1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu du lịch cộng đồng gắn với làng nghề tại làng hoa giấy thanh tiên, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế

85 233 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù, tỉnh Thừa Thiên Huế đã có nhiều chương trình nhằm phát triển dulịch cộng đồng ở các làng nghề nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, nâng caohiệu quả hoạt động du lịch cũng như tăng

Trang 1

Khĩa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS Nguyễn Thị Thanh Nga



Trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, động viên từ quý thầy cô, gia đình, bạn bè Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới tất cả quý vị.

Tôi xin đặc biệt cảm ơn Th.S Nguyễn Thị Thanh Nga, người đã hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian tôi làm khóa luận tốt nghiệp Mặc dù cô bận đi công tác, bận giảng dạy trên trường nhưng không ngần ngại chỉ dẫn tôi, định hướng

đi cho tôi trong việc lựa chọn đề tài, đưa ra những hướng đi, nhận xét quý báu để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Một lần nữa tôi chân thành cảm ơn cô và chúc cô dồi dào sức khoẻ.

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô Khoa Du Lịch – Đại học Huế đã giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức nền tảng để phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài.

Xin cảm ơn tất cả các bạn bè, thư viện, người dân ở làng hoa giấy Thanh Tiên Tất cả các mọi người đều nhiệt tình giúp đỡ, đặc biệt là người dân ở làng hoa giấy Thanh Tiên mặc dù công việc bận rộn nhưng vẫn dành thời gian để cung cấp những thông tin bổ ích cho tôi, để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.

Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót, tôi rất mong nhận

Trang 2

Khĩa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS Nguyễn Thị Thanh Nga

sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô để khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn.

Một lần nữa xin gửi đến thầy cô, bạn bè cùng các cô chú lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất!

Thừa Thiên Huế, tháng 5

năm 2019 Sinh viên Nguyễn Thị Hằng Ni

Trang 3

Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS Nguyễn Thị Thanh Nga

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong khóa luận là của riêng cá nhântôi Những điều được trình bày trong nội dung khóa luận, hoặc là của cá nhân,hoặc được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu Tất cả các tài liệu tham khảo có xuất

xứ rõ ràng và được trích dẫn hợp pháp

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm cho lời cam đoan của mình

Thừa Thiên Huế, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Hằng Ni

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS Nguyễn Thị Thanh Nga

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

Trang 5

Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS Nguyễn Thị Thanh Nga

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DLCĐ : Du lịch cộng đồngUNWTO : Tổ chức du lịch thế giớiLNTT : Làng nghề truyền thốngATVSTP : An toàn vệ sinh thực phẩmUBND : Ủy ban nhân dân

Trang 6

Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS Nguyễn Thị Thanh Nga

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang 7

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch cộng đồng hiện nay đang là loại hình du lịch phổ biến, nó thu hút sựđầu tư của rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, của du khách (đặc biệt là dukhách quốc tế) Trước tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế, sự pháttriển mạnh mẽ của các phương tiện giao thông, nhất là phương tiện đường hàngkhông làm cho nhu cầu đi du lịch của du khách ngày càng cao Sự tác động củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa, tình trạng ô nhiễm môi trường đã không thể tạocho du khách những cảm giác thư giãn và yên bình Chính vì lẽ đó, du lịch cộngđồng tại các làng nghề sẽ là nơi có không khí trong lành, nơi có cuộc sống bình

dị và những con người hiền lành chất phác Nơi ấy, mỗi du khách sẽ có cơ hộikhám phá một nền văn hóa độc đáo (Văn hóa nông nghiệp, văn hóa làng nghề,văn hóa ứng xử )

Ngày nay, loại hình DLCĐ gắn với làng nghề đang phổ biến và có sức hấpdẫn du khách Việc phát triển du lịch cộng đồng gắn với làng nghề nhằm bảo tồncác giá trị văn hóa, nghề truyền thống và nâng cao đời sống kinh tế cho cộngđồng địa phương Tại làng nghề, du khách không những được tận hưởng khônggian và kiến trúc độc đáo mà còn trực tiếp hòa mình vào cuộc sống của ngườidân bản sứ, được thưởng thức những sản phẩm độc đáo, đậm đà sắc thái văn hóađịa phương Không những thế, du lịch tại các làng nghề còn có chức năng giáodục hết sức to lớn (đặc biệt đối với thế hệ trẻ): du khách có thể tìm hiểu phongtục, tập quán, lịch sử làng nghề nói riêng và lịch sử địa phương nói chung trongchặng đường thăng trầm lịch sử dân tộc Từ đó hình thành nên tình yêu đối vớiquê hương, đất nước, tình cảm gắn bó với làng nghề và những di sản mà ông cha

ta để lại

Thừa Thiên Huế “Một điểm đến năm di sản” là Quần thể di tích Cố đô Huế(năm 1993), Nhã nhạc Cung đình Huế (năm 2003), Mộc bản triều Nguyễn (năm2009), Châu bản triều Nguyễn (năm 2014), Thơ văn trên kiến trúc Cung đìnhHuế (năm 2016) Đây còn là nơi hội hụ một hệ thống làng nghề khá đa dạng và

Trang 8

nổi tiếng Thừa Thiên Huế hiện nay có 88 làng nghề, trong đó có 69 làng nghềtruyền thống, 8 làng nghề tiểu thủ công nghiệp và 11 làng nghề mới du nhập vớitrên 2600 cơ sở sản xuất Tiêu biểu với các làng nghề: Đúc đồng Phường Đúc,thêu Phú Hòa (thành phố Huế), đệm bàng Phò Trạch, mộc Mỹ Xuyên, gồmPhước Tích, rèn Hiền Lương, đan lát Bao La, bún Ô Sa (huyện Quảng Điền),tranh Làng Sình, hoa giấy Thanh Tiên (huyện Phú Vang), dầu tràm Lộc Thủy(Phú Lộc) Trong đó, một làng nghề khá nổi tiếng và được nhiều người biết đến,

đó là làng Hoa giấy Thanh Tiên (huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế) Làngnghề này không chỉ đóng vai trò là một làng nghề làm kinh tế, mà nó đang nắmgiữ những lợi thế phát triển du lịch cộng đồng, nơi đây sẽ là điểm dừng chân lýtưởng trong hành trình tham quan đất Cố đô

Mặc dù, tỉnh Thừa Thiên Huế đã có nhiều chương trình nhằm phát triển dulịch cộng đồng ở các làng nghề nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, nâng caohiệu quả hoạt động du lịch cũng như tăng thu nhập của người dân làng nghề Tuynhiên, hoạt động du lịch tại các điểm làng nghề ở Thừa Thiên Huế nói chung và

ở làng nghề Hoa giấy Thanh Tiên nói riêng có sự phát triển khá khiêm tốn, tácđộng của du lịch đến cộng đồng địa phương còn chưa rõ nét, các hoạt động dulịch cộng đồng tại các làng nghề chưa xây dựng được những mô hình mẫu, cáctiềm năng của làng nghề chưa được khai thác triệt để Bên cạnh đó, là một ngườicon sinh ra trên mảnh đất Phú Vang, tôi tự hào về những giá trị và tiềm năng pháttriển du lịch của quê hương mình, mong muốn tìm hiểu thêm về DLCĐ gắn vớilàng nghề tại làng Hoa giấy Thanh Tiên Chính vì những lý do trên đã thôi thúctôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu du lịch cộng đồng gắn với làng nghề tại làngHoa giấy Thanh Tiên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”, tôi thiết nghĩ dulịch là một trong những con đường ngắn làm cho làng nghề quê hương phát triểncân xứng với tiềm năng, biến tiềm năng thành kết quả

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục đích chính của đề tài là dựa vào khảo sát từ phía du khách và người dânđịa phương về việc phát triển của hoạt động DLCĐ tại làng Hoa giấy Thanh Tiên

Trang 9

để đưa ra một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển hoạt động DLCĐ gắn với làngnghề Mục đích này được thực hiện thông qua những mục tiêu cơ bản sau đây:

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phát triển DLCĐ tại các làng nghề

- Đánh giá của du khách và người dân địa phương về việc phát triển du lịch cộngđồng gắn với làng nghề tại làng nghề Hoa giấy Thanh Tiên

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển DLCĐ gắn với làng nghề tạilàng Hoa giấy Thanh Tiên

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những đánh giá, nhận xét của khách du lịch và người dânđịa phương về việc phát triển du lịch cộng đồng gắn với làng nghề tại làng Hoagiấy Thanh Tiên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

cụ thể phát triển DLCĐ tại làng hoa giấy Thanh Tiên

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng cho việc thực hiện nghiên cứu đề tài nàybao gồm:

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu được thu thập từ 2 nguồn cơ bản:

- Nguồn thông tin thứ cấp: sưu tầm, thu thập các thông tin từ báo chí, sách, tạp chíkhoa học, internet có liên quan đến nội dung đề tài Thu thập thông tin từ phíachính quyền địa phương, Sở văn hóa thể thao và du lịch Thừa Thiên Huế Sau đótiến hành tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra các nhận xét cần thiết

Trang 10

- Nguồn thông tin sơ cấp: tiến hành phỏng vấn khách du lịch và người dân địaphương thông qua bảng hỏi.

- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên

Xác định quy mô mẫu khách du lịch theo công thức tính quy mô mẫu của

Theo ông Nguyễn Hóa - thôn trưởng làng hoa giấy Thanh Tiên, năm 2018,

số lượng khách đến tham quan làng nghề trung bình 20 đoàn khách mỗi tháng,mỗi đoàn từ 10 đến 20 khách liên tục từ tháng 1 đến tháng 9 Số lượng khách lẻvào khoảng 300 người mỗi năm Do đó tính được số lượng khách trung trình năm

2018 vào khoảng 3000 khách

Áp dụng công thức: = 96,77

Cỡ mẫu tiêu chuẩn để điều tra khách du lịch là 97 mẫu Song, để tăng độ tincậy cho đề tài, tôi tiến hành điều tra 120 mẫu Nhưng do vì một số lý do gì đó,khách không điền hết bảng hỏi, tôi tiến hành loại bỏ những mẫu không hợp lệ vàthu được 110 mẫu để phân tích

+ Đối với người dân địa phương

Cũng theo ông Nguyễn Hóa, làng hoa giấy Thanh Tiên hiện nay có 140 hộvới dân số vào khoảng 640 người

Áp dụng công thức của Linus Yamane: n = = 86,48 mẫu

Cỡ mẫu tiêu chuẩn để điều tra người dân địa phương là 86 mẫu Song, đểtăng độ tin cậy cho đề tài, tôi tiến hành điều tra 95 mẫu Nhưng vì một số lý donào đó, người dân không hoàn thành bảng hỏi, tôi tiến hành loại bỏ những mẫukhông hợp lệ và thu được 90 mẫu để phân tích

4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Đối với số liệu thứ cấp: dùng phương pháp thống kê mô tả, bảng biểu

- Đối với số liệu sơ cấp: sau khi điều tra, thu thập bảng hỏi, tiến hành loại bỏ cácbảng không hợp lệ Sau đó, sử dụng phương pháp thống kê để hệ thống và tổnghợp tài liệu Các công cụ và kỉ thuật tính toán được xử lý trên phần mềm SPSS20.0 với các phép phân tích chính như sau: Frequency (Tần suất), Mean (giá trịtrung bình), Crosstabs (bảng chéo), Anova Từ việc phân tích trên giúp ta đưa ra

Trang 11

nhận xét, kết luận một cách khách quan về những vấn đề liên quan đến nội dung

và mục đích nghiên cứu

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, đề tài nghiêncứu gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của du lịch cộng đồng gắn vớilàng nghề

Chương 2: Nghiên cứu du lịch cộng đồng gắn với làng nghề tại làng Hoagiấy Thanh Tiên

Chương 3: Một số định hướng, giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịchcộng đồng gắn với làng nghề tại làng Hoa giấy Thanh Tiên

Trang 12

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA DU LỊCH CỘNG ĐỒNG GẮN VỚI LÀNG NGHỀ

1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm về du lịch và các loại hình du lịch

Theo Hiệp hội Du lịch Đông Nam Á, hiểu theo phía cung: “Du lịch là việccung ứng và làm Marketing cho các sản phẩm và dịch vụ với mục đích đem lại

sự hài lòng cho du khách”.[5]

Theo Khoản 1, Điều 4, Chương 1, Luật Du lịch của Việt Nam (2005) địnhnghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoàinơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu,giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.[5]

Như vậy, du lịch có thể được hiểu như các hoạt động của con người rời khỏinơi cư trú của mình để đến với một nơi khác với nhiều mục đích khác nhau nhưnghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu các nền văn hóa khác nhằm thỏa mãn nhu cầu củabản thân Từ đó phát sinh các nhu cầu như ăn nghỉ, đi lại, vui chơi giải trí, tìmhiểu nền văn hóa bản địa khác Qua đó, các hoạt động kinh doanh du lịch cũngphát triển để đáp ứng các nhu cầu của du khách trong chuyến đi như dịch vụ vậnchuyển, dịch vụ khách sạn nhà hàng, các dịch vụ lữ hành hướng dẫn và sự đóng

Trang 13

góp của cộng đồng địa phương Do nhu cầu du lịch khác nhau nên có nhiều hìnhthức du lịch khác nhau.

- Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắnvới giáo dục môi trường, có đóng góp vào nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững,với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương

- Du lịch nghiên cứu- học tập là loại hình du lịch kết hợp với học tập, nghiên cứunhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết thực tế về địa lý, địa chất, lịch sử, khảo cổ, môitrường, sinh học, khoa học, du lịch cho khách du lịch

- Du lịch thành phố là loại hình du lịch được phát triển dựa vào sự đa dạng của cácđiểm hấp dẫn du khách và các tiện nghi của thành phố như: các đặc trưng về vănhóa, lịch sử, các bảo tàng, các trung tâm mua sắm, khách sạn nhà hàng, chươngtrình nghệ thuật biểu diễn múa, kịch và các đặc trưng khác

- Du lịch sức khỏe là loại hình du lịch được hình thành dựa vào các tài nguyên,tiện nghi có tác dụng phục vụ bữa bệnh và phục hồi sức khỏe, chẳng hạn như:nước biển, suối nước nóng, khí hậu mát mẻ, không khí trong lành của vùng quêven sông, hồ, suối

- Du lịch mạo hiểm là loại hình du lịch băng qua các vùng hiểm trở bằng sự thôngminh, ý chí, thể lực và thủ pháp như leo núi, vượt thác

- Du lịch MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức

sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác MICE viếttắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hộithảo), Exhibition (triển lãm)

- Du lịch hành hương là loại hình du lịch liên quan đến tôn giáo và tín ngưỡng Dulịch hành hương là đi du lịch đến các nơi linh thiêng như chùa, thiền viện, đình,miếu, nhà thờ để thắp hương, khấn vái, cầu nguyện tùy vào mục đích hành

Trang 14

hương và tùy vào sở thích, tùy vào quan niệm của du khách mà có sự lựa chọn vềđiểm dừng chân hành hương khác nhau.

- Du lịch tìm hiểu chiến trường xưa là một loại hình du lịch mà du khách đến thamquan những nơi đã xảy ra chiến trận trong các cuộc chiến tranh trước đây

- Du lịch tình nguyện: với loại hình du lịch này, du khách tình nguyện đến mộtvùng nào đó để hổ trợ cộng đồng về một hoặc một số mặt nào đó (làm sạch môitrường, phát triển hạ tầng, dạy ngoại ngữ )

hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân Tất cả đều có thể thuộc cùng nhóm tôngiáo hay chính trị, cùng một giai cấp hoặc tầng lớp với nhau”.[1, tr.6]

Theo tác giả Bùi Thị Hải Yến: “Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cưcùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định được gọi tên như: Làng, xã, huyện, thị

xã, thành phố, quốc gia có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, truyềnthống văn hóa, đặc điểm kinh tế, xã hội

Như vậy, cộng đồng là một nhóm người có chung lợi ích, truyền thống vănhóa, sống trong cùng một khu vực địa lý, khu vực hành chình như làng, xã ỞViệt Nam, yếu tố cộng đồng thể hiện rõ trong phạm vi một làng hoặc bản Chính

vì vậy, trong khóa luận này, cộng đồng được xem xét trong phạm vi một làng

Trang 15

- Định nghĩa về Du lịch cộng đồng

Khái niệm DLCĐ bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỉ XX, có các cách nhìnnhận và hiểu biết khác nhau về khái niệm này, các khái niệm và định nghĩa khácnhau thường tùy thuộc vào tác giả, khu vực địa lý hoặc nghiên cứu, dự án cụ thể.Tuy nhiên, vẫn có một số nguyên tắc chung được áp dụng như các nguyên tắc vềtính bền vững, sự tham gia và lợi ích của các cộng đồng địa phương Theo đó, cócác định nghĩa khác nhau về DLCĐ như sau:

Định nghĩa phổ biến về DLCĐ là: DLCĐ mang lại cho du khách những trảinghiệm về cuộc sống địa phương, trong đó các cộng đồng địa phương tham giatrực tiếp vào các hoạt động du lịch và thu được các lợi ích kinh tế- xã hội từ cáchoạt động du lịch và chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường

và văn hóa địa phương

Khái niệm về DLCĐ của TS.Võ Quế: “Du lịch dựa vào cộng đồng làphương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp cácdịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

và môi trường Đồng thời, cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinhthần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”.[9]

DLCĐ được định nghĩa tại Khoản 15, Điều 3, Luật du lịch 2017 (có hiệulực từ ngày 01/01/2018) Theo đó: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch đượcphát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cưquản lý, tổ chức, khai thác và hưởng lợi” Hiện nay, du lịch cộng đồng đang đượccoi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi ích phát triển kinh tế bền vững nhất chobản địa Du lịch cộng đồng không chỉ giúp người dân bảo vệ tài nguyên môitrường sinh thái, mà còn là dịp để bảo tồn và phát huy những nét văn hóa độc đáocủa địa phương.[10]

Như vậy, DLCĐ là phương thức phát triển du lịch có sự tham gia tích cực củaphần lớn người dân địa phương trong toàn bộ quá trình phát triển du lịch từ việc lập

kế hoạch, ra các quyết định cho tới cung cấp sản phẩm dịch vụ du lịch, kiểm soát vàquản lý tác động phát triển du lịch đối với nền kinh tế xã hội Môi trường thiên

Trang 16

nhiên và di sản địa phương được bảo tồn và giữ gìn vởi cộng đồng địa phương.Nhưng trên hết, DLCĐ mang lại lợi ích kinh tế cho người dân địa phương.

Định nghĩa về làng nghề và du lịch làng nghề

- Định nghĩa về làng nghề

Cho đến nay, vẫn chưa có khái niệm chính thống về “làng nghề” Theo giáo

sư Trần Quốc Vượng thì “Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lốitiểu nông và chăn nuôi những vẫn có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ,làm tương song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với tầng lớp thợ thủcông chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ôngtrùm, ông cả cùng một số thợ chính và phó nhỏ đã chuyên tâm Có quy trìnhcông nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”,sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công Nhữngmặt hàng này đã có tính mỹ nghệ đã trở thành sản phẩm hàng hóa có quan hệ tiếpthị với một thị trường là vùng rộng xung quanh, thị trường đô thị và tiến tới mởrộng ra cả nước, rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài”.[18]

Theo tập Làng nghề truyền thống Việt Nam, định nghĩa về Làng nghề nhưsau: “Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là một nơiquần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩarộng Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý

là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm Cơ

sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế,vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương

LNTT đã tồn tại ở nông thôn nước ta từ lâu đời với các nghề thủ công mỹnghệ sản xuất hàng hóa dùng các nguyên vật liệu tại địa phương song hành vớiviệc chăn nuôi, trồng trọt ở làng xã Trong làng nghề, các nghề thủ công thườngchiếm ưu thế hơn việc canh tác trồng trọt do có nhiều người tham gia làng nghề

và thành đạt từ nghề

- Định nghĩa về du lịch làng nghề

Nhìn chung, khái niệm du lịch làng nghề vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta Dulịch làng nghề truyền thống thuộc loại hình du lịch văn hóa

Trang 17

Du lịch làng nghề đang là loại hình du lịch thu hút được sự quan tâm củanhiều du khách trong và ngoài nước Xu hướng hiện đại ngày nay, cuộc sốngcăng thẳng nhiều áp lực, con người quay về với những giá trị văn hóa truyềnthống của dân tộc Nhu cầu du lịch về những miền nông thôn, làng nghề truyềnthống ngày càng cao Vậy, du lịch làng nghề là gì? Trước hết phải tìm hiểu thếnào là du lịch văn hóa, du lịch văn hóa là:

Theo Tiến sĩ Trần Nhạn trong: “Du lịch và kinh doanh du lịch” thì: “Du lịchvăn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, di tíchvăn hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện Bao gồm hệ thống đình,chùa, nhà thờ, lễ hội, các phong tục tập quán về ăn ở, mặc, giao tiếp, ” [11]Đối với làng nghề truyền thống thì đó là nơi chứa đựng kho tàng kinhnghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chếtác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống

Đó chính là phần văn hóa phi vật thể Ngoài ra, làng nghề truyền thống còn cócác giá trị văn hóa vật thể khác như: đình, chùa, các di tích có liên quan trực tiếpđến các làng nghề, các sản phẩm thủ công của làng nghề thủ công truyền thống Khách du lịch đến đây chính là để tìm hiểu các giá trị văn hóa đó Vì vậy mà dulịch làng nghề được xếp vào loại hình du lịch văn hóa Từ đó, ta có thể hiểu dulịch làng nghề như sau:

“Du lịch làng nghề là một loại hình du lịch văn hóa mà qua đó du kháchđược thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiếtđến một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó”

Trang 18

Sản phẩm sản xuất từng chiếc, từng chiếc, do đó, in đậm dấu ấn tình cảm và cánhân người thợ Trong xu thế quốc tế hóa mọi mặt của đời sống giá trị văn hóatruyền thống có sức thu hút đặc biệt đối với các giá trị văn hóa truyền thống, tìmhiểu nhân sinh quan, thế giới quan và quan niệm của người dân Việt Nam.

Thứ hai: là các giá trị lịch sử các làng nghề phải có tuổi nghề khá cao, sảnphẩm thường gắn với đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng, lưu giữ cảnhững yếu tố tín ngưỡng, phong tục tập quán của các làng nghề Bởi vậy các làngnghề du lịch thường phải gắn với lễ hội truyền thống, gắn với cảnh quan thiênnhiên truyền thống của làng quê Việt nam như: bến nước, dòng sông, đình làng,sông núi, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú…

Thứ ba: là mức độ tham gia của cộng đồng Động cơ của khách du lịch khilựa chọn đến các làng nghề là được trải nghiệm tận mắt quan sát quá trình sảnxuất và mua sắm sản phẩm thủ công, ngoài ra họ còn muốn tham gia vào đờisống sinh hoạt thường nhật của làng quê Quá trình này đòi hỏi mức độ tham giacủa cộng đồng là rất lớn, từ khâu hướng dẫn sản xuất cho thuê cơ sở lưu trữ tạinhà mời khách các món ăn truyền thống, thuyết minh cho khách về phong tục tậpquán của làng Bởi vậy, du lịch làng nghề đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữakhách du lịch, người dân địa phương, đơn vị kinh doanh du lịch.[8]

1.1.4 Tiêu chí để xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng ở các làng nghề

Theo nhóm GS.TS Hoàng Văn Châu trong Làng nghề du lịch Việt Nam,một làng nghề cần hội đủ các điều kiện cơ bản sau đây để hấp dẫn khách du lịch

và phát triển du lịch cộng đồng ở các làng nghề:

- Có sản phẩm thủ công độc đáo, đặc sắc, tinh xảo gắn liền với đội ngũ nghệ nhân

- Có nơi sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ và biểu diễn quy trình sản xuất chokhách du lịch xem

- Có gian hàng trưng bày và bán sản phẩm làng nghề

- Có công trình văn hóa lịch sử (cây đa, bến nước, sân đình)

- Có nhân viên thuyết minh, hướng dẫn khách du lịch, có các dịch vụ phục vụkhách du lịch

Trang 19

- Có không gian phục vụ ăn uống, đỗ xe tách biệt.

- Cơ sở hạ tầng giao thông thuận lợi, bản chỉ dẫn rõ ràng phục vụ khách thamquan

- Môi trường trong sạch, sản xuất không làm ô nhiểm môi trường

- Thu nhập từ du lịch chiếm ít nhất 25% tổng thu nhập của làng nghề (Lưu DuyDần,Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam).[8]

1.1.5 Điều kiện cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng ở các làng nghề

Để một làng nghề phát triển DLCĐ thì làng nghề đó phải có tài nguyên dulịch nhân văn kết hợp với tài nguyên du lịch tự nhiên

 Tài nguyên du lịch nhân văn ở làng nghề:

Hoạt động sản xuất của làng nghề phải là một trong những nguồn thu nhậpchính của người dân ở làng nghề đó

Hoạt động sản xuất hàng hóa phải được diễn ra thường xuyên, đặc biệt làkhi khách du lịch đến tham quan làng nghề, du khách có thể tham gia trải nghiệmcác hoạt động sản xuất của làng nghề

Sản phẩm đặc trưng của làng nghề phải hấp dẫn khách du lịch và bán đượccho khách du lịch khi đến tham quan làng nghề

Các điểm di tích lịch sử văn hóa của làng nghề phải hấp dẫn du khách nhưđình chùa, kiến trúc nhà mang đậm nét đặc trưng của làng nghề

Làng nghề phải có các lễ hội truyền thống để hấp dẫn khách du lịch, thôngqua lễ hội, khách du lịch được trải nghiệm văn hóa của làng nghề Lễ hội là hìnhthức quảng bá làng nghề đến du khách một cách hiệu quả

Làng nghề cần có đặc sản ẩm thực mang dấu ấn riêng của làng, nguồnnguyên liệu chính có nguồn gốc từ làng

Người dân phải có kiến thức đón tiếp khách du lịch Thái độ đón tiếp thânthiện của người dân làng nghề thể hiện sự mong muốn phát triển DLCĐ củangười dân làng nghề đó

Sinh hoạt văn hóa cộng đồng như các bài hát, điệu múa địa phương sẽ giúp

du khách trải nghiệm hơn cuộc sống văn hóa của người dân làng nghề

Trang 20

 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Cảnh quan tự nhiên của làng quê là một nét hấp dẫn du khách đến với làng nghề.Các tài nguyên tự nhiên như sông ngòi, suối, thác, công viên sẽ tạo nênnhững sản phẩm du lịch hỗ trợ cho DLLN

Động thực vật của làng tạo thêm tính hấp dẫn cho làng quê, các tài nguyênthiên nhiên như môi trường sống cho các loài chim, thú hoang dã là điểm thamquan cho du khách.[8]

1.2 Cơ sở thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Tình hình du lịch Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2016-2018

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngànhkinh tế khác thì ngành du lịch đang dần khẳng định vị thế là ngành kinh tế mũinhọn trong xu hướng phát triển kinh tế của nước ta cũng như xu hướng phát triểncủa tỉnh Thừa Thiên Huế

Ngành du lịch của tỉnh đã đạt được một số khả quan, thể hiện ở mức tăngtrưởng bình quân cao và ổn định trong suốt thời gian dài, tạo ra sự chuyển biếntích cực trên một số mặt hoạt động và trong nhận thức về du lịch, góp phần nângcao mức thu nhập của người dân Trong những năm gần đây số lượng khách cũngnhư ngày khách đến Huế có xu hướng tăng theo chiều hướng tích cực Cụ thểnhư sau:

Bảng 1.1 Tình hình du lịch Thừa Thiên Huế qua 3 năm (2016- 2018) ST

T

Chỉ tiêu ĐVT 2016 2017 2018

1 Lượng khách tham

quan du lịch Lượt khách 3258127 3800012 4332673Quốc tế Lượt khách 1052952 1501226 1951461Nội địa Lượt khách 2206175 2298786 2381212

2 Khách lưu trú Lượt khách 1743879 1847880 2094581

Quốc tế Lượt khách 728700 815245 989405Nội địa Lượt khách 1015179 1032635 1105176

3 Tổng ngày khách Ngày khách 3162800 3319084 3724211

Quốc tế Ngày khách 1597996 1760099 2104158Nội địa Ngày khách 1564804 1558985 1620053

4 Doanh thu Triệu đồng 3203823 3520006 4473619

Trang 21

5 Lao động Người 12500 12500 12700

(Nguồn: Sở du lịch Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016-2018)

Thông qua bảng 1.1 ta có thể nắm rõ tình hình du lịch Thừa Thiên Huế giaiđoạn 2016-2018 càng ngày càng tăng, đặc biệt trong năm 2018 đã đạt một kếtquả bất ngờ, tổng lượng khách tham quan và du lịch đạt 4.332.673 lượt khách,doanh thu đạt tới 4.473.000 triệu đồng, tăng 27,1% so với năm 2017 Lượngkhách du lịch quốc tế và nội địa đến Huế năm 2018 tăng 32,99% so với năm

2016 Ta thấy rõ doanh thu du lịch ở tỉnh Thừa Thiên Huế qua 3 năm 2018) cũng tăng dần, tỉ lệ thuận với tốc độ tăng số lượng khách du lịch đến Huế

(2016-Bảng 1.2: Thị phần khách Quốc tế đến lưu trú tại Huế giai

(Nguồn: Sở du lịch Thừa Thiên Huế, 2019)

Bảng 1.2 thống kê số lượt khách các nước Quốc tế đến Huế qua 3 năm(2016- 2018), nhằm giúp chúng ta nắm rõ hơn không những tình hình khách dulịch đến Huế nói chung mà còn là tình hình khách du lịch Quốc tế đến Huế nói

Trang 22

riêng, bởi đây là đối tượng quan trọng mà ngành du lịch Thừa Thiên Huế hướngđến và phát triển.

1.2.2 Khái quát chung về DLCĐ gắn với làng nghề ở Thừa Thiên Huế

1.2.2.1 Tiềm năng DLCĐ tại các làng nghề ở Thừa Thiên Huế

Huế từng là kinh đô của nước Việt Nam từ năm 1802- 1945 nên các nghệnhân khắp cả nước được điều động về Huế để phục vụ cho vương triều nhàNguyễn, vì vậy các ngành nghề cũng phát triển theo.Theo thời gian, một sốngành nghề đã bị mai một hoặc mất đi, dù vậy Thừa Thiên Huế vẫn còn giữ lạinhiều làng nghề thủ công truyền thống Theo thống kê của Sở công thương, tỉnhThừa Thiên Huế hiện nay có tất cả 88 làng nghề trong đó có 69 làng nghề truyềnthống, 8 làng nghề tiểu thủ công nghiệp và 11 làng nghề mới du nhập với trên

2600 cơ sở sản xuất

Một số làng nghề tiêu biểu ở Thừa Thiên Huế: làng nghề Đúc đồng Huế(phường Phường Đúc và Thủy Xuân, TP Huế); làng nghề Gốm Phước Tích vàlàng nghề Điêu khắc gỗ Mỹ Xuyên (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền); làngnghề Tranh dân gian làng Sình và Hoa giấy Thanh Tiên (xã Phú Mậu, huyện PhúVang); làng nghề Nón lá Thủy Thanh (xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy) vàlàng nghề Nón lá Mỹ Lam (xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang); làng nghề Dệt Zèngtại các xã A Roàng, A Đớt, Thị trấn A Lưới, huyện A Lưới; làng nghề đan lát mâytre Bao La (xã Quảng Phú và Thủy Lập, xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền).[16](xem phụ lục 3: Danh sách làng nghề ở Thừa Thiên Huế)

Hệ thống làng nghề hiện có hiện nay tạo ra một tiềm năng rất lớn cho việcphát triển loại hình du lịch DLCĐ ở các làng nghề ở Việt Nam nói chung và ThừaThiên Huế nói riêng Mỗi làng nghề sẽ gắn với một vùng văn hóa, hệ thống ditích và truyền thống riêng như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét độc đáoriêng không thể thay thế, một cách giới thiệu sinh động về đất nước, con người ởmỗi vùng miền của Thừa Thiên Huế Nếu việc phát triển DLCĐ ở các làng nghềđược tổ chức, xây dựng mô hình chuẩn mẫu, cơ sở vật chất du lịch được đầu tưđáp ứng nhu cầu tìm hiểu văn hóa, thậm chí trực tiếp tham gia vào quá trình sảnxuất, tự làm ra sản phẩm độc đáo theo ý mình của du khách thì chắc chắn, làng

Trang 23

nghề sẽ trở thành điểm dừng chân lý tưởng thú vị và hấp dẫn trong hình trìnhtham quan Huế của du khách Đặc biệt đối với nhu cầu khách du lịch quốc tếngày càng khắt khe thì DLCĐ tại các làng nghề sẽ là một hình thức, lựa chọnmới lạ.

1.2.2.2 Tình hình phát triển DLCĐ tại các làng nghề ở Thừa Thiên Huế

Du lịch làng nghề ở Thừa Thiên Huế được triển khai khá sớm Các thôngtin và số liệu về du lịch làng nghề hầu như chưa được thu thập và lưu trữ đầy đủ.Tuy nhiên, quá trình phát triển DLCĐ tại các làng nghề tại Thừa Thiên Huế cóthể được phát khảo ở bảng sau:

- Trải nghiệm làm nghề gốm truyền thống.Làng

- Tham quan làng, bản, di tích lịch sử, làngnghề dệt zèng, đan lát

- Thưởng thức đặc sản ẩm thực, du ngoạn hồnước nóng, lễ hội, âm nhạc

Tranh

làng Sình

Năm 2000 Chưa có - Được nghệ nhân tiếp nước, chuyện trò, tìm

hiểu về lịch sử văn hóa của làng nghề thôngqua các nghệ nhân

- Sau đó, giới thiệu và hướng dẫn quý khách

Trang 24

làm tranh dân gian Du khách có thể tự tay

vẽ tranh và phối màu sắc theo ý muốn

- Mua các sản phẩm đã được vẽ sẵn về làmlưu niệm hoặc phục vụ cho mục đích tâmlinh tùy theo nhu cầu của du khách

Làng đan

lát Bao

- Hoạt động du lịch ở làng diễn ra tự phát,khách du lịch và các công ty lữ hành tự tìmđến tham quan làng nghề

- Tuy nhiên hiện nay, làng nghề cũng đã sángtạo các sản phẩm đan lát cỡ nhỏ, phù hợpvới thị hiếu của khách du lịch để bán chokhách

- Khách đến đây chủ yếu để tham quan làngnghề, tìm hiểu các sản phẩm, có thể thamgia vào quy trình làm tùy thuộc vào nhucầu

Nhận thấy rằng, hoạt động DLCĐ tại các làng nghề đều diễn ra từ rất sớm,sản phẩm và các dịch vụ du lịch chủ yếu dựa vào tài nguyên hiện có của làngnghề với hình thức lưu trú chủ yếu là homestay Khách du lịch đến tham quanlàng nghề để tìm hiểu văn hóa, lịch sử và trải nghiệm làm các sản phẩm làngnghề, thưởng thức ẩm thực địa phương Ngoài ra, hoạt động DLCĐ cũng đangdiễn ra trên các làng nghề khác trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế như đệm bàngPhò Trạch, rèn Hiền Lương, nghề nón lá Huế

Trang 25

1.2.3 Một số mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng nghề ở Việt Nam

Bảng 1.1: Một số mô hình DLCĐ gắn với làng nghề ở Việt Nam

Mô hình DLCĐ gắn

với làng nghề tại: Mô hình DLCĐ

Bắc Ninh

- Kết hợp 2 làng nghề: nghề gốm ở làng Phù Lãng,nghề tương ở làng Đình Tổ

- Kết hợp tham quan các điểm du lịch của địa phương,

và trải nghiệm tại làng nghề

- Phương pháp và quá trình phát triển tại các làng nghềtrải qua 6 giai đoạn

Quảng Nam

- Mô hình DLCĐ xây dựng tại làng rau Trà Quế

- Xây dựng các mô hình ruộng sẵn để du khách trảinghiệm các hoạt động trồng, thu hoạch

- Dịch vụ phục vụ ăn uống dựa trên nông sản đã thuhoạch được

Tây Ninh

- Mô hình DLCĐ tại huyện Trảng Bàng, Gò Dầu vớinghề làm bánh tráng phơi sương, mây, tre, đan lát

- Ngủ tại nhà dân và trải nghiệm làng nghề

Mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng nghề ở Bắc Ninh

Mô hình DLCĐ tại Bắc Ninh gắn với phát triển giá trị văn hóa truyền thốngtại Bắc Ninh gồm 3 xã: Phù Lãng, Đình Tổ và Hòa Long Du lịch được phát triển

ở làng Phù Lãng với nghề gốm, làng Đình Tổ với nghề tương Mô hình này nhằmgắn kết điểm mạnh của các địa phương như du lịch và trải nghiệm làm gốm ởPhù Lãng, thăm quan làng nghề làm tương truyền thống và thăm di tích chùa BútTháp ở Đình Tổ, giao lưu quan họ ở Làng Diềm, quê hương của Quan họ thuộc

xã Hòa Long Phương pháp và quá trình phát triển của các làng nghề trên có thểđược tóm tắt qua 6 giai đoạn Giai đoạn 1: Lập kế hoạch, gồm các bước khảo sátđánh giá các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của làng như phong cảnh làngquê, đình chùa Đánh giá lại các nghề thủ công truyền thống của làng, văn hóatruyền thống của làng, cũng như hệ thống giao thông phục vụ du lịch, điều tra ýkiến người dân về hoạt động DLCĐ Sau đó, chọn các thôn đặc trưng để xâydựng tour DLCĐ (thôn Phù Lãng, Đình Tổ, ) Từ đó xác định thời gian du lịch,lập bản đồ quy hoạch du lịch các điểm phục vụ như bãi đỗ xe, lập bản đồ Cân

Trang 26

nhắc đối tượng khách của làng, kêu gọi nguồn hổ trợ từ tư nhân cũng như các dự

án của chính phủ Giai đoạn 2: Xây dựng bộ máy tổ chức phát triển du lịch gồmchính quyền và người dân địa phương tham gia vào hoạt động DLCĐ ở làngnghề Chính quyền tham gia với vai trò quản lý, còn người dân tham gia vào cáchoạt động du lịch như phục vụ nấu ăn, phục vụ nhà hàng, đón tiếp và hướngdẫn Giai đoạn 3: Thiết kế lại cảnh quan của làng như các tiểu cảnh trên đường

đi của các tour du lịch, cây xanh cho phù với nguồn kinh phí của dự án, thiết kếcác mẫu mã sản phẩm mới, nhãn hiệu cho các hộ sản xuất các bài giới thiệu tạinhững điểm du lịch cho khách cần chuẩn bị chu đáo trước Giai đoạn 4: Chuẩn bịđón khách du lịch Tờ rơi được in cho từng điểm du lịch có địa chỉ, điện thoạingười liên hệ cần thiết Xây dựng giá cho mỗi điểm đến như: bãi đỏ xe điểm PhùLãng, trải nghiệm làm gốm, ăn trưa tại Hòa Long Giai đoạn 5: Xúc tiến quảng

bá với các công ty lữ hành nội địa (bao gồm cả khách nội địa và khách nướcngoài) để giới thiệu chương trình tour Giai đoạn 6: Quản lý, kiểm soát trong quátrình đón khách, tiếp tục hoàn thiện thêm những điểm bất hợp lý nhằm tạo thuậnlợi cho khách tham quan và trải nghiệm được nhiều thời gian hơn, đa phần khách

đi tham quan 2 xã trong ngày

Mô hình phát triển DLCĐ Bắc Ninh được đánh giá cao, mang lại chongười dân có thu nhập ổn định thông qua phát triển du lịch cộng đồng, khôi phụcđược nghề làm gốm sành của xã Phù Lãng, số lượng sản phẩm bán ra thị trườngtrong và ngoài nước ngày càng tăng Nghề làm tương của xã Đình Tổ đã pháttriển tích cực Nhờ làm thương hiệu ATVSTP nên sản phẩm đã tiếp cận thịtrường trong tỉnh ngoài tỉnh, số hộ tham gia làm tương từ chỗ chỉ có vài hộ thamgia, nay đã lên vài chục hộ Lượng khách du lịch đến với các xã này ngày càngtăng trưởng

Mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng nghề ở Quảng Nam.

Mô hình DLCĐ gắn với làng nghề tại Quảng Nam, cụ thể ở làng rau TràQuế Làng rau Trà Quế do 30 nông dân tự đứng ra làm du lịch vào những lúcnông nhàn Những người nông dân này tự mua những thiết bị cơ bản để trang trícho nghề nông như: dép, áo quần nông dân, nón lá Họ chia ra các khu đất trồng

Trang 27

rau ra thành những luống đất sẵn sàng cho các công đoạn như: có luống chưacuốc, có luống đã cuốc, làm mịn và phơi khô để chuẩn bị gieo hạt, có luống trồngrau đến thời điểm thu hoạch, khu vực rửa rau và chế biến

Du khách khi đến thăm làng rau Trà Quế có thể mặc những bộ đồ nông dân,mang dép lê, đội nón lá để thực hiện các công đoạn như cuốc đất, đánh tơi đất,gieo trồng rau, thu hoạch rau rồi mang đi sơ chế Làng còn có dịch vụ phục vụ ăntrưa cho khách với các nguyên liệu bằng nông sản địa phương, trong đó có cácloại rau mà du khách vừa thu hoạch được.[17]

Mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng nghề ở Tây Ninh

Mô hình DLCĐ tại huyện Trảng Bàng, Gò Dầu: gắn với phát triển giá trịvăn hóa truyền thống tại Trảng Bàng, Gò Dầu: Mô hình nghề làm bánh trángphơi sương; mây, tre, đan lát, sinh vật cảnh nhằm gắn kết điểm mạnh của huyệnTrảng Bàng, Gò Dầu Khách du lịch khi tham gia loại hình du lịch cộng đồng tạilàng nghề bánh tráng phơi sương sẽ ngủ nhà dân và trải nghiệm các quy trình đểlàm ra một chiếc bánh tráng phơi sương từ khâu chọn nguyên liệu, làm bột, trángbánh, phơi bánh, nướng bánh, phơi bánh, hái rau sông; sau đó bánh tráng phơisương được “xuất khẩu tại chỗ” cho du khách mang về nước; chèo thuyền trêncác rạch, sông Vàm Cỏ Đông để hái rau sông, khách tự tay nấu món ăn cùng vớisản phẩm mình làm ra; thăm, trồng, nuôi hoa, con vật như baba, rùa, trăng dongười dân hướng dẫn; cùng người dân làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ,mây, tre, trúc; các vườn trái cây dưa lưới, chôm chôm, sầu riêng, măng cục.[16]

Từ tất cả các mô hình kinh nghiệm trên, chúng ta có thể thấy rằng: “Côngtác bảo tồn và phát triển DLCĐ gắn với làng nghề rất được quan tâm ở nước ta.Mỗi địa phương với các điều kiện văn hóa, lịch sử và địa lý khác nhau sẽ cóchính sách thích hợp để bảo tồn và phát huy các LNTT Những kinh nghiệm,những mô hình về DLCĐ trên sẽ là những kinh nghiệm quý giá cho việc xâydựng và phát triển du lịch ở các làng nghề ở tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung vàlàng Hoa giấy Thanh Tiên nói riêng

Trang 28

CHƯƠNG II:

NGHIÊN CỨU DU LỊCH CỘNG ĐỒNG GẮN

VỚI LÀNG NGHỀ TẠI LÀNG HOA GIẤY THANH TIÊN

2.1 Giới thiệu tổng quan về làng hoa giấy Thanh Tiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Làng Thanh Tiên là một trong những làng được thành lập sớm ở xứ ThuậnHóa Nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 10 km Cùng với một số địaphương khác, Thanh Tiên là một trong 19 xã thuộc tổng Mậu Tài, huyện PhúVang, phủ Triệu Phong Nay thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh ThừaThiên Huế

Làng Thanh Tiên nằm vào một vị trí khá đặc biệt bên bờ Nam hạ lưu sôngHương, phía Bắc giáp thôn Mậu Tài, nam giáp Thế Vinh, đông giáp Vọng Trì, đôngtây giáp sông Hương bởi cồn Triều Sơn nằm giữa Là một làng nông nghiệp nhưngThanh Tiên có diện tích khá nhỏ (35 mẫu) Đến nay, người dân trong vùng vẫnthuộc câu ca lưu truyền nói về địa thế và sự trù phú của làng quê mình từ xa xưa:

“Thanh Tiên cao bậc hẩng bờ Gọi ghe ghé lại mẹ nhờ duyên con”

Câu ca gợi cho ta cảnh một ngôi làng ven sông thanh bình với tiếng hò giãgạo của các cô thôn nữ, đó là nơi dừng chân nghĩ ngơi của các thương nhân, củanhững ghe thuyền phương xa sau những chuyến hàng lên cảng thị Thanh Hà, phố

cổ Bao Vinh [14]

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng hoa giấy Thanh Tiên

Theo Gia phả họ Trần (Phụng tu ngày 4-5 năm Tự Đức 33), ngài khai canhcủa làng là Võ Đình Tiên, từ Sơn Tây phò chúa Nguyễn đến đóng đô ở PhúXuân, đã có công khai canh 83 mẫu ruộng tại làng Ngài phụng duyên với bàTrần Thị Vờ (tự là Lót) người làng Nam Phù, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền,tỉnh Thừa Thiên Hai ông bà có với nhau ba người con, sau khi mất cả hai được

an táng tại làng Thanh Tiên

Làng Thanh Tiên là một làng thuần nông, hầu như không có một nghề thủcông nào tồn tại, thế nhưng vào tháng chạp ở đây lại rộn ràng với nghề làm hoa

Trang 29

giấy Nghề hoa giấy Thanh Tiên có trong danh mục thống kê của các nghề thủcông từ thế kỉ XVI_XIX của Đại Nam nhất thống chí Làng ra đời gần 400 nămtrước thời các Chúa Nguyễn Nhưng mãi cho đến năm 1802 mới được mọi ngườibiết đến Khi nghe trình bày hết ý nghĩa của loại hoa giấy Thanh Tiên, vua lấylàm thích thú và sau đó ban chiếu khuyến khích người dân làng Thanh Tiên làmhoa giấy để bày biện, bán lên kinh đô và phổ biến nghề làm hoa giấy cho mọingười biết Từ đó, nghề làm hoa giấy của làng nổi tiếng khắp đất nước.

Hoa giấy Thanh Tiên như một phần không thể thiếu vào ngày tết, đặc biệt là

ở Cố đô Huế- Kinh đô của chế độ phong kiến cuối cùng nước ta Sản phẩm hoagiấy thường được trang trí ở những nơi thờ tự trong nhà, các miếu, trang bà, am,bàn thờ ông địa, táo quân, thần bếp Người dân Huế rất coi trọng việc thờ cúng

tổ tiên, như một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần, đời sống tâm linh

Vì vậy cũng dể hiểu vì sao ở Huế lại có tranh làng Sình, hoa giấy Thanh Tiên đểphục vụ, tô điểm thêm màu sắc cho bàn thờ gia tiên mọi gia đình

Hoa giấy Thanh Tiên tuy đơn giản nhưng làm lại không dễ, bởi ngoài sự khéoléo, người thợ phải có óc thẩm mỹ mới có thể cho ra đời những sản phẩm đẹp vàtinh tế Đặc biệt, phải đòi hỏi ở người thợ đức tính kiên trì, cần mẫn Ưu điểm củahoa giấy Thanh Tiên chính là sự phong phú về màu sắc và có nhiều loại hoa khácnhau trên một cây bông, hình thức đẹp, để được lâu lại thể hiện sự trang nghiêm,một năm chỉ thay một lần vào dịp tết nên nó dễ được chấp nhận và tồn tại dài lâu

2.1.3 Sự ra đời của nghề làm hoa giấy Thanh Tiên

Hiện tại, mặc dù không còn tư liệu thành văn hay tư liệu hồi ức sớm nói vềthời điểm chính xác hình thành nghề làm hoa giấy ở làng Thanh Tiên nhưng cóthể khẳng định rằng, đây là một làng nghề hình thành khá sớm cùng với các làngnghề khác trên địa bàn Thừa Thiên Huế

Sự ra đời của các trung tâm buôn bán, các chợ làng, chợ huyện, và đặc biệt

là với sự xuất hiện của cảng thị Thanh Hà, Bao Vinh đã làm khai sinh cácngành nghề thủ công truyền thống nhằm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống

Theo thống kê, từ thế kỉ XVI- XIX trên địa bàn của kinh đô Huế gồm cónhững làng nghề thủ công như: làng gồm Phước Tích, gạch ngói Nam Thanh,

Trang 30

gốm Vân Cù, dây thau dây thép Mậu Tài, rèn sắt Hiền Lương, đúc đồng DươngXuân, mộc Quảng Phước, điêu khắc gỗ Mỹ Xuyên, đan lát Bao La, đan cúi Dã

Lê, làm gối mây An Ninh, làm nón Triều Sơn- Sư Lỗ Đông- Phú Cam, làm giấyĐốc Sơ, kim hoàn Kế Môn, dệt vải Mỹ Lợi, tơ tằm Ưu Điềm, làm hoa giấyThanh Tiên, làm tranh làng Sình, trướng liễn An Truyền, chiếu đệm Phò Trạch Như vậy, trong số các ngành nghề thủ công ra đời sớm, hoa giấy ThanhTiên cũng đã có mặt để đáp ứng cho những đòi hỏi của đời sống tinh thần Tuynhiên, xét trên nguyên nhân và khía cạnh ra đời thì nghề làm hoa giấy ở làngThanh Tiên lại mang những đặc điểm riêng biệt

Trước hết, sự ra đời của làng hoa và sản phẩm của nó nhằm phục vụ nhữngnhu cầu tín ngưỡng dân gian của người dân Những nhu cầu, đòi hỏi này vốn đã

có từ rất lâu đời trên đất Thừa Thiên Huế Bởi vì trong quá trình di cư vào Namthì những tín ngưỡng dân gian mà người dân phía Bắc mang theo “luôn tâmkhảm như một thứ hành trang vô hình mà bền chặt trong cuộc sống” Thêm vào

đó tàn dư tín ngưỡng của các cư dân Chăm, cư dân Indonesia và sự giao hào vớitín ngưỡng của người Hoa trên nền chi phối các tôn giáo truyền thống: Phật giáo,Lão giáo, Nho giáo tất cả đã tạo nên một tập tục tín ngưỡng bền chặt và tồn tạihết sức lâu dài trên mảnh đất này Chính những đòi hỏi đó làm nãy sinh một sốsản phẩm thủ công bằng giấy để phục vụ tín ngưỡng dân gian của người dân nhưhoa giấy Thanh Tiên, tranh làng Sình, trướng liễn làng Chuồn

Đối với người dân Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng thì hoagiấy luôn là yếu tố trang trí không thể thiếu trong các ngày lễ, cúng, tế, kị, giỗ,đám cưới kể cả đám ma Nó trở thành một yếu tố tạo nên niềm vui trong các lễhội cũng như thể hiện tính linh thiêng trong đời sống tâm linh của con người.Cũng mang tính chất linh thiêng phục vụ cho thờ cúng, thế nhưng hoa giấyThanh Tiên có thể là sự thay thế độc đáo nhất cho những nơi thờ không có khảnăng thay hoa tươi thường xuyên

Sản phẩm hoa giấy thường để trang trí ở những nơi thờ tự trong nhà chẳnghạn như các miếu, am, trang bà, bàn thờ ông địa, táo quân thần bếp chính sự

Trang 31

trong phú về màu sắc và có nhiều loại hoa khác nhau, lại để được lâu, thể hiệnđược tính trang nghiêm, một năm chỉ cần thay một lần vào dịp tết âm lịch nênhoa giấy Thanh Tiên khi vừa mới ra đời đã được chấp nhận ngay trong cuộc sốngthường nhật và cứ thế tồn tại mãi cho đến nay Cũng chính hoa giấy Thanh Tiên

có đặc điểm riêng đó mà thời gian sản xuất của nghề thủ công này chỉ diễn ratrong một khoảng ngắn trước Tết Âm lịch (chủ yếu vào tháng Chạp)

Theo lời kể của các nghệ nhân trong làng nghề vốn xuất phát từ làng TiênNộn Làng này có nghề làm hoa quỳ (hoa hướng dương), loại hoa được dùng đểcúng tế trong các tục cúng bổn mạng, trang trí am thờ Trên cơ sở cây hoa quỳlàng Tiên Nộn, các nghệ nhân làng Thanh Tiên tìm cách sáng tạo và bổ sung làmcây hoa giấy đẹp hơn, đa dạng hơn bằng cách thêm vào đó nhiều loại hoa khác:hoa cúc, hoa tường vi, hoa lan, hoa huệ, hoa sứ, hoa hường làm thêm nhụy hoa,tăm (cuốn hoa) và chông (cây hoa) Với sự phong phú và đa dạng của mình,câyhoa giấy Thanh Tiên đó nhiều loại hoa cúng với nhiều màu sắc, nhiều chủng loạikhác nhau đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng dân gian của người dân xứ Huế.Tóm lại, xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống, từ nhu cầu thờ cúng tâm linh,tín ngưỡng dân gian mà người dân lao động đã tạo ra cho mình những sản phẩmthủ công độc đáo trong đó hoa giấy là một sản phẩm hết sức đặc sắc, mang đậmnét riêng của mảnh đất vốn là nơi địa linh nhân kiệt, nơi hòa hợp giữa những bảnsắc văn hóa chung và riêng Sự ra đời của hoa giấy vốn để đáp ứng nhu cầu tínngưỡng của nhân dân thế nhưng hiện nay sự mai một dần của nghề làm hoakhông phải do nhu cầu ấy mất đi mà trong bản thân nghề vốn tồn tại những vấn

đề, những khó khăn khó có thể giải quyết cũng như sự tác động của nhiều yếu tốngoại tại trong thời đại mới

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch tại làng hoa giấy Thanh Tiên

2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên tại làng hoa giấy Thanh Tiên

Làng Thanh Tiên nằm vào một vị trí khá đặc biệt bên bờ Nam hạ lưu sôngHương, phía Bắc giáp thôn Mậu Tài, nam giáp Thế Vinh, đông giáp Vọng Trì,đông tây giáp sông Hương bởi cồn Triều Sơn nằm giữa Diện tích của làng kéodài trên một con đường liên thôn, rẻ vào các con đường xóm để đến với từng nhà

Trang 32

dân Phía trước làng là cánh đồng dài thẳng tắp, phía sau làng là hạ lưu của dòngsông Hương, điều này làm cho cảnh quan không khí làng quê trở nên trong lành.Không có quá nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên, Thanh Tiên cũng giống nhưnhững ngôi làng quê bình thường khác Nhưng sự kết hợp giữa tự nhiên và nhânvăn tạo nên sự hấp dẫn của ngôi làng này.

2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn tại làng hoa giấy Thanh Tiên

Với lịch sử hình thành cách đây hơn 4 thế kỷ với làng nghề truyền thốnglàm hoa giấy nổi tiếng Thanh Tiên vẫn còn những điểm tham quan khác cho dukhách đến tham quan sau khi đã trải nghiệm làm hoa giấy Với các điểm thamquan dưới đây:

- Đình làng hoa giấy Thanh Tiên xây dựng hơn 400 năm dưới thời các vua chúaNguyễn Ngài khai canh của làng Thanh Tiên là Võ Đinh Tiên, phò chúa Nguyễn,đóng đô ở Phú Xuân

- Nhà trưng bày sản phẩm thủ công hơn 300 năm truyền thống làng nghề Thanh

Tiên.

- Di tích nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Chí Diểu

Đồng chí Nguyễn Chí Diểu (1908-1939) người Đảng viên ưu tú đã đượcsinh ra và lớn lên trong căn nhà tranh này và đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệpgiải phóng dân tộc Năm 1928 đồng chí tham gia Ủy viên kỳ bộ Tân Việt cáchmạng Đảng Trung kỳ Năm 1929 đồng chí được tổ chức cử vào Sài Gòn hoạtđộng Ngày 9/5/1933 đồng chí bị kết án khổ sai chung thân và bị đày ra Côn Đảo.Tháng 6/1936 trở về Huế chưa được bao lâu, đồng chí lại tham gia Ban chấphành Trung ương Đảng và được phân công phụ trách miền Trung Đồng chí từtrần vào ngày 17/9/1939 và an táng tại nghĩa địa mang tên cụ Phan Bội Châu.Đến khoảng năm 1929 cũng tại địa điểm nền nhà cũ, người anh của NguyễnChí Diểu là Nguyễn Chí Thông đã bỏ tiền ra xây dựng lại ngôi nhà, giữ nguyênkiểu dáng cũ, đó là ngôi nhà rường ba gian, khung gỗ kiền kiền và sến, mái lợpbằng ngói liệt Đặc biệt với tổ hợp hiện vật lưu niệm: Bàn ghế, giường, phản, bểnước, giếng hiện vẫn còn được lưu giữ, là những bằng chứng hùng hồn minhchứng cho cuộc sống, sinh hoạt và những hoạt động của đồng chí Nguyễn Chí

Trang 33

Diểu đã gắn bó một thời với ngôi nhà thân yêu của mình, nâng bước cho nhữnghoạt động của đồng chí góp phần vào sự nghiệp giải phóng đất nước.

Di tích lịch sử Nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Chí Diểu đã được công nhận là

di tích Quốc gia theo quyết định số 2307/QĐ – Bộ Văn hóa Thông tin ngày30/12/1991

- Nhà thờ giáo xứ làng Thanh Tiên, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa ThiênHuế Nhà thờ nằm cạnh nhà trưng bày sản phẩm thủ công làng nghề

2.3 Đánh giá của du khách đối với hoạt động du lịch cộng đồng gắn với làng nghề tại làng Hoa giấy Thanh Tiên

Số lượng mẫu điều tra: số phiếu phát ra là 120 phiếu, số phiếu thu về là 118phiếu Trong quá trình xử lý, loại bỏ các phiếu không hợp lệ, và lựa chọn ra được

110 phiếu để tiến hành phân tích Trong đó, có 35 phiếu điều tra dành cho kháchnội địa, 75 phiếu còn lại dành cho khách quốc tế

Địa điểm lấy mẫu: Làng hoa giấy Thanh Tiên

Thời gian điều tra: từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2019

2.3.1 Thông tin chung về du khách

Bảng 2.1: Đặc điểm nhân khẩu học của du khách

- < 18 tuổi 7,3- Doanh nhân 8.2

- 18- 35 tuổi 21.8- Cán bộ, nhân viên 47,3

- 36- 60 tuổi 58,2- Học sinh, sinh viên 24,5

- > 60 tuổi 12.7- Hưu trí 10.9

Trang 34

( Nguồn: xử lý số liệu điều tra, 2019)

Quốc tịch

Từ năm 2015 đến nay, hàng năm vào khoảng từ tháng giêng đến cuối tháng

9, làng hoa giấy Thanh Tiên đã đón nhiều đoàn khách du lịch, bình quân 25 lượtkhách/ mỗi tháng, mỗi lượt khoảng 10-20 khách/ đoàn đến tham quan Đặc biệt,vào các dịp Festival Huế, Festival nghề truyền thống Huế vào tháng 4, tháng 5hằng năm, số lượt khách đến thăm làng tăng lên đáng kể Du khách đến đây phầnlớn là khách quốc tế chiếm đến 68,2%, trong đó chủ yếu là du khách Pháp chiếm36,4%, tiếp đến lần lượt là du khách Mỹ 10,9%, du khách Anh là 9,1%, du kháchquốc tịch khác là 11,8% Du khách nội địa chiếm chỉ khoảng 31,8% Có thể thấyrằng, ngoài khách nội địa, thì du khách Pháp là đối tượng quan tâm đến làng hoagiấy Thanh Tiên nhiều nhất

là nhóm tuổi dưới 18 tuổi chỉ chiếm 7,3% Qua số liệu này có thể thấy rằng: dukhách ở độ tuổi trung niên rất quan tâm tới làng nghề Ở độ tuổi từ 18 – 35 cũngchiếm một tỷ lệ tương đối, phải chăng giới trẻ hiện nay cũng bắt đầu chú ý đếnlàng nghề? Đây sẽ là một tín hiệu đáng mừng cho việc phát triển du lịch ở lànghoa giấy Thanh Tiên

Nghề nghiệp

Nghề nghiệp phổ biến của các du khách khi đến đây là cán bộ, nhân viênchiếm 47,3%; tiếp đó là học sinh, sinh viên chiếm 24,5% Tỷ lệ các du kháchthuộc các nghề nghiệp còn lại chiếm tỷ lệ thấp tương đương nhau là: hưu tríchiếm 10,% ; doanh nhân chiếm 8,2%; nhóm nghề nghiệp khác chiếm 9,1%

Trang 35

2.3.2 Thông tin về chuyến đi của du khách

Bảng 2.2: Thông tin về chuyến đi của du khách

Tổng số mẫu điều tra : 110

1 Số lần đến làng hoa giấy Thanh

Tiên 2 Nguồn thông tin về làng hoa giấy Thanh Tiên

- Lần đầu tiên 90,0- Công ty lữ hành 75,5

3 Mục đích chuyến đi 4 Hình thức đi du lịch

- Tham quan, tìm hiểu văn hóa 59,1- Tự tổ chức 28,2

- Công vụ 2,7- Đi theo tour 71,8

- Trãi nghiệm thực tế 33,6

- Thăm người thân bạn bè 4,5

- Mục đích khác 0,0

5 Thời gian lưu lại làng hoa giấy

Thanh Tiên 6. Mức chi tiêu tại làng hoa

giấy Thanh Tiên

- 1-2 tiếng 54,5- Dưới 150 nghìn đồng 53,6

- Nữa ngày 37,3- 150- dưới 200 nghìn đồng 26,4

- 1 ngày 1,8- 200 nghìn đồng- 350 nghìn đồng 15,5

- Nhiều hơn 1 ngày 6,4- Nhiều hơn 350 nghìn đồng 4,5

(Nguồn: xử lý số liệu điều tra, 2019)

Số lần đến với làng hoa giấy Thanh Tiên

90% du khách đến với làng hoa giấy Thanh Tiên là lần đầu tiên, số lần dukhách đến tham quan làng nghề từ lần thứ 2 trở lên chiếm tỷ lệ rất thấp 10%.Nguyên nhân cũng dể hiểu, bởi tâm lý du khách nào khi đi du lịch thường muốntrải nghiệm, cảm nhận sự mới lạ của nhiều nơi khác nhau, đến được nhiều vùngmiền, chứ ít khi họ muốn trở lại nơi mà họ đã từng đặt chân đến và đã biết Nhưngđiều đó không có nghĩa là du khách sẽ không trở lại làng Thanh Tiên Nếu làngmang lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng mỗi du khách, phát triển nhiều hoạt động

Trang 36

du lịch mới, dịch vụ du lịch tốt, nhiều chương trình đặc sắc tổ chức tại làng thìlượng du khách đến tham quan làng hoa giấy Thanh Tiên sẽ ngày càng tăng.

Nguồn thông tin về làng hoa giấy Thanh Tiên

Có đến 75,5% du khách biết đến làng hoa giấy Thanh Tiên thông qua cáccông ty, các đại lý lữ hành du lịch Trong khi đó du khách biết đến làng ThanhTiên thông qua các nguồn thông tin còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp, cụ thể là: sáchhướng dẫn, báo chí chiếm 9,1%; internet chiếm 8,2%; tivi, radio chiếm 2,7% và

từ người thân, bạn bè chiếm 4,5%

Mục đích chuyến đi

Có 59,1% du khách đến làng hoa giấy Thanh Tiên với mục đích tham quan,tìm hiểu làng nghề Những du khách này đi du lịch nhằm nghiên cứu về lịch sử,văn hóa làng nghề phục vụ cho công việc, học tập cũng như nâng cao kiến thứccủa bản thân Mục đích trải nghiệm thực tế cũng chiếm tỷ lệ khá cao 33,6% Cácmục đích còn lại chiếm tỷ lệ thấp hơn như: du lịch công vụ chiếm 2,7% ; thămngười thân bạn chiếm tỷ lệ 4,5%

Hình thức đi du lịch

Có đến 71,8% du khách đến với làng hoa giấy Thanh Tiên thông qua cácchương trình tour từ các công ty lữ hành; 28,2% số khách còn lại đi du lịch bằnghình thức tự tổ chức

Kết quả điều tra ở làng hoa giấy Thanh Tiên cho thấy khách quốc tế đếntham quan làng Thanh Tiên chủ yếu qua các hãng lữ hành chiếm tỷ lệ cao 82,7%,

tự tổ chức chỉ chiếm 17,3% Còn đối với khách nội địa, hình thức tự tổ chứcchiếm tỷ lệ cao hơn với 51,4%; đi theo tour chiếm 48,6% (Xem phụ lục 4)

Thời gian lưu lại làng hoa giấy Thanh Tiên

Phần đông du khách lưu lại làng hoa giấy Thanh Tiên từ 1-2 tiếng chiếm tỷ

lệ 54,5%, điều này cũng dễ lý giải khi chủ yếu khách đến tham quan làng theohình thức đi theo tour do các công ty lữ hành tổ chức, do đó mà thời gian lưu lạilàng nghề của du khách cũng hạn chế theo Tiếp theo đó là thời gian nữa ngàychiếm 37,3%; 1 ngày chiếm 1,8% và nhiều hơn 1 ngày chiếm 6,4%

Tiến hành kiểm định ANOVA để tìm ra sự khác biệt giữa thời gian lưu lạivới các nhóm quốc tịch, độ tuổi, nghề nghiệp Kết quả ANOVA cho thấy, chỉ có

Trang 37

sự khác biệt trong việc lựa chọn thời gian lưu lại với các các nhóm quốc tịch (sig

= 0,002)

Du khách đến từ những quốc gia khác nhau sẽ lữa chọn những khoản thờigian lưu lại khác nhau Chẳng hạn như du khách Anh có tỷ lệ thời gian lưu trú tạilàng Thanh Tiên từ 1-2 tiếng nhiều nhất với 70,0% lựa chọn; du khách đến từnước Mỹ muốn lưu lại làng Thanh Tiên nữa ngày nhiều nhất với 41,7% Trongkhi đó, nhóm khách nội địa có xu hướng lưu lại làng lâu hơn, cụ thể: 1 ngàychiếm tỷ lệ 5,7% và nhiều hơn 1 ngày chiếm 20,0% Còn đối với nhóm kháchquốc tế, hầu như không có du khách nào lưu lại làng từ 1 ngày trở lên (Xem phụlục 5) Chính quyền địa phương cần quan tâm hơn đến nhu cầu của du khách ởtừng quốc tịch, đặc biệt là du khách Mỹ với tỷ lệ lưu lại nữa ngày cao, và dukhách nội địa, nhằm thu hút nguồn khách này đến với làng hoa giấy Thanh Tiênnhiều hơn nữa

Mức chi tiêu tại làng hoa giấy Thanh Tiên

Du khách đến với làng hoa giấy Thanh Tiên chủ yếu là đi theo tour với giá

vé bao trọn gói, vì vậy mà khi đến đây, hầu hết du khách bỏ ra khoảng chi tiêu rấtthấp, những du khách chi tiêu nhiều chủ yếu là do mua các sản phẩm hoa giấy vềlàm quà và làm lưu niệm Cụ thể: có đến 53,6% du khách chi tiêu dưới 150 nghìnđồng, từ 150 đến dưới 200 nghìn đồng chiếm 26,4%, từ 200 đến 350 nghìn đồngchiếm 15,5%, trên 350 nghìn đồng chỉ chiếm 4,5%

Trang 38

2.3.3 Những khó khăn mà du khách gặp phải khi tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng tại làng Hoa giấy Thanh Tiên

Bảng 2.3: Khó khăn mà du khách gặp phải khi tham gia

đủ nhu cầu của khách 0 30.9 39,1 25,5 4,5 3,04Môi trường 0 21,8 40,9 32,7 4,5 3,20Giao tiếp khó khăn 0 16,4 12,7 38,2 32,7 3,87

( Nguồn: xử lý số liệu điều tra, 2019)

Ghi chú: 1 Rất không đồng ý, 2 Không đồng ý, 3 Bình thường, 4 Đồng ý,

5 Rất đồng ý

Khó khăn lớn nhất mà hầu hết du khách gặp phải khi đi du lịch đến lànghoa giấy Thanh Tiên là thông tin tiếp cận hạn chế (36,4% đồng ý và 55,5% rấtđồng ý) Du khách đến tham quan làng nghề chủ yếu là du khách nước ngoài docác công ty lữ hành đưa đến Tuy nhiên, các trang web giới thiệu về làng nghềchủ yếu là tiếng Việt, khó khăn cho du khách trong việc tiếp cận và biết đến làngnghề Mặc khác, các kênh thông tin do các hộ gia đình tự thiết lập, hoạt động ítthường xuyên nên đây là khó khăn lớn nhất của du khách cũng là điều để hiểu.Khó khăn gây ảnh hưởng thứ hai đó là thời gian tham hạn chế, đi theo tour nênlịch trình đã có sẵn, một số du khách muốn ở lại lâu hơn chút cũng gặp khó khăn

Do đó là khó khăn này cũng chiếm tỷ lệ rất đồng ý cao 62,7% Hướng dẫn viênkhông đáp ứng đủ nhu cầu của du khách là vấn đề hầu hết du khách không gặpphải (30,9% không đồng ý) Bởi vì, các đoàn khách đến tham quan làng thườngchiếm số lượng ít từ 10-20 khách/ đoàn, có những đoàn cũng chỉ từ 4-6 khách/đoàn, có hướng dẫn viên dẫn đoàn kết hợp với người dân địa phương hợp tác

Trang 39

phục vụ du khách nên khó khăn “hướng dẫn viên không đáp ứng nhu cầu” là vấn

đề du khách ít gặp phải nhất

2.3.4 Đánh giá của du khách về cơ sở vật chất du lịch tại làng Hoa giấy Thanh Tiên

Bảng 2.4: Đánh giá của du khách về làng hoa giấy Thanh Tiên

Nội dung đánh giá % Các mức độ đồng ý

Giá trị trung bình

Kiến trúc không gian, những ngôi

nhà cổ độc đáo 0 0 33,6 52,7 13,6 3,80Các dịch vụ lưu trú, ăn uống còn

thiếu thốn 0 0 0 24,5 75,5 4,75

Cơ sở vật chất phục vụ du lịch còn

nghèo nàn 0 1,8 2,7 26,4 69,1 4,63Mẫu mã sản phẩm hoa giấy độc đáo,

đa dạng 0 11,8 45,5 39,1 3,6 3,35

Kỹ thuật làm hoa giấy rất hấp dẫn và

thú vị 0 0 10,9 48,2 40,9 4,30Phong cảnh làng quê đẹp, yên bình 0 0,9 54,5 38,2 6,4 3,50Người dân địa phương rất nhiệt tình,

thân thiện 0 0,9 16,4 36,4 46,4 4,28Môi trường 0 17,3 54,5 25,5 2,7 3,14

( Nguồn: xử lý số liệu điều tra, 2019)

Ghi chú: 1 Rất không đồng ý, 2 Không đồng ý, 3 Bình thường, 4 Đồng ý,

5 Rất đồng ý

Hầu hết khách du lịch đều khá đồng ý với các ý kiến đánh giá ở trên, đặcbiệt ý kiến được du khách đồng ý cao nhất là: các dịch vụ lưu trú, ăn uống cònthiếu thốn (với mức độ đồng ý là 24,5% và rất đồng ý là 75,5%, đứng vị trí thứhai đó là ý kiến: cơ sở vật chất phục vụ du lịch còn nghèo nàn (mức độ đồng ý là26,4% và rất đồng ý là 69,1%) Sở dĩ du khách đánh giá như vậy xuất phát từthực trạng thực tế tại làng, các cơ sở phục vụ ăn uống hầu như chưa có Trướcđây, cũng có một số doanh nghiệp muốn đầu tư nhưng do các sản phẩm du lịchtại làng vẫn còn đơn điệu, khó thu hút khách ở lại lâu Mặc khác, thời gian dukhách đến tham quan Huế hạn chế nên tập trung tham quan di sản hơn Nên cơ sởlưu trú, ăn uống chưa được đầu tư nhiều, do đó mà nhiều du khách đồng ý cao

Trang 40

với ý kiến “các dịch vụ lưu trú, ăn uống còn thiếu thốn”, “cơ sở vật chất phục vụ

du lịch còn nghèo nàn” Ý kiến du khách đánh giá thấp nhất là môi trường vớimức độ không đồng ý là 17,3% và bình thường là 54,5% Chứng tỏ du kháchkhông đồng tình lắm với tình trạng môi trường ở nơi đây Cũng dể hiểu, khi mộtvài nơi trong làng, tình trạng rác thải sinh hoạt vẫn còn ngổn ngang Điều nàylàm cho đánh giá của du khách khi đến tham quan làng sẽ giảm đi

2.3.5 Đánh giá của du khách đối với thái độ phục vụ của các chủ nhà tại làng Hoa giấy Thanh Tiên

Bảng 2.5: Đánh giá của du khách về thái độ phục vụ của các chủ nhà

Nội dung đánh giá 1 % Các mức độ đồng ý 2 3 4 5 trung bình Giá trị

Chủ nhà thân thiện, mến khách 0 0,9 12,

7

14,5

71,8 4,57

Trang phục lịch sử, nhã nhặn 0 10,

0 44,5 40,9 4,5 3,40Thái độ phục vụ chuyên nghiệp 0 15,

5 53,6 25,5 5,5 3,21

(Nguồn: xử lý số liệu điều tra, 2019)

Ghi chú: 1 Rất không đồng ý, 2 Không đồng ý, 3 Bình thường, 4 Đồng ý,

5 Rất đồng ý

Hầu hết khách du lịch đều khá đồng ý với các ý kiến đánh giá trên, đặc biệt

ý kiến được du khách ủng hộ cao nhất là : chủ nhà thân thiện, mến khách với mức

độ rất đồng ý rất cao 71,8% Ý kiến khách ít đồng tình nhất là thái độ phục vụchuyên nghiệp (chiếm tỷ lệ không đồng ý là 15,5% và bình thường 53,6%) Sở dĩ

có điều này bởi vì: “chủ nhà thân thiện, mến khách” người dân ở quê thường chânchất, mến khách, khi có khách đến thăm làng, họ sẵn sàng đón tiếp với một thái độcực kì thân thiện Còn ý kiến “thái độ phục vụ chuyên nghiệp” ít được đồng tìnhbởi vì đa số hoạt động du lịch ở làng đều mang tính tự phát, hộ gia đình, ít đượcđào tạo bài bản nên phong cách phục vụ thiếu tính chuyên nghiệp nên nhiều dukhách sẽ cảm thấy bình thường với thái độ phục vụ của các chủ nhà

2.3.6 Mong muốn của du khách khi tham gia vào chương trình du lịch tại làng Hoa giấy Thanh Tiên

Ngày đăng: 16/02/2020, 18:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w