1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Đánh giá về phát triển bền vững du lịch lễ hội tại quảng nam

96 75 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín ngưỡng của lễ hội dân gian Việt Namđược biểu hiện dưới nhiều dạng như thờ cúng thần hoàng, thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên, thờcúng tổ nghề…Lễ hội truyền thống còn lưu giữ nhiều sinh hoạt

Trang 1

LỚP: K49-KTDL LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn

sự giúp đỡ của cô T.S Lê Thị Kim Liên là người đã luôn theo sát và tận tình hướng dẫn cho em từ khi tiến hành lựa chọn đề tài, làm bảng hỏi và cho đến khi xử lý dữ liệu, kết thúc nghiên cứu.

Bên cạnh đó, em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Du Lịch Đại Học Huế đã tận tình truyền đạt kiến thức học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu mà còn là hành trang quý báu

để chúng em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.

Chân thành cảm ơn những người bạn đã luôn đồng hành động viên em trong suốt thời gian qua, em cũng muốn dành lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình em nguồn hậu phương vững chắc và cũng là nơi nuôi nấng em nên người

Cuối cùng , tuy đã nỗ lực hết sức, nhưng với khả năng và thời gian có hạn nên nghiên cứu của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Vậy, em rất mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, góp ý tận tình của quý thầy, cô giáo để ngày càng nâng cao và hoàn thiện hơn kiến thức của mình.

Một lần nữa em xin trân trọng cám ơn!

Huế, năm 2019

Sinh viên

Lê Tấn Hoàng Vũ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là điều tra trungthực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thựchiện chuyên đề này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã đượcchỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố

Huế, tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Lê Tấn Hoàng Vũ

Trang 3

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

Du lịch Việt Nam được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn Tuy nhiên phát triển

du lịch của Việt nam nói chung và của nhiều địa phương nói riêng vẫn chưa tươngxứng với tiềm năng và thiếu bền vững Bên cạnh những tác động tích cực thì du lịchcũng mang lại nhều vấn đề tiêu cựu về kinh tế-văn hóa-xã hội Quản lý nhà nước về

du lịch vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập, chưa tạo được sự phối hợp nhịp nhàn, hiệuquả giữa các chương trình, chính sách, hoạt động phát triển du lịch, giữa các doanhnghiệp kinh doanh du lịch cũng như giữa các địa phương trong cả nước Phát triển dulịch vẫn theo chiều rộng, hiệu suất đầu tư vẫn chưa cao Quy mô ngành du lịch củaViệt Nam cũng như trình độ nguồn nhân lực, khả năng quản lí, mức độ áp dụng khoahọc công nghệ vẫn còn khiêm tốn Những yếu kém, hạn chế này được bộc lộ ở khảnăng thu hút và cạnh tranh còn thấp của du lịch Việt Nam

Ở cấp địa phương, các chương trình du lịch thường được triển khai dàn hàngngang, dập khuôn từ trên xuống với ít sự khác biệt giữa các tỉnh Những điểm nhấnmạnh, đặc trưng riêng của mỗi địa phương vẫn chưa được khai thác và mờ nhạt,không tạo được ấn tượng sâu sắc cho khách du lịch

Bên cạnh đó du lịch văn hóa ngày càng được phát triển, thu hút được nhiều sựquan tâm chú ý của khách du lịch những người muốn tìm hiểu, khám phá mở mangtầm tri thức Họ muốn tìm hiểu những công trình kiến trúc mang tính chất lịch sửkhông chỉ mang tính chất quốc gia mà còn được thế giới công nhận

Vậy nên Tôi đã quyết định nghiên cứu đề tài “Đánh giá về phát triển bền vững

du lịch lễ hội tại Quảng Nam” Qua đó có thể đưa ra các nhìn nhận về sự hấp dẫn

của loại hình du lịch lễ hội tại Quảng Nam trong bối cảnh sự cạnh tranh về các điểmtham quan ngày càng khốc liệt

2. Mục đích nghiên cứu:

Mục tiêu chung :

Trang 4

Nghiên cứu thực trạng hoạt động và khả năng thu hút khách du lịch đối vớiloại hình du lịch lễ hội tại Quảng Nam

- Đưa ra được một số giải pháp và kiến nghị cho các cơ quan chức năng để cóthể phát triển du lịch lễ hội tại Quảng Nam

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển bền vững du lịch lễ hội tại Quảng Nam

- Xác định quy mô mẫu:

Quy mô mẫu của nghiên cứu được xác định theo công thức của Linus Yamane:

n=

Trong đó :

- n: Quy mô mẫu

- N: Kích thước của tổng thể N = 5.300.000 (số lượt khách du lịch đến thamquan tại Quảng Nam năm 2017)

- e= 0.1: sai số cho phép giữa tỷ lệ mẫu và tổng thể

Ta có: n= 99,97

b. Phương pháp thu thập số liệu:

- Nghiên cứu tài liệu tại bàn: Tập hợp, sưu tầm và phân tích các nghiên cứu liênquan đã được công bố Phương pháp này giúp tìm ra khoảng trống cả về lýluận lẫn thực tiễn để nghiên cứu có thể bổ sung, đóng góp Phương pháp nàycòn giúp tiếp cận các thành tựu, kết quả và cách giải quyết các vấn đề, phương

Trang 5

pháp mà các học giả đi trước đã sử dụng thành công, nhờ đó có thể tiết kiệmđược thời gian, công sức đi thẳng vào vấn đề nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu so sánh: phương pháp này nghiên cứu có thể tìm ranhững điểm tương đồng và khác biệt giữa các điểm tham và so sánh việc pháttriển du lịch lễ hội tại Quảng Nam so với một số địa phương khác

- Phương pháp thu thập số liệu:

Số liệu thứ cấp: thu thập các số liệu có liên quan thông quan các báo cáo,

tài liệu của các cơ quan có liên quan như: Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịchTỉnh Quảng Nam, Trung tâm bảo tồn di tích Tỉnh Quảng Nam, Tổng cục

Du lịch…hay thừa kế số liệu từ các đề tài trước Số liệu thứ cấp 3 năm

2015 – 2017

Số liệu sơ cấp: thu thập số liệu sơ cấp thông qua việc điều tra bảng hỏi từ

khách du lịch đến với các lễ hội tại Quảng Nam Số liệu sơ cấp từ tháng 02đến tháng 04 năm 2019

c. Phương pháp phân tích và sử lí số liệu:

Số liệu được thu thập thông qua việc khảo sát sẽ được tổng hợp, làm sạch, mã hóa

và xử lý trên phần mềm phân tích thống kê SPSS 22.0:

- Sử dụng thang đo likert để lượng hóa mức độ đánh giá của du khách đối vớicác vấn đề định tính (Trong đó: 1= Hoàn toàn không đồng ý; 2= Không đồngý; 3= Trung lập; 4= Đồng ý; 5= Hoàn toàn đồng ý)

- Thống kê mô tả: tần suất (Frequency), phần trăm (Percent), giá trị trung bình(Mean) với ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng cách.Quy mô khoảng cách như sau:

Giá trị khoảng cách = (maximum – minimum) / n = (5 -1)/5= 0.8

Từ đó ta có thang đo giá trị như sau:

Trang 6

Việc phân tích và xử lý số liệu sẽ được thực hiện trên phần mềm SPSS 20.0 với độ tin cậycủa số liệu là 90%.

Sử dụng thang đo Likert 5 điểm trong việc:

 Đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm

đến theo thang đo Likert với các mức độ từ 1 - rất không đồng ý cho đến 5 - rất đồng ý

Quy trình phân tích sử lý số liệu được tiến hành như sau:

Phân tích thống kê mô tả: kiểm định độ tin cậy của mẫu (Crombach’s alpha) Tần

suất (Frequencies), phần trăm (Percent), giá trị trung bình (Mean)

 Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng:

Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/n = (5 – 1)/5 = 0,8

Trang 7

Xác định vấn đề nghiên cứu

Mã hóa, nhập và làm sạch dữ liệuTiến hành điểu tra chính thức

Thiết kế bảng hỏi sơ bộ

Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận thực tiễn về phát triển bền vững du lịch lễ hội Chương 2: Thực trạng về vấn đề phát triển bền vững du lịch lễ hội tại Quảng NamChương 3:Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững du lịch lễ hội tạiQuảng Nam

Phần III: Kết luận và kiến nghị.

Trang 8

PHẦN I: CƠ CỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

A CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Cơ sở lý luận về lễ hội

1.1 Khái niệm lễ hội

Có thể nói, lễ hội là một kho tàng văn hoá, nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôn giáo,

những sinh hoạt văn hoá văn nghệ, nơi phản ánh tâm thức con người Việt Nam một cáchtrung thực.Nó giữ vai trò như sợi dây gắn kết cộng đồng, tạo dựng không gian văn hóavừa sang trọng, linh thiêng, vừa tưng bừng, náo nức Nhìn chung, lễ hội dân tộc Việt Namgồm hai bộ phận: lễ hội truyền thống cung đình và lễ hội dân gian Với lễ hội dân gian,đây là nơi lưu giữ nhiều tín ngưỡng dân gian Tín ngưỡng của lễ hội dân gian Việt Namđược biểu hiện dưới nhiều dạng như thờ cúng thần hoàng, thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên, thờcúng tổ nghề…Lễ hội truyền thống còn lưu giữ nhiều sinh hoạt văn hoá văn nghệ đặc sắc.Nơi mở hội nhiều khi là những danh lam thắng cảnh, một môi trường giàu tính văn hoá.Chính địa điểm mở hội đáp ứng các tiêu chuẩn một điểm du lịch Ngoài ra, các tínngưỡng dân gian còn tiềm ẩn các trò diễn như tín ngưỡng thờ mặt trời, mặt trăng, thầnnước… Sự tiềm ẩn đó khiến chúng ta khó nhận diện các tín ngưỡng cổ xưa ấy Cùng vớitín ngưỡng, nhiều lễ hội còn gắn với phật giáo, thiên chúa giáo Lễ hội cung đình gắn liềnvới văn hóa cung đình của các triều đại phong kiến mà đỉnh cao và sự phong phú là các lễhội cung đình triều Nguyễn như lễ tế Nam Giao, tế Xã tắc, Truyền lô, lễ Vật…

Trong gốc từ Hán Việt, “Lễ hội” được kết hợp từ hai yếu tố, trong đó “lễ” là nhữngquy tắc ứng xử, cách thức cúng tế, nghi thức tôn giáo, “hội” là cuộc vui, đám vui đôngngười

Còn trong tiếng La Tinh, “lễ hội xuất xứ từ Festum, Nghĩa là sự vui chơi, vui mừngcủa công chúng

Giáo sư người Nhật cũng đưa ra quan điểm rằng: “Xét vè tính chất xã hội của lễ hội,

lễ hội là quảng trường tâm hồn; xét về tính chất văn nghệ, lễ hội là cái nôi sản sinh vànuôi dưỡng nghệ thuật, mỹ thuật, nghệ thuật, nghệ thuật, giải trí, trò diễn và với ý nghĩa

đó, lễ hội tồn tại và có quan hệ mật thiết với sự phát triển của văn hóa Trong cuốn Folkore một số thuật ngữ đương đại (Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan(2005), (chủ biên), Folklore một số thuật ngữ đương đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội),

đã đưa định nghĩa về lễ hội: “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giớiquan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò

Trang 9

chơi truyền thống Là một hoạt động hết sứa phổ biến, lễ hội có thể là sự kiện có tínhtượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất, tồn tại lâu đời trong truyền thống” Đây có lẽ làmột định nghĩa khá đầy đủ về những lễ hội kỷ niệm đã trở thành truyền thống.

Đó là ý kiến, định nghĩa của tác giả nước ngoài, còn tại Việt Nam tác giả Dương VănSáu cũng đưa ra khái niệm lễ hội: “Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồngdiễn ra trên địa bàn dân cư trong không gian và thời gian xác định nhằm nhắc lại sựkiện,nhân vạt lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp bày tốt cách ứng xửa văn hóa giữacon người với thiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội.” Thật vậy, lễ hội như gắn bó chặt chẽ với cuộc sống đời thường

1.2 Phân loại lễ hội

Căn cứ vào thời gian hình thành và phát triển lễ hội:

- Lễ hội truyền thống:

Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” Ví dụ như hội đền Hùng (Phú Thọ), hội Chùa Hương (Hà Nội)

+ Lễ hội dân gian:

Lễ hội dân gian là di sản văn hóa, gắn với lao động sản xuất tạo nên nét độc đáo trongvăn hóa người Việt Nam Ví dụ ở Huế có hội đua thuyền, hội Vật Làng Sình + Lễ hội cung đình: Gắn với văn hóa cung đình như Lễ tế Nam Giao, tế Xã Tắc,

lễ Truyền Lô

- Lễ hội hiện đại:

Là lễ hội mang hơi thở của thời đại mới, thương mại và chính trị cao Ví dụ như các lễhội sau: Lễ hội kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Ngày Quốc Khánh (2/9), ngàygiải phóng miền Nam (30/4), Festival Huế, Lễ hội Hoa Đà Lạt…

Căn cứ vào không gian tổ chức:

Lễ hội mang tính quốc tế Lễ hội du nhập từ bên ngoài vào đời sống văn hóa, xã hộicủa người Việt Nam được cả thế giới tổ chức như ngày quốc tế lao động 1/5

Lễ hội mang tính quốc gia: Lễ hội phản ánh các sự kiện lịch sử, nhân vật anh hùngảnh hưởng sâu sắc đén dân tộc Việt Nam như lễ h.ội đền Hùng

Lễ hội mang tính vùng miền: lễ hội mà mang nét đặc trưng riêng của vùng miền

đs, có sự tham gia đông đảo của người dân trong vùng miền đó như lễ hội Phủ Giày 3/3

Trang 10

Lễ hội làng: Lễ hội thường được tổ chức trong tầng lớp dân cư, nội dung phongphú và đa dạng.

Lễ hội liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo:

Lễ hội thờ cúng tỏ tiên như lễ hội đền hùng lowssn nhất nước ta, leexx hội thànhhoàng,thổ thần

Lễ hội của tín ngưỡng phồn thực: Tín ngưỡng tôn thờ những hiện vật biểu trưng sinh thựckhí âm dương

Lễ hội Kitô giáo: Đây là những nghi lễ sinh hoạt tôn giáo ở bát kỳ giáo xứ nào như lễphục sinh

Lễ hội Phật Giáo: Phật giáo du nhập sớm vào Việt Nam anhr hưởng sâu sắc nhất như lễhội Vu lan báo hiếu(15/7 âm lịch)

1.3 Cấu trúc lễ hội

1.3.1 Lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của ngườidân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Người Việt Nam từ hàng ngànđời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thốngquý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị

“Thần” - những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Hình tượng các vịthần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người Đó là những anh hùng chốnggiặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những ngườichống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vậttruyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìncuộc sống hạnh phúc

Phần lễ là phần thiêng liêng, gắn với sự tích, quyền năng mối quan hệ giữa thần và người

Lễ hội truyền thống là các lễ hội được hình thành từ trước Cách mạng tháng tám năm 1945, trong lễ hội truyền thống, các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với những nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo thời gian và không gian

Lễ hội truyền thống bao gồm: phần lễ và phần hội

Trang 11

Phần lễ: Lễ là tổng thể nghi thức thể chế hóa trật tự, gắn với sự tích, quyền năng

của thần, diễn đạt mối quan hệ của Người và Thần Lễ cơ bản là linh thiêng Nghi lễ lànhững nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng đểđánh dấu, kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh ướcnguyện về sự kiện nhân vật đó với mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành Phần lễtiến hành theo một trật tự gần như thống nhất; cáo, hiến tế, cầu xin, tạ ơn Lễ đơn giảndiễn ra trong thần điện, đa số các lễ hội đền, hội chùa, đình nước ta tiến hành lễ đơn giản

Lễ mở rộng ra ngoài thần điện với đám rước, diễn xướng Tùy theo tính chất của lễ hội

mà phần lễ sẽ mang sắc thái riêng, phần lễ là một hệ thống liên kết có trật tự cùng hỗ trợnhau: Lễ rước nước, lễ mộc dục, lễ gia quan, lễ rước, đám rước, lễ đại tế, lễ túc trực, lễhèm, lễ rã đám

Phần hội: Hội là những cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo

phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt Hội là đời thường diễn ra bên ngoài thần điện và mởrộng ra tất cả vùng miền, cộng đồng, đến từng gia đình, diễn ra trong thời gian lễ sau đó.Hội là phần của những trò chơi dân gian, diễn xướng vui chơi, tất cả mọi người đều cótham gia vì nó được mô phỏng theo những động tác lao động hằng ngày như đấu vật,đánh đu, chơi cờ, hát đối Hội cơ bản là đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viêntrong việc tổ chức và mục đích của hội là để vui chơi thỏa thích, thoải mái Phần hộithường gắn liền với tình yêu, giao duyên nam nữ nên rất có phong vị tình Hội không bịràng buộc bởi lễ nghi tôn giáo, đẳng cấp và tuổi tác Con người đến với hội trong tìnhthần cộng cảm, hồ hởi, sảng khoái và hoàn toàn tự nguyện Thật vậy, lễ hội là cuộc đờithứ hai bên cạnh cuộc đời thực; là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thốngcủa cộng đồng, là sự lý tưởng hóa khát vọng cuộc đời Lễ hội diễn ra có sức hấp dẫn lạ

kỳ, con người hòa với thiên nhiên, với đất trời, cảm thấy cuộc sống này thật tươi đẹp biếtnhường nào

1.3.2 Lễ hội hiện đại

Lễ hội hiện đại là một sinh hoạt văn hóa đồng thời là một sinh hoạt chính trị rộng khắp chứa đựng những giá trị hiện sinh đồng thời phản ánh trình độ điều kiện và xu

Trang 12

hướng phát triển của xã hội ở vào thời điểm diễn ra lễ hội Lễ hội hiện đại chỉ ra đời từ sau năm 1945.

Lễ hội hiện đại thường là những hoạt động mang ý nghĩa xã hội có liên quan đếncác sự kiện chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội như các hoạt động chào mừng những sựkiện nào đó, lễ khai mạc, lễ bế mạc các sự kiện quan trọng gắn với một tổ chức hay rộnghơn trên phạm vi quốc gia - dân tộc Lễ hội hiện đại bao gồm: “Lễ hội du lịch”, “Lễ hộivăn hóa - Thể thao - Du lịch”, “Lễ hội du lịch - Thương mại”, “Liên hoan du lịch”, “Hộichợ triển lãm”, “Festival” Lễ hội hiện đại có thể diễn ra định kỳ ngày tháng trong năm,hoặc theo định kỳ năm chẵn hoặc năm lẻ Lễ hội hiện đại thường diễn ra trong thời gianngắn, trừ các hội chợ xuân, hội chợ triển lãm, liên hoan du lịch

Không gian của lễ hội hiện đại thường diễn ra ở các trung tâm đô thị, thủ đô và cácthành phố lớn của đất nước Trong lễ hội hiện đại có sử dụng các thành kỹ thuật, các yếu

tố cấu thành của đời sống hiện đại như nghi thức, phương tiện âm thanh, hình ảnh, ánhsáng, trang phục

Lễ hội hiện đại thường được truyền thông, truyền hình rộng rãi, nhanh chóng vàđầy đủ, chi tiết các hoạt động của lễ hội Các phương tiện truyền thông như Radiô, truyềnhinh, báo in, báo điện tử các phương tiện truyền thông hiện đại tường thuật trực tiếp qualàn sóng điện

Lễ hội hiện đại thường diễn ra do các cơ quan chính quyền, đoàn thể tổ chức.Thường gắn với một cơ quan đoàn thể vào thời điểm nào đó có ý nghĩa với sự ra đời tồntại và phát triển của cơ quan tổ chức đó Đội ngũ đại biểu, quan chức, quan khách tham

dự lễ hội thường được bố trí ở một khu vực dành riêng như lễ đài, khán đài

Trình tự và nội dung khái quát trong lễ hội hiện đại có thể là:

1. Rước lửa truyền thống

2. Rước cờ tổ quốc, cờ hội, cờ thể thao

3. Các nghi thức như: Chào cờ, Quốc ca, Quốc tế ca (nếu có)

4. Lễ dâng hương

5. Diễn văn/Chúc văn khai mạc

6. Đại biểu phát biểu ý kiến

7. Duyệt/Diễu binh, diễu hành, biểu dương lực lượng

Trang 13

8. Tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật tập thể

9. Bắn pháo hoa, thả đèn trời, thả bóng, thả chim bồ câu…

10. Các nghi thức và các hoạt động khác

Tóm lại, dù là lễ hội truyền thống hay lễ hội hiện đại thì vẫn luôn mang trong mìnhmột nhiệm vụ, đó là giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc mình nói riêng và tinh hoa nhân loại nói chung, tiếp thu các thành tựu của khoa học và kỹ thuật

để xây dựng một nền văn hóa với bản sắc dân tộc riêng, vị thế riêng trong thời kỳ mới

1.4 Một số đặc điểm của lễ hội.

* Tính thiêng:

Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do mang tính

“thiếng” nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống mảnh đất ấy,lập tức được mối đùn lên thành mộ Đó là nơi một người anh hùng bỗng dưng hiển thánhbay về trời Cũng có khi đó chỉ là một bờ song, nơi có một xác người chết đuối, đang trôibỗng nhiên dừng lại, không trôi nữa; dân vớt lên, chôn cất thờ phụng… Cũng có khi lễhội chỉ hình thành nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ởlĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có người đàomương, có người trị thủy, có người đánh giặc…) Song, những người đó bao giờ cũngđược “thiên hóa”, đã trở thành “Thần thánh” trong tâm trí của người dân

Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ có thể phù

hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh, làm nghề, sản xuất,đánh giặc… mà còn có thể giúp họ vượt qua những khó khan đa dạng hơn, phức tạp hơncủa đời sống Chính tính “Thiêng” ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trongnhững thời điểm khó khan, cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến

* Tính cộng đồng:

Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước

* Tính địa phương:

Trang 14

Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định Bởi thế lễ hội ởvùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địa phương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễhội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần vàvăn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa.Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vậtdâng cúng…

* Tính cung đình:

Đa phần các nhân vật được suy tôn thành thần linh trong các lễ hội của người Việt,

là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa Bởi thế những nghi thức diễn ratrong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu… đều mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự

mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, động tác đi lại… Điều này làm cho lễ hộitrở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho ngườitham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, nhữngkhao khát nguyện vọng của người dân

* Tính đương đại:

Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch sử,cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới, những cách bài trímới, những phương tiện kỹ thuật mới như radio, cassete, video, tăng âm, micro… đã thamgia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới

Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện, vô lý…

1.5 Vai trò, chức năng của lễ hội:

Có thể nói, lễ hội Việt Nam đã trải qua nhiều biến thiên lịch sử và vẫn đang tồn tạibền vững trong xã hội hiện đại là vì lễ hội có vai trò, chức năng vô cùng quan trọng đốivới đời sống con người, và chính điều đó làm nên sự tồn tại vững bền qua thời gian của disản văn hóa này

Trang 15

Thứ nhất, lễ hội thực hiện chức năng liên kết cộng đồng, dù dưới hình thức nào lễhội truyền thống vẫn là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân, là “cuộc vui chơi đôngngười” được tổ chức sau thời gian lao động, sản xuất hay nhân dịp kỷ niệm một sự kiện

xã hội quan trọng liên quan đến sự tồn tại của một cộng đồng hoặc để quần chúng tìm đếnmột cái gì đó Ta thấy hầu như toàn bộ lễ hội truyền thống nào cũng đều phản ánh chứcnăng này, từ lễ hội Chùa Hương (Hà tây), lễ hội Nghinh Ông (Bình Thuận) đến lễ hội BàChúa Xứ (An Giang)…

Thứ hai, lễ hội có chức năng phản ánh, bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóatruyền thống, thể hiện ở sự ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống đã qua ( như lễ hộiĐền Hùng, lễ hội Gióng…)

Thứ ba, lễ hội còn thể hiện chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, tâmlinh, giải quyết những khát khao, những ước mơ của cộng đồng các dân tộc ở địa phươngnhư lễ hội Dinh Thầy Thím, Cầu Ngư (Bình Thuận), Chùa Bà (Bình Dương), Núi Bà Đen(Tây Ninh)…Thông qua đó, lễ hội tạo cho con người niềm lạc quan yêu đời, yêu chân lý,trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi ấm tình nhânđạo, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn

Thứ tư, lễ hội còn có vai trò tạo môi trường hưởng thụ và giải trí Đến với lễ hộimọi người được “hòa nhập” hết mình trong các hoạt động của lễ hội, được “hóa thân”đóng một vai trong hội hay “nhập thân” vào một trò chơi Trong lễ hội, người dân khôngchỉ hưởng thụ mà còn là người sáng tạo văn hóa, là chủ nhân thực sự trong đời sống vănhóa của chính bản thân mình

Hiện nay do phát huy tốt vai trò, chức năng nêu trên, các lễ hội đã tiếp tục thu hútđược hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn quần chúng nhân dân tham gia, tạo nên mộtkhông khí náo nhiệt, hào hứng giữa đời sống lao động sản xuất của nhân dân Chiều sâucủa tinh thần lễ hội truyền thống là bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc béncho mọi thời đại của mỗi dân tộc; do đó, thực hiện tốt các chức năng của lễ hội truyềnthống là góp phần giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm lành mạnh,phong phú đời sống tinh thần của xã hội

Trang 16

2 Cơ sở lý luận về lễ hội dân gian.

2.1 Sự hình thành và ý nghĩa của lễ hội dân gian.

Trong lịch sử đã hình thành hai vùng văn hóa lớn là phương Tây và phương Đông.Phương Tây là khu vực Tây – Bắc gồm toàn bộ châu Âu (đến dãy Uran); phương Đônggồm châu Á và châu Phi; nếu trừ ra một “vùng đệm” như một dải đường chéo chạy dàigiữa từ Tây – Nam lên Đông – Bắc từ phương Đông sẽ là khu vực Đông – Nam còn lại.Hai vùng này có sự khác biệt rõ rệt về mọi mặt Trong khi các ngôn ngữ phương Tây biếnhình thì các ngôn ngữ phương Đông chủ yếu là đơn lập; trong khi người phương Tây coitrọng cá nhân thì người phương Đông coi trọng cộng đồng

Môi trường sống của cư dân phương Đông là xứ nóng sinh ra nhiều mưa, tạo nêncác con sông lớn với những vùng đồng bằng trù phú Còn phương Tây là xứ lạnh với khíhậu khô, không thích hợp cho thực vật phát triển Hai loại địa hình này khiến cho cư dânhai khu vực phải sinh sống bằng hai nghề khác nhau là trồng trọt và chăn nuôi

Sau này, các dân tộc ven biển thì phát triển thương nghiệp buôn bán, chỉ còn lạicác dân tộc trong lục địa làm nông nghiệp, nhưng chăn nuôi vẫn là mối quan tâm chủ yếucủa họ Mặc dù sau này các dân tộc phương Tây đã chuyển sang thương nghiệp, rồi pháttriển công nghiệp và đô thị, nhưng cái gốc du mục đã để lại dấu ấn quan trọng trong đờisống văn hóa của họ Do đó, căn cứ vào nguồn gốc của hai khu vực văn hóa, chúng ta cóthể phân chia văn hóa nhân loại ra thành hai loại hình văn hóa: Loại hình văn hóa gốcnông nghiệp và loại hình văn hóa gốc du mục

Việt Nam nằm trong vùng văn hóa phương Đông, do vậy thuộc loại văn hóa gốcnông nghiệp điển hình Các cư dân nông nghiệp phải sống định cứ để gieo trồng và chờcây cối lớn, và ra kết trái và thu hoạch Do sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên họước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên, có lúc họ còn thần thánh hóa thiên nhiên Bởi thế

mà trên khắp các vùng miền đâu đâu cũng có những lễ hội tưởng nhớ công ơn các vị thầnthiên nhiên như: Thần nước, Thần song, Thần biển… Do vậy cũng có thể nói rằng,phương thức sản xuất nông nghiệp là một trong các nguồn gốc của lễ hội dân gian ViệtNam

Trang 17

Ngoài ra, lễ hội dân gian còn là loại hình sinh hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần củangười dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Người Việt Nam từ hàngngàn đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” Lễ hội là sự kiện thể hiện truyềnthống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng liêng, được suy tôn lànhững vị “Thần” – những nhân vật có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Hìnhtượng các vị thần linh đã đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người Đó là nhữnganh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghềnghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứungười; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con ngườihướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc… Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ long tri âncông đức của các vị Thần đối với cộng đồng, dân tộc.

Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn cội Dù là nguồn cội tự nhiên hay nguồncội của dân tộc thì đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người

Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc Họ thờ chung một vị Thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua khó khăn, giành cuộc sống ấm no hạnh phúc

Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất vàtinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ saubiết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức tuyền thống quý báu của dân tộctheo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh với các trò chơi đua tài, giải trí…

Lễ hội còn là dịp con người được giải tỏa, dãi bày phiền muộn, lo âu của Thần linh, mong được Thần giúp đỡ, che chở để vượt qua những khó khăn vất vả trong cuộc sống

2.2 Những đặc trưng của lễ hội dân gian:

Nếu lễ Tết là một hệ thống phân bố theo thời gian thì lễ hội là hệ thống phân bốtheo không gian Vào mùa Xuân và mùa thu, khi công việc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hộidiễn ra liên tiếp hết chỗ này đến chỗ khác, mỗi vùng có lễ hội riêng của mình Chẳng thế

mà vùng Kinh Bắc có câu:

Trang 18

Mùng 7 hội KhámMùng 8 hội DâuMùng 9 đâu đâuNhớ về hội Gióng.

Lễ hội có phần lễ và phần hội

Phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin Thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình.Căn cứ vào mục đích này và dựa vào cấu trúc của hệ thống văn hóa, có thể phân biệt baloại lễ hội: lễ hội liên quan đến tự nhiên, ví dụ: lễ hội cầu mưa, hội xuống đồng, hội đâmtrâu, hội cơm mới, hội cốm, hội đua thuyền, hội đua ghe ngo…; lễ hội tưởng nhớ ơn đứcđối với những người có công với dân tộc, ví dụ: hội Đền Hùng, hội Gióng, hội Tây Sơn,hội Đống Đa… và lễ hội tôn giáo và văn hóa, ví dụ như: Hội Chùa Hương, hội Chùa tâyPhương, hội Chùa Thầy, hội Đền Bắc Lệ, đền Dạ Trạch, hội Phủ Giày, hội Núi bà Đen…

Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú Xét về nguồn gốc, phầnlớn các trò chơi này đều xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của cư dân nôngnghiệp Xuất phát từ ước vọng cầu mưa là các trò tạo ra tiếng nổ mô phỏng tiếng sấm,như thi đốt pháo, đi thuyền, ném pháo, đánh pháo đất… Xuất phát từ ước vọng phồn thực

là các trò cướp cầu thả lỗ, đánh đáo, ném còn, nhún dun, bắt trạch trong chum… Xuấtphát từ ước vọng rèn luyện sự nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo là các trò chơi thi nấu cơm,thi luộc thịt gà, thi dọn cỗ, thi bắt lợn, thi bắt vịt, thi dệt vải, thi leo cầu, thi bịt mắt bắt dê,đua cà keo… Xuất phát từ ước vọng rèn luyện sức khỏe và khả năng chiến đấu là các tròđấu vật, kéo co, chọi gà, chọi trâu, chọi dế…

Lễ tết và lễ hội đều là sự tổng hợp uyển chuyển của cái linh thiêng (lễ) và cái trầnthế dân gian thường nói “ăn Tết”, nhưng “chơi hội” Lễ tết giới hạn trọng mỗi gia đìnhcòn lễ hội mở rộng ra phạm vi toàn cộng đồng Lễ tết duy trì quan hệ tôn ti trên dưới giữacác thành viên trong gia đình, lễ hội duy trì quan hệ dân chủ bình đẳng giữa các thànhviên trong làng xã và liên kết các lứa đôi thành những gia đình mới Lễ tết phân bố theothời gian, lễ hội phân bố theo không gian Hai trực này một dọc một ngang kết hợp vớinhau làm nên nhịp sống âm dương hài hòa xuyên suốt bao đời của người dân Việt

Trang 19

Một đặc trưng nổi bật nữa của lễ hội Việt Nam là tính đa dạng và phong phú Theothống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyềnlớn, nhỏ trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Mỗi lễ hội mang mộtnét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một đối tượng linh thiêng cầnđược suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗtruyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế… Với tư tưởng

“uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, ngày hội diễn ra sôi động bằng việcdiễn lại những sự tích, công trạng của những thế hệ trước, nó giống như cầu nối giữa quákhứ và hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao của Tổ tiên, them tự hào

về truyền thống quê hương, đất nước của mình Đặc biệt, lễ hộ ở nước ta gắn bó với làng

xã, địa danh, vùng đất như một thành phố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồngnhân dân

Bởi phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớngười có công với nước nên các vai trò vui chơi ở lễ hội thường mang tính mạnh mẽ củatinh thần thượng võ như: đấu vật (hội Cổ Loa), đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, NamĐịnh), thi bắn nỏ, ném còn (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc)… Đối với bà con các dântộc Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu là tiêu biểu nhất Trong lễ hội này, ngoài nghi lễ đâm trâuhiến tế hấp dẫn, ly kỳ còn có trò múa khiên, ném lao, đấu gậy

Các trò vui chơi giải trí ở lễ hội còn bao gồm những hoạt động văn hóa, xã hộikhác như thi hát quan họ, thi nấu cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật, đánh đu… Đặc biệt trò thiđánh đu không chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội lớn mà còn là một trò vui chơi dân dã trongnhững ngày tết ở khắp các làng xã

2.3 Quy trình của lễ hội dân gian.

Quy trình lễ hội thường được tiến hành theo ba bước:

Chuẩn bị: Bước này bao gồm 2 giai đoạn Giai đoạn chuẩn bị cho mùa lễ hội sau

và khi ngày hội đã đến gần Việc chuẩn bị cho mùa lễ hội sau được tiến hành ngay sau khimùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có sự phân công, cắt cử mọi việc để đónmùa lễ hội năm sau Khi ngày hội sắp diễn ra thì công tác chuẩn bị bao gồm: việc kiểm tra

Trang 20

lại đồ tế lễ, trang phục, quét dọn, mở cửa di tích, rước nước làm lễ tắm tượng (mộc lục)cùng các đồ tế tự, thay trang phục mũ cho thần…

Vào hội: Các hoạt động được chính thức trong ngày hội, đó là các nghi thức tế lễ,

lễ rước, dâng hương, tổ chức các trò vui Đây là toàn bộ những hoạt động chính có ýnghĩa nhất của lễ hội Lễ hội thu hút nhiều hay ít khách, diễn ra trong nhiều ngày hay mộtngày hoàn toàn được chi phối bởi các hoạt động trong hội có hấp dẫn hay không

Kết thúc hội (xuất tịch, giã đám, giã hội): Ban tổ chức làm lễ tạ, đóng cửa di tích.Trong lễ hội thông thường bao giờ cũng có 1 số nghi thức bắt buộc Các nghi thứcnày được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ, nghiêm ngặt từ khi chuẩn bị lễ hội cho đếnkhi hết hội Thông thường một lễ hội có các nghi lễ: lễ mộc dục, lễ tế gia quan, lễ rước, lễ

tế khai hội và tế giã đám

Lễ mộc dục (tắm tượng Thần hay Thần vị):

Lễ này thường được tiến hành vào nữa đêm hôm trước ngày khai hội Trước khilàm lễ mộc dục, có nơi người ta còn tổ chức lễ rước nước Trước khi thực hiện việc tắmtượng (lau chùi tượng thờ) phải làm lễ cáo Thần

Lễ tế gia quan:

Sau lễ mộc dục là lễ tế gia quan (mặc áo, đội mũ cho tượng Thần) Nếu Thầnkhông có tượng mà chỉ có bài vị (Thần vị) thì áo mũ đặt lên ngai Sau đó tượng Thần (hayThần vị, hoặc có khi chỉ là áo mũ) được đặt lên kiệu, chuẩn bị cho đám rước Thần sángngày khai hội

Lễ rước:

Trong một lễ hội thường có rước Thần, rước Thành Hoàng, rước văn hay rướcnước Lễ rước Thần hay rước Thành Hoàng thường được cử hành trước khi vào lễ khaihội và kết thúc hội Nội dung, ý nghĩa của lễ rước ở mỗi lễ hội đều có sự khác biệt về đốitượng rước, cách thức tiến hành, trình tự đoàn rước, thành phần người tham gia… Trong

số các lễ rước thì rước Thần và rước nước phổ biến hơn cả

Trang 21

Lễ hội là hoạt động cộng đồng tôn vinh các nhân vật linh thiêng, như: Thánh,Thần, nhưng Thánh và Thần thường được thờ ở đền, miếu mà đa số lễ hội thường được tổchức ở đình làng, đền, nơi rộng rãi tiện cho việc hành lễ và tổ chức các trò chơi Do vậytrước khi khai hội, người ta thường tổ chức cuộc rước Thần đi theo lộ trình từ đền hoặcđình về nơi hành lễ, xong hội lại rước Thần, Thánh trở lại nơi thờ cũ Sau lễ rước sẽ là lễ

tế Thần, Thánh và khai hội Đặc biệt có nơi, trong dịp lễ hội ngày nào cũng có rước Lễrước ngày không phải rước Thần mà là rước sớ (rước văn) – tức bài văn cúng Thần,Thánh Mỗi ngày người ta cúng Thần, Thánh bằng một bài sớ riêng Trong đám rước văn,bài sớ cũng được đặt lên kiệu rước, gọi là kiệu văn

Lễ rước trong các lễ hội truyền thống thường quy định người trực tiếp tham giarước phải là nam giới tuổi từ 18 trở lên; không có phụ nữ, trừ một vài lễ hội thờ nữ Thần(như lễ hội Phù Giày, lễ hội hạ Lôi) thì đoàn rước lại chủ yếu do nữ đảm nhiệm

Người tham gia rước (gọi là giai đô) là những người được dân làng lựa chọn, cắt

cử Họ là những chàng trai khỏe mạnh, có tài có đức, không có điều tiếng đáng chê tráchtrong làng xóm Ai được chọn trong đội rước là vinh dự cho bản thân và gia đình

Ngoài rước Thần, Thánh, Thành Hoàng… còn có lễ rước kiệu Đám rước kiệu khi

đi đường có biểu tượng riêng để tránh sự trùng lặp giữa các nhóm cộng đồng Trước khikhởi hành, chiêng, trống nổi lên từ trong đền, đình Thường từ nửa đêm, tiếng trống đãgoing liên hồi để mọi người đều biết, ai có phận sự phải lo sửa soạn trước Ngày xưathường đốt pháo lệnh trước khi đám rước bắt đầu

Tế giã đám:

Ngày giã đám (xuất tịch) thường có một buổi đại lễ cuối cùng gội là tế giã đám.Nghi thức này cũng được thực hiện với đầy đủ các bước theo quy định của từng lễ hội

3 Cơ sở lý luận về du lịch lễ hội.

Sở dĩ chúng ta đặt vấn đề này là do mối quan hệ có tính tất yếu khách quan của lễhội và du lịch Lễ hội là một hoạt động văn hóa có tính tất yếu và thiết yếu trong đời sốngvăn hóa xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc Đây là một sản phẩm của lịch sử, nó tồn tại vàvận hành cùng lịch sử Trong khi đó du lịch ra đời muộn hơn nhưng lại phát triển với tốc

Trang 22

độ nhanh chóng và là một nhu cầu không thể thiếu của con người trong xã hội hiện đại.

Tự thân hai hoạt động này tạo ra nhau và tìm đến nhau như là những thành tố của một xãhội phát triển, là một xu hướng tất yếu khách quan của xã hội loài người trong khônggian, môi trường, điều kiện và hoàn cảnh mới

Việc tổ chức các tour du lịch tới các địa phương trên khắp miền đất nước trong mộtkhoảng thời gian nhất định trong năm mà thời gian đó trùng với thời gian mở hội của địaphương Hoạt động này giúp cho du khách tìm hiểu và cảm nhận những giá trị nhiều mặtthông qua hoạt động lễ hội của địa phương gọi là du lịch lễ hội

Du lịch lễ hội có thể tạm chia thành du lịch lễ hội truyền thống và du lịch lễ hộihiện đại Du lịch lễ hội đã góp phần phổ biến rộng rãi văn hóa của các địa phương tới mọimiền đất nước, truyền bá văn hóa dân tộc ra thế giới, quảng bá hình ảnh Việt Nam trên thịtrường Quốc tế và trong lòng bạn bè thế giới

Đến với lễ hội, du khách được hòa mình vào trong không gian văn hóa đặc sắc, côđọng của các địa phương, du khách sẽ trở thành đối tượng làm thay đổi một phần diệnmạo của lễ hội, tăng tính thu hút, hấp dẫn của lễ hội các địa phương

Du lịch đem đến cho các địa phương có lễ hội nguồn lợi kinh tế, tạo công ăn việclàm cho người dân địa phương… Du lịch sẽ đem đến cho lễ hội một sắc thái mới, một sứcsống mới Du lịch đem đến cho lễ hội môi trường, điều kiện để được trình bày, phô diễnnhững giá trị mà lễ hội hàm chứa

Tuy nhiên, du lịch và lễ hội cũng có những tác động tiêu cực tới nhau Hoạt động

du lịch với nhiều đặc thù riêng có thể làm biến dạng lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại

Du khách đến lễ hội đông đảo kéo theo những nhu cầu khác nhau, tạo ra sự mất cân đốitrong quan hệ cung – cầu, dễ dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái tự nhiên vàmôi trường sinh thái nhân văn Bản sắc văn hóa vùng miền có nguy cơ bị “mờ” do kết quảcủa giao thoa văn hóa thiếu lành mạnh, không thể tránh khỏi đem đến từ phía một bộ phậncác du khách Tất cả những điều trên đều dễ dẫn tới các hiện tượng nệ cổ, phục cổ hoặc sựlai căng, pha tạp trong cách nhìn, cách hiểu, cách ứng xử lệch lạc đối với văn hóa các địaphương

Trang 23

Chi phí của khách du lịch

Chi phí của các doanh nghiệp du lịch

Chi phí của các DN địa phương

1.2 TÁC ĐỘNG KINH TẾ CỦA DU LỊCH VÀ LỄ HỘI

1.2.1 Quan điểm về tác động kinh tế của Du lịch và Lễ hội

Du lịch có hiệu quả trực tiếp đến một số ngành và lĩnh vực kinh doanh của đấtnước như ngành Giao thông vận tải, lưu trú, ăn uống, Mặt khác, một số ngành có liênquan đến du lịch như công nghiệp may mặc, hàng tiêu dùng, nông nghiệp cũng có lợi íchđáng kể bởi việc cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp các sản phẩm, dịch vụ của mình cho dulịch Quan điểm về tăng gấp bội được áp dụng hầu hết cho đánh giá tác động kinh tế, đặcbiệt là đánh giá tác động kinh tế của Du lịch và Lễ hội Quan điểm này được các tác giảChris Cooper, John Flecher, David Gilbert, Rebecca Shepherd, Stephen Wanhill trình bàykhá chi tiết trong giáo trình “ Tourism Principles and Practice” (1998) [29] như sau:

1.2.1.1 Quan điểm về tăng gấp bội (The multiplier concept)

Quan niệm tăng gấp bội dựa vào sự nhận thức rằng một doanh nghiệp đòi hỏi phải

có sức mua từ các doanh nghiệp khác trong phạm vi nền kinh tế của địa phương Bởi vậy,bất kỳ một thay đổi nào trong mức tiêu dùng của du khách cũng đem lại sự thay đổi về

mức độ sản xuất, thu nhập hộ gia đình, việc làm và thu nhập của chính phủ “Thuật ngữ tăng gấp bội (số nhân) du lịch chuyển tới tỷ lệ của hai sự thay đổi -thay đổi một trong những biến thể chìa khoá đầu ra ( như thu nhập, việc làm hay nguồn thu của chính phủ) đối với sự thay đổi trong chi phí khách du lịch”.

Tuy nhiên, việc cung cấp các hàng hoá dịch vụ cho những cơ sở kinh doanh du lịchlại không hoàn toàn nằm trong phạm vi của một vùng (điểm đến của khách du lịch) nên sốtiền của khách du lịch đã chi tiêu trong vùng chỉ đọng lại một phần trong nền kinh tế vùng

để tiếp tục tham gia vào chuỗi chi tiêu - thu nhập vùng Thuật ngữ “rò rỉ” (thất thoát)(leakage) được áp dụng cho những khoản tiền thoát ra khỏi nền kinh tế vùng Chẳng hạnnhập khẩu thiết bị, thức ăn và những sản phẩm khác mà vùng đó không sản xuất Nhữngvùng có khả năng tự cung ứng cho ngành du lịch càng cao thì rò rỉ (thất thoát, kẻ hở) càngnhỏ và ngược lại Điều này cũng có nghĩa là những vùng có khả năng tự cung tự cấp chongành du lịch càng cao thì tỷ lệ tăng gấp bội càng lớn và ngược lại

Như vậy, tăng gấp bội du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, xãhội của quốc gia hay của vùng Những quốc gia hoặc vùng có điều kiện kinh tế khác nhauthì tỷ lệ tăng gấp bội cũng khác nhau

Để hiểu rõ hơn chúng ta nnghiên cứu sơ đồ 1

Trang 24

Nguồn: Giáo trình “ Tourism - Principles and Practice”

Sơ đồ 1 Quy trình tăng gấp bộiM: Nhập khẩu (Import)

H: Thu nhập hộ gia đình (Household Income)

LB: Các doanh nghiệp địa phương (Local businesses)

G: Chính phủ (Government)

1.2.1.2 Các hệ số tăng gấp bội

Có nhiều hệ số tăng gấp bội được sử dụng thường xuyên trong đánh giá tác động kinh

tế và mỗi loại có cách sử dụng và đặc trưng riêng biệt Sau đây là một số hệ số tăng gấp bộithường gặp khi đánh giá tác động kinh tế của du lịch

* Hệ số tăng gấp bội đầu ra (Tourism Output multiplier)

Trang 25

Hệ số tăng gấp bội đầu ra là tỷ lệ tăng thêm để ước tính doanh thu bán hàng, dịch

vụ tăng thêm được tạo ra trong một nền kinh tế, nó là kết quả của sự gia tăng mức tiêudùng của khách du lịch

Bảng 1 Hệ số tăng gấp bội đầu ra Du lịch ở một số địa phương

Quốc gia hoặc Vùng Hệ số tăng gấp bội đầu ra Du lịch

Tourism Output multiplier

Nguồn: Giáo trình “ Tourism - Principles and Practice”

* Hệ số tăng gấp bội thu nhập (Income Multiplier )

Hệ số tăng gấp bội thu nhập là tỷ lệ tăng thêm để ước tính mức thu nhập tăng thêmđược tạo ra trong nền kinh tế là kết quả của việc gia tăng mức tiêu dùng của khách dulịch Thu nhập này có thể là thu nhập của quốc gia hoặc thu nhập của cá thể

Tuy nhiên, thu nhập tích luỹ cho những người không thuộc quốc gia chủ nhà, hoặckhông phải là người địa phương mà người nhập cư vào khu vực đó thì cũng bị loại trừ bởi vìthu nhập mà họ nhận được xem như không nằm trong nước chủ nhà, địa phương Trái lại,hiệu ứng kinh tế phụ được tạo ra bởi sự tái sử dụng đồng tiền trong mức thu nhập thu nhậpcủa người nhập cư trong phạm vi khu vực được tính trong công thức này Sau đây chúng tatham khảo một vài số liệu về Hệ số tăng gấp bội thu nhập của một số quốc gia năm 1990

Bảng 2 Hệ số tăng gấp bội thu nhập Du lịch ở một số địa phương

Trang 26

Nguồn: Giáo trình “ Tourism - Principles and Practice”

* Hệ số tăng gấp bội việc làm (Employment Multilpier)

Hệ số tăng gấp bội thu nhập là tỷ lệ tăng thêm ước tính tổng số việc làm được tạo

ra bởi một đơn vị tiêu dùng tăng thêm của khách du lịch hoặc tỷ lệ giữa tổng số việc làmtạo ra bởi cùng mức tiêu dùng này tính trên lao động trực tiếp Hệ số tăng gấp bội việclàm cung cấp nguồn thông tin hữu ích về những hiệu ứng phụ du lịch

* Hệ số tăng gấp bội nguồn thu của chính phủ (Government Multilpier)

Hệ số tăng gấp bội nguồn thu của chính phủ là tỷ lệ tăng thêm để ước tính mứctăng thêm của nguồn thu chính phủ từ khi có sự gia tăng tiêu dùng của khách du lịch

Bảng 3 Hệ số tăng gấp bội việc làm Du lịch ở một số địa phương

Quốc gia hoặc Vùng Hệ số tăng gấp bội việc làm

Trang 27

Tóm lại, hệ số tăng gấp bội phụ thuộc rất nhiều yếu tố, đặc biệt là cơ cấu kinh tế,dân số, trình độ phát triển của nền kinh tế quốc gia hay vùng Đồng thời nó cũng thay đổitheo thời gian, vì vậy sau một thời gian nó phải được tính toán, điều chỉnh.

3.1 Tác động qua lại giữa lễ hội và du lịch.

Lễ hội ra đời không vì mục đích du lịch nhưng lại mang tính du lịch rõ nét Điều

đó được thể hiện thông qua những điểm sau:

- Lễ hội lôi kéo người dân từ nơi khác đến

- Lễ hội có lịch lễ hội và hành trình lễ hội Nó phản ánh tính mùa vụ trong du lịch

- Tính du lịch còn thể hiện ở hoạt động di chuyển, lưu trú tạm thời của khách, hoạtđộng đảm bảo nhu cầu về dự lễ hội của địa phương, mục đích chuyến đi của khách dự hội

là trảy hội kèm theo những mục đích khác như thưởng ngoạn, khám phá, nghiên cứu…

Do vậy lễ hội và du lịch có sự tác động qua lại lẫn nhau

+ Việc bảo tồn, phát triển những loại hình văn hóa nghệ thuật, những giá trị vănhóa nghệ thuật nói chung, những làng nghề, những món ăn, đồ uống truyền thống cũnggóp phần làm cho giá trị văn hóa của lễ hội thêm đa dạng, đặc sắc, hấp dẫn và bảo tồn cácthuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp

+ Tạo công ăn việc làm, thu nhập cho cộng đồng địa phương, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế địa phương, đóng góp vào ngân sách chung của đất nước

Trang 28

Tác động tiêu cực:

+ Do các lễ hội thường diến ra trong thời gian ngắn, mang tính mùa vụ, lượng dân

cư và du khách đến tham dự đông Nếu không được tổ chức quản lý, khai thác khôngkhoa học, chặt chẽ sẽ gây ra những tác động tiêu cực: Du khách vất, xả rác bừa bãi ônhiễm môi trường, trộm cắp, cướp giật…

+ Hiện tượng thương mại hóa lễ hội ngày càng phổ biến làm lễ hội cổ truyền bịbiến tướng, thay đổi về bản chất, mất đi giá trị nhân văn vốn có

+ Giá cả các dịch vụ bán tại lễ hội thường cao hơn nhiều so với giá trị thực đã làmcho lễ hội bị thương mại hóa, mất đi giá trị vui nhộn, linh thiêng và giáo dục của lễ hội

+ Thông qua gặp gỡ, giao tiếp với du khách làm cho nhận thức của người dân địaphương được nâng cao, nhưng cũng có sự lai căng văn hóa làm mất đi nét đẹp truyềnthống của văn hóa dân tộc

3.3 Tác động của lễ hội đến du lịch.

Tác động tích cực.

Việc tổ chức các lễ hội không chỉ tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách màcòn là dịp để giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, tôn vinh, nhớ ơn người có công vớiquê hương đất nước và tôn vinh, giữ gìn các giá trị đạo đức của địa phương như ôn lại,khôi phục lại các giá trị văn hóa nghệ thuật, các trò chơi dân gian, nghệ thuật sản xuấtnghề thủ công… Đầu tư tổ chức nhiều lễ hội, đặc biệt đối với các lễ hội lớn mang tínhchất quốc gia là những yếu tố nuôi dưỡng quan trọng để bảo tồn và phát huy những giá trịvăn hóa của lễ hội truyền thống

Lễ hội là một tài nguyên du lịch rất có tiềm năng Việc đưa lễ hội vào hoạt động dulịch làm phong phú loại hình du lịch, tăng doanh thu của ngành

Tác động tíêu cực.

Việc phát triển không đúng hướng của các lễ hội dễ làm nảy sinh nhiều bất cậptrong ngành du lịch Tại một số lễ hội không có sự quản lý chặt chẽ thường diễn ra hiện

Trang 29

tượng mê tín dị đoan, buôn thần bán thành làm ảnh hưởng đến không gian của lễ hội, mất

uy tín của ngành du lịch, ảnh hưởng trực tiếp đến du khách

B CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Những nghiên cứu cùng đề tài

Theo các tác giả trường đại học Alaska Faibanks (Canada) “ Đánh giá tác độngkinh tế là ước tính hiệu ứng tăng dần mức chi tiêu thông qua một nền kinh tế của mộtvùng”

Theo Daniel J Stynes [31, 3] “ Đánh giá tác động kinh tế là ước tính những thayđổi trong hoạt động kinh tế của một vùng, địa phương hay một quốc gia nào đó, nhữngthay đổi bắt đầu từ những nguyên nhân khác nhau" Có nhiều nguyên nhân gây tác động

về kinh tế như: việc thực hiện một dự án mới, tổ chức các lễ hội văn hoá lịch sử, sự kiệnthể thao thu hút khách du lịch, ban hành hoặc thay đổi các chính sách phát triển của nềnkinh tế địa phương

Theo Mathieson và Wall, tác động của du lịch, lễ hội bao gồm 3 yếu tố:

- Yếu tố động lực liên quan đến chuyến đi

- Yếu tố tĩnh tại liên quan đến sự lưu lại ở nơi đến

Trang 30

- Yếu tố kết quả nhận được liên quan đến hiệu quả kinh tế, tự nhiên, xã hội màkhách du lịch tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp

Trang 31

1.2 Mô Hình Nghiên Cứu :

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH LỄ HỘI QUẢNG NAM

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA

Trang 32

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội

Tỉnh Quảng Nam nằm ở trung độ của Việt Nam cách thành phồ Hà Nội 860 km vềphía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 865 km về phía Nam Phía Bắc giáp Tỉnh ThừaThiên Huế và Đà Nẳng; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Tây giáp CHDCND Lào vàtỉnh Kon Tum; phía Đông giáp biển Đông

Quảng Nam có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế, là trung tâm của khu vực ĐôngNam Á, với bán kính 3.126 km bao phủ Nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan về phíaBắc, Singapore, Malaisia về phía Nam, Philippine, Brunei về phía Đông, Miến Điện, TháiLan, Lào và Campuchia về phía Tây Với tổng diện tích 10.406,83km2 Vị trí địa lý củaQuảng Nam vừa có đồng bằng, ven biển, trung du và miền núi, gồm 17 huyện, thị xãtrong đó có 8 huyện miền núi, 7 huyện đồng bằng và 1 thị xã và 01 thành phố Tổng dân

số là 1.427.177 người, có 20% dân số sống khu vực đô thị (các thánh phố, thị xã, thị trấn),80% dân số ở nông thôn, có bờ biển dài hơn 125km, ngư trường lớn gần 40.000km, có hệthống cảng Kỳ Hà, Dung Quốc, sân bay quốc tế Chu Lai, có các khu công nghiệp lớn.Bên cạnh đó tiềm năng du lịch có nhiều triển vọng với hai Di tích văn hoá thế giới MỹSơn và phố cổ Hội An, cùng với những lợi thế về địa lý, Quảng Nam có những tiềm năng

về đất đai, nguồn điện, nguồn nước, tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực dồi dào.Quảng Nam vừa được Chính phủ ra Quyết định số 108/2003/QĐ -TTg ngày 05/6/2003thành lập khu kinh tế mở Chu Lai Tỉnh uỷ đã có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 (khoáXVIII) về phát triển Quảng Nam thành một tỉnh công nghiệp cơ bản hoàn thành vào thời

kỳ 2015 - 2020

Quảng Nam là một tỉnh mới được tái lập, hiện đang gặp nhiều khó khăn: là mộttỉnh lớn, kinh tế - xã hội phát triển chưa đều, ngân sách hàng năm có tăng những còn phảidựa vào sự hỗ trợ của Trung ương, đời sống nhân dân còn thấp, hệ thống cơ sở hạ tầngchưa được phát triển, tỷ lệ đói nghèo khá cao, diện chính sách xã hội còn khá lớn, đào tạo

và việc làm còn nhiều bất cập

Trong những năm qua, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam liên tục có những thay đổi

và phát triển, GDP tăng bình quân hàng năm trên 10% năm 2018 là 11,5%, thu ngân sáchnăm 2017 là 860 tỷ đồng, năm 2018 là 1.000tỷ đồng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theohướng tích cực, công nghiệp tăng 25%, phấn đấu năm 2020 Quảng Nam trở thành tỉnhcông nghiệp

Trang 33

2.1.2 Tài nguyên du lịch của Quảng Nam

Quảng Nam với 2 di sản văn hoá thế giới là Thánh địa Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội

An, cùng với các di tích kinh đô Trà Kiệu, tháp Chiên Đàn, Khương Mỹ, Bàng An ghilại những dấu dấn rực rỡ của các nền văn hoá Sa Huỳnh, Chămpa, Đại Việt đã mở ra loạihình du lịch hấp dẫn - du lịch khám phá, chiêm nghiệm kiến trúc cổ

Trong các cuộc kháng chiến vệ quốc, Quảng Nam là vùng chiến trường ác liệt,những đại danh: Bồ Bồ, Cấm Dơi, Vĩnh Trinh, Chợ Được, Núi Thành, địa đạo Kỳ Anh đã đi vào lịch sử dân tộc, ngày nay trở thành những điểm dừng chân của bao du khách.Suốt dọc 125km bờ biển kéo dài từ Điện Ngọc đến vịnh Dung Quốc nơi đâu cũng hoang

sơ và sạch đẹp Những bãi tắm Cửa Đại, Hà My, Bình Minh, Tam Thanh, Kỳ Hà, BiểnRạng cùng với hồ Phú Ninh, thuỷ điện Duy Sơn, dòng sông Thu Bồn, sông TrườngGiang và xử đảo Cù Lao Chàm là những điểm du lịch sinh thái, thắng cảnh lý tưởng

Kỳ tích của những danh nhân đất Quảng và truyền thống hiếu học, hiếu khách củangười dân cùng hoà nhập với tinh hoa văn hoá các dân tộc anh em: Kinh, Co, Cơtu,Mơnông,Xơđăng, GiéTriêng với những lễ hội văn hoá đặc sắc “Đêm rằm phố cổ”, “Lễhội Long Chu”,”Rước Cộ”, “Bà Thu Bồn” Cồng chiên, mừng lúa mới đã góp phần tạonên hình ảnh du lịch mang đậm sắc thái Quảng Nam

Phố cổ Hội An được hình thành từ thế kỷ XVI - XVII, trước đây là thương cảngcủa miền Trung, đến nay khu phố cổ Hội An vẫn bảo tồn gần như nguyên trạng một quầnthể di tích kiến trúc gồm nhiều loại hình: Nhà ở, Hội quán, đình chùa, miếu, cầu, nhà thờtộc, bến cảng, chợ kết hợp với đường giao thông ngang dọc tạo thành các ô vuông kiểubàn cờ mô hình phổ biến của các đô thị thương nghiệp phương đông thời Trung đại Cùngvới cuộc sống thường ngày của dân cư với những tập quán, sinh hoạt văn hoá lâu đờiđang được duy trì, nơi đây là bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị Phố cổ Hội Ancùng với cảnh quan thiên nhiên, bãi tắm sông nước, hải đảo, các món ăn đặc sản truyềnthống đang là nơi hấp dẫn khách du lịch tham quan, nghiên cứu trong và ngoài nước Năm

1999 Phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới

2.1.3 Tình hình phát triển du lịch Quảng Nam

2.1.3.1 Giai đoạn 1990 - 1996

Giai đoạn này, Tỉnh Quảng Nam được hình thành từ Tỉnh Quảng Nam Đà Nẳng,chưa có sự phân cách về mặt địa giới hành chính, cũng như các hoạt động khác Tại Đô

Trang 34

thị cổ Hội An có những yếu tố tác động đến sự phát triển của du lịch, các công trình nhà

cổ được tu tạo, sửa chữa và phục hồi Trong giai đoạn này, tốc độ tăng du khách vẫn chưađược mạnh

2.1.3.2 Giai đoạn 1997 - 2018

Ngày 1.1.1997, Tỉnh Quảng Nam Đà Nẳng được Chính phủ ra quyết định táchthành 2 đơn vị độc lập là Thành phố Đà Nẳng và tỉnh Quảng Nam Trong thời kỳ này,Quảng Nam mới bắt đầu đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng, trong đó Đô thị cổ Hội An đãđầu tư một khoản tiền rất lớn để tôn tạo và phục hồi các giá trị văn hoá lịch sử, tôn tạo lạicác nhà cổ, chùa, văn miếu, Đến tháng 12/1999, Quảng Nam được UNESCO công nhận

Đô thị Cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn là 2 di sản văn hoá thế giới và từ đó dẫn tới sựbùng nổ về du lịch quốc tế đến với Hội An

2.2 CÁC LỄ HỘI TIÊU BIỂU CỦA QUẢNG NAM

 Lễ Hội Cầu Bông

Lễ hội Cầu Bông được tổ chức vào mùng Bảy tháng Giêng âm lịch hằng năm ở tại làng Trà Quế, thuộc xã Cẩm Hà, thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam Lễ hội Cầu Bông có ý nghĩa như một nghi lễ mở mùa cho một năm mới Hàng trăm gia đình

lo sắm sửa lễ vật dâng cúng và cầu mong một năm mưa thuận, gió hoà, mùa rau bội thu, nhà nhà no ấm.

Trước hết là lễ Nghinh thần (rước thần), từ sáng sớm người dân ở 2 làng đã tụ hội vềđình làng, nhà thờ Tiền hiền để nghinh thần Cờ phướng dâng cao, kiệu hoa quả tươi,

lư hương và án thờ được bốn chàng trai làng vận lễ phục khiêng đi Trước đoàn rước làhai hàng cờ, biển, theo sau kiệu thần là trống chiêng, đồ gia lễ, đội nhạc cổ và các nghệnhân, các bô lão trong sắc phục áo dài, khăn đóng diễu qua các ngõ làng, thôn xóm Lễnghinh thần của làng rau Trà Quế bao giờ cũng có thêm đoàn phụ nữ mặc áo dài, trêntay bưng mâm ngũ quả

Trang 35

Làng Trà Quế từ lâu nổi tiếng với nghề trồng rau Năm nào làng rau phát đạt thì lễ CầuBông được tổ chức quy mô Ngoài phần lễ còn có phần hoạt động hội hè, vui chơi để

bà con giải trí và chuẩn bị bước vào năm mới với hy vọng nhiều tài lộc Khi đoàn rướcvừa đến đình, các vị bô lão tiến hành ngay lễ cúng đất và cúng âm linh theo nghi thứctruyền thống Bàn thờ cúng đất được đặt trước và đối diện với bàn cúng chính, trên bànbày hoa quả, gạo, muối, thịt gạo, áo giấy và vật tế âm linh Sau một năm làm ăn vất vả,đến lúc rãnh rỗi, nghỉ ngơi, nông dân luôn ngưỡng vọng về ân đức cô bác, âm linh,đồng thời bày tỏ lòng thành và niềm thương cảm

Tiếp theo đó mọi người bước vào phần tế chính thức với bàn thờ đầy ắp bánh trái,hương hoa và đặc biệt có cả một con gà giò Theo người dân nơi đây, gà giò cúng phải

là gà trống nuôi vừa mới lớn, có màu lông đẹp, đem luộc hết sức cẩn thận, da và gânphải nguyên vẹn Văn tế có nội dung tôn vinh, ngưỡng vọng công đức tổ tiên, nhữngbậc tiền hiền có công khai hoang lập nên làng rau truyền thống hơn 500 năm qua, Saukhi tế lễ xong, các cụ cao niên tập trung lại để xem giò gà, nếu giữa bàn chân gà đầyđặn thì xóm làng bình an, khá giả, hoa trái tốt tươi

Không chỉ tập trung cúng đình, cả làng nhà nào cũng sắmmột mâm lễ vật để Cầu Bông Lễ vật nhất thiết phải cómột con gà trống thiến miệng ngậm hoa, trên lưng cắmmột con dao làm bằng tre, năm dĩa xôi hồng cắm năm cáibông rực rỡ và một ly rượu trắng Ngày nay, mọi ngườiđều cảm thấy mình được xác nhận là một thành viên quantrọng không thể thiếu trong làng Chính vì thế mà tất cảdân làng Trà Quế cũng như dân làng lân cận đều tụ họp về

để tham gia phần hội hè sống động, vui vẻ này

Năm nào cũng vậy, hội làng Trà Quế đều mở màn bằng hộithi cuốc đất trồng rau Xóm nào đạt giải sẽ được bà con đãiđằng, mở tiệc linh đình

Hội Cầu Bông ở Trà Quế còn có thêm hội thi làm món tôm,

là món đặc trưng của làng dùng trong các lễ cúng, hội hè vàđãi khách Đó cũng chính là tình bằng hữu của người dânquê này Có lẽ vì thế mà nhiều người gọi là tôm hữu

Trang 36

Nhiều năm qua, bí quyết tạo nên loại rau Trà Quế ngon nổi tiếng cả xứ Quảng khôngchỉ do đất đai màu mỡ, mà còn do ở đây có loại rong trên sông Cổ Cò Ngoài phân,nông dân đều bón lót bằng loại phân này Vì thế, hội thi vớt rong, bón gốc cũng diễn ratrong không khí rộn rã tiếng cười Nhiều năm, lễ hội Cầu Bông còn có phần hội đuaghe ngang qua cửa hai làng Đông – Tây và nhiều làng ven sông khác ở Hội An ngaytrên sông Cổ Cò chảy qua làng

Lễ hội Cầu Bông của nông dân Trà Quế đã trở thành một nét độc đáo về văn hoá làng

nghề, thu hút đông người tham dự Cũng từ lễ hội này, mọi người trong làng gần gũi,thân thiết nhau hơn…

Lễ hội Bà Thu Bồn là một lễ hội dân gian của cư dân ven sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam.Lễ hội được tổ chức hằng năm vào ngày 12 tháng 2 âm lịch Lễ hộilà dịp người dân nơi đây tỏ lòng thành kính biết ơn sự che chở của bà cho dân làng sống trên bờ cũng như trên sông nước được bình an, ấm no Đây là lễ hội lớn mang màu sắc tín ngưỡng dân gian có từ bao đời thể hiện tinh thần đoàn kết các dân tộc Chăm, Cơ

Tu, Kinh sinh sống vùng thượng lưu sông Thu Bồn, Vu Gia (Quảng Nam).

Sự tích về “Bà Thu Bồn” có nhiều truyền thuyết.Nhưng thuyết phục hơn cả là câu chuyện lưutruyền trong dân gian ở làng Thu Bồn như sau: BàThu Bồn hay còn gọi là bà Bô Bô – một vị nữtướng của nhà Lê bị giặc truy đuổi đến làng Thu Bồn thì bị ngã ngựa do tóc bà bị quấnvào chân ngựa, sau đó bà bị giặc giết Bà đã được các vua triều Nguyễn sắc phong là Bô

Bô phu nhân, là thượng đẳng thần Có lẽ chính vì vậy mà những người dân nơi đâytruyền tụng những truyền thuyết về bà mẹ xứ sở mang sắc màu thần bí nhưng luôn làbiểu tượng của cái đẹp, của khát vọng thái bình

Trang 37

Phần nghi lễ của lễ hội Bà Thu Bồn gồm có lễ rước nước thiêng trên sông Thu Bồn,rước "Ngũ hành tiên nương" (5 vị nữ tướng dưới quyền, theo hầu Bà Thu Bồn trongcuộc chinh chiến) về lăng Bà để cúng tế, lễ cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa

Lễ vật cúng bao giờ cũng có một con trâu và mâm xôi lớn Trâu tế sau khi bị giết,không xẻ thịt hay nấu chín mà để nguyên con, dùng huyết của nó bôi lên cúng

Cùng với các hoạt động tế lễ, phần hội còn có các hoạt động văn hóa - thể thao hấp dẫnnhư hát tuồng, hô hát bài chòi, hát hò khoan đối đáp, hội hoa đăng trên sông Thu Bồn;thi kéo co, thi đấu bóng đá, bóng chuyền, quan trọng nhất là hội đua thuyền Lệ Bà(Nam-Nữ), hội thả hoa đăng và đốt lửa thiêng trên những bãi bồi của dòng Thu Bồn

 Lễ Hội Rằm Hội An

Trang 39

Mỗi tháng một lần, vào ngày 14 âm lịch, phố cổ Hội An lại trở nên đẹp lộng lẫy với lễ hội hoa đăng Từ 16h, các tuyến đường ven sông Hoài thuộc khu phố cổ đã cấm xe cộ lưu thông, và đến 18h, những dãy đèn lồng đã được thắp sáng

Những dãy nhà cổ thắp sáng bên sông Hoài

Trang 40

Dọc theo các tuyến phố, ánh điện trở nên chìm khuất bởi sắc màu của đèn lồng trêncác khung cửa gỗ Người dân Hội An yêu sản phẩm của quê mình đến độ từng chiếcđèn soi bảng hiệu, từng đèn trang trí đều được thắp bằng đèn lồng Thậm chí, cónhững cửa hiệu tắt hẳn đèn điện bình thường, chỉ dùng những dãy đèn lồng nhiềumàu sắc để soi sáng đồ vật

Đèn lồng đủ sắc màu thắp sáng đêm phố cổ

Ngày đăng: 16/02/2020, 17:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w