1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh bắc giang

28 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đó, học viên đã lựa chọn đề tài “Bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Bắc Giang” để thực hiện Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hàn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG CÔNG HẢI

Bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ

Trang 2

Công trình đƣợc hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: ………

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 20…

Có thể tìm hiểu luận văn tại

Trung tâm tƣ liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trung tâm tƣ liệu – Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 Những vấn đề lý luận, pháp lý về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay 4

1.1 Khái niệm công lý, quyền tiếp cận công lý và trợ giúp pháp lý 5 1.2 Phương thức, nội dung, vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý 6 1.3 Khuôn khổ pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý 7 1.4 Kinh nghiệm bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở một số địa phương và những giá trị tham khảo cho tỉnh Bắc Giang 8

Chương 2 Thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý

ở tỉnh Bắc Giang 8

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Giang tác động đến hoạt động trợ giúp pháp lý

và bảo đảm quyền tiếp cận công lý 9 2.2 Tổ chức thực hiện và kết quả bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Bắc Giang trong 5 năm gần đây 10

Chương 3 Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Bắc Giang 17

3.1 Quan điểm bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Bắc Giang 17 3.2 Giải pháp bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Bắc Giang 19

KẾT LUẬN 23

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Công lý là một thuật ngữ xuất hiện từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại và được đề cập một cách phổ biến trong nền khoa học pháp lý từ trước đến nay Trong lịch sử hình thành của xã hội, khi con người nhận thức được vị trí, vai trò của mình thì quan niệm về công lý đã dần xuất hiện và được thể hiện rõ nét thông qua việc phân chia các nguồn lợi phẩm theo sự đóng góp của các thành viên trong

bộ lạc, thị tộc

Có thể thấy rằng, lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm công lý gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Trải qua các hình thái kinh tế – xã hội, công lý phát triển từ những kết tinh của nỗ lực, cố gắng không ngừng của nhân loại để thực hiện lý tưởng công bằng, là giá trị nền tảng, cốt lõi trong việc tổ chức một xã hội trật tự, ổn định và phát triển

Trong xã hội hiện đại, tiếp cận công lý được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá sự tiến bộ của một quốc gia bởi đây được coi là một quyền cơ bản của con người, của công dân

Từ sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, cùng với việc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước đã chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân,

do Nhân dân và vì Nhân dân nhằm “thực hiện tốt dân chủ XHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân”, “vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Nhà nước pháp quyền trước hết cần phải có một hệ thống pháp luật bảo đảm được công lý, bảo

vệ lẽ công bằng cũng như quyền con người, quyền cơ bản của công dân

Một trong những biện pháp quan trọng để bảo đảm quyền tiếp cận công lý là thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) Quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL được hiểu

là khả năng tìm kiếm, khắc phục những thiệt hại gây ra cho người dân thông qua việc cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm đảm bảo quyền con người, quyền cơ bản công dân Trong những năm qua, hoạt động TGPL ở Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể, góp phần tích cực vào việc cải thiện và thúc đẩy việc thụ hưởng quyền được tiếp cận công lý của người dân Mặc dù vậy, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL hiện vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nhất định, đặc biệt

ở những khu vực vùng núi, vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện kinh tế khó khăn

Trong bối cảnh đó, học viên đã lựa chọn đề tài “Bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Bắc Giang” để thực hiện Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật

Hành chính và Hiến pháp với mong muốn góp phần phân tích làm rõ tình hình, xác định các nguyên nhân và đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở nước ta từ bối cảnh thực tiễn của một tỉnh miền núi là Bắc Giang

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 6

Tại Việt Nam, vấn đề bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL của người dân còn khá là mới mẻ Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, qua 4 bản Hiến pháp của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến bản Hiến pháp năm 2013, các giá trị cơ bản của công lý đã lần đầu tiên được khẳng định và ghi nhận Chính vì vậy, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL mà mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề chung của công lý, quyền tiếp cận công lý và những vấn đề chung về TGPL, trong đó có thể kể như sau:

- Cuốn sách:“Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương”, Nxb Sự thật, năm 1962

Nội dung cuốn sách này bao gồm một số bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề công lý trong những năm 1921 – 1926

- Cuốn sách:“Quyền con người trong thi hành công lý” của Tòa án nhân dân tối cao, Nxb

Lao động – Xã hội, năm 2010 Cuốn sách này bao gồm 15 Chương với 545 trang, nội dung đề cập đến quyền cơ bản của con người và việc bảo đảm các quyền này trong quá trình thực thi công lý

- Luận văn:“Quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay” của Thạc sĩ Nguyễn Thế Anh,

năm 2015, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

- Luận văn:“Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay” của

Thạc sĩ Nguyễn Thùy Linh, năm 2015, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

- Luận văn:“Pháp luật về TGPL cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác” của Thạc sĩ Hoàng Thị Liên, năm 2015, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

- Luận văn:“Trợ giúp pháp lý cho người nghèo trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” của Thạc sĩ

Đặng Lâm Bích, năm 2015, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

- Bài viết:“Tiếp cận công lý và các nguyên lý của Nhà nước pháp quyền” của PGS.TS Vũ

Công Giao, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, năm 2009 Bài viết đưa ra nhận định về khái niệm và đặc điểm của tiếp cận công lý, sự tương thích giữa các nguyên tắc của tiếp cận công lý với các nguyên tắc của nền pháp quyền tại Việt Nam

Các công trình nêu trên đã cung cấp một số lượng lớn tri thức và thông tin về đề tài nghiên cứu Mặc dù vậy, số lượng các công trình còn ít vì thế vẫn còn nhiều vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về quyền tiếp cận công lý chưa được giải quyết Đặc biệt, hầu như chưa có đề tài nào nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền tiếp cận công lý và TGPL cũng như về mối quan hệ giữa hai vấn đề này ở tỉnh Bắc Giang Do vậy, luận văn này vẫn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở tỉnh Bắc Giang

Trang 7

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL Những phân tích về các vấn đề khác của công lý và TGPL chỉ mang tính khái quát để làm tiền đề cho việc phân tích những nội dung chính của đề tài

Về không gian, luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở tỉnh Bắc Giang Những phân tích về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở các quốc gia và địa phương khác của Việt Nam chỉ mang tính khái quát để tham chiếu với địa bàn nghiên cứu

Về thời gian, để phù hợp với thời gian hạn chế của việc thực hiện luận văn thạc sĩ, luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng bảo quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn từ năm 2014 – 2018

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn của việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở một tỉnh miền núi là Bắc Giang, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm và những phương hướng, giải pháp cho việc thúc đẩy quyền này

ở địa bàn nghiên cứu cũng như ở các địa phương khác của nước ta

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Xác định và phân tích khung các vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở Việt Nam

- Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn từ năm 2014 – 2018

- Đề xuất các quan điểm, giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy những thành tựu để thúc đẩy việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở tỉnh Bắc Giang trong những năm tới

5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin và một số lý thuyết về công lý, tiếp cận công lý và trợ giúp pháp lý

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu hiện có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền tiếp cận công lý qua hoạt động TGPL

ở Việt Nam (ở Chương I)

Trang 8

- Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các văn bản pháp luật, tài liệu chuyên môn, đặc biệt là những báo cáo của Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Bắc Giang về hoạt động TGPL ở địa phương trong 5 năm gần đây và phương pháp quan sát thực tế để đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận công lý qua hoạt động TGPL ở địa bàn nghiên cứu (ở Chương II)

- Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm thúc đẩy quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở tỉnh Bắc Giang và các địa phương khác của nước ta trong thời gian tới (ở Chương III)

6 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn

Luận văn là nghiên cứu đầu tiên tương đối chuyên sâu và toàn diện về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở tỉnh Bắc Giang từ trước tới nay Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần củng cố những tri thức khoa học về bảo đảm quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam, giúp người đọc nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn của việc bảo đảm quyền này, đặc biệt thông qua biện pháp quan trọng đó là TGPL

Với những điểm mới như vậy, luận văn là một tài liệu tham khảo tốt cho các cơ quan của Nhà nước cũng như các cơ quan của tỉnh Bắc Giang trong quá trình hoàn thiện và thực thi hệ thống pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ở tỉnh Bắc Giang nói riêng và ở các địa phương khác nói chung của nước ta trong những năm tới, đồng thời là một học liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy các ngành Luật Hiến pháp và Luật Nhân quyền ở Khoa Luật –

Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật khác ở nước ta

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các chữ viết tắt,

Danh mục các biểu đồ và Phụ lục, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận, pháp lý về bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua

hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 Thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp

lý ở tỉnh Bắc Giang

Chương 3 Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Bắc Giang

Trang 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY 1.1 Khái niệm công lý, quyền tiếp cận công lý và trợ giúp pháp lý

1.1.1 Khái niệm công lý

Công lý là khái niệm xuất hiện từ thời kỳ sơ khai của nhân loại Ở thời kỳ này, ý niệm về công lý đã bắt đầu được hình thành thể hiện khát vọng về sự công bằng, tự do, lẽ phải, lòng nhân nghĩa trong mỗi con người Công lý gắn liền với lịch sự hình thành và phát triển xã hội của loài người, được khắc họa rõ nét qua nhiều công trình luật học và triết học nổi tiếng

Ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào về công lý được nêu trong các

văn bản của cơ quan Nhà nước Tuy nhiên, theo Từ điển Luật học (1999), “Công lý có nghĩa là lẽ phải, lẽ công bằng, phù hợp với pháp luật đương thời, không thiên lệch, không tư vị” [41] Trong

luận văn này, tác giả chia sẻ và sử dụng định nghĩa công lý của Từ điển Luật học để phân tích các vấn đề có liên quan

1.1.2 Khái niệm quyền tiếp cận công lý

Luật quốc tế hiện đại tiếp cận công lý với tính cách là quyền cơ bản của con người Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay nội hàm của quyền tiếp cận công lý được hiểu theo hai hướng chính như sau:

Thứ nhất, theo cách hiểu truyền thống thì quyền tiếp cận công lý được xem là khả năng của mọi người có thể sử dụng các dịch vụ pháp lý công và tư để được xét xử công bằng, bao gồm các bảo đảm pháp lý về mặt tố tụng như quyền bình đẳng trước tòa, không bị phân biết đối xử, quyền được xét xử công khai bởi một tòa án không thiên vị, quyền bào chữa và quyền kháng cáo,…[10]

Thứ hai, theo quan điểm hiện đại mà đại diện là Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc UNDP thì quyền tiếp cận công lý là khả năng tìm kiếm và đạt được sự đền bù, khắc phục những thiệt hại (gây ra cho cá nhân hoặc nhóm cá nhân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương) thông qua việc tiếp cận với các thiết chế tư pháp chính thống (cơ quan điều tra, công tố, tòa án,…) và không chính thống (hệ thống các luật tục, các cơ chế hòa giải tại cộng đồng,…) phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế [39]

Như vậy, từ những phân tích ở trên có thể xem: “Quyền tiếp cận công lý là một quyền con người trong Nhà nước pháp quyền, thể hiện khả năng của chủ thể yêu cầu Nhà nước bảo đảm những điều kiện thuận lợi nhất để sử dụng pháp luật nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình tại cơ quan Nhà nước khi có tranh chấp hoặc bị vi phạm”

1.1.3 Khái niệm trợ giúp pháp lý

TGPL được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có giảm phí cho những

Trang 10

người không có đủ khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý tối thiểu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trong các vụ việc hình sự, dân sự, hành chính và hôn nhân gia đình,…những đối tượng được hưởng TGPL thường được pháp luật các quốc gia quy định cụ thể

Những quan điểm trên phản ánh qua khái niệm TGPL được quy định tại Điều 2, Luật

TGPL số 11/2017/QH14, trong đó nêu rằng: “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật” Trong luận văn này,

tác giả chia sẻ và sử dụng khái niệm TGPL theo Điều 2, Luật TGPL năm 2017 để phân tích các vấn

đề có liên quan

1.2 Phương thức, nội dung, vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý

1.2.1 Phương thức bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL

Phương thức bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL được hiểu là cách thể hiện, phương pháp tiến hành nhằm bảo đảm cho cá nhân, đặc biệt là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội có thể biết và tìm đến các tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí khi họ không có đủ khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý tối thiểu để bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình trong các vụ việc hình sự, dân sự, hành chính và hôn nhân gia đình

Ở Việt Nam, để thực hiện việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL cho người dân, các tổ chức tham gia thực hiện TGPL (bao gồm tổ chức của Nhà nước và ngoài Nhà nước) đã và đang tiến hành nhiều hoạt động truyền thông để cung cấp thông tin cho người dân nói chung và nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương trong xã hội nói riêng biết và hiểu được quyền lợi, nghĩa vụ của mình

Tuy nhiên, phương thức bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL ưu việt nhất, hiệu quả nhất chính là thực hiện việc cung cấp các dịch vụ pháp lý ở văn phòng và đặc biệt là đến tận nơi ở của các đối tượng được hưởng TGPL (hay còn gọi là hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động)

1.2.2 Nội dung bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý

Thứ nhất, bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân nói chung và các đối tượng được hưởng TGPL nói riêng

Thứ hai, hoạt động TGPL lưu động là một hình thức trực tiếp bảo đảm quyền tiếp cận công

lý của người dân Hoạt động TGPL lưu động được tiến hành chủ yếu thông qua hình thức tư vấn pháp luật tại các địa bàn có điều kiện khó khăn, hoạt động này cung cấp những thông tin pháp luật

về những vấn đề mà các đối tượng được hưởng TGPL thực sự quan tâm, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Trang 11

Thứ ba, hoạt động TGPL thông qua hình thức tham gia tố tụng góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của người dân nói chung cũng như các đối tượng được hưởng TGPL nói riêng trước các cơ quan tiến hành tố tụng

1.2.3 Vai trò, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý

Từ góc độ vĩ mô, bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL giúp hiện thực hoá các chính sách xã hội cũng như thực hiện công bằng xã hội

Từ góc độ cụ thể, bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL trực tiếp bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đối tượng được hưởng TGPL trong xã hội

Cuối cùng, hoạt động TGPL góp phần giúp cho người dân và các cơ quan Nhà nước tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật Thông qua hoạt động TGPL, đội ngũ những người tham gia thực hiện TGPL có thể phát hiện những bất cập từ các quy định của pháp luật, qua đó kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các văn bản pháp luật đó sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước

Xét tổng quát, bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động TGPL chính là một hình thức hiện thực hóa quyền con người Nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương trong xã hội là những người có mức sống thấp, do vậy nếu họ không nằm trong diện đối tượng được TGPL thì sẽ ảnh hưởng đến tất cả các quyền khác của họ từ học tập, chăm sóc sức khỏe, tự do đi lại, tự do cư trú, quyền được hưởng những điều kiện làm việc thích đáng

1.3 Khuôn khổ pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý

1.3.1 Khái quát khuôn khổ pháp luật hiện hành của Việt Nam về quyền tiếp cận công lý

và trợ giúp pháp lý

Ở Việt Nam hiện nay, quyền tiếp cận công lý chưa được quy định cụ thể, trực tiếp trong các văn bản quy phạm pháp luật riêng mà thay vào đó là được quy định gián tiếp tại các văn bản quy phạm pháp luật khác bao gồm: Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật TGPL, Luật Luật sư

Như vậy, có thể thấy, xét về mặt văn bản khung pháp luật hiện hành về TGPL ở Việt Nam đã khá hoàn chỉnh, có tính thống nhất, đồng bộ cao Việt Nam cũng đã có những quy định pháp luật bước đầu đề cập đến vấn đề công lý và quyền tiếp cận công lý Nếu các văn bản và các quy định của pháp luật này được xây dựng phù hợp với yêu cầu thực tiễn, dễ hiểu, dễ vận dụng, công khai, minh bạch thì sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động TGPL, bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân

Trang 12

1.3.2 Các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về trợ giúp pháp lý có tác dụng bảo đảm quyền tiếp cận công lý

Pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa có quy định cụ thể về quyền tiếp cận công lý của người dân mà chỉ gián tiếp thông qua những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác, trong đó có quy định gián tiếp tại Luật TGPL năm 2017 Như đã phân tích ở trên, trợ giúp pháp lý chính là một trong những phương thức quan trọng nhất để bảo đảm quyền tiếp cận công

lý của người dân

Có thể thấy, quyền của người được TGPL được Luật TGPL năm 2017 quy định một cách toàn diện, đầy đủ bảo đảm sự đúng đắn trong quá trình triển khai thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý nói riêng cũng như quyền con người, quyền cơ bản của công dân nói chung

1.4 Kinh nghiệm bảo đảm quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp

lý ở một số địa phương và những giá trị tham khảo cho tỉnh Bắc Giang

Qua nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam, có hai địa phương đã giải quyết khá thành công những thách thức to lớn nêu trên, đó là thành phố Hải Phòng và tỉnh Thanh Hoá

- Kinh nghiêm của thành phố Hải Phòng: Hải Phòng hiện nay có 4 Trung tâm tư vấn pháp luật bao gồm: Trung tâm TGPL Nhà nước thành phố, Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia thành phố, Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố và Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Liên đoàn lao động thành phố

- Kinh nghiệm của tỉnh Thanh Hóa: Thanh Hoá hiện có Trung tâm TGPL Nhà nước thuộc

Sở Tư pháp và Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia tỉnh đăng ký tham gia TGPL Mạng lưới TGPL ở tỉnh Thanh Hóa được hình thành thông qua việc thành lập các Câu lạc bộ TGPL tại cấp xã, bao gồm 250 Câu lạc bộ TGPL tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn trên toàn tỉnh (trong đó có 93 Câu lạc bộ TGPL theo Chương trình 135, 144 Câu lạc bộ TGPL theo Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo, 20 Câu lạc bộ TGPL của Chương trình dự án, 02 Câu lạc bộ của Chương trình Quỹ TGPL và 02 Câu lạc bộ do chính quyền xã tự thành lập) Các Câu lạc bộ TGPL này đã đi vào hoạt động có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân [18, tr.39-41]

Kết luận Chương 1

=

Trang 13

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG

TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở TỈNH BẮC GIANG 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Giang tác động đến hoạt động trợ giúp pháp lý và bảo đảm quyền tiếp cận công lý

2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên

Vị trí địa lý tỉnh Bắc Giang nằm ở tọa độ từ 21 độ 07 phút đến 21 độ 37 phút vĩ độ bắc, từ

105 độ 53 phút đến 107 độ 02 phút kinh độ Đông Bắc Giang là tỉnh miền núi nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, phía Nam giáp với các tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương, phía Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn) 110 km về phía Nam, phía Đông giáp với tỉnh Quảng Ninh và cách cảng Hải Phòng hơn 100 km, phía Tây và Tây Bắc giáp với thành phố Hà Nội, Thái Nguyên Vị trí địa lý đó đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh Bắc Giang, tạo điều kiện thuận lợi để Bắc Giang phát triển kinh tế liên vùng, giao lưu kinh tế – xã hội với các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, các tỉnh Đông Bắc của Việt Nam và với các tỉnh của Trung Quốc

2.1.2 Đặc điểm về kinh tế – xã hội

Những điều kiện tự nhiên thuận lợi nêu ở trên giúp tỉnh Bắc Giang có lợi thế về phát triển kinh tế trong các ngành nghề như: Nông – lâm nghiệp, thương mại – dịch vụ và công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là ngành nghề nông – lâm nghiệp đang có sự chuyển dịch cơ cấu một cách nhanh chóng, tích cực Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, có tiềm năng nhất của tỉnh Bắc Giang Hiện nay Bắc Giang có 06 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 1.371 ha, ngoài ra còn

có gần 10 cụm công nghiệp đã được các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư đi vào hoạt động

Về điều kiện xã hội, hiện nay tỉnh Bắc Giang có dân số khoảng hơn 1.624.456 người, là nơi

hội tụ của cư dân gần 20 tỉnh thành trong cả nước với nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, trong

đó dân tộc Kinh chiếm đa số (khoảng 87.9%), còn lại là dân tộc Nùng, Tày, Sán Chỉ, Cao Lan, Dao, Hoa,…người Kinh sống tập trung ở các huyện trung du, người dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở các huyện miền núi

2.1.3 Đánh giá tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở tỉnh Bắc Giang đến hoạt động TGPL và bảo đảm quyền tiếp cận công lý

Về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý là đầu mối giao thông giúp Bắc Giang thuận lợi trong việc triển khai các dịch vụ TGPL, qua đó thúc đẩy quyền tiếp cận công lý cho người dân trên toàn tỉnh Mặc

dù vậy, do là một tỉnh miền núi có địa hình rộng, chia cắt phức tạp nên ở nhiều huyện đi lại còn khó

Trang 14

khăn, người dân sống thưa thớt cũng là những thách thức đối với tỉnh Bắc Giang trong lĩnh vực này

Về điều kiện kinh tế – xã hội, do nằm cạnh tam giác kinh tế trọng điểm về phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh) nên kinh tế của tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây phát triển nhanh chóng, tạo thuận lợi cho các hoạt động TGPL Tuy nhiên, điều này cũng đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động TGPL và bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân bởi khi kinh

tế ngày càng phát triển thì khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và các tệ nạn xã hội có xu hướng

Cụ thể hiện nay ở tỉnh Bắc Giang, hoạt động TGPL được tổ chức thông qua các cơ quan, tổ

chức, cá nhân sau đây:

Thứ nhất, Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh Bắc Giang: Trung tâm này được thành lập từ năm 1999, sau khi có Quyết định thành lập Trung tâm TGPL Nhà nước của UBND tỉnh, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với Sở Nội vụ, Văn phòng UBND triển khai bố trí trụ sở làm việc, nhân sự và các điều kiện cần thiết để Trung tâm TGPL Nhà nước của tỉnh đi vào hoạt động Sau gần 20 năm đi vào hoạt động, Trung tâm TGPL Nhà nước của tỉnh đã được tổ chức chặt chẽ, hoàn chỉnh với phân bổ 20 biên chế trong đó có: 01 Giám đốc, 04 phòng chuyên môn – nghiệp vụ (Phòng Hành chính – Tổng hợp, Phòng pháp luật Hình sự – Hành chính, Phòng pháp luật Dân sự –

Đất đai và Phòng pháp luật Lao động – Xã hội) và 03 Chi nhánh[43]

Thứ hai, hệ thống TGPL ở cơ sở: Sở Tư pháp đã phối hợp với Trung tâm TGPL Nhà nước

của tỉnh thành lập 107 Câu lạc bộ TGPL trong đó có 09 Câu lạc bộ TGPL điểm được thành lập vào năm 2006 do Cục TGPL – Bộ Tư pháp chỉ đạo, 68 Câu lạc bộ TGPL được thành lập theo Chương trình Quốc gia giảm nghèo tại 08 huyện và 30 Câu lạc bộ TGPL theo Chương trình 135 về phát kiển kinh tế – xã hội của các xã miền núi đặc biệt khó khăn và vùng sâu, vùng xa giai đoạn II (2006-2010) tại 03 huyện

Thứ ba, các tổ chức xã hội tham gia TGPL: Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 14

tổ chức hành nghề luật sư trong đó có 07 tổ chức đăng ký tham gia TGPL bao gồm: Văn phòng luật sư Triệu Hiển, Văn phòng luật sư Nguyễn Đình Huân, Văn phòng luật sư Dân An, Công ty Luật TNHH Fanci, Văn phòng luật sư Phạm Xuân Anh và Công ty Luật TNHH Một thành viên Đường Gia Có 02 Trung tâm tư vấn pháp luật bao gồm: Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Hội

Liên hiệp phụ nữ tỉnh và Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia tỉnh

- Thứ tư, cá nhân trực tiếp thực hiện công tác TGPL cho các đối tượng chính sách: Cá

Ngày đăng: 16/02/2020, 17:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w