càng lớn trong tỷ trọng lao động dịch chuyển giữa các ngành kinh tế

Trang 40

Như vậy, nếu các nhân tố có quan hệ thuận chiều với chỉ số chuyển dịch cơ cấu

và chỉ số Lilien thì các nhân tố này đã có những ảnh hưởng tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của mỗi địa phương

2.1.3 Các xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra NSLĐ xã hội cao

Thuật ngữ hiện đại hóa thường đi kèm với công nghiệp hóa do mối quan hệ tương quan lẫn nhau giữa hai sự chuyển biến này Nền kinh tế sử dụng máy móc và công nghệ kỹ thuật tiên tiến hơn thì thường đầu tư tập trung vào công nghiệp - dịch vụ hơn

là nông nghiệp Theo các học giả nghiên cứu về kinh tế học, CNH chỉ có thể thành công nếu nền kinh tế chuyển dịch tập trung sang khu vực chế biến chế tạo Mô hình công nghiệp được nghiên cứu bởi Hoffman (1958) chia các ngành chế biến - chế tạo thành các ngành sử dụng để tiêu dùng là cơ bản (use-based) Trong khi đó, Chenery

và cộng sự (1986) lại phân các ngành chế biến chế tạo thành ba nhóm, đó là công nghiệp sớm, giữa và muộn (early, middle and late industries) Thời gian tiếp theo, ngành công nghiệp này lại được chia ra thành công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng (Syrquin và Chenery, 1989) Xu hướng chung của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế là chuyển dịch hướng công nghiệp, hiện đại hóa đất nước Xét trong tổng thể kinh

tế quốc dân, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam là một trong những nội dung cơ bản của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm phát triển kinh

tế hiệu quả Trong quá trình này, Việt Nam đã chuyển từ cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Trong giai đoạn đầu từ những năm 1960 đến cuối những năm 1980, cơ cấu ngành công nghiệp được hình thành trên đường lối “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trên cơ sở phát triển công nghiệp nhẹ” (Nguyễn Đình Phan và Nguyễn Kế Tuấn, 2007) Với sự trợ giúp

từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, Việt Nam đã từng bước các nền tảng phát triển cả công nghiệp nặng (điện, cơ khí, hóa chất, ) và công nghiệp nhẹ (dệt may, điện tử dân dụng, kim khí tiêu dùng, ), từ đó đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống Nhưng thời điểm bấy giờ, cơ cấu công nghiệp đã bộc lộ các nhược điểm có thể kể tên như, sự mất cân đối nghiêm trọng giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, quy mô nhỏ bé, trình độ kỹ thuật lạc hậu, không huy động được các nguồn lực

Ngày đăng: 19/02/2020, 16:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w