1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

nghiên cứu và phát triển bển vững lễ hội đua thuyền trên sông hương

75 431 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 291,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Góp phần bảo tồn và phát triển lễ hội khai thác giá trị lễ hội để phát triển du lịch- Kết hợp được giữa lễ hội và du lịch sẽ tạo dược thế mạnh cho du lịch văn hóa tạiHuế phát triển cụ

Trang 1

Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm

ơn sự giúp đỡ của cô T.S Lê Thị Kim Liên là người đã luôn theo sát và tận tình hướng dẫn cho em từ khi tiến hành lựa chọn đề tài, làm bảng hỏi và cho đến khi xử lý dữ liệu, kết thúc nghiên cứu.

Bên cạnh đó, em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Du Lịch Đại Học Huế đã tận tình truyền đạt kiến thức học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu mà còn là hành trang quý báu để chúng em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.

Chân thành cảm ơn những người bạn đã luôn đồng hành động viên em trong suốt thời gian qua, em cũng muốn dành lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình em nguồn hậu phương vững chắc và cũng là nơi nuôi nấng em nên người

Cuối cùng , tuy đã nỗ lực hết sức, nhưng với khả năng và thời gian có hạn nên nghiên cứu của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Vậy, em rất mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, góp ý tận tình của quý thầy, cô giáo để ngày càng nâng cao và hoàn thiện hơn kiến thức của mình.

Một lần nữa em xin trân trọng cám ơn!

Huế, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Trần Đức Anh Kiệt

Trang 2

Em xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là điều tratrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việcthực hiện chuyên đề này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đãđược chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố.

Huế, tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Trần Đức Anh Kiệt

Trang 3

MỤC LỤC

65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần biểu hiện những giá trị tiêubiểu của một cộng đồng, một dân tộc ở nước ta, lễ hội được tổ chức bao gồm nhiềumặt của đời sống xã hội như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, sự tích về các vịanh hùng có công với dân với nước, các trò chơi dân gian, diễn xướng dân gian, cácnghi lễ Hàng năm trên đất nước ta có hàng ngàn lễ hội được tổ chức với nhiều hìnhthức, quy mô và mang ý nghĩa khác nhau Lễ hội truyền thống như là một loại hìnhsinh hoạt văn hoá tinh thần đặc biệt, mang tính tập thể có giá trị to lớn mang ý nghĩa cốkết cộng dồng dân tộc, giáo dục tình cảm đạo đức con người hướng về cội nguồn, đồngthời lễ hội có giá trị văn hoá tâm linh cân bằng đời sống tinh thần con người hướng vềcái cao cả thiêng liêng Lễ hội còn là tấm gương phản chiếu việc bảo tồn và phát huy disản văn hoá dân tộc và đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lễ hội cònmang một giá trị kinh tế lớn Là sản phẩm đặt biệt cho ngành du lịch…

Trong tiến trình lịch sữ của dân tộc Do chiến tranh khốc liệt qua các giai đoạnkinh tế nhà nước kém phát triển suy thoái kinh tế, nên các lễ hội truyền thống khôngđược chú ý và chưa phát huy được giá trị to lớn của nó Vì vậy, nhiều giá trị văn hóa bịmai một mất dần theo thời gian Và trong giai đoạn này du lịch ít được đầu tư pháttriển, việc nghiên cứu và phục dựng các lễ hội truyền thống gắn với du lịch chưa đượcquan tâm đúng mức, chưa gắn kết du lịch và lễ hội

Bước vào thời kì đổi mới Với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xu thếtoàn cầu hóa, Đảng ta đã xác định phải gắn kết đồng bộ giữa tăng trưởng kinh tế vớiphát triển văn hóa Trong Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định rằng:

“Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng khángchiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc Các giá trị văn hoá nghệthuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc Bảo tồn và phát huyvăn hoá văn nghệ dân gian Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hoávới các hoạt động phát triển kinh tế du lịch”

Trang 7

Thừa Thiên Huế là vùng đất cố đô giàu truyền thống lịch sự văn hóa Là trungtâm quốc gia là kinh đô cuối cùng kết thúc thời đại phong kiến Hiện nay trên tỉnhThừa Thiên Huế còn đậm đặc các di tích lịch sữ của các đời vua triều đại nhà Nguyễnvới 64 lễ hội truyền thống và các kho tàng văn hóa dân gian phong phú Tuy nhiên donhiều biến cố trong lịch sữ nhiều lễ hội truyền thống trên đât Huế bị mai một Nhiều lễhội bị thất truyền, việc nghiên cứu phục đựng để phục vụ du lịch còn hạn chế, chưaphát huy được thế mạnh và giá trị của lễ hội đối với phát triển du lịch Nhiều lễ hội dotính bắt buộc nên không tiếp đón du khách du lịch, như tế đàn Nam giao … Còn nhiều

lễ hội được tổ chức thường xuyên nhưng chưa thu hút được du khách Ngoài những vẽđẹp về kiến trúc văn hóa lễ hội phong cảnh ở đây còn nỗi tiếng với con sông Hươngthơ mộng với hai Cồn Dã Viên và Cồn Hến Đây còn được xem là Thanh Long và Bạch

Hổ trấn giữ kinh thanh huế với lợi thế đó việc phát triển du lịch và lễ hội trên sông cầnđược đẩy mạnh và phát huy

Vì vậy cần có những đề tài nguyên cứu khoa học cho việc nghiên cứu và pháttriển lễ hội bền vững trên sông Hương Do đó tôi chọn đề tài Nghiên cứu và phát triểnbền vững lễ hội đua thuyền trên sông Hương làm đề tài nghiên cứu Với mong muốnđóng góp nhỏ về phương diện lý luận và thực tiễn cho sự phát triển du lịch gắn với lễhội truyền thống trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Nơi được coi là thành phố Festival

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Huế là nơi có lịch sữ văn văn hóa lâu đời Những giá trị đó đã lắng động lại vàhình thành nên một di sản văn hóa phí vật thể hết sức quý giá Trong những năm vừaqua nhận thức được tầm quan trọng của lễ hội trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dântộc đồng thời khai thác giá trị của lễ hội để phát triển du lịch Có rất nhiều công trìnhnghiên cứu đi sâu về nghiên cứu lễ hội tại huế như “ tục thờ thần ở huế” của tác giảHuỳnh Đình Kết các bài báo các tham luận đằng trên nhiều tạp chí Nhằm nâng caohiệu quả cho việc tổ chức lễ hội cũng như định hướng cho sự kết nối giữa lễ hội và dulịch, tôi đã xác định đi sâu vào nghiên cứu và phát triển bền vững lễ hội đua thuyềntrên sông Hương

Trang 8

- Góp phần bảo tồn và phát triển lễ hội khai thác giá trị lễ hội để phát triển du lịch

- Kết hợp được giữa lễ hội và du lịch sẽ tạo dược thế mạnh cho du lịch văn hóa tạiHuế phát triển cụ thể là phát triển du lịch lễ hội tại Huế

- Đưa ra các giải pháp, đề xuất để lễ hội đua thuyền trên sông Hương trở thànhsản phẩm du lịch hấp dẫn du khách góp phần làm phong phú thêm sản phẩm dulịch địa phương

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của văn hóa, du lịch, lễ hội

- Giới thiệu về lễ hội đua thuyền, thông kê khảo sát tại lễ hội

- Nghiên cứu ý nghĩa, các giá trị văn hóa trong lễ hội, các yếu tố tạo nên nét đặctrưng văn hóa riêng của lễ hội đua thuyền thông qua các nhân tố làm cho lễ hộihấp dẫn thu hút khách du lịch

- Tìm hiểu điều kiện phát triển du lịch lễ hội đua thuyền tại Huế thông qua xemxét thực trạng, đánh giá khả năng khai thác phục vụ du lịch của lễ hội đuathuyền đễ đưa vào phục vụ và phát triển du lịch

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Lễ hội đua thuyền trên sông Hương

Khách du lịch, cư dân địa phương, các đơn vị kinh doanh lữ hành các cơ quan quản lý

về du lich

Trang 9

đa dạng sản phẩm du lịch tại Huế

- Đề xuất giải pháp cho phát triển bền vững lễ hội đua thuyền trên sông Hương

Về không gian thời gian

Chuyên đề đi sâu tìm hiểu về lễ hội đua thuyền trên sông Hương góp phần làmphong phú da dạng về lễ hội đua thuyền

Thông tin thu thập phục vụ cho việc viết đề tài trên cơ sở dữ liệu thu thập được chođến năm 2019

5. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp

Phương pháp xác định mẫu

− Xác định quy mô mẫu:

Quy mô mẫu của nghiên cứu được xác định theo công thức của Linus Yamane:

n = Trong đó :

n: Quy mô mẫu

Trang 10

Phương pháp phân tích tổng hợp: để xứ lý thông tin sưu tập, thông kê nhận định

về lễ hội đua thuyền

Phương pháp so sánh: Lễ hội đua thuyền trong tổng thể các yếu tố làm nên sảnphẩm du lịch và hoạt động của lễ hội Tìm hiểu nhu cầu, khả năng thu hút khách của lễhội đua thuyền Giá trị văn hóa lễ hội đua thuyền thể hiện qua hình thức, nội dung lễhội

Phương pháp chuyên gia: thu thập ý kiến, tài liệu qua sự cung cấp của các nhànghiên cứu Thực hiện điều tra xã hội qua bảng hỏi

Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát trong quá trình thực tế diễn ra lễ hội, đểthấy rỏ thực trạng khai thác và phát triển du lịch lễ hội

Phương pháp liên ngành: sữ dụng các kiến thức của các ngành khác như văn hóahọc, du lịch học, triết học…

Phương pháp quan sát: Tìm hiểu số lượng khả năng thu hút khách Giá trị văn hóa

lễ hội, ý nghĩa của lễ hội, không gian tổ chức, các đối tượng liên quan đến lễ hội nhưcác công trình kiến trúc, hoạt động của cư dân dịa phương, thái độ của khách du lịch.Phương pháp giải mã văn hóa: Các yếu tố văn hóa trong lễ hội đua thuyền thu hút

du khách

Phương pháp phỏng vấn( hỏi trực tiếp): Tiếp cận lễ hội đua thuyền, trao đổi ghinhận ý kiến trực tiếp của cư dân khi tham gia vào lễ hội đua thuyền các cơ quan chínhquyền các hang lữ hành, khách du lịch… Biết đến mong muốn của du khách, vai trò,tác dụng của buổi lễ đến hoạt động du lịch

Ngoài ra còn sữ dụng các tư liệu và phương pháp phân tích hình ảnh, tổng kếtthực tiễn…

Quan điểm nghiên cứu

Quan điểm tổng hợp: Khi thực hiện nghiên cứu đề tài này chúng tôi dựa trên quanđiểm kết hợp tất cả các yếu tố địa lí, xã hội, con người… Các yếu tố này có mối quan

hệ lẫn nhau tạo nên một thể thống nhất trong phát triển du lịch văn hóa tại Huế Tổng

Trang 11

hợp đặc điểm từng đối tượng, kết hợp chúng với nhau, tạo thành một thể thống nhấttrong nghiên cứu

Quan điểm kinh tế: Quan tâm đến hiệu quả kinh tế, không chỉ đối với doanh nghiệp

mà còn đối với chính cư dân địa phương Đặt ra mục tiêu làm thế nào để thu lạiđược hiệu quả cao nhất cho chính doanh nghiệp cũng như lợi ích cho cộng đồng cưdân

Quan điểm phát triển du lịch bền vững, phát triển du lịch cộng đồng: Khai thác cầnchú trọng đến vấn đề bảo vệ và trùng tu, giữ gìn môi trường để đảm bảo phát triển dulịch bền vững Phát triển du lịch phải bảo đảm sự cân đối giữa các mục tiêu kinh tế, xãhội và môi trường Đảm bảo có sự tham gia của tất cả 4 thành phần: Các nhà quản

lý du lịch và khu bảo tồn tương lai; cộng đồng dân cư địa phương; các nhà kinh doanh

du lịch và khách du lịch

Trang 12

Xác định vấn đề nghiên cứu

Mã hóa, nhập và làm sạch dữ liệuTiến hành điểu tra chính thức

Thiết kế bảng hỏi sơ bộ

6. Đóng góp mới của đề tài

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi xác định đóng góp mới của luận văn đó là làm nổibật được các giá trị văn hóa của lễ hội đua thuyền trên sông Hương Làm sáng tỏ kháiniệm, sản phẩm gọi là du lịch lễ hội Đồng thời đánh giá thực trạng hoạt động du lịch lễhội hiện nay để đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch lễ hội tại Huế Chúngtôi cũng làm rõ đặc điểm nổi bật của các lễ hội tại thành phố Huế, tiến hành thống kêcác lễ hội tại thành phố Huế được diễn ra theo từng tháng trong năm để thuận lợi choviệc tổ chức loại hình du lịch lễ hội

Trang 13

7 Cấu trúc nội dung báo cáo

Phần I: Đặt vấn đề

Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận thực tiễn về phát triển bền vững du lịch lễ hộiChương 2: Thực trạng về vấn đề sự phát triển du lịch lễ hội đua thuyền trên sôngHương

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững du lịch lễ hội đuathuyền trên sông Hương

Phần III: Kết luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀ VỮNG DU LỊCH LỄ HỘI

1.1. Lễ hội là gì

- Khái niệm chung về lễ hội

Lễ hội: “Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phongphú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc,hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, ngưỡng mộ tổtiên, ôn lại truyền thồng, hoặc là giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ

mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được” [29 trang 67] “Lễ hội là sinh hoạt văn hóa,tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng” Lễ hội là nhu cầu sinh hoạt văn hóacộng đồng, đồng thời là sự kiện có thể thu hút đông đảo khách du lịch Khi bàn về kháiniệm, mối tương quan giữa lễ hội và sự kiện, các chuyên gia có cho rằng “Lễ hội làthuật ngữ dùng để chỉ một loại hình sinh hoạt văn hóa phổ biến, có thể tổng hợp nhiềuloại hình văn hóa khác nhau (văn học nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tậpquán ) qua hình thức sân khấu hóa hoặc cảnh diễn hóa tại một địa điểm, một khônggian thời gian nhất định bằng những nghi thức, nghi vật, nghi trượng Lễ hội sản sinh

từ nhu cầu tất yếu của lịch sử Lễ hội không đặt nặng vấn đề kinh tế trong khi du lịchthì ngược lại

Lễ hội truyền thống: GS.TS Nguyễn Duy Qúy có định nghĩa về lễ hội truyềnthống như sau “Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa tổng hợp bao gồm các 18mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đờithường Đó còn là một sinh hoạt có qui mô lớn về tầm vóc và có sức cuốn hút một sốlượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội ”

Lễ hội truyền thống bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu nội tại của con người,hướng tới một đối tượng cụ thể để suy tôn và được chú trọng về không gian lễ hội.Bản sắc văn hóa Việt Nam mang đậm chất văn hóa làng Lễ hội truyền thống làđiển hình của sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống

Trang 15

Bản chất và nội dung của “lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Dù bất cứ nơi đâu vào bất cứ thời gian nào, lễ hội cũng do chính nhân dân tiến hành.Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm người nào đó trong xã hội”

Lễ hội truyền thống xưa nhấn mạnh phần lễ Lễ hội truyền thống nay nhấn mạnh phầnhội

Lễ hội hiện đại: Do nhu cầu của cuộc sống và sự phát triển văn hóa xã hội Các địaphương tổ chức các lễ hội hướng đến sự kiện cụ thể Trong sinh hoạt lễ hội có sự thamgia của các sinh hoạt văn hóa bên ngoài du nhập vào, trong lễ hội phần “hội” được chútrọng, nội dung đan xen giữa truyền thống và hiện đại Đây cũng là hoạt động có tínhtương tác cao giữa địa phương và khách du lịch, là yếu tố thúc đẩy hoạt động “du lịch

lễ hội” phát triển

Lễ hội du lịch: Đây là một loại “lễ hội hiện đại (lễ hội mới) do ngành du lịch chủđộng phối hợp với các ngành xã hội khác nhau đứng ra tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩmhoặc tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch” Huế từng tổ chức “lễ hội bếp Việt”, “lễhội làng nghề truyền thống”, “lễ hội áo dài”, đặc biệt “lễ hội Festival” định kỳ 2 năm tổchức một lần

- Phân loại lễ hội

Lễ hội là một bộ phận của nền văn hóa dân gian được sáng tạo và bảo tồn, lưutruyền lâu đời trong lòng xã hội từ xưa đến nay Việt Nam là quốc gia đa sắc tộc và đa

lễ hội, tùy theo mỗi góc độ, mục đích, quan điểm nghiên cứu mà có sự phân loại lễ hộikhác nhau và trong các loại lễ hội được phân ra cũng sẽ có những cấp độ lễ hộikhác nhau Các hình thức phổ biến của lễ hội và sự kiện trong lịch sử: Căn cứ vào nơi

tổ chức: Hội chùa, Hội đình Tất cả dều ảnh hưởng, mang tính chất lễ hội nông

Trang 16

nghiệp Nguồn gốc lễ hội: Hình thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc, đất nước,phản ánh đời sống của cư dân nông nghiệp lúa nước “Tháng Giêng ăn tết ở nhà, thángHai cờ bạc, tháng Ba hội hè”

Căn cứ vào nội dung phản ánh: Lễ hội nông nghiệp Lễ hội danh nhân, anh hùnglịch sử Lễ hội tôn giáo tín ngưỡng

Căn cứ vào hoạt động tổ chức trong lễ hội: Có lễ hội truyền thống, lễ hội hiện đạihoặc lễ hội cung đình, lễ hội dân gian (thực ra lễ hội cung đình và lễ hội dân gianthuộc về lễ hội truyền thống)

Lễ hội truyền thống: Có lễ hội truyền thống dân gian, lễ hội truyền thống cungđình

Lễ hội truyền thống dân gian là một loại hình sinh hoạt văn hóa, xã hội của quầnchúng nhân dân lao động ở một cộng đồng, địa phương nhất định mang đậm tính chấttổng hợp các hình thái tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục tập quán… của cộng đồng địaphương đó

Nhìn chung Lễ hội truyền thống dân gian có sự lặp đi lặp lại một cách ổn định vềthời gian, không gian hội, sự định kỳ ngày hội Ngày nay với chủ trương phát triển vănhóa kết hợp với du lịch Lễ hội truyền thống dân gian ngày càng được quan tâm chútrọng để phát triển và gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương, Lễ hội được đông vuihơn… nhằm mục đính chuyển tải truyền thống và nội dung giáo dục của ngày hội đếncác thế hệ nối tiếp, đồng thời giới thiệu, gìn giữ, phát triển những tinh hoa của lễ hộitruyền thống dân gian

Lễ hội cung đình: Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn,phần lớn chỉ chú trọng về “lễ” hơn “hội” “Lễ hội cung đình diễn ra trong cung đìnhdưới triều Nguyễn (1802 1945) Hầu hết là những đại lễ của triều đình như lễ tế NamGiao, lễ tế Văn Miếu, lễ tế Xã Tắc, lễ tế Thái Miếu, lễ tế Thế Miếu, lễ Tịch Điền, lễ tế

Kỳ Đạo, lễ khai trạo của thủy quân, lễ đăng quang, lễ mừng thọ tứ tuần, ngũ tuần củahoàng đế, hoàng hậu, và lễ Hưng quốc Khánh niệm (mồng 2 tháng 5 âm lịch) ”(Nguồn: thuathienhue.gov.vn)

Trang 17

Lễ hội dân gian: là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt: Tôn giáo tín ngưỡng

và văn hóa nghệ thuật, tinh thần và cả vật chất, linh thiêng và đời thường Lễ hội dângian gồm nhiều loại rất phong phú, tiêu biểu như: lễ hội Huệ Nam ở Điện Hòn Chénhay còn gọi là lễ rước sắc nữ thần Pônagar theo tín ngưỡng của người Chăm Pa saunày được Việt hóa Thiên y A na, lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghềtruyền thống, lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh thành lập làng Trong những dịp tế lễ,nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích như đua thuyền, kéo co, đấu vật còn được tổ chức vàthu hút đông người xem Căn cứ vào không gian (phạm vi) của lễ hội: Có lễ hộiquốc gia (cả nước), Lễ hội vùng, lễ hội làng

Lễ hội quốc gia: như Giỗ tổ Hùng Vương, các ngày lễ kỷ niệm chiến thắng Lễhội vùng: Là loại hội lễ có tầm thu hút ảnh hưởng rộng lớn, mang tính chất tiêu biểu,

sự tham gia của cả vùng

Lễ hội làng: Đa số gắn với tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp Diễn ra tại Đìnhlàng, Miếu, Đền, Lăng… “Đó là một hình thức sinh hoạt văn hóa định kỳ, cộng đồngtổng hợp và tiêu biểu nhất của xã hội nông thôn ở đơn vị làng” [41trang 15] Bao gồm: + Lễ hội thờ đức Thành Hoàng: Diễn ra ở các đình làng, còn gọi là hội đìnhhay đình đám

+ Lễ hội thờ các nhân vật lịch sử: Đa số diễn ra ở các Lăng, Đền thờ các vị cócông với nước

+ Lễ hội thờ cúng Cá Voi: Diễn ra tại các làng ven biển

+ Lễ Hội Tết: Đây là sinh hoạt mang tính cộng đồng cao Là một loại hội mùa gắnvới các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian hoặc tôn giáo dựa theo âm lịch như lễ tếtNguyên Đán

+ Lễ hội tôn giáo: Gắn liền với những cộng đồng tín đồ tôn giáo đồng thời cũng làdịp hội họp, sinh hoạt văn hóa quần chúng của nhân dân sở tại Các loại hình lễ hộitông giáo đó là: Lễ hội rằm tháng bảy hay

còn gọi lễ vu lan; Lễ hội Phật đản; Lễ thiên chúa giáo (Lễ Noel, lễ Phục sinh )

Trang 18

1.2. Du lịch lễ hội

- Khái niệm

Du lịch lễ hội thuộc loại hình du lịch văn hóa Du lịch lễ hội là hoạt động mà khách dulịch muốn thỏa mản nhu cầu tìm hiểu truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, lịch sữtín ngưởng dân gian… thông qua việc tham dự chứng kiến các hoạt động của lễ hội

- Đặc điểm du lịch lễ hội

Khác với các loại hình du lịch thiên nhiên du, du lịch xã hội, du lịch giải trí… Du lịch

lễ hội có một số đặc điểm cơ bản sau:

Du lịch lễ hội luôn gắn với thời gian mở hội nên thường diễn ra theo mùa vụ Các

lễ hội ở Việt Nam chủ yếu được tổ chức vào mùa xuân, một số ít lễ hội được tổ chứcvào mùa thu Do vậy yếu tố mùa vụ của lễ hội sẽ chi phối lớn đến các thiết chế phục vụhoạt động du lịch lễ hội như hệ thống tài nguyên lễ hội, quy hoạch tuyến du lịch điểm

du lịch, các hoạt động dịch vụ, cơ sở lưu trú, các chương trình du lịch… Cũng phảituân theo các yếu tố mùa vụ Các loại hình du lịch khác như du lịch thể thao, du lịchgiải trí ít bị chi phối bởi mùa vụ Do vậy việc chuẩn bị các yếu tố phục vụ các du lịch lễhội phải có sự sắp xếp chu đáo và khoa học Nếu không có sự chuẩn bị từ trước ( từ cơ

sở vật chất, các dịch vụ, công tác tổ chức lễ hội ) sẽ dẫn đến không đáp ứng nhu cầucủa khách hàng hoặc sẽ xảy ra tình trạng quá tải do lượng du khách tăng đột biến sovới ngày thường

Du lịch lễ hội thường gắn với không gian, thời gian nhất định Chẳng hạn lễ hộiĐền Hùng chỉ diễn ra một lần vào dịp 10/3 hàng năm tại tỉnh Phú Thọ; lễ hội đuathuyền trên sông Hương diễn ra hai lần vào dịp Festival Huế và dịp quốc khánh 2/9; lễhội Thái Dương Hạ chỉ diễn ra vào ngày 12 tháng giêng âm lịch; lễ hội vật Làng Sìnhdiễn ra vào ngày 10 tháng giêng âm lịch hàng năm… Do vậy việc tổ chức các hoạtđộng du lịch lễ hội phải nắm chắc thời gian địa điểm và các hoạt động đặc trưng cácnội dung chính của lễ hội khai thác đúng hướng và hiệu quả Chẳng hạn muốn tìm hiểu

lễ hội chèo thuyền trên sông Hương lễ hội thường được diễn ra vào thời điểm festivalbao gồm nhiều hoạt động lễ hội khác nên cần phải chuẩn bị được tổ chức tốt cả phần lễ

và phần hội thì sức cảm hóa của thời điểm mạnh và không gian thiên liên được nhân

Trang 19

lên gấp ngàn lần và giá trị nhân văn của lễ hội trong lòng du khách cũng được tăng lên.Thời gian, không gian và tính chất của lễ hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hútkhách du lịch.

- Phân loại lễ hội

Xét dưới góc độ của những người làm công tác quản lý nhà nước về lễ hội, năm

2001, Bộ trưởng Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL) ban hành quyết định số BVHTT kèm theo Quy chế tổ chức lễ hội Quy chế này đã đưa ra 4 loại lễ hội ở nước

39/2001/QĐ-ta thuộc đối tượng cần điều chỉnh là: Lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hộitôn giáo, Lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam

+ Lễ hội dân gian

Giới nghiên cứu có xu hướng xác định lễ hội dân gian được hiểu là những lễ hội

mà chủ thể là do dân chúng tham gia tổ chức và hưởng thụ, khai thác triệt để các sinhhoạt văn hóa, văn nghệ dân gian làm nền tảng cho hoạt động hội

Theo tác giả Đinh Gia Khánh: “Hội lễ dân gian, khác với hội lễ của các tôn giáo,bao giờ cũng lôi cuốn đại đa số dân chúng tham gia”

Có lễ hội dân gian truyền thống và lễ hội dân gian hiện đại Lễ hội dân giantruyền thống được hiểu là lễ hội đã xuất hiện trước thời điểm tháng 8-1945, chủ yếu ởcác làng, bản, ấp, gắn với nông dân, ngư dân, thợ thủ công Loại lễ hội này được cộngđồng tổ chức định kỳ, lặp đi, lặp lại, với các sinh hoạt văn hóa tương đối ổn định; là bộphận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân vào thời gian nhàn rỗi củachu kỳ sản xuất nông nghiệp trước đây Ví dụ: Lễ hội chùa Hương (Hà Nội), lễ hội đềnHùng (Phú Thọ), lễ hội núi Bà Đen (Tây Ninh), lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang), lễ hộilăng ông Nam Hải (Cà Mau), lễ hội Ka Tê của đồng bào Chăm, lễ hội Chol ThnămThmây của đồng bào Khơme, lễ hội lồng tồng của đồng bào Tày

Lễ hội dân gian truyền thống, theo tác giả Nguyễn Chí Bền, còn gọi là lễ hội cổtruyền, nếu giả định như một mô hình thì nó có 4 thành tố cơ bản như sau: Nhân vậtphụng thờ, trò diễn, các vật dâng cúng, nghi thức thờ cúng

Nhân vật thờ phụng được coi là thành tố quan trọng của lễ hội dân gian truyềnthống, chính vì vậy, các nhà quản lý văn hóa, tôn giáo đã xếp một bộ phận của loại lễhội này là lễ hội tín ngưỡng Nghị định số 22/2005/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn

Trang 20

thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ở Điều 3 Lễ hội tín ngưỡng,viết: “Lễ hội tín ngưỡng là hình thức hoạt động tín ngưỡng có tổ chức, thể hiện sự tônthờ, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng tổtiên, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêubiểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội”.

Lễ hội dân gian hiện đại có hai cách hiểu Một là những lễ hội xuất hiện sau thờiđiểm tháng 8/1945 được người dân tổ chức, cộng đồng chấp nhận tái hiện theo chu kỳnhất định và trong xu hướng phát triển lễ hội ấy có thể trở thành lễ hội dân gian truyềnthống Ví dụ: khi phố cổ Hội An (Quảng Nam) trở thành di sản văn hóa thế giới, được

sự đồng ý và giúp sức của chính quyền, dân chúng tổ chức lễ hội đêm rằm phố cổ Hội

An vào tối 14 âm lịch hàng tháng, đến nay, lễ hội này đã bám rễ vào đời sống cộngđồng; ở huyện Long Đất (Bà Rịa - Vũng Tàu), các cơ sở tín ngưỡng trong huyện hàngnăm tổ chức lễ hội đền ơn đáp nghĩa vào ngày thương binh liệt sĩ 27-7, có lễ cầu siêuvong linh các anh hùng, liệt sĩ và những người chết trong chiến tranh; lễ hội Tết độclập 2-9 của người Mông ở huyện Mộc Châu (Sơn La), ngày này người Mông ở các tỉnhTây Bắc kéo về thị trấn Mộc Châu gặp gỡ, giao lưu rất đông vui

Cách hiểu thứ hai: lễ hội dân gian hiện đại là những lễ hội dân gian truyền thống

đã bị biến đổi mạnh mẽ theo hướng cách tân làm cho các yếu tố truyền thống bị phai

mờ và bị các yếu tố sinh hoạt văn hóa, văn nghệ hiện đại lấn lướt, hoặc “có những nétthay đổi cho phù hợp với quan niệm thẩm mỹ hiện đại”

Lễ hội dân gian hiện đại tổng hợp và dung hòa các loại hình văn hóa, nghệ thuậttruyền thống và hiện đại tồn tại ở dạng vật thể và phi vật thể, kết hợp với các hoạt độngthương mại, quảng bá sản phẩm, tạo ra một diễn xướng văn hóa lớn

+ Lễ hội lịch sử cách mạng

Đây là lễ hội mới ra đời sau tháng Tám năm 1945 do chính quyền các cấp vànhân dân tham gia tổ chức Nội dung lễ hội liên quan đến các nhân vật tiền bối cáchmạng của Đảng và các sự kiện lịch sử trên chặng đường hoạt động cách mạng từ khithành lập Đảng tới nay

Đáng chú ý là khá nhiều lễ hội lịch sử cách mạng gắn với cuộc đời hoạt động củalãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngoài ra, các lễ hội được tổ chức ở

Trang 21

các khu lưu niệm, nhà tưởng niệm các lãnh tụ cách mạng Việt Nam (Trần Phú, Hà HuyTập, Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự, Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Nguyễn VănLinh ) vào các năm tròn 5, chẵn 10.

Một số địa phương xuất hiện lễ hội liên quan đến các anh hùng, liệt sĩ mà sự hysinh của họ đã trở thành hồn thiêng sông núi của quê hương, như lễ hội tưởng niệm chị

Võ Thị Sáu ở Côn Đảo, lễ hội tưởng niệm chị Phan Thị Ràng, nguyên mẫu nhân vật chị

Sứ trong cuốn tiểu thuyết Hòn Đất nổi tiếng một thời của nhà văn Anh Đức ở vùng núi

Ba Hòn, huyện Hòn Đất (Kiên Giang)

Các sự kiện lịch sử cách mạng đã trở thành tâm điểm cho cảm hứng sáng tạo lễhội của nhân dân Đó là các lễ hội ở các địa phương nhân dịp thành lập Đảng (3-2),Quốc khánh 2-9; ngày chiến thắng 30-4; ngày quê hương giải phóng Ví dụ: ngàychiến thắng 30/4, ở Quảng Trị có lễ hội thống nhất non sông ở cầu Hiền Lương; ngàythương binh liệt sĩ 27-7 có lễ hội thả đèn hoa ở đôi bờ sông Thạch Hãn tưởng nhớ cácliệt sĩ đã chiến đấu hy sinh trong 81 ngày đêm giữ thành cổ Quảng Trị ; Hà Nội tổchức các lễ hội nhân ngày giải phóng Thủ đô 10-10; Đà Nẵng tổ chức lễ hội vào dịp29-3 - ngày giải phóng Đà Nẵng Rất nhiều lễ hội lịch sử cách mạng được hình thànhthu hút sự tham gia đông đảo quần chúng nhân dân dưới nhiều hình thức sinh hoạt vănhóa, văn nghệ, dịch vụ thương mại Một số lễ hội lịch sử cách mạng được tái hiện, lặp

đi lặp lại, định hình một số nghi thức, trò diễn, sinh hoạt văn hóa mang sắc thái riêngcủa một vùng đất được nhân dân chấp nhận, tự nguyện tham gia và theo xu hướng pháttriển có thể trở thành lễ hội dân gian hiện đại, như: lễ hội làng Sen kỷ niệm ngày sinhChủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghệ An, lễ hội mồng 2-9 kỷ niệm ngày mất Chủ tịch Hồ ChíMinh ở xã Long Đức (Trà Vinh)

+ Lễ hội tôn giáo

Lễ hội tôn giáo do các chức sắc, tổ chức tôn giáo đứng ra chủ trì huy động các tín

đồ tham gia đáp ứng nhu cầu tinh thần và đời sống tâm linh của tín đồ Nội dung của lễhội tôn giáo liên quan đến sự tích về các nhân vật do tôn giáo đó thờ phụng Các lễ hộitôn giáo không chỉ ở việc hành lễ và diễn ra các nghi thức tôn giáo trong khuôn viênnơi thờ tự mà nhiều lễ hội đã mở rộng không gian hoạt động, chú ý đến các sinh hoạtvăn hóa, văn nghệ truyền thống ở cộng đồng để tăng chất hội hè, vui chơi giải trí Các

Trang 22

tín đồ xuất phát từ đức tin vào những biểu tượng thiêng, cõi thiêng của tôn giáo đã tâmđức đóng góp tiền của, công sức tạo nên sắc màu lung linh, huyền ảo của nhiều lễ hộidiễn ra tại cơ sở thờ tự của tôn giáo Đáng lưu ý một số lễ hội tôn giáo không chỉ ảnhhưởng tới các tín đồ mà còn thu hút sự chú ý và hưởng ứng tham gia của nhiều dânchúng và các tầng lớp xã hội, trở thành một lễ hội văn hóa, như: lễ hội Noen, lễ hộiPhật đản Một số lễ hội tôn giáo có sức hút tín đồ và dân chúng ở nhiều vùng miền vềhành lễ và hưởng thụ văn hóa (lễ hội La Vang ở Quảng Trị, lễ hội Vía Cao Đài ở tòathánh Tây Ninh )

+ Lễ hội du nhập từ nước ngoài

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam có quan hệ giao lưu với nhiềuquốc gia, dân tộc trên thế giới Do biến động của lịch sử, một số tộc người từ quốc giakhác cũng đã di cư sinh sống ở Việt Nam mang theo cả tài sản văn hóa, trong đó có lễhội Vì vậy, nhiều lễ hội của những tộc người từ quốc gia khác vào Việt Nam sinh sốnglâu đời đã trở thành di sản văn hóa của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Ví dụ: lễ hộiNoen, Phật đản, lễ hội của người Hoa ở Hà Tiên (Kiên Giang), lễ hội của người Thái,người Mông, người Dao ở Tây Bắc Việt Nam Do vậy, lễ hội du nhập từ nước ngoàivào Việt Nam ở đây xác định đối tượng là những lễ hội của nước ngoài do người nướcngoài hoặc người Việt Nam tổ chức trong thời gian từ Cách mạng tháng Tám năm 1945trở lại đây Xác định đối tượng và khoảng thời gian như vậy thì số lễ hội du nhập từnước ngoài vào Việt Nam không nhiều, chỉ 10 lễ hội Ví dụ: lễ hội ánh sáng (Diwlim -

Ấn Độ) tổ chức cho trẻ em, lễ hội thả đèn trên sông cầu may (Loy Krathong - TháiLan)

Đáng lưu ý là một số lễ hội của nước ngoài được giới trẻ Việt Nam tiếp nhận mộtcách tự nhiên và nồng nhiệt tái diễn Đó là lễ hội ngày tình yêu (Valentin’s Day), lễ hộihóa trang (Halowen)

+ Lễ hội văn hóa du lịch

10 năm trở lại đây, xuất hiện một loại lễ hội mới, đó là lễ hội văn hóa thể thao, lễhội văn hóa du lịch Lễ hội văn hóa thể thao thường liên quan đến lễ kỷ niệm một sựkiện nào đó, như: kỷ niệm tròn 5, chẵn 10 năm của một ngành, của một địa phươnghoặc được chính quyền tổ chức định kỳ đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân Lễ hội

Trang 23

văn hóa du lịch được một địa phương hay một đơn vị tổ chức hay liên kết một số địaphương, đơn vị tổ chức nhằm mục đích quảng bá du lịch, thu hút du khách đến với mộtvùng đất Đặc điểm của loại hình lễ hội này là chính quyền và đơn vị đăng cai tổ chức

lễ hội bỏ kinh phí cùng với nguồn tài trợ của các thành phần kinh tế qua hình thức xãhội hóa cho mọi hoạt động diễn ra lễ hội để phục vụ vui chơi giải trí của nhân dân,thông qua đó giáo dục chính trị tư tưởng, việc người dân có đến lễ hội đó hay không làquyền của mỗi người Nhà tổ chức dựa theo kịch bản huy động số lượng lớn các nghệ

sĩ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp tập luyện, trình diễn các loại hình nghệthuật; mời gọi các doanh nghiệp tham gia triển lãm, hội chợ thương mại Tùy từngchủ đề, các nhà viết kịch bản và đạo diễn có sử dụng kết hợp các loại hình văn hóađương đại với các loại hình văn hóa truyền thống Ví dụ: Lễ hội du lịch carnaval HạLong (Quảng Ninh), festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu, festival hoa Đà Lạt (Lâm Đồng),festival cà phê (Đắc Lắc), lễ hội Quảng Nam hành trình di sản Do phụ thuộc vào chủquan của một số người nên nội dung lễ hội này luôn được thay đổi sau mỗi lần tổ chức.Quần chúng, nhân dân là người thụ động hưởng thụ văn hóa chứ không phải là chủ thểtham gia một cách trực tiếp, tự giác, phi vụ lợi như người dân trong lễ hội truyền thốngvào quá trình chuẩn bị và diễn các sinh hoạt lễ hội Vì nguyên do này, một số nhànghiên cứu dựa vào bản chất của lễ hội còn băn khoăn là có nên gọi loại này là lễ hộivăn hóa thể thao du lịch không, hay gọi đó là một loại hình sự kiện văn hóa thể thao dulịch, hay gọi nó là lễ hội đại chúng khác với lễ hội quần chúng Lễ hội quần chúng làmột thành tố của văn hóa quần chúng Đây là lễ hội mới ra đời trong thời kỳ đất nước

ta thực hiện chính sách kinh tế tập trung, kế hoạch hóa với hai thành phần kinh tế chủchốt là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Từ hai nguồn kinh tế này, quần chúng, nhândân được huy động tham gia trực tiếp vào hoạt động và hưởng thụ văn hóa lễ hội Cáchthức tổ chức lễ hội quần chúng nước ta học và áp dụng theo các giáo trình về lễ hộiquần chúng ở Liên Xô Dù còn ý kiến khác nhau nhưng nếu xét dưới góc nhìn của một

lễ hội hiện đại, đồng thời xem xét xu thế chung của lễ hội ở các nước trong khu vựcĐông Á và Đông Nam Á những năm gần đây, yếu tố lễ ngày một giảm, yếu tố hội gắn

Trang 24

với vui chơi, giải trí tăng lên; sự tham gia của người dân vào các sự kiện văn hóa giảmphần trực tiếp mà tăng phần gián tiếp, thông qua sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp mà tự giáchòa đồng vào không gian sự kiện, được quay phim, chụp ảnh, phấn khích, reo vui bộc

lộ cảm xúc cá nhân, thì sự kiện văn hóa thể thao du lịch ấy được coi là một loại hình lễhội với tính chất hiện đại của nó

Lễ hội văn hóa du lịch cũng như lễ hội lịch sử cách mạng khi được tổ chứcthường xuyên, định hình những thành tố cốt lõi, được quần chúng, nhân dân đồng tìnhhưởng ứng, tự giác huy động công sức, tiền của tham gia thì nó trở thành lễ hội dângian hiện đại

1.3. Phát triển bền vững du lịch lễ hội

- Khái niệm về du lịch bền vững

Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợiích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thựchiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào

- Phát triển du lịch lễ hội bền vững

Khái niệm về phát triển du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền vững được định nghĩa tại Luật du lịch 2017 (có hiệu lực từngày 01/01/2018) Theo đó:

Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu

về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham giahoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trongtương lai

Mạng Lưới tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United Nation WorldTourism Organization Network - UNWTO) chỉ ra rằng du lịch bền vững cần phải:

Về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếutrongphát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiênnhiên và đa dạng sinh học tự nhiên

Trang 25

Xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các cộngđồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng

và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa

Về kinh tế: Bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi íchkinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng,bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định và các dịch vụ xã hộicho các cộng đồng địa phương, và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo

1.4 Các nghiên cứu về du lịch về phát triển du lịch lễ hội

Đề tài: “Khai thác các giá trị văn hóa của lễ hội Đền Sóc (Đền Gióng) để phục vụ

du lịch” Chủ nhiệm đề tài: Sinh viên Trần Thị Bích Ngọc, lớp VHL101; giáo viênhướng dẫn: ThS Vũ Thị Thanh Hương Đề tài được đánh giá xếp loại khá

Đề tài: “Một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch văn hóa ở HảiPhòng” Chủ nhiệm đề tài: Sinh viên Tô Thị Bình Nhung, lớp VHL101; giáo viênhướng dẫn: TS Nguyễn Văn Bính Đề tài được đánh giá xếp loại giỏi

Đề tài: “Tìm hiểu các nghi lễ theo chu kỳ đời người của tộc người Tày ở thôn LậpThạch - xã Tân Trào - huyện Sơn Dương - tỉnh Tuyên Quang để phục vụ cho phát triển

du lịch” Chủ nhiệm đề tài: Sinh viên Phạm Quang Hưng, lớp VHL101; giáo viênhướng dẫn: ThS Vũ Thị Thanh Hương Đề tài được đánh giá xếp loại giỏi

1.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trang 27

CHƯƠNG 2:

ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LICH LỄ HỘI ĐUA THUYỀN

TRÊN SÔNG HƯƠNG TỈNH THỪA THIÊU HUẾ 2.1 Nghiêu cứu địa bàn đặc điểm tự nhiên xã hội

2.1.1 Khái quát tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thành phố huế: là một tỉnh ven biển thuộc khu vực bắc trung bộ có tọa độ 16,8 Bắc và 107,8 -108,2 diện tích là 5.053,990 km2 dân số theo kết quả điều tra tính đến năm 2017 là 1.154.310 người, trong đó:

Phần lớn núi rừng nằm ở phía tây Những ngọn núi đáng kể là: núi Động Ngaicao 1.774 m, Động Truồi cao 1.154 m, Co A Nong cao 1.228 m, Bol Droui cao 1.438

m, Tro Linh cao 1.207 m, Hói cao 1.166 m (nằm giữa ranh giới tỉnh Quảng Nam), CócBai cao 787 m, Bạch Mã cao 1.444 m, Mang cao 1.708 m, Động Chúc Mao 514 m,Động A Tây 919 m

Sông ngòi thường ngắn nhưng lại lớn về phía hạ lưu Những sông chính là ÔLâu, Rào Trang, Rào Lau, Rào Mai, Tả Trạch, Hữu Trạch, An Cựu, An Nong, NướcNgọt, Lăng Cô, Bồ, Rau Bình Điền, Đá Bạc, Vân Xá, Sông Truồi, Đặc biệt có hệ

Trang 28

đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng lớn nhất Đông Nam Á Và hai cửa biển quan trọng

là cửa Thuận An và cửa Tư Hiền

• Phía Bắc, từ Đông sang Tây, Thừa Thiên Huế trên đường biên dài 111,671 km tiếp giáp với các huyện Hải Lăng, Đakrông, tỉnh Quảng Trị

• Từ mặt Nam, tỉnh có biên giới chung với huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam dài 56,66 km, với huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng dài 55,82 km

• Ở phía Tây, ranh giới tỉnh (cũng là biên giới quốc gia) kéo dài từ điểm phía Bắc (ranh giới tỉnh Thừa Thiên Huế với tỉnh Quảng Trị và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) đến điểm phía Nam (ranh giới tỉnh Thừa Thiên Huế với tỉnh Quảng Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) dài 87,97 km

• Phía Đông, tiếp giáp với biển Đông theo đường bờ biển dài 120 km

• Phần đất liền, Thừa Thiên Huế có diện tích 503.320,52ha (theo niên giám thống

kê năm 2010), kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nơi dài nhất 120 km (dọc bờ biển), nơi ngắn nhất 44 km (phần phía Tây); mở rộng chiều ngang theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với nơi rộng nhất dọc tuyến cắt từ xã Quảng Công (Quảng Điền), thị trấn Tứ Hạ (Hương Trà) đến xã Sơn Thủy - Ba Lé (A Lưới) 65 km và nơi hẹp nhất là khối đất cực Nam chỉ khoảng 2–3 km

• Vùng nội thủy: rộng 12 hải lý

• Vùng đặc quyền kinh tế mở rộng đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở

• Trên thềm lục địa biển Đông ở về phía Đông Bắc cách mũi cửa Khém nơi gần nhất khoảng 600m có đảo Sơn Chà Tuy diện tích đảo không lớn (khoảng 160ha), nhưng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng đối với nước ta nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng

• Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc-Nam, trục hànhlang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đường 9 Thừa Thiên Huế ở vào

vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta Thừa Thiên Huế cách HàNội 660 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.080 km

Trang 29

• Bờ biển của tỉnh dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân Mây với độ sâu

18 *20m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất lớn, có cảng hàng không Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh

Khái quát sông Hương

Sông Hương hay Hương Giang (Hán Nôm 香 香 ) là con sông chảy qua thànhphố Huế và các huyện, thị xã: Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang đều thuộc tỉnh ThừaThiên-Huế, miền Trung Việt Nam

Sông Hương có hai nguồn chính đều bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn.Dòngchính của Tả Trạch dài khoảng 67 km, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn Đông, ven khuvực vườn quốc gia Bạch Mã chảy theo hướng tây bắc với 55 thác nước hùng vĩ, qua thịtrấn Nam Đông rồi sau đó hợp lưu với dòng Hữu Trạch tại ngã ba Bằng Lãng (khoảng

3 km về phía bắc khu vực lăng Minh Mạng) Hữu Trạch dài khoảng 60 km là nhánhphụ, chảy theo hướng bắc, qua 14 thác và vượt qua phà Tuần để tới ngã ba Bằng Lãng,nơi hai dòng này gặp nhau và tạo nên sông Hương

Từ Bằng Lãng đến cửa sông Thuận An, sông Hương dài 33 km và chảy rất chậm(bởi vì mực nước sông không cao hơn mấy so với mực nước biển) Khi chảy quanh dọcchân núi Ngọc Trản, sắc nước sông Hương xanh hơn – đây là địa điểm Điện Hòn Chén.Tại đây có một vực rất sâu

Sông Hương được cho là rất đẹp khi chiêm ngưỡng nó từ nguồn và khi nó chảyquanh các chân núi, xuyên qua các cánh rừng rậm của hệ thực vậtnhiệt đới Con sôngchảy chậm qua các làng mạc như Kim Long, Nguyệt Biều, Vỹ Dạ, Đông Ba, Gia Hội,chợ Dinh, Nam Phổ, Bao Vinh Nó từng là nguồn cảm xúc của du khách khi họ đithuyền dọc theo dòng sông để nhìn ngắm phong cảnh và lắng nghe những điệu caHuế truyền thống

Các công trình kiến trúc hai bên bờ sông gồm thành quách, thị tứ, vườn

tược, chùa chiền, tháp và đền đài ánh phản chiếu của chúng trên dòng nước khiến consông mang theo nhiều chất thơ và tính nhạc Nhiều người luôn gắn liền sự thanh bình, thanh lịch và cảnh vật đẹp đẽ của Huế với dòng Sông Hương

Giữa sông Hương có cồn Hến

Khái quát lễ hội đua thuyền trên sông Hương

Trang 30

Lễ hội đua thuyền trên sông Hương đã có lịch sữ 27 năm qua với mục đích duy trì

và phát triển đua thuyền truyền thống trong nhân dân, bảo tồn và phát huy truyềnthống văn hóa, thể thao của địa phương Qua đó nhằm nâng cao sức khỏe, rèn luyện kỹnăng sông nước và tăng cường giao lưu giữa các địa phương

2.1.1 Tình hình phát triển du lịch tại Thừa Thiên Huế

Tính hình phát triển du lịch tại Thừa Thiên Huế đang có nhiều bức phá Hoạtđộng xúc tiến quảng bá điểm đến Thừa Thiên - Huế thời gian qua đã được nâng tầm cả

về quy mô và hình thức triển khai; tần suất Việc tham gia các hội chợ trong và ngoàinuớc đã kêu gọi được sự hưởng ứng, chung tay của các doanh nghiệp nên chất lượngđược nâng cao Bên cạnh tham gia một số hội chợ du lịch, thị trường trọng điểm, tỉnhcòn quan tâm đến hoạt động liên kết vùng với các địa phương lân cận Triển khai tíchcực nội dung thỏa thuận hợp tác quảng bá điểm đến với Vietnam Airlines, Traveloka,Công ty CP Đường sắt Hà Nội, Bưu điện, VNPT, Công ty Vietravel, Tập đoàn ThiênMinh là những đối tác quan trọng có khả năng tạo ra bước đột phá cho công tác xúctiến quảng bá

2.1.2 Chương trình lễ hội

Lễ hội đua ghe truyền thống ở Huế là lễ hội truyền thống được tổ chức sau ngàygiải phóng hoàn toàn miên nam 1975 Lễ hội được tổ chức trong ngày, nhằm ngày lễquốc khánh (2/9) dương lịch Địa điểm đua là bờ sông Hương trước trường quốc họcnhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các thanh niên nam nữ có cơ hội thi tài trên sôngnước, qua đó rèn luyện sức khỏe và tạo không khí lành mạnh cho nhân dân địa phương Giải đua ghe, truyền thống lần này quy tụ 9 đội đua với gần 300 vận động viêncủa các địa phương vùng sông nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế gồm: thành phốHuế, thị xã Hương Trà, huyện Phú Vang, thị xã Hương Thủy, Quảng Điền và PhongĐiền Mỗi đội tham gia 10 lượt đua, tranh các giải: cúng, phá và giải tiền Giải đua diễn

ra kịch tích, quyết liệt trong suốt cả ngày, thu hút đông đảo người địa phương

Trang 31

2.1.3 Môi trường lễ hội:

Được tổ chức tại con sông Hương Tập trung người dân sinh sống tại khu vực 2 bên con sông thu hút đông đảo người dân và du khách

Nhiều năm qua, tỉnh luôn chú trọng thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trườngbằng việc đầu tư nguồn lực kiến tạo hạ tầng, cây xanh, bãi cỏ, lắp đặt hệ thống chiếusáng nghệ thuật, xây dựng cầu đường, nạo vét kênh mương, vệ sinh môi trường…;cùng với đó, phát động nhiều chương trình, phong trào, cuộc vận động trong toàn dânnhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệptrong việc bảo vệ môi trường.Với việc tổ chức triên khai các phong trào làm sạch bảo

vệ môi trường tại Thừa Thiên Huế Như “ ngày chủ nhật xanh” với sự tham gia của cácbạn sinh viên trường khoa du lịch, cao đẳng du lịch, và các công ty lữ hành, Cùng cáchoạt động tuyên truyền làm cho môi trường tại Huế ngày càng sạch

2.1.4 Dịch vụ tiện nghi lễ hội

Với việc cung cấp đây đủ trang thiết với nơi tổ chức tập trung đông dân cư việccác dịch vụ cơ sở y tế trang thiết bị Thừa Thiên Huế còn nỗi tiếng về y học với trungtâm y tế của miền trung

2.2 Kết quả nghiên cứu

2.2.1 Đặc điểm của đối tượng điều tra

Bảng 1 Đặc điểm của đối tượng điều tra

Trang 32

Học sinh, sinh viên 15 15,0

(Nguồn: số liệu điều tra tháng 3/2019)

Nhìn vào đây ta có thể thấy

- Giới tính: Có 51 du khách là nam tham gia vào lễ hội đua thuyền trên sôngHương tương ứng với 51,0% và có 49 du khách là nữ gia vào lễ hội đua thuyền ứng với49,0% Điều này cho thấy có sự chênh lệch về giới tính của du khách, tuy nhiên sựchênh lệch này là không lớn

- Về độ tuổi: Độ tuổi từ 35-60 tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất với 39 người tương ứngvới 39,0%, tiếp đến độ tuổi từ 18-35 tuổi cũng chiếm một tỷ lệ khá cao với 36 ngườitương ứng với 36,0%, độ tuổi trên 60 tuổi chiếm 13,0% và độ tuổi có số lượng thấpnhất là dưới 18 tuổi chiếm 12,0% Điều này chứng tỏ đa số lượng du khách tham giavào cuộc phỏng vấn đều nằm ở độ tuổi trung niên và những người trẻ tuổi Những dukhách trong khoảng độ tuổi này thường có nhu cầu đi du lịch và có khả năng thỏa mãncho nhu cầu của mình

- Về nghề ngiệp: Có 39 du khách có nghề nghiệp là kinh doanh tương ứng 39,0%,tiếp đến những du khách có nghề nghiệp là cán bộ công nhân viên chiếm tỷ lệ cũng khácao với 25 người tương ứng 25,0%, du khách có nghề nghiệp là học sinh sinh viên

Trang 33

chiếm 15,0%, những du khách là nghỉ hưu chiếm 12,0%, những du khách là và những

du khách có nghề nghiệp khác chiếm 9,0% và theo như số liệu điều tra thì những dukhách có nghề nghiệp khác là công nhân Những du khách có nghề nghiệp là kinhdoanh và cán bộ công nhân viên chức là những người có nghề nghiệp ổn định nên cóthu nhập khá thì sẽ có khả năng chi trả cho việc đi du lịch của mình

- Về thu nhập: Đa số du khách tham gia vào lễ hội đua thuyền trên sông Hương

có thu nhập từ 5 đến 10 triệu đồng với 36 người tương ứng với 36,0%, tiếp đến là số dulịch tham gia vào lễ hội đua thuyền có thu nhập từ 3 đến 5 triệu đồng chiếm 31 ngườitương 31,0,%, những du khách tham gia vào lễ hội đua thuyền có thu nhập dưới 3 triệuđồng chiếm 21 người 21,0% và cuối cùng những du khách tham gia lễ hội đua thuyền

có thu nhập trên 10 triệu đồng chiếm 12,0% Điều này cho thấy, đa số du khách thamgia vào lễ hội có thu nhập khá nên họ thường có nhu cầu đi du lịch và có khả năng chitrả cho hoạt động du lịch của mình

- Về trình độ học vấn: Đa số khách du lịch tham gia vào lễ hội đua thuyền trênsông Hương có trình độ học vấn là đại hoc,trên đại học chiếm 46 người tương ứng với46,0%, những du khách có trình dộ học vấn là trung cấp, cao đẳng chiếm 35 ngườitương ứng với 35,0% và những du khách có trình độ học vấn là trung học phổ thôngchiếm 19,0% Những du khách có trình độ học vấn cao thì chứng tỏ là đa số đều cócông việc ổn đinh, thu nhập ổn định thì sẽ có khả năng tham gia vào lễ hội hơn

• - Về nơi ở hiện tại: Có 58 du khách tham gia vào lễ hội đua thuyền trên sôngHương đến từ miền Trung- Tây Nguyên chiếm 58,0%, những du khách đến từmiền Bắc chiếm 28 người tương ứng với 28,0% và những du khách đến từ miềnNam chiếm 14,0% Điều này cho thấy, du khách đến tham gia vào lễ hội đuathuyền trên sông Hương có sự chênh lệch về vùng miền Bên cạnh đó, ta thấy đa

số là du khách đến từ miền Trung - Tây Nguyên tức là các tỉnh lân cận Bởi vìthời gian để di chuyển đến để tham gia lễ hội là ngắn nên du khách sẽ dễ dàngsắp xếp thời gian, công việc của mình

Trang 34

2.2.2 Số lần khách đến Thừa Thiên Huế

Số lần du khách đến tham gia lễ hội Thừa Thiên Huế

( Nguồn: Xử lý số liệu điều tra tháng 3 năm 2019)

Biểu đồ 1 Số lần du khách đến tham gia lễ hội đua thuyền trên sông Hương

Dựa vào kết quả ở biểu đồ trên ta có thể thấy đa số du khách đến Thừa Thiên Huếlần đầu tiên chiếm tỷ lệ cao nhất với 50 người tương ứng với 50,0%, những du kháchđến Thừa Thiên Huế từ 2 đến 3 lần chiếm 37 người tương 37,0%, du khách đến ThừaThiên Huế trên 3 lần chiếm 13,0% Điều này cho thấy bên canh lượng du khách đếnHuế lần đầu tiên nhều thì lượng du khách quay trở lại là rất cao Bởi vì cảnh quan ởHuế đẹp, con người thân thiện, món ăn địa phương ngon Do đó cần chú trọng đến vấn

đề này để xây dựng các chương trình hấp dẫn để thu hút thêm nhiều du khách đến đâycũng như là quay trở lại

2.2.3 Số lần tham gia lễ hội đua thuyền

( Nguồn: Xử lý số liệu điều tra tháng 3 năm 2019)

Biểu đồ 2 Số lần du khách đến tham gia lễ hội đua thuyền

Dựa vào kết quả ở biểu đồ trên ta có thể thấy đa số du khách đến tham gia lễ hộiđầu tiên chiếm tỷ lệ cao nhất với 68 người tương ứng với 68,0%, những du khách đếntham gia lễ hội từ 2 đến 3 lần chiếm 27 người tương ứng với 27,0%, du khách đếntham gia lễ hội trên 3 lần chiếm 5,0%

2.2.4 Kênh thông tin

Bảng 2 Kênh thông tin

Trang 35

Người thân, bạn bè 57 18,8

(Nguồn: Xử lý số liệu điều tra tháng 3 năm 2019)

Theo kết quả trên cho ta thấy được, kênh thông tin mà du khách tiếp cận được

để biết về lễ hội là từ internet có 68 người chiếm 22,4%, kênh thông tin mà du kháchtiếp cận từ công ty lữ hành, truyền hình, Tv chiếm 62 người tương ứng với 20,4%,kênh thông tin mà du khách tiếp cận từ sách báo/ tạp chí có 60 người chiếm 19,8%,kênh thông tin mà du khách tiếp cận được từ người thân, bạn bè chiếm 18,8% và kênhthông tin mà du khách tiếp cận từ tập gấp, tờ rơi chiếm 17,8% Điều này cho ta thấyphương thức quản bá tốt nhất là internet Bởi vì du khách có thể tìm hiểu bất cứ thôngtin gì về lễ hội mà chỉ bằng các thao tác trên máy tính hoặc điện thoại rất là dễ dàng vàthuận tiện và chi phí cho việc quảng bá là thấp hơn so với các phương tiện khác

2.2.5 Hình thức tham gia lễ hội.

(Nguồn: Xử lý số liệu điều tra tháng 3 năm 2019)

Biểu đồ 3 Cách thức tham gia lễ hội đua thuyền trên sông Hương

Qua biểu đồ trên ta thấy, đa số du khách đến tham gia lễ hội là thông qua công

ty lữ hành chiếm 51 người tương ứng với 51,0% và những du khách đến tham gia lễhội chiếm 49 người tương ứng với 49 ,0% Điều này cho thấy có sự chênh lệch về cáchthức tham gia lễ hội, tuy nhiên sự chênh lẹch này là không lớn lắm Bên cạnh đó, cần

có các chính sách hợp tác đối với các công ty lữ hành để có thể đảm bảo lượng dukhách đến với lễ hội là ổn định Bởi vì khi các công ty đưa lễ hội vào chương trình bántour của mình thì việc quảng bá lễ hội với du khách là tốt hơn

2.2.6 Hoạt động tham gia lễ hội.

Bảng 3 Hoạt động tham gia lễ hội

Đơn vị tính: %

Trang 36

(Nguồn: Xử lý số liệu điều tra tháng 3 năm 2019)

Qua bảng số liệu trên ta thấy, đa số du khách đến với lễ hội và tham gia vào cáchoạt động lễ hội văn hóa chiếm 68 người tương ứng 28,6%, những du khách đến lễ hộibài chòi và tham gia vào các hoạt động lễ hội truyền thống chiếm 63 người tương ứngvới 26,6%, những du khách đến lễ hội bài chòi và tham gia vào các hoạt động lễ hộingành nghề và lễ hội có yếu tố nước ngoài chiếm 22,4% Điều này cho thấy các hoạtđộng lễ hội truyền thống ở đây được nhiều du khách quan tâm Vì vậy, cần duy trì,giữgìn và phát triển hơn các hoạt động truyền thống Bởi các hoạt động này là một phầnnào đó phản ánh đời sống của người dân địa phương và giúp cho du khách hiểu hơn vềcác hoạt động đó

Trang 37

2.2.7 Mục đích tham gia lễ hội

Bảng 4 Mục đích tham gia lễ hội đua thuyền

Đơn vị tính: %

(Nguồn: Xử lý số liệu điều tra tháng 3 năm 2019)

Dựa vào kết quả của bảng số liệu trên ta thấy, đa số du khách đến với lễ hội vớimục đích tham quan danh lam thắng cảnh chiếm 69 người tương ứng với 22,3%, tiếpđến là những du khách đến với lễ hội bài chòi với mục đích tham gia vào các hoạt độngvui chơi chiếm 64 người tương ứng với 20,7%, những du khách đến với mục đíchnghiên cứu, tìm hiểu về lễ hội chiếm 61 người tương ứng với 19,8%, những du kháchđến với mục đích thưởng thức nghệ thuật, kiến trúc chiếm 19,0%, những du khách đếnvới mục đích giao lưu với người dân địa phương chiếm 18,2% Điều này cho thấy,danh lam thắng cảnh ở đây rất đẹp, lễ hội hấp dẫn, côn người thân thiện,… thu hútkhách du lịch đến đây Do đó cần quảng bá rộng rãi hơn nữa những chương trình hấpdẫn ở đây trên các phương tiện thông tin đại chúng để có thêm nhiều du khách biết đến

Thường xuyên thay đổi chương trình

trong các lễ hội để tạo thêm sự hấp dẫn

(Nguồn: Xử lý số liệu điều tra tháng 3 năm 2019)

Ngày đăng: 16/02/2020, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w