Việc nâng cao chất lượng giáo dục phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ giáo viên, trong đó khâu quản lý và tổ chức công tác bồi dưỡng giáo viên thường xuyên cần được chúng ta quan tâ
Trang 1Qtitbt tụ giáo due.
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BD G V Bồi dưỡng giáo viên
B D TX Bổi dưỡng thường xuyên
C T B D C hương trình bồi dưỡng
C T B D G V C hương trình bồi dưỡng giáo viên
C T B D G V M N C hương trình bồi dưỡng G iáo viên M ầm non
Q L G D M N Q uản lý giáo dục M ẩm non
J lu â n o ìitt í'tifí họe.• 2 _
Trang 2Maint tutti eut) farte Qtitin lij (fiá fi fine
3.1 Hệ thống hóa c ơ sở lý luận của vấn đ ề quản lý chương trìn h bồi dưỡng
g iáo viên.
3.2 Đ ánh giá thực trạn g quán iý chương trình bồi dưỡng ch o giáo viên
m ầm non hiện nay ở Hà Nội.
3.3 Đề xuất m ột số biện pháp quản lý chương trình bồi dưỡ ng thường
xuyên g iáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dụ c ở trường m ầm non Hà
Nội trong thời kỳ đổi mới.
T hử n ghiệm m ột hiện pháp quản lý chương trìn h bồi dưỡ ng giáo viên
m ầm non.
IV Đ ố i TU ỢNG V À K IIÁ C I1 T ỉlỂ N G H IÊ N c ú u 8 4.1 K hách thể nghiên cứu
4.2 Đối tượng n g h iên cứu
7.1 N hóm phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2 N hóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.3 Sử d ụ n g phương pháp thống kê và phân tích sô' liệu.
IX C Á C LUẬN Đ IỂ M C H ÍN H C Ủ A LUẬN V À N: 9
CHƯƠNG 1 : C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN c ú u 11
1.1 M ột sô' khái niệm cơ bản của đẻ tài
1.1.1 Q uản lý và các chức năng quản lý
1.1.1 Đ ào tạo, bổi dưỡng
1.1.2 Biện pháp quản lý
1.2 G iáo viên m ầm non - N hân tố quyết định chất lượng G D M N 20 1.2.1 Đ ội ngũ giáo viên
1.2.2 Đ ộ i ngũ giáo viên m ầm non
ỉ 2.3 V ai trò của đội ngũ giáo viên m ầm non
1.2.4 C hất lượng giáo dục m ầm non
1.3 T ầm q u a n trọng của việc quản lý chương trình B D G V 30 1.3.1 T ính cấ p thiết của việc quản lý chương trình BD G V
1.3.2 Tầm quan trọng của công tác quản lý CT BD GVM N
Trang 3CH Ư Ơ N G 2: TH Ụ C T R Ạ N G C Ô N G TÁ C Q U Ả N LÝ C H U Ơ N G T R ÌN H B ồ i 32
DUỠNG G IÁ O VIÊN M AM n o n h à n ộ i 2.1 Vài nét vể tình hình địa lý - kinh tế -v ă n hóa - g iáo dục 32 2.1.1 V ài nét vé tình hình kinh tế - xã hội cùa Thủ đô H à Nội
2.1.2 V ài nét phát triển giáo dục
2.1.3 Thực trạng về giáo viên và cán bộ quàn lý G D M N Hà nội
2.2 Thực trạng về công tác bồi dưỡng giáo viên m ầm non ở HN 42 2.2.1- Thực trạng vẻ chương trình bồi dưỡng G V M N H à nội
2.2.2 Thực trạng của biện pháp quản lý chương trình bồi dưỡng giáo
C H U Ơ N G 3: C Á C B IỆ N P H Á P Q U Ả N LÝ CHƯ ƠNG TR ÌN H B ồ i DUỠNG
G IÁ O V IÊN M Ầ M N O N N H Ằ M N Â N G CA O C H Ấ T LU ỌNG G IÁ O
D Ụ C M Ầ M N O N Ở M Ộ T s ố TRU Ồ N G M ẦM n o n h à n ộ i 56
3.2 N hững yếu tố ảnh hưởng đến các biện pháp quản lý chương trình bồi
3.3 C ác biện pháp qu ản lý chương trình bồi dưỡng giáo viên m ầm non 5 8 3.3.1 Biện pháp 1: N âng cao nhận thức của giáo viên và cán bộ quản
lý về đ ịn h hướng đổi mới G D M N , đặc biệt về công tác B D G V M N 58 3.3.2 Biện pháp 2: Đ iéu tra nhu cầu đào lạo bồi dưỡng - lập k ế hoạch 65 3.3.3 Biện pháp 3: Thiết k ế nội dung bồi dưỡng theo đ ịa chỉ (phù hợp
3.3.4 Biện pháp 4: C huẩn bị đội ngũ giảng viên - H uấn luyện viên 72 3.3.5 Biện pháp 5: Đ ổi mới các hình thức và phương pháp bồi dưỡng
3.3.6 Biện pháp 6: Cải tiến quy trình đánh giá chương trình BD 81 3.3.7 Biện pháp 7: H uy động các nguồn lực cho chương trình bồi
3.4 T h ử nghiệm tác độ n g m ột biện pháp quản lý 93
3.4.1 M ục đích thử nghiệm
3.4.2 K hách thể thử nghiệm
3.4.3 N ội dung thử nghiệm
3.4.4 C ách thức liến hành
3.4.5 Các điểu kiện đế thử nghiệm
3.4.6 C ác kết quả cần đạt sau thử nghiệm
Trang 4Mu (ht t)àn t'iiff học Qtiáti hj ÍỊÌÓ& íỉue
MỞ ĐẦU
Sự nghiệp giáo dục mầm non đang gánh vác trọng trách chãm sóc giáo dục trẻ thơ để trở thành những con người có nhân cách, có năng lực thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở những thập kỷ đầu của năm 2000 Chăm lo nguồn lực và sự phát triển của đất nước ở thế kỷ XXI chính là phải chăm lo sự nghiệp giáo dục mầm non ngày hôm nay
Mann Gyee nói: “Nếu chúng ta lấy sức khoẻ của mình tin tưởng giao cho bác sĩ, thế thì chúng ta phải lấy đạó đức và tâm trí của trẻ thơ tin tưởng giao cho những nhà giáo dục, lấy tâm hồn của trẻ thơ, đồng thời cũng lấy tương lai tổ quốc của chúng ta tin tưởng giao cho họ” (“Con người là đối tượng của giáo dục” Nhà xuất bản Khoa học 1959" (trang 11)
Thế kỷ XXI là thế kỷ của trí tuệ, là khoa học của nền kinh tế tri thức Đất nước Việt Nam tiến tới 2020 với tốc độ thay đổi như vũ bão của nền kinh
tế xã hội và công nghệ Cùng với sự thay đổi của đất nước là hình ảnh người công dân Việt Nam mới với trình độ học vấn cao, có khả năng tự lựa chọn và giải quyết các vấn đề đặt ra irong cuộc sống Đó là người cồng dân mới, có các kỹ năng sống phù hợp để thích ứng với sự biến đổi không ngừng của cuộc sống Trách nhiệm này đầu tiên đặt lên vai ngành giáo dục, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu tìm tòi, các nhà quản lý giáo dục đã thiết kế nội dung chương trình, phương pháp dạy học Đặc biệt là đổi mới công tác đào tạo bổi dưỡng giáo viên mầm non - một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
Trải qua 15 năm đổi mới, sự nghiệp giáo dục trong nhà trường nước ta
đã có nhiéu bước phát triển về quy mô, chất lượng, hình thức đào tạo, cơ sở vật chất, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lôn đáng kể Nhưng nhìn chung giáo dục đào tạo nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, còn bộc lộ yếu kém nhiều mặt Một trong những nguyên nhãn của sự yếu kém đó là chương trình đào tạo bổi dưỡng giáo viên tại các trường sư phạm chưa đáp ứng được với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, xa rời thực tế, sinh viên ra trường chưa đủ khả năng đáp ứng với yêu cầu làm việc thực tiễn Giáo dục mầm non cũng như các bậc học khác, chất lượng GDMN phụ thuộc vào nhân tố quyết định là đội ngũ giáo viên
Trang 5Mtiậtt Ị)(Ut eut) học Quản ítj ỊỊÌátì due.
Không thê' có chất lượng chăm sóc giáo dục tốt nếu đội ngũ giáo viên không
đủ phẩm chất, nâng lực, kiến thức hiểu biết về đối tượng mà họ nuôi dạy, không đù tinh thông nghề nghiệp mà họ đảm đương Việc nâng cao chất lượng giáo dục phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ giáo viên, trong đó khâu quản lý và tổ chức công tác bồi dưỡng giáo viên thường xuyên cần được chúng
ta quan tâm hàng đẩu Điều này sẽ giúp giáo viên ý thức được trách nhiệm học tập bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhận thức nghề nghiệp để đáp ứng được mục tiêu giáo dục của Đảng trong thời kì đổi mới Chính VI vậy, phát triển giáo dục theo tinh ihần nghị quyết Trung ương IỊ (Khoá VIII) và Nghị quyết đại hội Đáng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định “phải chăm lo phát triển giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ trong trường, lớp mầm non trên mọi địa bàn dân cư đặc biệt là ở vùng nông thôn và những vùng khó khăn”
Trên cơ sở đó chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 201/QĐ-TTg đã nêu các mục tiêu cụ thể
về giáo dục mầm non trong 10 năm tới Cụ thể hoá có 5 nội dung trong đó nội dung thứ tư là tãng cường đào tạo bồi dưỡng giáo viên mẩm non, đổi mới công tác tổ chức và quản lý, đề xuất các chính sách chế độ đối với giáo viên mầm non ngoài biên chế
• Để thực hiện tốt mục tiêu của ngành giáo dục mầm non, trường học cần phối hợp chạt chẽ với các cơ quan chỉ đạo, cơ sở dào tạo, các nhà nghiên cứu khoa học, khác phục được sự suy giảm của chất lượng giáo viên mầm non khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ được sự ổn định của giáo dục mầm non trên diện rộng, phát triển chương trình giáo dục mầm non chất lượng ở các khu vực thành phố tạo nên sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng giáo dục mầm non Chất lượng giáo dục mầm non hiện nay phụ thuộc rất lớn vào quá trình tổ chức, bồi dưỡng giáo viên mầm non tại trường
Chính vì những lí do trên mà tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề "Các biện pháp
quản lý chương trình bồi dưỡng giáo viên mầm non nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non".
Trang 6M u ft ft iHỉtt eao itoe • _ • _ Qtuin hj ạỉtto due
Bằng việc tăng cường và đổi mới công tác quản lý chương trình bổi dưỡng giáo viên mầm non Hà nội sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục mầm non
III NHIỆM VỤ NGHIÊN c ứ u
3.1 Hệ thống hóa CƯ sớ lý luận của vấn đề quản lý chương trình bổi
dưỡng giáo viên mầm non
3.2 Đánh giá thực trạng quản lý chương trình bổi dưỡng cho giáo
viên mẩm non hiện nay ở Hà Nội
3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý chương trình bổi dưỡng giáo
viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường mầm non Hà
Quá trình bổi dưỡng giáo viên mầm non Hà Nội
Các biện pháp quản lý chương trình bổi dưỡng giáo viên mẩm non nhàm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non Hà Nội
Chương irình BD GVMN tại các trường mầm non
Nếu có các biện pháp hữu hiệu về quản lý chương trình bồi dưỡng giáo viên mẩm non sẽ nâng cao được chất lượng chương trình bồi dưỡng giáo viên
và từ đó chất lượng giáo dục mầm non sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 7J lt iâ n o à n eu tì họe• _• _ Quản tụ ạìáo tittẩt
- Sưu tầm văn kiện - vãn bán - tài liệu có liên quan đến vấn để nghiên cứu
- Hệ thống hoá các khái niệm để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học (anket) đối với Ban giám hiệu - giáo viên - chuyên viên - lãnh đạo nhằm mô tả thực trạng công tác quản lý chương trình bồi dưỡng giáo viên mầm non Hà Nội
- Phỏng vấn với Ban giám hiệu - giáo viên - chuyên viên - lãnh đạo
- Quan sát GVMN: học như thế nào? Hành như thế nào?
- Nghiên cứu sản phẩm công tác quản lý chương trình bổi dưỡng của ban giám hiệu mầm non
- Khảo sát thực tế và tổng kết kinh nghiệm
- Tổ chức thử nghiệm một biện pháp
- Khảo nghiệm sự nhận thức về tính khả thi của các biện pháp quản lý chương trình bồi dưỡng giáo viên tại trường mầm non (khảo nghiệm
là chủ yếu)
- Phương pháp khảo nghiệm
Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến về tính khả thi của các biện pháp nêu ra
VIII GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN c ứ u
- Trọng tâm của luận văn là nghiên cứu các biện pháp quản lý chương trình bồi dưỡng giáo viên tại một số trường mầm non ở Hà Nội
Phạm vi khảo sát: Trường mầm non Việt Bun, Trường mầm non 10
-10, Trường mầm non Phù Đổng
- Tăng cường các biện pháp quản lý chương trình bổi dưỡng giáo viên là góp phẩn nâng cao chất lượng giáo viên mầm non
- Chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non là nhân tố then chốt để góp phần nãng cao chất lượng giáo dục mầm non
Trang 8J it lậ n M itt eaờ ttộe
_ » « _ Quản iiị ạiáíì dụe
- Đội ngũ giáo viên mẩm non sẽ phát huy dược vai trò của họ khi đượctham gia các chương trình bổi dưỡng giáo viên thường xuyên có hiệuquả và chất lượng
Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung, kết luận
Phần I: - Mở đầu - Một số vấn đề chung.
Phần II: - Nội dung chủ yếu của luận văn gồm các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận vể vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Điều tra thực trạng công tác quản lý chương trình bồi
dưỡng giáo viên mầm non Hà nội Chương 3: Các biện pháp quản lý chương trình bổi dưỡng giáo
viên mầm non nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở một số trường mầm non Hà nội
Phần III : Kết luận và khuyến nghị.
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 9Mittîtt Dtîft eut) hợe Quán lặ ạỉátì due
Chương 1
1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
Chúng tôi bắt đầu công việc nghiên cứu của mình bằng cách tìm hiểu những nội hàm của một số khái niệm có liên quan đến công việc quản lý nói chung, đồng thời là kiến thức công cụ đối với việc nghiên cứu vé quản lý chương trình BDGV MN - một nhiệm vụ của quản lý giáo dục mầm non, một lĩnh vực quản lý chuyên ngành
L U Quản lý và các chức năng quản lý.
1.1.1.1 Khái niệm Quản lý.
Chúng ta đều biết, quản lý giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với mọi hoạt động của xã hội Quản lý xuất hiện từ rất lâu trong xã hội ỉoài người và ngày càng phát triển theo sự phát triển chung của xã hội Từ khi xã hội xuất hiộn sự phân công lao động trong quá trình sản xuất từ xã hội cùng đổng thời xuất hiện
sự hợp tác lao động, sự phối hợp và gắn các lao động cá nhân thành lao động chung của xã hội Các chức năng xã hội có nhiệm vụ phối hợp, gắn kết các lao động cá nhan lại thành đó chính là quản lý
Trong xã hội loài người, QL là một việc làm bao hàm lên mọi mặt của đời sống xã hội Nó ra đời khi xã hội có sự phân công lao động, đòi hỏi sự hợp tác trong lao động tập thể trên quy mô nào đó hoặc khi con người hoạt động cùng nhau với mục đích chung Cac-Mac đã giải thích bản chất và chức năng QL như sau: “Bất cứ một lao động xã hội chung nào tiến hành trên một quy mô tương đối lớn đều yêu cẩu phải có một sự chí đạo để làm cho những hoạt động đó ăn nhập với nhau Sự chỉ đạo đó phải làm những chức năng chung là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ sở sản xuất với những vận động cá nhân của những thành phẩn độc lập hợp thành cơ sở sản xuất đó Nói đến lao động quản lý người ta không thể nhắc tới ý tưởng sâu sắc của Chủ nghĩa Mác: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” 124]
Trang 10Tuỳ theo các cách tiếp cận mà ta có các quan niệm về QL Thông (hường khi đưa ra khái niệm QL các tác giả thường gắn với một loại hình QL
cụ thể:
- w Taylor - người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng
bộ phận của nó, đã nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất công cụ và phương tiộn lao động nhằm tăng năng xuất lao động, đã quan niệm: QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất”
- Nhà lý luận QL kinh tế người Pháp Fayon cho rằng: “QL là qúa trình đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhấl nguồn lực (nhân lực, vật lực) của nó”
- Các nhà lý luận Liên Xô (trước đây) định nghĩa về QL như sau: “QL
là quá trình vận hành của chính quyền” - đã gắn QL với việc thực hiện chức năng hành chính! (A.E Luneb, I.A Tikhômirôb); “QL là việc gia công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể sống”
- Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản suất (I.N Kuzơnetxop)
• - “QL là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL (người QL hay tổ chức QL) lên khách thể (đối tượng) QL vể các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điểu kiện phát triển cho sự phát triển đối tượng”[33]
- QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức, là cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [38]
Để có quan niệm đầy đủ về “quản lý”, ta cẩn thiết phải nắm chắc được bản chất của QL với các đặc điểm trưng cơ bản sau đây:
- Đặc trung thứ nhất: QL là lựa chọn, ở đâu không có khả năng lựa
chọn thì ở chỗ đó không cần thiết đến QL
- Đặc Irumg thứ hai: QL là các tác động có chủ định
- Đặc trưng thứ ba: QL là làm giảm tính bất định và làm tăng tính tổchức - tình trạng ổn định của hệ thống
Trang 11J lt f it H t îà f t e t K ì h ọ a• _ " _ • _ Quán Ịụ (ịiátì dục
Nói một cách tổng quát, quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung
Về chức năng QL, hiện nay có nhiều cách phân chia khác nhau, do các quan điểm của từng tác giả Nhưng nhìn chung, giữa các cách phân chia này không có sự khác biệt nhiều Có tác giả phân chia thành các bước: Lập kế hoạch, tổ chức, điểu hành, phối hợp, theo dõi, đánh giá Có tác giả chia nhỏ thành kỹ năng: Xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức, điều hành, lãnh đạo, giám sát, kiểm tra Có tác giả cho rằng: “Chức năng quản lý phải phản ánh nội của quá trình QL, tức là giai đoạn kế tiếp nhau của quá trình này, từ lúc bắt đầu cho đến lúc kết thúc một chu trình QL” Tuy nhiên, nhìn chung các nhà nghiên cứu về khoa học QL đều thống nhất chung 5 chức năng cơ bản của QL là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và thông tin
• Hoạt động QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng QL Chức năng QL là dạng hoạt động tương đối độc lập được tách ra từ hoạt động QL
K ế hoach: “Kế hoạch theo nghĩa chung là toàn thể những việc dự định làm
gồm những công tác sắp xếp có hệ thống, quy vào một mục đích nhất định và thực hiện trong một thời gian đã định trước” [8j Kế hoạch là cái cầu bắc qua khoảng cách từ vị trí hiện tại của tổ chức đến đích mà ta đạt tới Kế hoạch hoá
là xác định rõ mục đích, mục tiêu đối với tương lai của tổ chức và những con đường, biện pháp, cách thức chủ yếu để đạt được mục đích, mục tiêu đó Chức năng kế hoạch hoá có ba nội dung chủ yếu: xác định, hình thành mục tiêu, xác định và đảm bảo về nhân lực và các nguồn khác để đạt được mục tiêu đã đề ra, quyết định xem những biện pháp nào là cẩn thiết để đạt được mục tiêu đó Sản phẩm quan trọng của chức năng kế hoạch hoá là kế hoạch Có 3 loại kế hoạch:
kế hoạch chiến lược (giải quyết mục tiêu chiến lược), kế hoạch chiến thuật
Trang 12J liit t H tutti exto- h ạ c
I _ _« _ Q iu ỉtt ỉ ụ q iá ú dtie.
(giải quyết mục tiêu chiến thuật), kế hoạch tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác nghiệp)
Tổ chức: Khi người QL đã lập xong kế hoạch, họ cần thiết phải chuyển hoá những ý tưởng íhành hiện thực Xét về mặt chức năng QL thì tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ tổ chức mà người QL có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc vào năng lực
và phong cách của chủ thể QL, phụ thụộc vào việc sử dụng, huy động cácnguồn lực, cũng như tạo các động lực và khơi đậy nội lực của tổ chức Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực
Thực chất của chức năng tổ chức đội ngũ là làm rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng người Nêu ra và duy trì hệ thống căn cứ Để làm tốt công tác tổ chức người quản lý cẩn làm 2 việc sau:
- Phân tích sứ mạng chung của đơn vị - từng bộ phận trong đơn vị
- Xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy
- Quy định chức năng - nhiệm vụ quyền hạn cho tùng bộ phận và cá nhân
- - Lựá chọn và phân công cán bộ
- Xác lập cơ chế phối hợp trong tổ chức
- Khai thác tiềm năng, tiềm lực của tập thể và cá nhân
Chỉ đ ao : Đây là quá trình tác động của chủ thể QL, sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng, Chỉ đạo là quá trình liên kết, liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức: tập hợp, động viên, khuyến khích họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì chỉ đạo là quá trình vận hành, điều khiển hệ thống Có người còn gọi chỉ đạo là quá trình tác động Việc chỉ đạo không chỉ bất đầu ngay sau khi lập kế hoạch và việc thiết kế bộ máy hoàn tất mà nó phải thấm vào, đan xen vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng trên
Thực chất của chức năng chỉ đạo điều hành là trình bầy mệnh ỉệnh, chỉ đạo, lời khuyên để cấp dưới hiểu và tán thành với mục tiêu đề ra Để làm tốt công tác điều hành chủ thể quản ]ý cần làm những công việc sau:
Trang 13M it â n o ả n ea& họe,ạ ■ _ Q tu ỉtt t ậ ạ i á ú d u e
- Ấn định chức năng nhiệm vụ cơ bản của mỗi người
- Đưa ra các chỉ thị mệnh lệnh cụ thể thực thi công việc
- Điều phối làm cho công việc nhịp nhàng, phối hợp bổ sung cho nhau Kiểm tra : Khái niệm kiểm tra được sử dụng để chỉ một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức Kiểm tra bao giờ cũng đưa lại những kết luận đối với những hành vi (đã nêu), hoặc những biện pháp xử lý khi hành vi vượt quá giới hạn đã được quy định trước Đó là quá trình tự điều chỉnh diễn ra có tính chu kỳ:
Người QL đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động
- Người QL đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đặt ra
- Người QL tiến hành điều chỉnh những sai lệch
- Người QL hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần” [38],
Kiểm tra là chức năng cơ bản, quan trọng của QL Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo Theo lý thuyết hệ thống, kiểm tra chính
là thiết lập mối liên hệ ngược trong QL
Năm chức năng của QL: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và thông tin chúng luôn được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và
bổ sũng cho nhau tạo thành một chu trình QL Trong chu trình đó, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn, với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện các chức năng QL và ra các quyết định QL
Để biết tiến độ và kết quả thực hiện công việc có phương án điều chỉnh kịp thời: Phát triển hoặc rút bớt mục tiêu Để làm tốt công tác kiểm tra cẩn làm những nhiệm vụ sau:
- Xây dựng chuẩn kiểm tra, nguyên tắc đánh giá thành tích kết quả
- Kiểm tra kết quả
- Kiểm tra nhằm vào công việc
- Khơi dậy sự tự kiểm soát - tự rút kinh nghiệm
Thông tin : Giúp cho cả 4 mặt trên thực hiện được tốt, thực chất thông tin giúp cho người quản lý bao quát thâu tóm tình hình, biết được nguyên nhân và có cách điều chỉnh thích hợp Để làm tốt công tác thông tin thì người quản lý cần:
Trang 14J ill (} H D it ft eatì- ỉtợe
* • _ Qtittn lý ụìáờ due
- Lưu trữ, sàng lọc thông tin iheo mục tiêu quản lý
- Sử dụng thông tin phục vụ triển khai mục tiêu đề ra
- Điều chỉnh sai lệch và nghiên cứu sửa chữa
Sự phân loại một cách khoa học các chức năng quản lý giúp cho việc tiêu chuẩn hoá và thống nhất hoá các quá trình quản lý tạo tiền đề thuận lợi cho việc đưa các phương tiện kỹ thuật vào quản lý tạo tiền đề thuận lợi cho việc đưa các phương tiện kỹ thuật vào quản lý và làm giảm gánh nặng cho người quản lý z Aỉen- một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý- đã phê phán Fayol và các môn đệ của ông vé việc tách rời, cô lập các chức năng
có liên quan đến khách thể QL Theo ông cần phải có sự phối hợp các chức năng đó
Cần lưu ý rằng: Các chức năng QL được quy định một cách khách quan bởi hoạt động của chính khách thể QL Nền sản xuất xã hội luôn luôn vận động và phát triển không ngừng nên các chức năng QL như đã nêu trên không phải là một cái nhất thành bất biến mà nó cũng không ngừng biến đổi
* Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
+ Quản lý là một khoa học bởi lẽ nó có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ quản lý Đó là các quan hệ Người - Người, Người - Vật hoạt động theo những quy luật nhất định Nắm được đặc điểm và tính chất biểu hiện các
Trang 15Jill ã H Ịĩàn eao (tộc• _ • _ Quán Itị (ịiáo duo
mối quan hệ này thì mới quản lý có kết quả Chính vì vậy mà các nhà quản lý phải được đào tạo về nghề nghiệp một cách chu dáo
+ Quan lý lại là một nghệ thuật vì tâm lý và hoàn cảnh sống của con người có các diễn biến rất phức tạp, môi trường quản lý luôn biến đổi vận động không ngừng Khi chuẩn bị và hình thành quyết định quản lý thì phải biết vận dụng một cách hệ thống các ý tưởng khoa học: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục Song khi triển khai quyết định vào thực tế lại phải có nghệ thuật Phải biết công thủ, tiến thoái một cách hợp lý Chủ thể quản lý phải nhớ
nguyên tắc D ĩ bất biến ứng vạn biến.
Người quản lý sẽ thành công nếu biết:
- Dựa vào quy luật khách quan để điểu hành chứ không chỉ dựa vào kinh nghiệm và trực giác
- Vận dụng sự hiểu biết tổng hợp cả về kinh tế, chính trị và vãn hoá xã hội, đặc biệt sự hiểu biết về tâm lý
1.1.2 Đào tạo và bồi dưỡng
Đào tạo là một trong những thuộc tính cơ bản của quá trình giáo dục, nó
có phạm vi, cấp độ, cấu trúc và những hạn định cụ thể về thời gian, nội dung
và tính chất
/./.2 2 Bồi dưỡng
“ Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hưn” [56],
UNESCO định nghĩa: "Bổi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhan và tố chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”
rpiaut ÇJhi ÇJftttt) /7óưưttạ.-3£.1
V - ư > j ữ 3 T
17
Trang 16J2.it(lit o á n eao họe.
I _ » _ Q iiiin tậ ỊỊÌáo d ụ c
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: "Bổi dưỡng có thể là một quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chí" [35]
Qua hai quan niệm trình bày trên ta thấy:
- Chủ thể của quá trình bồi dưỡng đã được đào tạo để có một trình độ chuyên môn nhất định
- Thực chất của quá trình bồi dưỡng là để bổ sung tri thức, cập nhật kiến thức và kỹ nãng còn thiếu hụt hoặc lạc hậu để nâng cao trình độ, phát triển Ihêm năng lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn dưới một hình thức phù hợp
- Mục đích bồi dưỡng là nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn nghiệp vụ đã sẵn có giúp cho hiệu quả công việc đang làm được tốt hơn
Như vậy bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng nhằm nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó mà người ta đã có một trình độ chuyên môn nhất định
Có thể coi bồi dưỡng là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo chuyên đề Các hoạt động này nhằm tạo điều kiộn cho người lao động có cơ hội để củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức,
kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách có hiệu quả hơn và thường được xác nhận bằng chứng chỉ Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là để bổ sung những kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu nhằm nâng cao tri thức, kỹ năng đáp ứng yêu cẩu ngày càng cao của giáo dục
ỉ ỉ 2.3 Chương trình bồi dưỡng.
Theo Tim Wentling, 1993 - có nêu khái niệm về chương trình đào tạo, bồi dưỡng "Chương trình đào tạo, bồi dưỡng là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm) Bản thiết kế lổng thể đó cho ta biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, bồi dưỡng, chỉ rõ ra những gì ta có thể trông đợi ở người học sau khoá học Nó phác hoạ ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, bổi dưỡng, nó
Trang 17M ttâ ft tutti cao họe• • _ Q trán /fj ạ itítì d ụ c
cũng cho ta biết các phương pháp đào lạo, cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ"
Từ khái niệm về chương trình đào tạo, bồi dưỡng này ta có thể thấy rằng chương trình đã phản ánh đầy đủ mọi mục tiêu, nội dung, quy trình, hình thức,phương pháp, cách thức kiểm tra đánh giá những nội dung bồi dưỡng Để xâydựng được chương trình phải tuân thủ theo các bước sau đây:
1- Xác định các yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng
2 - Phân tích các đặc điểm của học viên và môi trường đào tạo
3 - Lựa chọn và sắp xếp nội dung chương trình
4 - Lựa chọn các phương pháp đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn bị tài liệuhọc tập
5 - Xác định hình thức bồi dưỡng và phương tiện
6 - Thực hiện đào tạo, bổi dưỡng
7 - Đánh giá học viên và đánh giá chương trình
+ Các loại chương trình bồi dưỡng i59ỉ.
1 Chương trình bồi dưỡng chuẩn hoá
2 Chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ (đào tạo)
3 Chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ
' 4 Chương trình bồi dưỡng để dạy theo tài liệu hướng dẫn mới - Bổi dưỡng thay sách
5 Chương trình bồi dưỡng giáo viên tại trường (quy mô nhỏ tại cơ sở
tự đào tạo - bồi dưỡng chuyên đề)
+ Dặc trưng của chương trình bồi dưỡng GVMN.
Công tác BDGV có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng, thiết thực, gắn chặt với quan điểm học tập suốt đời, đã được thiết lập và đang có khả năng trở thành phương thức chính yếu của mọi hoạt động GD - ĐT Quản lý công tác BDGV chính là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác BDGV theo nhu cầu phát triển của xã hội
Mục tiêu: Nâng cao kiến thức, kỹ năng
Nội dung: Cập nhật mới thông tin mới
Phương pháp phương tiện: Tự học, tự nghiên cứu
- Đánh giá: Biết áp dụng vào thực tiễn
Trang 18+ Biện pháp quản lý: là cách thức tác động vào đối tượng quản lý nhằm giúp chủ thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình.
+ Biện pháp quản lý chương trình bồi dưỡng: là cách làm, cách giải
quyết vấn đề (quản lý tổ chức chỉ đạo thực hiện - kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình bồi dưỡng) để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
1.2 Giáo viên Mầm Non - Nhân tố quyết định chất lượng GDMN.
1.2.1 Đội ngũ giáo viên.
Đội ngũ giáo viên là những tập hợp giáo viên được tổ chức thành một lực lượng (có tố chức), có chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ là thực hiệiT mục tiêu của giáo dục đề ra cho lực lượng, tổ chức đó Họ làm theo một
kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau thông qua lợi ích vể vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật
1.2.2 Đội ngũ giáo viên mầm non
Giáo dục mầm non là bậc học có tính xã hội hoá khá rộng, có nhiều lựclượng tham gia: từ Nhà nước, các đoàn thể đến các gia đình, các tư nhân và cả những người tình nguyên nữa Đây được coi là bậc học có độ nhạy cảm khá cao của giáo dục và của toàn xã hội, nó chịu sự tác động rất mạnh mẽ của cơ chế quản lý mới
Theo số liệu của Bộ GD-ĐT, năm học 2001 - 2002, ĐN GV của ngành
GD - ĐT của nước ta hiện có như sau:
* Giáo dục mầm non có 142.954 người (trong đó có 78.225 GV ngoài công lập)
Đội ngũ giáo viên mầm non khá đa dạng, trình độ đào tạo ban đầu thường là thấp so với chuẩn Đến nay tuy đã có giáo viên đạt chuẩn đào tạo,
Trang 19J liu in oảtt cao- họe
Đại học cao đẳng
98427,97%
8.75924,84%
6.12317,40%
9.75727,73%
100%
(72,94%)
3.7974,0%
52.17455,0%
27.75929,26%
5.5675,87%
5.5615,87%
100%
4.5053,46%
53.15847,96%
36,15828,07%
11.6908,99%
15.31811,79%
Nguồn: Tổng kết giáo dục mầm non 2000- 2001 của Vụ GDMN
Thống kê trên cho thấy, số GVMN có trình độ CĐSP và ĐHSP còn quá
ít, lực lượng này chưa thể tạo ra chuyển biến lớn cho GDMN Lực lượng chiếm đa số vấn là giáo viên có trình độ THSP và sơ học Đặc biệt vẫn còn phải chấp nhận một lực lượng chưa qua đào tạo sư phạm làm nhiệm vụ giáo dục mầm non
Thực tế này đặt ra vấn đé phải có sự đổi mới phương pháp ĐT - BD giáo viên mầm non, đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng cho đội ngũ GVMN Đây là vấn đề bức thiết, đòi hỏi của thực tiễn giảng dạy và cũng là để thực hiện chủ trương chung của toàn ngành
* Đạc điểm của đội ngũ GVMN
Đây là một bậc học nhạy cảm của giáo dục và xã hội, chịu sự tác động mạnh mẽ nhất khi chuyển đổi sang cơ chế quàn lý mới Đội ngũ GV có một lịch sử về trmh độ đào tạo ban đầu thấp nhất, đa dạng về nguồn gốc đào tạo, luôn thiếu giáo viên, tỷ lệ đạt chuẩn cho đến nay vấn thấp (và dù đã đạt chuẩn đào tạo, chất lượng vản còn hạn chế) so với bậc tiểu học - là bậc học tỷ lệ đạt chuẩn thấp trong GDPT Số giáo viên có trình độ CĐSP, ĐHSP còn ít, chưa đủ sức tạo ra hiệu quả thực tế[57J
Trang 20Mi tận liản ea tì hfie Qtiáti tý (jiao title
Nói đến GDMN, đội ngũ GV cho bậc học mầm non không thể không tính đến các trường (khoa) SPMN và bậc giáo dục MN hiện nay, cũng như vấn
đề quản lý vé mật Nhà nước của bậc học, trong đó có vấn đề quản lý trường học (nghiên cứu, chí đạo, thanh tra và đặc biệt ]à chính sách và chủ trương xây dựng ĐNGV theo Chỉ thị 18/2001 TTg của Thú tướng Chính phủ về Xây dựng đội ngũ Nhà giáo, trong đó có giáo dục MN) mà cơ chế quản lý nói chung chưa được hoàn thiện Đội ngũ giáo viên mầm non là nữ (còn thiên chức sinh
đẻ và nuôi dạy con ) và đa phần ở trường ngoài công lập (tập trung ở nông thôn)
Toàn bộ đặc điểm nêu trên phải từng bước có phương án, giải pháp cho bậc học này, cùng chất ỉượng đội ngũ giáo viên cho nó, trong đó có thực thi chủ trương đổi mới phương pháp nhưu chỉ thị số 15/ CT/BGD&ĐT (1999) và văn bản số 8891/GV (2000) của Bộ Giáo dục và Đào tạo để đạt những mục tiêu quan trọng: Chuẩn bị chu đáo cho trẻ trước tuổi đến trường phổ thông (về mặt giáo dục) và đóng góp quan trọng vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ (về mặt xã hội)
1.2.3 Vai trờ của đội ngũ giáo viên mầm non.
Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của nhà trẻ-mẫu giáo được quy định trong Quỹết định số 55 ngày 03/2/1990 của Bộ GD&ĐT đã xác định vai trò của giáo viên mầm non: Là lực lượng chủ yếu quyết định chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ trong các CƯ sở giáo dục mầm non
Đội ngũ giáo viên mầm non vừa trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, vừa quản lý lớp trong mối quan hệ nhà trường, gia đình trẻ và xã hội
Họ là người mẹ thứ hai đối với trẻ, giúp trẻ hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới phát triển hài hoà
Mỗi lớp mẫu giáo, mỗi nhóm trẻ được coi như một đơn vị giáo dục cơ
sở, một tập Ihể của nhà trường Thành tích chất lượng của nó gắn liền với thành tích chất lượng của nhà trường Vì thế giáo viên mầm non có thể coi là người thay mặt hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng làm công tác chăm sóc nuôi dạy trẻ và quản lý nhóm lớp
Sự nghiộp đổi mới giáo dục nhằm đáp ứng những yêu cầu của đất nước theo kịp xu thế của thời đại phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên là lực lượng cốt cán giữ vai trò tính chất quyết định đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục
Trang 21Mum I tutti et If) họe Quản Ịặ ạìáfr due.
Chủ tịch Hổ Chí Minh đã từng căn dặn: “Không có thầy giáo thì không cố giáo dục".[21]
Nhà trường được hình chành vì thế hệ đang lớn, vì tương lai phát triển của dân tộc, nhà trường là của thế hệ trẻ Lẽ sống và động cơ hoạt động chân chính của người giáo viên là vì tương lai của từng học sinh và của cả dân tộc Người giáo viên chăm lo đến đến sự phát triển hài hoà, nhiều mặt tối ưu của từng học sinh, chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống không ngừng thay đổi với
tư cách là người công dân, người ỉao động
Với ý nghĩa đó nhà trường được hình thành trước hết vì thế hệ trẻ, nhưng nhà trường bắt đầu từ người giáo viên: Không có thầy giáo, không có
giáo dục, không có nhà trường Ông cha ta đã từng nói: “Không thầy đ ố mày làm nên” Đây là sự đức kết khẳng định vai trò to lớn và không thể thiếu được
của người thầy giáo đối với sự thành đạt của giáo dục, chân lý đó ngày nay vẫn đúng, dù rằng xã hội đang không ngừng đổi thay, giáo dục ngày càng phong phu và phức tạp
Kinh nghiệm nước ta cũng như các nước trên thế giới đều cho thấy một cách rõ ràng tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên trong việc đảm bảo hiệu quả và chất lượng của giáo dục theo phương hướng giáo dục của đất nước
Giáo viên là người trực tiếp biến các chủ trương, các chương trình cải cách mục tiêu giáo dục, đổi mới giáo dục thành hiện thực Bất kỳ một cuộc cải cách giáo dục nào, dù to hay nhỏ chỉ có thể biến thành hiện thực nếu nó được giáo viên chấp nhận, thực hiện một cách tự giác và sáng tạo và nếu như nó phù hợp với khả năng phát triển của người giáo viên Người giáo viên là lực lượng cốt cán của sự nghiệp giáo dục
Sản phẩm lao động của giáo viên gắn với tương lai của dân tộc, vì vậy trách nhiệm của người giáo viên là rất lớn Mỗi giáo viên chịu trách nhiệm trực tiếp về một công đoạn cụ thể Irong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước Có đội ngũ giáo viên tốt, giỏi và hết lòng là sự đảm bảo cơ bản cho sự thắng lợi của
sự nghiệp giáo dục
Trong thời đại ngày nay giáo viên có vai trò xã hội rộng hơn so với chức năng truyền đạt trí thức Giáo viên trước hết phải là nhà giáo đục bằng chính nhân cách của mình tác động tích cực đến sự hình thành nhân cách của
Trang 22JltttÎH oủn t'ttfi họe Qjttâti Ííj tịỉáở dua
học sinh Giáo viên phải là “thầy của cuộc sổng” có trách nhiệm xã hội, là
nhãn vật chủ yếu góp phần hình thành bàu không khí dân chủ trong nhà trường, giáo viên phải được đào tạo cao về học vấn, phải có nhu cầu và khả năng không ngùng hoàn thiện, phát huy tính độc lập, chủ động sáng tạo trong
hoạt động sư phạm cũng như biết phối hợp nhịp nhàng với tập thể sư phạm
nhà trường và gia đình học sinh trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục
Với tinh thần đó, nhà nước, Bộ Giáo dục & Đạo tạo chủ trương: "Đ ể phát triển giáo dục thì chính sách tạo động lực cho thầy và trò là quan trọng
nhất, chít yếu nhất Cùng với điều nảy mỏi giáo viên phải không ngừng trau
dồi phẩm chất, nâng cao trình độ chính trị chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi
năng lực, khai thác hợp lý mối tác động qua lại giữa thầy và trỏ, giữa dạy và
học, tạo ra động lực bên trong của quá trình học tập rèn luyện của học sinh”,
“chất lượng giáo dục không thể nâng lên được nếu chất lượng đội ngũ giáo
viên không ngìnig được nâng lên” [58].
Xu thế mới giáo dục để chuẩn bị cho thế kỷ 21 ở các nước trên thế giới,
trong khu vực cũng như ở nước ta, đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm
chất và nàng lực làm thay đổi vai trò và chức năng của người giáo viên Vì vậy
phải thực sự chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên thì mới có được sự chuyển
hiến giáo dục, đáp ứng yêu cẩu mới của đất nước
Nghị quyết II của Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã khẳng định
một lần nữa “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục” và nêu một
trong những giải pháp chủ yếu nhầm phát triển giáo dục đào tạo đến năm
2000 và tiếp theo là: “Xây diùìg đội ngũ giáo viền, tạo động lực cho người
dạy, người học”
Chương trình quốc gia về xây dựng đội ngũ giáo viên đã xác định xây
dựng đội ngũ giáo viên mầm non và phổ thông là nhiệm vụ hàng đầu phục vụ
mục tiêu nùng cao dân trí của Đảng và Nhà nước ta
Ơiương trình xây dựng đội ngũ trong những năm tới hướng vào mục tiêu:
- Xúy dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng và loại hình, đủ phẩm chất năng lực, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ được nâng cao, đáp ứng yêu
cầu đổi mới mục tiôu, nội dung, phương pháp giáo dục ở các bậc học, cấp học
đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục phục vụ sự nghiệp công
Trang 23- Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ
em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình (mục tiêu đến năm 2020)
Chương trình xây dựng đội ngũ giáo viên mẩm non xác định những định hướng sau đãy:
Tăng cường đầu tư vào việc bổi dưỡng trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên Phấn đấu đến năm 2000 toàn bộ giáo viên mầm non
đều được đào tạo, trong đó 30 % có trình độ trung học sư phạm và đến năm
2020 đại bộ phận cô nuôi dạy trẻ và cô mẫu giáo có trình độ trung học sư phạm, khoảng 20% có trình độ cao đẳng sư phạm
Trong điều kiện đổi mới giáo dục đào tạo nhằm đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đổi mới đất nước, vấn đề chất ỉượng giáo dục đang
là mối quan tâm hàng đầu, khẳng định vai trò của giáo dục như là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Vị trí vai trò của giáo viên đã có những thay đổi và ngày càng được khẳng định “là lực lượng cốt cán giữ vai trò có tính chất quyết định đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục” Điều đó đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực của mình, đối với giao viên mầm non vừa phải tinh thông nghiệp vụ của mình, vừa đòi hỏi ở cô giáo lòng yêu trẻ sâu sắc, vừa là người dạy dỗ các cháu những kiến thức đầu tiên của cuộc đời, vừa là người chăm sóc nuôi dưỡng các cháu để phát triển thể lực tốt
Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên mầm non nói riêng là nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hiện nay Việc tạo điều kiện để giáo viên tham gia nâng cao trình độ, tự bồi dưỡng rèn luyện là trách nhiệm của các cấp quản lý, trong đó khâu quản lý giáo dục là quyết định hiệu quả của việc xây dựng đội ngũ giáo viên
Trang 24Jilt ụ ti o á n eufi h ọ e
* • _ Quân itj ạiáớ due.
1.2.4 Chất lượng giáo dục mầm non.
+ Chất lượng: Giá trị về mặt lợi ích
4- Chất lượng giáo dục:
Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu GD đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người học và sự phát triển toàn diện của xã hội Chất lượng thường được quan niệm là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, một sự việc” [14] Chất lượng giáo dục biểu hiện tập trung nhất ở nhân cách học sinh, nó thể hiện chủ yếu ở hai mặt học lực và hạnh kiểm:
Chất lượng giáo dục được biểu hiện qua các tiêu chí:
- Kiến thức của người học đạt được trong quá trình học tập, thể hiện bằng sự toàn diện, sâu sắc, hệ thống, chặt chẽ, vững chắc, khả năng đáp ứng nhanh
- Kỹ năng: là sự thuần thục trong vận dụng kiến thức vào thực hành, là
sự linh hoạt sáng tạo giải quyết các tình huống gay cấn mà họ gặp phải, có khả năng tự học, tự vươn lên trong cuộc sống
- Thái độ biểu hiện trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội, công việc
là sự biếu hiện tính trung thực, ý thức thực hiện nội quy, pháp luật, cách ứng xử trong mối quan hộ với mọi người
- Chất lượng giáo dục muốn đạt hiệu quả phải có biện pháp quản lý giáo dục phù hợp, nó cũng phụ thuộc vào nhiều điều kiện khách quan như: hoàn cảnh kinh tế xã hội, các điều kiện cơ sở vật chất và điều kiện chủ quan như: chất lượng đội ngũ giáo viên, sự quan tâm phối hợp của gia đình
+ Chất lượng giáo dục MN
Trong những thập kỷ gần đây, khoa học giáo dục đã chuyển từ quan
điểm lấy người (lạy làm trung tâm sang quan điểm lấy người học làm trung tâm Đcìy là một cuộc cách mạng trong nhà trường mà thực chất là chuyển từ
việc lấy việc dạy làm trọng tâm sang lấy việc học làm trọng tâm (đối với độ tuổi mầm non thì đó là học qua chơi), coi trọng vai trò của người học trong
quá trình giáo dục và đào tạo Đối với người giáo viên, để đáp ứng lấy việc học làm trung tâm thì cần áp dụng các phương pháp dạy học nhằm chủ động
hoá người học Người giáo viên lúc này không đơn thuần là người truyền đạt
Trang 25M uâH ỈUĨH eut) ítợe• » Q tiiin lij g iá tì due.
kiến thức là chủ yếu, mà còn lờ người lập k ế hoạch, người tổ chức quá trình giáo dục và dạy học, người đánh giá đổng thời giáo viên còn là người giữ nghiêm kỷ luật trong lớp và là người ra quyết (Ịịnh.[45]
Việc đo tính hiệu quả của người giáo viôn trên lớp cũng có nhiều nghiên cứu tiến hành và bàn đến, tuy nhiên rất khó xác định những đặc tính nào của người giáo viên phản ánh hiệu quả công việc giảng dạy Tuy nhiên Feeney và Chun (1985) đã đề nghị rằng khi đánh giá về hiệu quả trên trẻ em, cẩn dựa vào các đặc điểm: sự tham gia vào công việc (hay hoạt động) cao, năng lực về ngôn ngữ, sự tham gia mang lính xã hội, sự sử dụng vật liệu xây dựng, tính tự động, tính sáng tạo, sự cảm thông, tính độc lập và việc giảm các hành vi không thân thiện và hách dịch Chúng ta có thể xem xét hiệu quả của người giáo vicn dựa vào các đặc tính sau:
- Khuyến khích hành động độc lập
- Lên kế hoạch cho các hoạt động khác nhau
- Tham gia với các trẻ trong lóp nhưng không điều khiển hành vi của trẻ
- Sử dụng các mệnh lệnh có tính phê phán hoặc tiêu cực một cách rất hạn chế
- Biết nhiều hoạt động cùng một lúc
• - Có thể duy trì 2 hoại động đổng thời
- Thực hiện sự chuyển tiếp các hoạt động trong chế độ sinh hoạt nhẹ nhàng
Trang 26M u ộ n ú ă n í'ao ít ọc Q ttá n iụ ạ iá o due.
- CÓ khả năng vạch ra các mục tiêu giáo dục/ dạy học ngắn hạn và có
tính thực tế cho trẻ dựa Irên sự quan sái các nhu cẩu và mối quan tâm của cá nhân từng trẻ
- Có sự điều chỉnh về môi irường và chương trình giáo dục/ dạy học đối với trẻ có nhu cầu đặc biệt (trẻ khuyết tật, trẻ có năng khiếu ) một cách phù hợp kịp thời
- Có một thời gian biểu hàng ngày để cung cấp sự cân bằng đối với các hoạt động: Trong nhà/ ngoài trời; yên tĩnh/ hoạt động; cá nhân/ nhóm nhỏ/ nhóm đông trẻ, vận động cơ lớn/ vận động cơ nhỏ; trẻ tự khởi xướng/ giáo viên đề xướng
- Cung cấp và sử dụng các vật liệu và thiết bị phù hợp với sự xuất hiện,
phản ánh sự đa dạng vể chủng tộc, giới tính, tuổi
- Thường xuycn tạo các cơ hội học cho trẻ em phù hợp với từng độ tuổi, tạo điều kiện cho trỏ được di chuyển tự do, tìm hiểu khám phá môi trường và chơi theo sở thích hứng thú, được trải nghiệm trực tiếp nhằm khuyến khích quá trình tự nhận thức, tính tự chủ độc lập phát triển các kỹ năng xã hội, khuyến khích trẻ suy nghĩ, lập luận, đật câu hỏi, giải quyết vấn đề và phát triển ngôn ngữ, tăng cường sự phát triển và kỹ năng thể chất, khuyến khích phương pháp thực hành an toàn dinh dưỡng ở trẻ em, phát triển khả năng sáng
- Có sự linh hoạt để sẵn sàng thay đổi các kế hoạch đã vạch sẵn tuỳ thuộc vào sự quan tam của trẻ hoặc những thay đổi có thể vạch ra
Các chương trình chất lượng đòi hỏi giáo viên ở lớp có khả năng lên kế hoạch đánh giá trẻ một cách có hệ thống và thường xuyên thông qua các quan sát, ghi chép, mô tả và tập hợp; sử dụng kết quả đánh giá để xem xét việc thực hiện chương trình của bản thân giáo viên, theo dõi và khuyến khích sự phát triển tối uru của từng trẻ, và sử dụng các kết quả để trao đổi với phụ huynh
Trang 27M iíậ n o ù H eafl h ọe_• _ _ _• Qft fin ỉ tị ạiủa dụe.
Dồng thời giáo viên cẩn thực hiện các yêu cầu phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, cụ thế:
- Thông tin vé chương trình đến các gia đình, cho phép cha mẹ đưa ra những quyết định có lợi nhất cho con em họ
- Có các biện pháp để tạo sự chuyển tiếp từ nhà đến trường, giảm bớt khó khăn cho trỏ, giúp trẻ nhanh chóng làm quen với môi trường dạy mới
- Giáo viên trao đổi thường xuyên với phụ huynh để tìm ra cách thức thực hành chăm sóc giáo dục trẻ thống nhất ở gia đình và ở trường, nhằm giảm bót những mâu thuẫn, xung đột hoặc sự lẫn lộn có thể xảy ra cho trẻ
- Khuyến khích cha mẹ tham gia vào các hoạt động của trường lớp bàng nhiều cách khác nhau, tạo cho họ cảm giác thoải mái khi thăm lớp và trao đối với giáo viên hoặc cha mẹ khác
- Tổ chức họp phụ huynh ít nhất 1-2 lần/ năm để gặp gỡ, thông tin và trao đổi những vấn đề của trẻ
Về chất lượng và sự phát triển đội ngũ giáo viên, yêu cẩu:
- Chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non có tẩm quan trọng số một đối với các chương trình GDMN chất lượng, vì vậy đội ngũ giáo viên cần được đào tạo huấn luyện một cách cơ bản về GDMN bao gồm cả sự chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dinh dưỡng và sự phát triển của trẻ em
- Các trường mầm non cần tạo cơ hội học tập và bồi dưỡng thường xuyên cho các giáo viên, trợ lý và các nhân viên khác Các hoạt động nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ bao gồm: hội thảo, tham quan học tập giữa các trường, lớp học tại chức nâng cao trình độ, hoặc tham dự các khoá học ngắn hạn vể sức khoẻ và an toàn, dinh dưỡng hợp lý, sự tàng trưởng và phát triển trẻ, cách xây dựng kế hoạch chương trình, phương pháp truyền thông và liên
hệ với các gia đình, mạng lưới cộng đồng, các quyền của trẻ em V V
- Các trường đảm bảo tỷ lệ giáo viên/ đầu trẻ theo quy định (đi đôi với diện tích/ trẻ), nhằm đảm bảo sự giao tiếp thường xuyên giữa giáo viên với từng trẻ và đảm bảo chất lượng và các yêu cầu của GDMN nói chung
1.3 Tầm quan trọng của việc quản iý chương trình bồi dưỡng giáo viên.
1.3.1 Tính cấp thiết của việc quản lý chương trình bồi dưỡng giáo viên:
Đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định sự phát triển của Giáo dục- Đào tạo Nền giáo dục quốc gia không thể phát triển cao hơn tầm của đội ngũ giáo
Trang 28M u (lit ru in t'tto ítọ e Q ttả n Itj ụ iá o d u e
viên làm việc cho I1Ó Trong yêu cầu của sự phát triển xã hội, chất lượng của ĐNGV phái không ngừng được nâng cao Một thực thể đang được chúng ta quan tâm hiện nay là: chất lượng GD - ĐT hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu ngày một nâng cao của thời kỳ đổi mới đất nước Chất lượng đội ngũ GV phụ thuộc vào chất lượng đào tạo ban đầu và quá trình đào tạo tiếp tục (BDGV) trong quá trình học tập tại trường Sư phạm (từ 2 - 4 năm) Đây là khoảng thời gian rất thuận lợi cho quá trình học tập của các học viên SPMN, giáo viên tương lai: tuổi thanh xuân, thời gian và sức khoẻ So với thời gian đào tạo ban đầu, việc đào tạo bồi dưỡng (làm cho giáo viên tốt hơn - giỏi hơn) tiếp tục diễn ra Irong khoảng thời gian dài hơn nhiều lần Thông thường một
GV có 30 nãm công tác thì phải yêu cầu bồi dưỡng thường xuyên tỷ lệ rất cao
30 : 3 = 10 lần Tuy trong suốt cả 30 năm nền kinh tế - xã hội - vãn hoá khoa học kỹ Ihuật phát triển không ngừng yêu cầu nguồn lực con người luôn được nâng cao trong chiến lực phát triển GD-ĐT MM Để GD-ĐT hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình phải có đội ngũ GV đủ mạnh Do vậy, công tác
BD thường xuyên - chuyên đề - cập nhật liên tục ra đời nhưng thực tế đội ngũ giáo viên MN vẫn chưa đáp ứng được với yêu cầu GDMN trong thời kỳ đổi mới đất nước nên chúng ta hiểu đó chính là do nguyên nhân tổ chức quản lý CTBD
Vậy quản lý CTBD ở các trường MN là một vấn đé - cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng BD đội ngũ - là làm tròn chức năng quản lý của trường MN
1.3.2 Tầm quan trọng của công tác quản lý chương trình BD GVMN
Giải quyết tốt vấn đề quản iý CTBD sẽ nâng cao được hiệu quả GV chất lượng “trong quản lý, không loại đầu tư nào mang lại hiêu quả lớn như đầu tư vào phát triển” (Becker)
Một đội ngũ chỉ tuyển lựa, không huấn luyện bồi dưỡng thì không có sự phát triển Không thể có đội ngũ GV giỏi, nếu chỉ có một chương trình bồi dưỡng hay nhưng lại thiếu một đội ngũ quản lý CTBD hiệu quả Chất lượng đội ngũ GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, chất lượng đội ngũ GV phụ thuộc vào công tác BDGV Công tác BDGV đạt kết quả tốt không thể chỉ cần xây dựng chương trình bổi dưỡng tốt, chuẩn, hiện đại mà nó còn cần có
Trang 29Jit * _ IH i tí tutu etitì It ọ ti Quản í tị ụiáũ dục
một hệ thống quản lý tổ chức thực hiện chương trình phù hợp ngang tầm một chương trình hiện đại
Nếu cô giáo không được bồi dưỡng tri thức thường xuyên thì sẽ trở thành lạc hậu so với xã hội và so với chính đứa trẻ
Thời kỳ CNH- HĐH đất nước đang đòi hỏi GD-ĐT đổi mới toàn diện nhằm thực hiện mục tiêu hình thành nhân cách mới với những năng lực mang tính thời đại, muốn vậy đội ngũ GVMN phải có năng lực đáp ứng yêu cầu đó
Bổi dưỡng cho giáo viên MN Hà Nội nhằm giúp họ không ngừng mở rộng và nâng cao trình độ hiểu biết, kiến thức và kỹ năng thực hành SP, phẩm chất và năng lực của người GV đáp ứng kịp thời và đón trước những đổi mới toàn diện trong chương trình GDMN vào năm 2000, đảm bảo tính khoa học, hiện đại, thiết thực đòi hỏi bức xúc của giáo viên trong thực tiễn chăm sóc và giáo dục trẻ Bồi dưỡng nhằm bổ sung những thành tựu nghiên cứu mới trong các lĩnh vực giáo dục học, tâm lý học, phương pháp dạy học, cập nhật hoá kiến thức và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho giáo viên đạt chuẩn THSP Đổng thời còn tạo cơ sở để họ tiếp tục vươn lên trình độ CĐSP, ĐHSP Rèn luyộn cho họ năng lực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao hiệu quả chăm sóc, giáo dục trẻ MN
' Quản lý chương trình BDGV là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý Nó là sự điều hành hệ thống GD quốc dân, các trường trong hệ thống GD quốc dân, nhàm tạo điều kiên thuận lợi cho mọi GV (trong đó có GVMN) có thể học tập nâng cao trình độ học vấn, trình độ nghiộp vụ phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng người, đáp ứng được yêu cáu phát triển của KT- XH, khoa học và công nghệ góp phần vào
sự nghiệp nâng cao dân trí Đào tạo nhân lực, BD nhân tài cho sự nghiệp CNH
- HĐH đất nước
Trang 30JU tû n tu tti en ú ỉt oe • • _ Q u â n ỉụ g iá n d u e
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH
BỔI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON HÀ NỘI
2.1 Vài nét về tình hình địa lý - kinh tế -văn hóa - giáo dục
2.1.1 Vài nét về tình hình kinh t ế- xã hội của Thủ đô Hà Nội
2 ỉ 1.1 Địa lý và dân cư.
Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm đổng bằng Bắc Bộ thuộc châu thổ sông
Hồng Hà Nội rộng 912km2, dân số khoảng 2.756.000 người Toàn thành phố chia làm 12 quận huyện với 224 phường xã, trong đó có 7 quận nội thành (sẽ
có thêm 2 quận mới thành lập là Long Biên và Vạn Xuân, mỗi quận gồm 14 phường) và 5 huyện thành với cơ cấu thành phẩn dân cư, truyền thống văn hoá hết sức phong phú đa dạng
Hà Nội là địa phương có tỷ lệ sinh thấp (1,6 - 1,8%), nhưng dân số Hà Nội tăng nhanh đo luồng di dân từ các tỉnh về Hà Nội kiếm việc làm, số lượng mỗi năm khoảng 36.000 người Việc gia tăng dân số cơ học là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải về nhà ở, trường học, giao thông, những phức tạp về an ninh trật tự, ô nhiễm môi trường
2.1.1.2 VỊ trí của thủ đô Hà Nội
Vị trí của thủ đô Hà Nội đã được ghi trong Điều 1 của Pháp lệnh Thủ đô
Hà Nội được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 28/12/2000 và được Chủ tịch nước công bố ngày 11/1/2001 như sau:
"Hà Nội ngày nay là trung tâm đẩu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của
cả nước; ià nơi đặt trụ sở của Trung ương, của Đảng và Nhà nước, các tổ chức Chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra những hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước"
Hà Nội là trung tâm chính trị - văn hoá - kinh tế của cả nước Trong định hướng phát triển GD - ĐT giai đoạn từ 2001 - 2010, với tinh thần "nắm bất cơ hội, tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thừ thách” Hà nội đã:
“tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Coi giáo đục đào lạo là nền tảng và động lực của CNH-HĐH [3, 7, 9]
Trang 31Jhlfîtỉ tuitl ÍM& ftp* » _ ♦_ Quản, lặ íịiáo dtUi
Sinh thời Chủ tịch Hổ Ơ1Í Minh đã căn dặn: "Hà Nội phải trở thành một thủ đô xã hội chủ nghĩa, một thành phố gương mẫu trong cả nước Muốn thế thì mỗi một xí nghiệp, mồi một đơn vị bộ đội, mỗi một trường học, mỗi một đường phố, mỗi một cơ quan và mỗi một nông thôn ngoại thành phải thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội" (Trích Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Hà Nội ngày 25/4/1959)
2.1.2 Vài nét phát triển giáo dục:
2.1.2.1 Khái quát chung về giáo dục Hà N ội:
Hà Nội là thành phố học đường Năm 2000, trên địa bàn thành phố có1.364 trường học các loại với hơn một triệu học sinh, sinh viên và trên bốn vạn giáo viên Cứ 3 người dân Hà Nội thì có một người là học sinh, sinh viên Tỷ
lệ học sinh tốt nghiệp cấp tiểu học (TH), trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) ở Hà Nội năm 1999 - 2000 đều ở mức cao (trên 91%)
Một thành tựu lớn của thủ đô trong mười năm qua là xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Năm 2000, toàn thành phố đã hình thành một hệ thống các trường dân lập bao gồm: 4 trường Đại học, 61 trường THPT, 15 trường TH và THCS, 40 trường Mẫu giáo Riêng các trường THPT, TH, THCS và Mẫu giáo
đã thu hút hơn 12,000 học sinh và trên 3.000 giáo viên[l]
2.ỉ 2 2 Giáo dục mầm non của Thủ đô Hà Nội:
Trong những năm qua, xác định GDMN là vấn đề có tầm chiến lược lâudài, ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của giáo dục phổ thông và các thế hệ tương lai của đất nước Đảng và Nhà nước luôn quan tâm chỉ đạo công tác GDMN Điều đó thể hiện rất rõ trong các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương IV (khoá VII), Hội nghị Trung ương II (khoá VIII), trong Hiến pháp và Luật Giáo dục Gần đây nhất, Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng ỉần thứ IX đã khẳng định: "Chãm lo phát triển giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ
và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là ở vùng nông thôn
và những vùng khó khăn"
Cụ thể hoá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong 5 năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với các Bộ, Ngành, các địa phương đề xuất và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, chương trình hành động nhằm thúc đẩy sự phát triển của GDMN Nhờ đó, trong điểu kiện còn rất nhiều khó khăn nhưng GDMN vẫn được duy trì, củng cố và trên một số mặt
có sự chuyển biến quan trọng
Trang 32JUlÛtL oủtt (Mỡ- fioe
_I « _ Quản ỊẠ íịìtíO d ụ c
Hà Nội là trung tâm chính trị - văn hoá - kinh tế của cả nước Trong định hướng phát triển GD - ĐT giai đoạn từ 2001 - 2010, với tinh thần "Nắm bắt cơ hội, tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượi qua thử thách" Hà Nội đã
"tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về GD - ĐT, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Coi GD - ĐT là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá "
Cùng với sự phát triển GD - ĐT trong cả nước, sau những năm đầu của thời kỳ đổi mới GDMN Hà Nội bắt đầu có sự ổn định và ngày càng có xu hướng phát triển nhanh, có nhiều chuyển biến tích cực cả về quy mô và chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ
Hệ thống các trường MN được chia theo vị trí cấp huyện, dưới sự chỉ đạo của phòng GD - ĐT về chuyên môn và chịu sự quản lý ở phường, xã theo đơn vị hành chính, ngoài ra còn có 5 trường MN trực thuộc sở và 2 trường
MN thực hành của Bộ, 1 trường MN thực hành của trường
GDMN Hà Nội có từ rất sớm, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, GDMN cũng có những lúc thăng trầm, nhưng đã sớm khẳng định sự tồn tại và vị trí của GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân
Tỷ lệ trẻ đi trẻ rất cao, năm 1985 đạt tới 60% so với độ tuổi, trẻ mẫu giáo đến trường đạt 56,6% so với độ tuổi Sau khi chuyển đổi cơ chế từ chế độ bao cấp sang chế độ tự hạch toán trong các tổ chức sản xuất kinh doanh, chuyển từ nền kinh tế mà thành phần cơ bản là kinh tế tập thể và quốc doanh sang nền kinh tế nhiều thành phần nên nhà trẻ, mẫu giáo chịu sự tác động mạnh mẽ nhất và chao đảo nhiều nhất Có nơi quy mô nhà trẻ, mẫu giáo bị tan
ra từng mảng, nhất là khu vực nông nghiệp và khu vực cơ quan xí nghiệp Số lượng trẻ đến trường trong toàn thành phố giảm mạnh, giảm liên tục từ năm
1986 đến năm 1992 Năm 1986, tỉ lệ trẻ đến nhà trẻ còn 16%, trẻ mẫu giáo đến trường còn 40% so với số trẻ trong độ tuổi Do đó khó khăn nhiểu về kinh phí, nhiều phòng học xuống cấp không được sửa chữa (nhất là khu vực nông nghiệp) và nhiều nhà trẻ, trường mẫu giáo (khối cơ quan xí nghiệp) phải giải tán Đời sống của cô nuôi dạy trẻ và giáo viên mẫu giáo gặp nhiều khó khăn, thu nhập quá thấp, đời sống bấp bênh, không ổn định Do vậy dẫn đến hiện tượng giáo viên bỏ nghề hàng loạt Theo thống kê, từ năm 1985 - 1990 tỷ lệ giáo viên bỏ nghề 27% (phần lấm ở khu vực nông nghiệp) Chất lượng chãm
Trang 33Jltiàn OÌÍH t'tto hộe.
sóc giáo dục trẻ ở trong các nhà trẻ, trường mẫu giáo bị ảnh hưởng lớn Đây
là thời kỳ "suy giảm về số lượng và chất lượng" trong GDMN nói chung vàGDMN Hà Nội nói riêng
Cùng với sự phát triển Giáo dục - Đào tạo trong cả nước, sau nhữngchao đảo trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, GDMN Hà Nội bắt đầu
có sự ổn định vào đầu những năm 90 và có xu hướng phát triển nhanh, cónhiều chuyển biến tích cực cả về quy mô và chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ
2.1.3 Thực trạng vê giáo viên và cán bộ quản lý GDMN Hà nội
là 39.263 cháu, đạt tỷ lệ 99,2%
Tóm lại sau những năm đổi mới, quy mô GDMN đã ổn định và có bướcphát triển vững chắc, cơ bản đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ của các bậc cha mẹ.Song quy mô phát triển chưa đổng đéu giữa các loại hình trường, giữa nộithành và ngoại thành Việc huy động trẻ đi nhà trẻ ở Hà Nội gặp nhiểu khókhăn Nguyên nhân cơ bản là điều kiện kinh tế của người dân ở các khu vựckhác nhau chưa tương ứng với yêu cầu phát triển của Thủ đô
2.1.3.2 Về chất lượng:
Chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ luôn là yếu tố được coi trọng hàngđầu trong các trường MN của Hà Nội Ngay từ những năm đầu đổi mớiGDMN Hà Nội đã xác định phải lấy chất lượng để phát triển số lượng Nângcao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ là mục đích, nhiệm vụ của các nhàtrường và là nội dung tuyên truyền nhằm tạo được niềm tin trong các bậc chamẹ
v ề chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng: Số trẻ được ăn tại trường 75.682
cháu đạt 58,3% so vói số cháu đến lớp, trong đó trẻ nội thành 100%, trẻ ngoại thành 67,5% Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng được giảm dần, hiện chl có 6.535 cháu
Trang 34M u t in o ủ n e a o h ọ e • » Q u á n Ị If ạ iá ó - t ỉ tie
chiếm 7,4% Chất lượng bữa ăn cho trẻ thường xuyên được cải tiến, đảm bảo thực đơn theo tuần, theo mùa, đảm bảo định lượng calo theo độ tuổi và cân đối giữa các chất Đặc biệt trong năm học vừa qua các nhà trường còn chú ý tới việc đảm bảo vộ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ, thực hiện ký kết các hợp đồng mua thực phẩm sạch, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng ngộ độc thức
ăn trong trường MN
V ề chất lượng ụáo dục: Việc chỉ đạo thực hiện chương trình chăm sóc
giáo dục trẻ theo độ tuổi được chú trọng Sở đã hướng dẫn cho các trường MN
về đổi mới phương pháp nuôi dạy trẻ, đặ xây dựng một hệ thống trường điểm
từ thành phố đến quận, huyện Năm học 2002 - 2003 có 874 lớp mẫu giáo thực hiện đổi mới hình thức tổ chức giáo dục trẻ GDMN Hà Nội đã triển khai thực hiện có kết quả các chuyên đề: Nâng cao chất lượng làm quen với toán,
GD dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, làm quen với vãn học và chữ viết Việc đánh giá trẻ theo yêu cầu độ tuổi được coi trọng và duy trì thường xuyên trong các trường MN Sở đã tổ chức các buổi tập huấn, các hội nghị triển khai đánh giá trên 100% số trẻ 5 tuổi đang theo học chương trình đổi mới, giúp trẻ khoẻ mạnh, hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin, chủ động, tích cực trong các hoạt động học tập, vui chơi, biết ứng xử có văn hoá với bạn bè và người xung quanh, có nền nếp, kỹ năng tốt trong các hoạt động
2.Ị 3.3 Đội ngũ cán bộ quản lý
Đội ngũ CBQL của GVMN Hà Nội không ngừng lớn mạnh cả về sô'
lượng và chất lượng trong những năm qua Họ thực sự là nòng cốt, trụ cột của
GDMN ở cơ sở, là những người đã từng trải qua công tác nhiẻu nãm, đã có bé dày kinh nghiệm trong nghề nghiệp, có trình độ sự phạm nhất định Đội ngũ CBQL của GDMN Hà Nội nhìn chung trẻ, khoẻ, có phẩm chất chính trị tốt, hầu hết là Đảng viên
Về cơ cấu: Nữ chiếm tỷ lệ 100%, đặc điểm tâm lý và giới tính của nữ có nhiều khác biệt so với nam giới Phụ nữ thường thích tỷ mỉ, chu đáo, tình cảm, hay xúc động mủi lòng, dễ cảm thổng, thiếu quyết đoán, hay cả nể đây cũng
là điều khó khăn phức tạp trong công tác quản lý trường MN Đỏi hỏi người CBQL phải khéo léo kiên nhẫn trong giải quyết các tình huống để tránh xảy ra
sự mất đoàn kết nội bộ, xây dựng tập thể nhà trường ngày một vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc nuôi dạy trẻ
Trang 35Mutin ó » _ «_H (U tt ì ỉtộo Qjutift Ịụ (ịiáũ title
Tồn thành phố Hà Nội cĩ 320 hiệu trưởng MN ở 12 quận huyện (cĩ 60
trường MN chỉ cĩ chủ trường hoặc hiệu phĩ phụ trách, chưa cĩ hiệu trưởng)
Đặc điểm các hiệu trưởng này là nữ và phải quản lý đội ngũ đa số cũng là nữ (trong trường MN chỉ cĩ một số ít nhân viên là nam giới làm bảo vệ hoặc nấu
ăn) Đĩ cũng là sự thử thách đối với cán bộ quản lý, địi hỏi người hiệu trưởng
phải rất am hiểu tâm lý phụ nữ, khơng chỉ cĩ khả năng lãnh đạo và làm viộc
lrong một tập thể nữ, mà cịn phải cĩ phương pháp và nghệ thuật giao tiếp ứng
xử phù hợp với từng người trong nhà trường, biết khéo léo giải quyết các mâu
thuẫn nội bộ sao cho "thấu tình đạt lý" Muốn vậy hiệu trưởng phải luơn cĩ
tấm lịng bao dung, vị tha, đ ể khơng bị ảnh hưởng bởi những chuyên vụn vặt
"đàn bà", phải biết lắng nghe ý kiến quần chúng đồng thời biết giữ ý kiến
riêng của mình nhưng lại khơng được độc đốn gia trưởng Biết quan tâm đến
lợi ích vật chất và tinh thần của các thành viên trong nhà trường, biết tạo dựng
một nhà trường cĩ nền nếp với "kỷ cương, tình thương, trách nhiệm", đảm bảo
dân chủ hố trường học sao cho "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"
* Đội ngũ CBQL của GDMN Hà Nội cĩ những mặt mạnh sau:
Bảng 1: Trình độ chuyên mơn của cán bộ quản lý GDMN Hà Nội
- Trình độ chuyên mơn đạt chuẩn và trên chuẩn 100% trong đĩ cĩ trình
độ cao đẳng, đại học và trên đại học 60,51%
Trang 36jLUttttt lUift eat) h o e Q tttift ftj ạ iá ỡ d u e
Bảng 2: Tuổi đời của cán bộ quản lý GDMN Hà Nội
C ấp quản lý
n i Á* a '
1 ong sô người
Tuổi đòi (tuổi)
188 28,23%
74 11,11%
Nguồn : Báo cáo thông kê - Phòng Giáo dục M N - SỞGD - ĐT Hà N ội năm 2003
- Tuổi đời trẻ, khoẻ: 57,96% có tuổi đời từ 30 - 44
- Xây dựng được “phong cách quản lý” các trường MN Hà Nội, có tri
thức về các nội dung quản lý, có kỹ năng về lãnh đạo đội ngũ sư phạm của nhà
trường, có kỹ năng nhất định trong việc thực hiện các chức năng quản lý và
thực thi một số hoạt động cụ thể
- Điểm nổi bật ở đội ngũ này là hầu hết họ có uy tín với đội ngũ cán bộ
giáo viên trong ngành, cha mẹ trẻ và chính quyền địa phương
* Bên cạnh những mặt mạnh, đội ngũ CBQL của GDMN Hà Nội còn thể hiện một số mặt hạn chế:
Bảng 3: Trình độ chuyên môn của CBQL ở các trường MN Hà Nội
Tổngsố
Nguồn : Báo cáo thống kê - Phòng Giáo dục M N - SỞGD - ĐT Hà N ội năm 2003
- Đội ngũ CBQL của GDMN ở khu vực nội thành đủ về số lượng, có trình độ chuyên môn khá cao (87,35% có trình độ cao đẳng trở lên), đội ngũ
này đã được lựa chọn sắp xếp lại, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới
Đời sống tương đối ổn định, có 100% trong biên chế Nhà nước
Trang 37- Đội ngũ CBQL của GDMN ở khu vực ngoại thành cũng đủ về số lượng song chưa mạnh vể chất lượng, trình độ chuyên môn chưa cao (70,98% trình độ trung cấp) Đời sống tương đối ổn định, có 94,35% trong biến chế.
- SỐ CBQL ở khu vực ngoại thành chưa có điều kiện để nâng cao trình
độ chuyên môn, một số còn yếu về năng lực quản lý, chưa theo kịp và chưa đáp ứng thực tiễn phát triển giáo dục nói chung và GDMN nói riêng
Để hỗ trợ CBQL của GDMN Hà Nội, trước mắt là đội ngũ hiệu trưởng
các trường MN đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có năng lực quản lý giỏi,
đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay thì đòi hỏi phải có các biện pháp
QLCTBDGV
2,ỉ 3.4 Đội ngũ giáo viên:
Đội ngũ giáo viên là lực lượng quan trọng, là nhân tố quyết định chất
lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong các trường MN Trong nhiều năm qua,
cùng với sự phát triển của GDMN Hà Nội, trải qua những giai đoạn thăng
trẩm, đội ngũ giáo viên MN Hà Nội không ngừng nâng cao về mặt chất lượng,
duy trì và ổn định về số lượng
Bảng 4: T rình độ chuyên mỏn của GVMN Hà Nội
Tổng số người
Chưa đào
Cao đẳng đại học
2240224
12,8012,8
64487557
36.9 5,131.9
752341411
43,164,333,9
12410222
7.219.2 1,8Mẫu giáo:
Nội thành
Ngoại thành
410419502154
3141313
7,60,0514,5
44346397
10,72.418.4
244712601214
59.861.9 57,6
900697203
21,935,79,4
Nguồn: Báo cáo thống kê-Phồng GD Mầm non-SỞ Giáo dục và Đào tạo Hà
Nội- 2001
- Không có sự đổng đều về trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ, năng lực sư phạm cũng như trình độ quản lý của hiệu trưởng và GV các trường
MN nội thành với hiệu trưởng và giáo viên các trường ngoại thành Sự chênh
Trang 38M ttâ tt tì tï H eaũ họe Q jttiin iụ ạ ỉá ở d u e
lệch này thổ hiện rõ nét ở số lượng trường đạt danh hiệu "trường tiên tiến suất sắc", sự phân loại các hạng trường theo thứ bậc hay kết quả các hội thi GV dạy giỏi hàng năm (những giải cao trong hội thi trường thuộc về GV nội thành) Vẫn còn GV chưa đạt chuẩn, nhất là GV dạy nhà trẻ (15,66%)
- Số GV trong biên chế chủ yếu ở nội thành:
+ Toàn thành phố có số giáo viên nhà trẻ trong biên chế Nhà nước 786/1744, đạt 45% nhưng chủ yếu ở nội thành (nội thành có 461/530 giáo viên nhà trẻ trong biên chế Nhà nước, ngoại thành chỉ có 325/1214 giáo viên nhà trẻ trong biên chế Nhà nước) Ngoại thành còn 72% giáo viên nhà trẻ chưa được vào biên chế
+ Toàn thành phố tỷ lệ giáo viên mẫu giáo trong biên chế Nhà nước là 2080/4104, đạt 50,7% Trong đó chủ yếu là ở khu vực nội thành, có 1545/1950 giáo viên mẫu giáo trong biên chế Nhà nước Ngoại thành chỉ có 535/2154 giáo viên trong biên chế, đạt 24,8% số giáo viên trong biên chế, chủ yếu là giáo viên giỏi các cấp
Do phần lớn GV ngoài biên chế nên đời sống gặp nhiều khó khăn Ngoài tiền trợ cấp của UBNDTP cho mỗi GV là 290.000đ/tháng, các cô chỉ được hỗ trợ 25% quỹ học phí để trả thêm lương Tiền học phí của khu vực nông nghiệp được thu lại rất thấp (10.000 - 15.000đ/tháng/ trẻ) Trong khi đó, giáo viên ở khu vực nội thành được hưởng lương trong biên chế Nhà nước và được hỗ trợ từ nguồn học phí của phụ huynh đóng góp (mức thu học phí từ 50.000 - 75.000đ/tháng) Do đó mức thu nhập của GVMN giữa 2 khu vực nội
và ngoại thành có sự chênh lệch lớn (nội thành trung bình 500.000đ - 800.000đ/ tháng; ngoại thành chỉ được 300.000đ - 500.000đ/ tháng)
GVMN ngoại thành ngoài biên chế và GV các trường tư thục chưa được
ký hợp đồng lao động, chưa được đóng BHXH cũng như BHYT Hiện nay Hà Nội đang có hướng giải quyết chế độ cho GVMN theo quyết định 16/2002/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 05/2003/TTLT/ BGD - BTC Liên Bộ về một số chính sách phát Iriển GDMN
Trên thực tế ở khu vực ngoại thành chỉ có lgiáo viên/llớp, do vậy giáo
viên ít có điều kiộn đi học tập, bồi dưỡng chuyên môn (vì không có người thay thế) Hàng năm giáo viên chỉ được dự bồi dưỡng trong hè với thời gian ngắn
Trang 39J ïttâ ft tutu etio Itoe
* • Q iititt Itj g iá o d ụ c
Điều kiện di tham quan, dự giờ, kiến tập ít Do đó trình độ chuyên môn ít được trau dồi, chất lượng giáng dạy hạn chế
Hơn 10 năm đổi mới, Hà Nội đã quan tâm nAng cao chất lượng đôi ngũ GVMN với biện pháp tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ Từ năm 1993 đến nay, Hà Nội đã mở 3 lớp Đại học tại chức (230 GV), hơn 40 lớp chuẩn hoá trình độ, 8 lớp cô nuôi dưỡng có bằng 3/7 Có nhiều trường Đại học, Cao đẳng đóng trên đất Hà Nội nên GVMN Hà Nội có điều kiện thuận lợi để học tập và nâng cao trình độ chuyên môn, nhanh chóng tiếp cận với những cái mới, đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng GDMN Tuy nhiên
Hà Nội vẫn phải chuẩn hoá đội ngũ để đáp ứng yôu cầu về đổi mới và tiến tới không còn giáo viên chưa đạt chuẩn
2.1.3.5 Về cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học.
Sau những nãm đổi mới, c s v c và trang thiết bị của các trường MN HàNội có những bước chuyển biến lớn, đặc biệt sau khi có NQ-TW II khoá VIII
về GD và ĐT Được sự quan tâm của lãnh đạo Thành uỷ và UBND thành phố
Hà nội, nhiều trường MN đã được xây dựng mới, cơ sở vật chất được cải tạo nâng cấp khang trang hơn, được đầu tư mua sắm trang thiết bị, đổ dùng, đồ chơi đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN
Hiện toàn thành phố có 3.522 phòng học, trong đó có 2.622 phòng xây kiên cố và 900 phòng học cấp 4 Riêng năm học 2002 - 2003 có 210 phòng học được xây mới, có 181 phòng được cải tạo sửa chữa
SỐ trường có nguồn nước sạch để đùng là 380 trường, trong đó có 2705 nhóm lớp có công trình vệ sinh đạt yêu cầu, có 325 trường có sân chơi và đổ chơi ngoài trời Có 235 trường có bếp xây đúng mẫu và hợp vệ sinh 100% số lớp có đủ đồ dùng tối thiểu cho GV và cho trẻ
Tuy nhiên vẫn còn 39 phòng học mượn nhà thờ, đình chùa, nhà dân,
250 cụm lớp MN không đủ điểu kiện, 284 cụm lớp MN ngoại thành chưa quây khu So với chuẩn còn thiếu 400 phòng học nữa mới đáp ứng yêu cẩu ở nội thành còn 69 ỉớp lẻ nằm xen ỉẫn trong khu dân cư, diện tích chật hẹp Còn 14 trường MN ở 14 xã của huyện Sóc Sơn nằm trong diện các xã có điều kiộn kinh tế - xã hội khó khăn
Trang 40Ắ U t â n I) • _• _ã ti e a & họe. Quản íụ ạẦáơ due
2.1.3.6 Về tài chính đầu tư cho Giáo dục Mầm non:
Các trường Mầm non công lập, nguồn tài chính chù yếu do ngân sáchNhà nước cấp theo định mức trên trẻ: 840.000đ/năm/ trẻ nhà trẻ, 340.000đ/năm/ trẻ mẫu giáo Kinh phí được cấp chỉ đủ chi lương và một phần những yêucẩu hoạt động chuyên môn khác Năm 2003, kinh phí đầu tư cho GDMNchiếm tỷ lệ 20% trong tổng kinh phí Thành phố cấp cho Giáo dục
Các trường Mầm non bán công thực hiện thí điểm thu chi theo văn bảnhướng dẫn của UBND Thành phố, nguồn đóng góp của dân là chủ yếu
Tổng kinh phí đầu tư trong năm học 2002 - 2003 là khoảng 45 tỉ đồng,trong đó 37 tỉ (83%) nguồn là ngân sách nhà nước, và 8 tỉ (17%) là do nhândan, cha mẹ trẻ hoặc các tổ chức từ thiện đóng góp
2.2 Thực trạng vê công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Hà Nội
2.2.1 Thực trạng về chương trình bồi dưỡng GVMN Hà nội
Hiện nay giáo dục mầm non chủ yếu thực hiện đại trà: chương trìnhchăm sóc giáo dục trẻ từ 3 - 36 tháng tuổi (chương trình nhà trẻ) và chương trình chăm sóc giáo dục trẻ 3 - 4 tuổi, 5 - 6 tuổi (chương trình mẫu giáo) Ngoài ra còn có một số chương trình khác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của giáo dục mầm non Các chương trình đó đều nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ Chương trình được áp dụng đổng loạt cho các trẻ trên cả nước, nội dung chương trình được phân chia thành các
bộ môn riêng rẽ, từng bộ môn cung cấp những kiến thức và rèn luyện những
kỹ năng theo phần của mình, phương pháp dạy và hình thức tổ chức dạy theo tiết học với đẩy đủ các bước qui định Do đó không còn phù hợp với đặc điểm của từng vùng miền, cũng như đặc điểm phát triển với nhu cầu hứng thú của lừng cá nhân trẻ
Ngoài hệ thống chương trình đào tạo còn có các chương trình bổi dưỡng (bổi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuyên để, bồi dưỡng thay sách )
2.2.1.1 Một s ố quan điểm vê bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
- Chương trình bổi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non nhằm
nâng cao chất iượng chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề, cập nhật với những kiến thức mới và hiện đại
- Đa dạng các loại chương trình BDGVMN đáp ứng với nhu cầu đa dạng của xã hội và ngành giáo dục MN