1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của người dân trên đảo cát bà, thành phố hải phòng

126 122 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 4,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

HOÀNG TRỌNG HƯNG

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐẢO CÁT BÀ,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: 8900201.01QTD

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Yêm

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện

dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Yêm, không sao chép các công trình

nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở

bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích

dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Hoàng Trọng Hưng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của rất nhiều thầy cô, cá nhân, các cơ quan và các tổ chức Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới các thầy cô, cá nhân, các cơ quan và tổ chức đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Yêm đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm, các thầy cô giáo trong Khoa Các Khoa học Liên ngành – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Đài Khí tượng Thủy văn Việt Bắc, Chi cục thống kê thành phố Hải Phòng, UBND huyện Cát Hải, UBND thị trấn Cát Bà đã cung cấp số liệu, tư liệu Tôi xin cảm ơn sự hỗ trợ tài liệu và số liệu của của đề tài cấp nhà nước mã

số KC.08.09/16-20 “Nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế xanh cho một số xã đảo tiêu biểu ven bờ Việt Nam” đang triển khai thực hiện tại xã đảo Việt Hải, Cát Bà Đặc biệt

tôi xin trân trọng cảm ơn bà con nhân dân trên đảo Cát Bà đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực tế, thu thập số liệu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè và gia đình đã chia sẻ cùng tôi những khó khăn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Hoàng Trọng Hưng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 3

1.1.1 Khái niệm về khí hậu và biến đổi khí hậu 3

1.1.2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 4

1.1.3 Khái niệm về sinh kế 5

1.2 Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế 16

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 17

1.3.1 Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới 17

1.3.2 Những nghiên cứu về biến đổi khí hậu đến sinh kế tại Việt Nam và tại đảo Cát Bà 20

1.3.3 Sinh kế bền vững và biến đổi khí hậu 23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2 Phạm vi nghiên cứu 26

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

2.4 Tiếp cận nghiên cứu 26

2.5 Phương pháp nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các nhân tố tác động đến biến đổi khí hậu và sinh kế đảo Cát Bà 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

3.2 Các dấu hiệu về biến đổi khí hậu trên khu vực đảo Cát Bà 42

3.2.1 Biến đổi và xu thế biến đổi nhiệt độ 42

3.2.2 Biến đổi và xu thế biến đổi lượng mưa 45

3.2.3 Biến đổi và xu thế biến đổi của các hiện tượng thời tiết cực đoan 48

Trang 6

3.2.4 Kịch bản biến đổi khí hậu trên khu vực đảo Cát Bà 49

3.3 Hiện trạng các hoạt động sinh kế trên đảo Cát Bà 50

3.3.1 Hoạt động dịch vụ du lịch 50

3.3.2 Hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản 54

3.3.3 Hoạt động sản xuất nông nghiệp 54

3.3.4 Mô hình sinh kế tại địa phương 57

3.4 Tác động biến đổi khí hậu đến sinh kế khu vực nghiên cứu 68

3.4.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến các thành phần tự nhiên và sinh kế người dân 69

3.4.2 Khả năng bị tổn thương của sinh kế đảo Cát Bà trước tác động của biến đổi khí hậu 84

3.5 Đánh giá năng lực thích ứng của cộng đồng dân cư đảo Cát Bà 87

3.6 Đề xuất và kiến nghị các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu đảm bảo an ninh sinh kế đảo Cát Bà 93

3.6.1 Giải pháp vĩ mô 93

3.6.2 Giải pháp cụ thể 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 106

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BĐKH : Biến đổi khí hậu

CTMTQG : Chương trình mục tiêu Quốc gia

ĐKTN : Điều kiện tự nhiên

IPCC : Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

KT-XH : Kinh tế - Xã hội

NT&ĐBTS : Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản

NTTS : Nuôi trồng thủy sản

PTBV : Phát triển bền vững

SXNN : Sản xuất nông nghiệp

TNMT : Tài nguyên môi trường

TNTN : Tài nguyên thiên nhiên

UNDP : Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc

UNEP : Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc

UNFCCC : Công ước khung Liên Hiệp quốc về biến đổi khí hậu

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các nguồn lực của sinh kế bền vững theo CARE 25Bảng 3.1 Tình hình dân số các xã, thị trấn khu vực đảo Cát Bà 37

Bảng 3.2 Cơ cấu dân số và lao động khu vực đảo Cát Bà (Đơn vị: Người) 38

Bảng 3.3 Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm ở trạm Phù Liễn và Hòn Dấu (ºC) 43Bảng 3.4 Độ lệch tiêu chuẩn của nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm tại trạm Phù Liễn và trạm Hòn Dáu (ºC) 43Bảng 3.5 Biến động của nhiệt độ trung bình năm, thời kỳ 1986 – 2015 44Bảng 3.6 Nhiệt độ trung bình năm (T N ), nhiệt độ trung bình tháng I (T I ), nhiệt độ trung bình tháng VII (T VII), trong 3 thập kỷ gần đây tại trạm Hòn Dáu (ºC) 44Bảng 3.7 Phương trình xu thế của nhiệt độ trung bình ở các trạm khí tượng 45Bảng 3.8 Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm ở trạm Hòn Dáu và trạm Phù Liễn (mm) 45Bảng 3.9 Độ lệch tiêu chuẩn trung bình tháng và năm của lượng mưa ở trạm Hòn Dáu

và trạm Phù Liễn (mm) 46Bảng 3.10 Tần suất bắt đầu, cao điểm và kết thúc mùa mưa ở trạm Hòn Dáu và trạm Phù Liễn 46Bảng 3.11 Sự biến đổi của lượng mưa trung bình năm ở trạm Hòn Dáu và trạm Phù Liễn 3 thập kỷ gần đây (mm) 47Bảng 3.12 Phương trình xu thế của lượng mưa năm khu vực trạm Hòn Dáu và Phù Liễn 47Bảng 3.13 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm) tại vùng biển Móng Cái – Hòn Dáu 50Bảng 3.14 Nguy cơ ngập tại huyện Cát Hải, Hải Phòng 50Bảng 3.15 Thay đổi về các dịch vụ du lịch tại xã Việt Hải 59Bảng 3.16 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của BĐKH đối với canh tác nông nghiệp của hộ gia đình 72Bảng 3.17 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của BĐKH đối với nuôi trồng thủy hải sản 74Bảng 3.18 Tổng hợp những lĩnh vực tự nhiên, kinh tế - xã hội chịu tác động của BĐKH tại đảo Cát Bà 78Bảng 3.19 Tóm tắt tác động chính của BĐKH và nước biển dâng tới các xã và thị trấn trên đảo Cát Bà 82Bảng 3.20 Tổng hợp ảnh hưởng của BĐKH lên sinh kế người dân tại đảo Cát Bà 85

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Khung sinh kế nông thôn bền vững của Scoones (1998) [43] 13

Hình 1.2 Khung Sinh kế bền vững của DFID (2001) [39] 14

Hình 1.3 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM (Nguồn: MARD, 2008) 15

Hình 3.1 Hình ảnh khu vực đảo Cát Bà (Nguồn Google Earth) 31

Hình 3.2 Đồ thị độ lệch của T N năm tại trạm Hòn Dáu [36] 43

Hình 3.3 Biến trình nhiều năm T N và các đường xu thế ở trạm Hòn Dáu, trạm Phù Liễn (Nguồn: Đài Khí tượng Thủy văn Việt Bắc) 45

Hình 3.4 Biến trình nhiều năm và xu thế biến đổi của lượng mưa năm tại trạm Hòn Dáu và Phù Liễn (Nguồn: Đài Khí tượng Thủy văn Việt Bắc) 47

Hình 3.5 Mực nước biển tại trạm Hòn Dáu qua các năm 1975-2007 49

Hình 3.6 Xã đảo Việt Hải, huyện đảo Cát Hải (Hải Phòng) 58

Hình 3.7 Phát triển du lịch gắn kết với bảo vệ môi trường tại xã Việt Hải 61

Hình 3.8 Mô hình nhà sàn Homestay tại xã đảo Việt Hải, nhà từ vật liệu gạch, soi đã nhưng sơn giả gỗ, mô hình nhà 02 tầng tạo không gian cho khách và chủ nhà cùng ở chung một mái nhà 62

Hình 3.9 Hồng hoa (hay hoa bụp giấm) vừa phát triển kinh tế vừa tạo cảnh quan, cải tạo diện tích hoang hóa và hoa là một loại dược liệu (10.000đ/kg) 63

Hình 3.10 Mô hình nhà lưới trồng rau hữu cơ tại xã Việt Hải 64

Hình 3.11 Mô hình chăn nuôi bò để tăng thu nhập cho các hộ dân tại xã đảo Việt Hải 65

Hình 3.12 Chuyển đổi sinh kế cho người dân đi khai thác tự nhiên làm nghề nuôi ngao hoa, tạo thu nhập ổn định và tránh hiện tượng khai thác cạn kiệt hệ sinh thái biển 66

Hình 3.13 Mô hình chuyển đổi các hộ kinh doanh tự do thành các nhà hàng sinh thái phục vụ khách du lịch, thu hút lap động nghề tự do phục vu quán 67

Hình 3.14 Tạo mô hình gói bánh chưng truyền thống của gia đình ông Khánh tại xã Việt Hải phục vụ khách du lịch 68

Hình 3.15 Tỷ lệ người dân nhận thức về các biểu hiện BĐKH (%) (Nguồn: Số liệu điều tra) 68

Hình 3.16 Tỷ lệ người dân trả lời ở mức tác động cao và rất cao (%) 71

Trang 10

Hình 3.17 Hình ảnh đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu, sơ lược các loại hình sinh

kế chủ yếu theo các đơn vị hành chính tại đảo Cát Bà (Nguồn: Google Earth) 82

Hình 3.18 Biểu đồ trình độ học vấn người dân đảo Cát Bà 89

Hình 3.19 Biểu đồ thể hiện đặc điểm nhà ở các hộ điều tra tại đảo Cát Bà 90

Hình 3.20 Mô hình trồng rau trên vườn treo 99

Trang 11

là một hiểm họa tiềm tàng đang đe dọa cuộc sống của nhân loại cũng như tất cả các loài sinh vật trên Trái Đất chứ không còn là một vấn đề của riêng một tổ chức hay một quốc gia nào IPCC đã tái khẳng định như vậy và đưa ra cảnh báo trong báo lần thứ tư Theo nhận định của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, Việt Nam là một trong năm nước đứng đầu trên thế giới dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu và thường xuyên phải gánh chịu sự tác động của thiên tai Sẽ có khoảng 22 triệu người Việt Nam bị mất nhà và 45% diện tích đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất Việt Nam sẽ ngập chìm trong nước biển khi nhiệt độ trên Trái Đất tăng thêm 2°C Nhiều đảo và quần đảo trên vùng biển Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do tác động của biến đổi khí hậu

Quần đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, là quần đảo nằm ở phía Đông thành phố Hải Phòng Trên đảo Cát Bà có khu dự trữ sinh quyển với tổng diện tích 28.500 ha gồm 06 xã và 01 thị trấn với tổng dân số (năm 2017) khoảng 21.340 người, trong đó khoảng 65% dân số tập trung ở khu vực thị trấn Cát Bà Nông - lâm nghiệp, thủy sản

và dịch vụ du lịch là những sinh kế chủ yếu của người dân trên đảo Cát Bà [7]

Do ảnh hưởng của nước biển dâng trong những năm gần đây đã làm gia tăng hiện tượng xói lở đường bờ biển, bão lụt, nhiễm mặn Điều đó đã gây ra nhiều thiệt hại và rủi ro đến đời sống kinh tế xã hội và nguồn lợi vùng ven biển thành phố Hải Phòng [34] Tại Hải Phòng, hiện tượng xói lở đã làm ảnh hưởng đến 16,1 km trên tổng số 125

km bờ biển, và sạt lở có diễn biến phức tạp tại khu vực đảo Cát Bà (xã Phù Long) và Cát Hải Các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn kéo dài, bão, v.v và tai biến thiên nhiên xảy ra phức tạp đã làm ảnh hưởng tiêu cực tới các hoạt động sản xuất và sinh kế của cộng đồng địa phương và nguồn lợi ven biển Trước nguy cơ tác động của biến đổi khí hậu, đảo Cát Bà là nơi có tính nhạy cảm cao, dễ bị tổn thương nhất trên các vùng biển thuộc thành phố Hải Phòng Đặc biệt, cộng đồng dân cư sinh sống trên

Trang 12

đảo Cát Bà chủ yếu sống nhờ vào nguồn lợi từ biển, với các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và phát triển dịch vụ du lịch Sinh kế của người dân sẽ bị đe dọa nghiêm trọng do tác động của biến đổi khí hậu [33]

Với những lý do nêu trên, đề tài “Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của người dân trên đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng” có tính thời sự

và cấp thiết Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học giúp lãnh đạo địa phương xây dựng các chương trình thích ứng và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu, góp phần giúp cộng đồng dân cư trên đảo Cát Bà đảm bảo sinh kế bền vững

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hiện trạng và tác động của BĐKH đến sinh kế người dân tại đảo Cát Bà từ đó đề xuất các giải pháp góp phần bảo vệ sinh kế, ứng phó với tác động của BĐKH

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu hiện trạng của BĐKH tại đảo Cát Bà

- Đánh giá tác động của BĐKH đến sinh kế của người dân trên đảo Cát Bà, trong

đó tập trung nghiên cứu các loại hình sinh kế chính trên đảo là: du lịch, nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và sản xuất nông nghiệp

- Đề xuất giải pháp giúp cộng đồng dân cư trên đảo Cát Bà ổn định sinh kế, nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH

4 Ý nghĩa của đề tài

- Về mặt khoa học: Đề tài làm rõ cơ sở khoa học của tác động của BĐKH đến

đời sống, sinh kế của người dân đảo Cát Bà

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp chính quyền huyện đảo Cát Bà trong việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội trong bối cảnh BĐKH nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

5 Cấu trúc luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm về khí hậu và biến đổi khí hậu

1.1.1.1 Định nghĩa về biến đổi khí hậu

Theo IPCC (2007) [47], BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của

nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi

từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu [2, 28] Theo Liên Hợp Quốc, BĐKH được quy trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động của con người làm thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, làm tăng hiệu ứng nhà kính gây ra BĐKH Trái Đất

Theo Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam, Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất

1.1.1.2 Các khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu

- Nước biển dâng là sự dâng cao mực nước đại dương trên toàn cầu, trong đó

không bao gồm thủy triều, nước biển dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào

đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt

độ của đại dương và các yếu tố khác [4]

- Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm

nhẹ các tác hại do BĐKH

- Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc xã hội đối với

hoàn cảnh hay môi tường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và khai thác các cơ hội do nó mang lại

- Làm giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ tác

động của khí hậu, thiên tai do BĐKH

- Đánh giá tổn thương do BĐKH là nghiên cứu xác định các cộng đồng hoặc hoạt

động kinh tế - xã hội có nguy cơ bị ảnh hưởng nhiều nhất hoặc có khả năng thích ứng kém nhất với tác động của BĐKH Kết quả đánh giá tổn thương có thể là các bản đồ

Trang 14

tổn thương chỉ ra các vùng sinh thái và dân cư có khả năng bị tổn thương cao khi tác động do BĐKH xảy ra

1.1.2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

1.1.2.1 BĐKH do yếu tố tự nhiên

- Thay đổi của các tham số quỹ đạo Trái Đất: do Trái Đất tự quay xung quanh

trục của nó và quanh Mặt Trời, theo thời gian, một vài biến thiên theo chu kì đã diễn

ra Các thay đổi về chuyển động của Trái Đất gồm: sự thay đổi của độ lệch tâm có chu

kì dao động khoảng 96.000 năm; độ nghiêng trục có chu kỳ dao động khoảng 41.000 năm Những biến đổi chu kỳ năm của các tham số này làm thay đổi lượng bức xạ Mặt Trời cung cấp cho hệ thống khí hậu và do đó làm thay đổi khí hậu Trái Đất [28]

- Biến đổi trong phân bố lục địa - biển đổi của bề mặt Trái Đất: Bề mặt Trái Đất

có thể bị biến dạng qua các thời kì địa chất do sự trôi dạt của các lục địa, các quá trình vận động kiến tạo, phun trào núi lửa… Sự biến dạng này làm thay đổi phân bố lục địa - đại dương, hình thái bề mặt Trái Đất, dẫn đến sự thay đổi phân bố bức xạ Mặt Trời trong cân bằng bức xạ, cân bằng nhiệt của mặt đất và trong hoàn lưu chung khí quyển, đại dương Ngoài ra, các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu, dòng hải lưu vận chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh Thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào khí quyển

- Sự biến đổi về phát xạ của Mặt Trời và hấp thụ bức xạ của Trái Đất: sự phát xạ

của Mặt Trời đã có những thời kì yếu đi gây ra băng hà và có những thời kì hoạt động mãnh liệt gây ra khí hậu khô và nóng trên bề mặt Trái Đất Ngoài ra, sự xuất hiện các vết đen Mặt Trời làm cho cường độ tia bức xạ Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất thay đổi, năng lượng chiếu xuống mặt đất làm thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái Đất

- Hoạt động của núi lửa: Khí và tro núi lửa có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong

nhiều năm Bên cạnh đó, các sol khí do núi lửa phản chiếu bức xạ Mặt Trời trở lại vào không gian, và vì vậy làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt Trái Đất

Có thể thấy rằng nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên là biến đổi từ

từ, có chu kỳ rất dài, vì thế, nếu có chỉ đóng góp rất nhỏ vào BĐKH trong giai đoạn hiện nay

1.1.2.2 Biến đổi khí hậu do tác động của con người

- Hiệu ứng nhà kính:

Hiệu ứng nhà kính được định nghĩa là hiệu quả giữ nhiệt ở tầng thấp của khí quyển nhờ sự hấp thụ và phát xạ trở lại bức xạ sóng dài từ mặt đất bởi mây và các khí như hơi nước, cácbon điôxit, nitơ ôxit, mê tan và chlorofluorocarbon, làm giảm lượng

Trang 15

nhiệt thoát ra không trung từ hệ thống Trái Đất, giữ nhiệt một cách tự nhiên, duy trì nhiệt độ Trái Đất cao hơn khoảng 30oC so với không khí có các chất khí đó [49] Các khí nhà kính trong bầu khí quyển gồm các khí nhà kính tự nhiên và các khí phát thải do các hoạt động của con người Trước hết, các khí nhà kính không hấp thụ bức xạ sóng ngắn của Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất, nhưng hấp thụ bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh

đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ Mặt Trời chiếu tới mặt đất

- Hoạt động của con người và sự nóng lên toàn cầu

BĐKH trong giai đoạn hiện tại là do các hoạt động của con người làm phát thải quá mức các khí nhà kính vào bầu khí quyển Những hoạt động của con người đã tác động lớn đến hệ thống khí hậu, đặc biệt kể từ thời kì tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750) Theo IPCC, sự gia tăng khí nhà kính kể từ năm 1950 chủ yếu có nguồn gốc từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã phát thải vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính, dẫn đến làm gia tăng nhiệt độ của Trái Đất

1.1.3 Khái niệm về sinh kế

1.1.3.1 Quan niệm về sinh kế

Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm

80 (sau đó được phát triển bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990) Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện [4, 11]

Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên [40]

Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà

họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó

Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ [47]

Trang 16

Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau Chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ [17] Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau:

- Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn

- Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ

- Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng v.v

Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ [4, 10, 11]

- Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin v.v

- Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con người có được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng

Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng

Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; các cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin, v.v

Trang 17

An ninh sinh kế: Khi hoạt động sinh kế thích ứng, hoặc tránh được các tác động tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương, đồng thời đảm bảo duy trì, phát triển được các nguồn lực trong cả hiện tại và tương lai thì được coi là an ninh sinh kế [17]

1.1.3.2 Sinh kế bền vững

Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi các cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người và tính bền vững hơn là mục tiêu tăng trưởng kinh tế Được khởi nguồn từ

tư tưởng phát triển bền vững trong Báo cáo Bruntland (1987) và Báo cáo phát triển con người (1990), khái niệm sinh kế bền vững sau đó đã được các nhà nghiên cứu và

các tổ chức phi chính phủ quốc tế phát triển và áp dụng vào các dự án phát triển quốc

tế về xóa đói giảm nghèo Cách tiếp cận này cũng ngày càng nhận được sự đồng thuận của các nhà hoạch định chính sách bởi cách tiếp cận hướng vào con người với mong

muốn tạo ra một kỷ nguyên mới của các hoạt động phát triển [48]

Sinh kế bền vững về cơ bản được dựa trên nền tảng của khái niệm phát triển bền vững Rất nhiều bộ phận cấu thành trong sinh kế bền vững đều dựa trên tư tưởng của Báo cáo Bruntland và Báo cáo phát triển con người, đó là: tập trung vào người nghèo

và nhu cầu của họ; tầm quan trọng của sự tham gia của người dân; nhấn mạnh vào tính

tự lực và tính bền vững; và những giới hạn về sinh thái [48]

Xuất phát từ tư tưởng chung về phát triển bền vững, trong báo cáo Bruntland,

WCED (1987) cũng đưa ra khái niệm về an ninh sinh kế bền vững (sustainable livelihood security) Sinh kế (livelihood) được hiểu là có các nguồn dự trữ về lương thực và tiền bạc để đáp ứng các nhu cầu cơ bản An ninh (security) được hiểu là được

sở hữu hoặc được tiếp cận các nguồn lực và hoạt động tạo thu nhập để bù đắp rủi ro, làm giảm các đột biến cũng như ứng phó kịp thời với những bất thường xảy ra Bền

vững (sustainable) đề cập đến khả năng duy trì hoặc tăng cường năng suất trong dài

hạn Do đó, một hộ gia đình có thể đạt được an ninh sinh kế bền vững bằng nhiều cách: sở hữu đất đai, cây trồng và vật nuôi; có quyền được chăn thả, đánh bắt, săn bắn hoặc hái lượm; có công việc ổn định với mức thu thập đủ trang trải các nhu cầu của cuộc sống,… Theo WCED, sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép và được coi

là phương tiện để đạt được 2 mục tiêu: công bằng và bền vững

Tuy nhiên, khái niệm về sinh kế thường xuyên được sử dụng và trích dẫn trong các nghiên cứu sau này đều dựa trên ý tưởng về sinh kế của Chambers và Conway

(1992), trong đó, sinh kế, theo cách hiểu đơn giản nhất, là phương tiện để kiếm sống

Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway về sinh kế là: “sinh kế bao gồm

Trang 18

khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” Một sinh kế là bền vững “khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh

kế khác ở cả cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn” [40] Sinh kế

có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, thôn, vùng… nhưng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình theo quan điểm của Chambers và Conway, sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép của 3 yếu tố cơ bản là: khả năng, công bằng và bền vững

Dựa trên khái niệm về sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998), định nghĩa sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các

nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả năng và

nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên” [46]

Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái

niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế

“bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người” [42] Khái niệm này về cơ bản hoàn toàn giống với khái niệm về sinh kế

của Chambers và Conway (1992) và Scoones (1998)

Chambers và Conway (1992) đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 2 phương

diện: bền vững về môi trường (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc bảo tồn hoặc tăng cường các nguồn lực tự nhiên, đặc biệt cho các thế hệ tương lai) và bền vững về xã hội (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc giải quyết những căng

thẳng và đột biến và duy trì nó trong dài hạn) Sau này, Scoones (1998), Ashley, C và Car-ney, D (1999), DFID (2001) và Solesbury (2003) đã phát triển tính bền vững của

sinh kế trên cả phương diện kinh tế, thể chế và đi đến thống nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế

- Một sinh kế được coi là bền vững về kinh tế khi nó đạt được và duy trì một mức

phúc lợi kinh tế cơ bản và mức phúc lợi kinh tế này có thể khác nhau giữa các khu vực

- Tính bền vững về xã hội của sinh kế đạt được khi sự phân biệt xã hội được giảm

thiểu và công bằng xã hội được tối đa

Trang 19

- Tính bền vững về môi trường đề cập đến việc duy trì hoặc tăng cường năng suất

của các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng vì lợi ích của các thế hệ tương lai

- Một sinh kế có tính bền vững về thể chế khi các cấu trúc hoặc qui trình hiện

hành có khả năng thực hiện chức năng của chúng một cách liên tục và ổn định theo thời gian để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động sinh kế

Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau

và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện

1.1.3.3 Khung sinh kế bền vững

Về cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5

nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến lược sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) các qui trình về thể chế và chính sách, và (v) bối cảnh bên ngoài [42]

Khung phân tích sinh kế bền của DFID bao gồm các bộ phận sau:

a Bối cảnh dễ tổn thương

Bối cảnh dễ tổn thương đề cập tới phạm vi người dân bị ảnh hưởng và lâm vào các cú sốc, xu hướng gồm cả các xu hướng kinh tế - xã hội, môi trường và sự dao động Một đặc điểm quan trọng trong khả năng tổn thương là con người không thể dễ dàng kiểm soát những yếu tố trước mắt hoặc dài lâu Khả năng tổn thương hay sự bấp bênh trong sinh kế do các yếu tố này là một thực tế xảy ra thường xuyên cho rất nhiều

hộ nghèo và các hộ có hoàn cảnh khó khăn khác Đó là do họ không có khả năng tiếp cận với những nguồn lực có thể giúp họ tự bảo vệ trước các tác động xấu

b Các loại vốn sinh kế

* Vốn con người

Vốn con người là tổng hợp các kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khỏe Tất cả tập hợp này tao thành những điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau để đạt được mục tiêu sinh kế của họ Ở mức độ hộ gia đình vốn con người chính là số lượng và chất lượng lao động sẵn có Vốn con người thay đổi tùy theo quy mô hộ, trình độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe [42] Vốn con người của hộ nông dân được thể hiện qua các chỉ tiêu như:

- Số lượng và cơ cấu nhân khẩu của một hộ/gia đình (tỷ lệ giữa người trong độ tuổi lao động và người không thuộc diện lao động, giới tính);

Kiến thức của các thành viên trong gia đình (trình độ học vấn và chuyên môn, kinh nghiệm, sản xuất );

Trang 20

Sức khoẻ tâm lý và sinh lý của các thành viên trong gia đình, đời sống tâm linh

và tình cảm của họ;

Khả năng lãnh đạo và các kỹ năng trong sản xuất;

Quỹ thời gian của các cá nhân trong hô ̣và khả năng sử dụng thời gian môṭ cách hiệu quả

- Hình thức phân công lao động cho cả người lớn và trẻ em

Vốn con người đóng vai trò quan trọng trong viêc sử dụng các loại vốn khác để đạt được các kết quả sinh kế tốt hơn cho các hô ̣gia đình

* Vốn xã hội

Có một số quan điểm khác nhau về vốn xã hội và vai trò của nó:

Vốn xã hội là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ

thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng [42]

Vốn xã hội có liên quan tới các tổ chức, các mối quan hệ, và các chuẩn mực đã định hình chất lượng và số lượng của các tương tác trong một xã hội Ngày càng có thêm nhiều bằng chứng cho thấy sự gắn kết xã hội là rất quan trọng để phát triển sinh

kế bền vững Vốn xã hội không chỉ là tổng số những thể chế làm cơ sở cho sự vững chắc xã hội mà còn là chất kết dính họ lại với nhau [56]

Vốn xã hội là tất cả những mối tiếp cận và kết nối chủ động giữa những cá nhân: lòng tin, sự hiểu biết lẫn nhau và cùng chia sẻ những giá trị, hành vi gắn kết con người, những thành viên trong các mạng lưới cá nhân và những cộng đồng và có thể diễn ra những hành động cùng hợp tác [43]

Như vậy vốn xã hội là toàn bộ những niềm tin xã hội, sự hiểu biết lẫn nhau, các chuẩn mực và những mạng lưới xã hội mà hô ̣gia đình có thể sử dụng để giải quyết và hoàn thành các chiến lược sinh kế nhắm đạt được mục tiêu sinh kế mà hộ đã đề ra Vốn xã hội của hộ nông dân thể hiện qua các chỉ tiêu:

Các mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họ hàng, láng giềng, hội đồng niên (được lập nên

do có chung mối quan hệ hoặc cùng sở thích);

Các cơ chế hợp tác trong sản xuất và trên thị trường (ví dụ các hợp tác xã và các hiệp hội);

Những luật lệ, quy ước của thôn, bản về các hành vi ứng xử, sự trao đổi và quan

hệ qua lại trong cộng đồng;

Các sự kiện, lễ hội và niềm tin xuất phát từ truyền thống, tôn giáo;

Trang 21

Những cơ hội để tiếp cận thông tin như các cuộc họp thôn, câu lạc bộ khuyến nông, câu lạc bộ phụ nữ;

Những cơ hội tham gia và tạo ảnh hưởng đến các công việc của địa phương như tham gia vào các tổ chức đoàn thể và chính quyền xã;

Những cơ chế hoà giải mâu thuẫn của địa phương

* Vốn tự nhiên

Vốn tự nhiên thể hiện nguồn vốn tài nguyên thiên nhiên hữu ích cho sinh kế bao gồm các nguồn lực và dich vu ̣ (ví du ̣như chu kỳ dinh dưỡng, bảo vê ̣xói mòn) Có một sự khác biệt lớn trong các nguồn tạo nên vốn tự nhiên, từ hàng hóa công cộng vô hình như không khí cho tới sự đa dạng sinh học hay đối với tài sản đươc chia để sử dụng trực tiếp cho sản xuất như cây trồng, đất đai [42] Như vâỵ, vốn tự nhiên là tất

cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế

Vốn tự nhiên của hộ nông dân được thể hiện qua các chỉ tiêu:

Các nguồn tài sản chung (các khu đất bảo tồn của xã, các khu rừng cộng đồng, khu cảnh quan sinh thái, sông, hồ, );

Các loại đất của hộ gia đình (đất ở, đất trồng cây theo mùa vụ, đất lâm nghiệp, đất vườn của hộ, );

Nguồn cung cấp thức ăn và nguyên liệu từ tự nhiên và do con người sản xuất ra;

Đa dạng sinh học (các nguồn gen thực vật và động vật từ nuôi, trồng của hộ và từ rừng tự nhiên);

Các khu vực chăn thả và các nguồn cây thức ăn gia súc cho sản xuất chăn nuôi; Các nguồn nước và việc cung cấp nước cho sinh hoạt hàng ngày, thuỷ lợi, nuôi trồng thuỷ sản

Các yếu tố khí hậu và những may rủi về thời tiết

Giá trị cảnh quan cho việc quản lý các nguồn tài nguyên và giải trí

Vốn tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế của những người thu môt phần hay tất cả từ các hoat đông khai thác tài nguyên cơ bản (trồng trot, đánh bắt cá, thu thập trong rừng, khai thác khoáng sản ) Tuy nhiên, tầm quan trọng của vốn tự nhiên còn lớn hơn nhiều vì không ai có thể sống sót mà không cần tới các nhu cầu thiết yếu từ môi trường và thực phẩm được sản xuất từ nguồn vốn tự nhiên Sức khỏe (vốn con người) ngày càng bi ̣ ảnh hưởng với những nơi bi ̣ô nhiễm không khí do các hoạt động hoặc do các thảm họa tự nhiên (ví dụ như cháy rừng) Cho dù hiểu biết về mối liên hệ giữa các loại vốn hạn chế thì mọi người đều biết sức khỏe và sự hạnh phúc của mọi

Trang 22

người phu ̣thuộc vào các hoạt động liên tục của các hệ sinh thái phức tạp nhưng điều này thường bị coi nhẹ cho đến khi tác động có hại của nó thể hiện rõ ràng

động tín dụng

Dòng tiền theo định kỳ: Cộng thêm với nguồn thu nhập thường xuyên, các dòng tiền theo định kỳ thường là lương hưu hoặc những chế độ khác của nhà nước và tiền

thân nhân gửi về

Vốn tài chính của hộ nông dân được thể hiện qua các chỉ tiêu:

Thu nhập tiền mặt thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau như bán sản phẩm, việc làm và tiền của thân nhân gửi về

Khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính về tín dụng và tiết kiệm từ các nguồn chính thức (ví dụ ngân hàng) và các nguồn phí chính thức (ví dụ chủ nợ, họ hàng ) Tiết kiệm (bằng tiền mặt, gửi ngân hàng hay các dự án tiết kiệm) và những dạng tích luỹ khác như gia súc, vàng, đất đai, công cụ sản xuất

Khả năng tiếp cận thị trường và các hệ thống tiếp thị sản phẩm của hộ gia đình qua các loại hình và địa điểm khác nhau

Các hoạt động tạo thu nhập phụ như thu lượm lâm sản ngoài gỗ

Những chi trả từ phúc lợi xã hội (như lương hưu, một số miễn trừ chi phí) và một

Trang 23

- Nguồn lực tự nhiên: Bao gồm các nguồn tài nguyên có trong môi trường tự

nhiên mà con người có thể sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế, ví dụ như đất đai, rừng, tài nguyên biển, nước, không khí, đa dạng sinh học,…

- Nguồn lực vật chất: Bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản hỗ trợ cho các hoạt

động sinh kế, ví dụ như: đường giao thông, nhà ở, cấp nước, thoát nước, năng lượng (điện), thông tin,…

- Nguồn lực tài chính: Bao gồm các nguồn vốn khác nhau mà con người sử dụng

để đạt được các mục tiêu sinh kế, bao gồm các khoản tiền tiết kiệm, tiền mặt, trang sức, các khoản vay, các khoản thu nhập,…

- Nguồn lực con người: Bao gồm các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, khả năng

lao động, sức khỏe, trình độ giáo dục mà những yếu tố này giúp con người thực hiện các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các kết quả sinh kế khác nhau Ở cấp hộ gia đình, nguồn lực con người là yếu tố quyết định số lượng và chất lượng lao động và

nó thay đổi tùy theo qui mô hộ gia đình, trình độ kỹ năng, sức khỏe,…

- Nguồn lực xã hội: Bao gồm các mối quan hệ giữa con người với con người

trong xã hội mà con người dựa vào để thực hiện các hoạt động sinh kế, chủ yếu bao gồm các mạng lưới xã hội (các tổ chức chính trị hoặc dân sự), thành viên của các tổ chức cộng đồng, sự tiếp cận thị trường,…

d Một số khung sinh kế bền vững tiêu biểu

Khung sinh kế nông thôn bền vững (Sustainable Rural Livelihoods Framework)

Hình 1.1 Khung sinh kế nông thôn bền vững của Scoones (1998) [46]

Trang 24

Scoones (1998) [46] là người đầu tiên đưa ra khung phân tích về sinh kế nông thôn bền vững Câu hỏi then chốt được đặt ra trong khung phân tích này là: trong một bối cảnh cụ thể (về môi trường chính sách, chính trị, lịch sử, sinh thái và các điều kiện kinh tế - xã hội), sự kết hợp nguồn lực sinh kế nào (5 loại nguồn lực khác nhau) sẽ tạo

ra khả năng thực hiện các chiến lược sinh kế (sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế và di dân) nhằm đạt được các kết quả sinh kế nhất định Mối quan tâm chính trong khung phân tích này là các qui trình thể chế và chính sách - được coi là nhân tố trung gian giúp thực hiện những chiến lược sinh kế này và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn

Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework)

Hình 1.2 Khung Sinh kế bền vững của DFID (2001) [42]

Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững để xác định và thiết kế các hoạt động hỗ trợ của mình Theo khung này, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu

tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời vụ Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này

Trang 25

Khung sinh kế bền vững vùng ven biển (Sustainable Coastal Livelihood Framework)

Hình 1.3 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM [16]

Trên cơ sở các khung sinh kế bền vững nêu trên, năm 2004, IMM đã sửa đổi lại

để áp dụng cho các cộng đồng ven biển, được gọi là “Khung sinh kế bền vững vùng ven biển” [16] Trong khung phân tích này, sinh kế của các hộ gia đình ven biển chịu tác động của 3 nhóm yếu tố Các yếu tố thuộc nhóm thứ nhất bao gồm các nguồn lực sinh kế (5 loại nguồn lực) mà hộ gia đình sử dụng để thực hiện các chiến lược sinh kế thuộc nhóm thứ hai là các yếu tố về đặc điểm cá nhân (như tuổi tác, giới tính, tôn giáo ) và các yếu tố xã hội (như cơ cấu chính trị, chính sách, luật pháp…) bao quanh cộng đồng ven biển và có ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng ven biển Nhóm thứ ba bao gồm các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp như tính mùa vụ, thiên tai, xu hướng bên ngoài… Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của cộng đồng ven biển dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa 3 nhóm yếu tố cơ bản này Như vậy, ý tưởng chung của các khung sinh kế bền vững nêu trên là: các hộ gia đình, dựa vào các nguồn lực sinh kế hiện có (bao gồm nguồn lực con người, tự nhiên, tài chính, vật chất, và xã hội) trong bối cảnh thể chế và chính sách nhất định ở địa phương, sẽ thực hiện các chiến lược sinh kế (như sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế, di dân ) nhằm đạt được các kết quả

Trang 26

sinh kế bền vững (như tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, giảm rủi ro và khả năng bị tổn thương, cải thiện an ninh lương thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên ) dưới sự tác động của bối cảnh bên ngoài (các cú sốc, các khuynh hướng và tính mùa vụ) Cụ thể hơn, việc phân tích khung sinh kế bền vững sẽ giúp trả lời câu hỏi: nguồn lực sinh kế nào, chiến lược sinh kế nào, thể chế - chính sách nào là quan trọng để đạt được sinh kế bền vững cho các nhóm đối tượng khác nhau

1.2 Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế

Biến đổi khí hậu và các tác động tiềm tàng của nó đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm trên phạm vi toàn cầu Các nghiên cứu khoa học ngày càng đưa ra nhiều bằng chứng về các tác động của BĐKH đối với con người Biến đổi khí hậu có những tác động tiềm tàng đến các lĩnh vực, khu vực và các cộng đồng khác nhau Biến

đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến 3 lĩnh vực: (i) kinh tế (bao gồm các ngành nông

nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp và xây

dựng, du lịch), (ii) xã hội (sức khỏe con người), và (iii) môi trường (bao gồm tài

nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, hệ sinh thái và đa dạng sinh học, chất lượng không khí) Các khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH là các đảo nhỏ, các vùng châu thổ của các con sông lớn, dải ven biển và vùng núi Mặc dù BĐKH ảnh hưởng đến mọi đối tượng tại tất cả các quốc gia nhưng người nghèo là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH [3] Những tác động trên cho thấy BĐKH là vấn đề phát triển quan trọng hiện nay Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các quốc gia và mọi nỗ lực phát triển của con người đều đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi BĐKH

Tác động của biến đổi khí hậu theo ngành

Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống trên phạm vi toàn thế giới Khi trái đất nóng dần lên, lượng mưa sẽ thay đổi và các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, lũ lụt và cháy rừng cũng trở nên thường xuyên hơn Nước biển dâng sẽ gây ngập lụt và nhiễm mặn nguồn nước Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu trên các lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, năng lượng, nguồn nước, lương thực, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, và thương mại

Do phụ thuộc trực tiếp vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm với BĐKH, nông nghiệp sẽ là ngành dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH Sự gia tăng nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ làm cho các khu vực thích hợp với sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, độ dài của mùa sinh trưởng bị rút ngắn, từ đó

Trang 27

năng suất nông nghiệp có thể bị giảm sút trên toàn thế giới, đặc biệt tại các vùng nhiệt đới, ngay cả khi có những thay đổi trong tập quán canh tác Sự suy giảm năng suất nông nghiệp sẽ đe dọa vấn đề an ninh lương thực toàn cầu Ước tính rằng, mỗi năm có thể có hơn 3 triệu người bị chết vì suy dinh dưỡng, khoảng 100 đến 400 triệu người có nguy cơ bị đói và khoảng 1,5 đến 2 tỷ người sẽ không có đủ nước dùng cho nhu cầu

sinh hoạt [56]

Bên cạnh nông nghiệp, các ngành/lĩnh vực khác cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi tác động của BĐKH Hạn hán gia tăng tại một số khu vực trong khi một số nơi khác có thể bị ngập lụt sẽ gây ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước Đối với ngành thuỷ sản, các khu vực đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản đều bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của khí hậu, dẫn đến sự thay đổi về giống loài, trữ lượng và năng suất của nguồn lợi thuỷ sản Các ngành kinh tế then chốt ở vùng ven biển như du lịch và công nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng làm phá huỷ các tài sản du lịch và công nghiệp Nước biển dâng có nguy cơ làm phá vỡ các công trình xây dựng dân dụng, các công trình giao thông, và các khu dân cư Nhìn chung, các ảnh hưởng của BĐKH có thể dẫn tới những khủng hoảng về sinh thái (suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên), kinh tế (thiệt hại về tài sản, mất các sinh kế) và xã hội (tạo ra những dòng người di cư khỏi các vùng bị ảnh hưởng gây ra sự xáo trộn về trật tự xã hội) Những ảnh hưởng từ BĐKH sẽ

de doạ đến sự phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

1.3.1 Các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới

Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi các cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990 theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người và tính bền vững hơn là mục tiêu tăng trưởng kinh tế Được khởi nguồn từ

tư tưởng phát triển bền vững trong Báo cáo Bruntland (1987) [48] và Báo cáo Phát triển Con người (1990), khái niệm sinh kế bền vững sau đó đã được các nhà nghiên

cứu và các tổ chức phi chính phủ quốc tế phát triển và áp dụng vào các dự án phát triển quốc tế về xóa đói giảm nghèo Cách tiếp cận này cũng ngày càng nhận được sự đồng thuận của các nhà hoạch định chính sách bởi cách tiếp cận hướng vào con người với

mong muốn tạo ra một kỷ nguyên mới của các hoạt động phát triển (Solesbury, 2003)

Trang 28

năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” Một sinh kế là bền vững “khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh

kế khác ở cả cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn” (Chambers

và Conway, 1992, tr.6) Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như

cá nhân, hộ gia đình, thôn, vùng… nhưng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình

Dựa trên khái niệm về sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998) [43] định nghĩa sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các

nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực

hiện tại mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên” (Scoones, 1998, tr.5)

[43]

Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) [39] đưa ra khái niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, theo đó, sinh kế

“bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho

con người” (DFID, 2001, tr.5) Khái niệm này về cơ bản hoàn toàn giống với khái niệm về sinh kế của Chambers và Conway (1992) và Scoones (1998) [43]

Chambers và Conway (1992) đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 2 phương

diện: bền vững về môi trường (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc bảo tồn hoặc tăng cường các nguồn lực tự nhiên, đặc biệt cho các thế hệ tương lai) và bền vững về xã hội (đề cập đến khả năng của sinh kế trong việc giải quyết những căng

thẳng và đột biến và duy trì nó trong dài hạn) Sau này, Scoones (1998), Ashley, C và Carney, D (1999), DFID (2001) và Solesbury (2003) đã phát triển tính bền vững của

sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế và đi đến thống nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế

Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như nhau

và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện Cùng trên quan điểm đó, một sinh kế là bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài; (iii) duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác

Trang 29

Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) để xác định và thiết kế các

hoạt động hỗ trợ của mình Theo khung này, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời vụ Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này

Trên cơ sở khung sinh kế bền vững nêu trên, năm 2004, IMM đã sửa đổi lại để

áp dụng cho các cộng đồng ven biển, được gọi là “Khung sinh kế bền vững vùng ven

biển” (MARD, 2008) Trong khung phân tích này, sinh kế của các hộ gia đình ven biển

chịu tác động của 3 nhóm yếu tố Các yếu tố thuộc nhóm thứ nhất bao gồm các nguồn lực sinh kế (5 loại nguồn lực) mà hộ gia đình sử dụng để thực hiện các chiến lược sinh

kế Thuộc nhóm thứ hai là các yếu tố về đặc điểm cá nhân (như tuổi tác, giới tính, tôn giáo ) và các yếu tố xã hội (như cơ cấu chính trị, chính sách, luật pháp…) bao quanh cộng đồng ven biển và có ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng ven biển Nhóm thứ ba bao gồm các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp như tính mùa vụ, thiên tai, xu hướng bên ngoài… Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của cộng đồng ven biển dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa 3 nhóm yếu tố cơ bản này

Công trình nghiên cứu: Livelihood resilience in the face of climate change

(Tanner T et al., 2014) đã tổng quan và phân tích khá hệ thống về sinh kế, biến đổi khí hậu và khả năng phục hồi của sinh kế trước các tác động của biến đổi khí hậu Nghiên cứu chỉ ra rằng, để ứng phó hiệu quả cần thiết phải có các biện pháp sinh kế hợp lý với từng lãnh thổ, từng cộng đồng khác nhau, nhất là các giải pháp tập trung vào nhu cầu của con người và trao quyền cho các nhóm yếu thế; qua đó sẽ đem lại nhiều lợi ích phát triển bền vững trong ngắn hạn và dài hạn

Kết quả nghiên cứu của công trình: Livelihoods and climate change - Combining disaster risk reduction, natural resource management and climate change adaptation

in a new approach to the reduction of vulnerability and poverty khẳng định: mục tiêu

trọng tâm của các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu là giảm thiểu tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và duy trì, củng cố sinh kế của con người, đặc biệt là người nghèo và nhóm yếu thế thông qua cải thiện các nguồn lực tự nhiên bởi nguồn lực này

là phương tiện sản xuất sẵn có hình thành nên sinh kế cho từng cá nhân và cộng đồng

Trang 30

Do đó, duy trì, cải thiện nguồn lực tự nhiên sẽ là cơ sở để đảm bảo được mức độ bền vững và an ninh sinh kế

Công trình Households’ perception and livelihood vulnerability to climate change in a coastal area of Akwa Ibom state, cho rằng: biến đổi khí hậu đã làm gia

tăng tính dễ bị tổn thương của dân cư nông thôn ven biển nên cần thiết phải có những giải pháp, chiến lược sinh kế bền vững trên cơ sở kết hợp giữa kinh nghiệm bản địa với các kiến thức, công nghệ mới nhằm thích ứng hiệu quả nhất trước các tác động bất lợi của khí hậu và thiên tai; đồng thời, phù hợp với kiến thức, khả năng tiếp thu của người dân địa phương

Công trình: Impacts of climate change on disadvantaged UK coastal communities của Zsamboky M Et al., 2011 đã khẳng định: Trong bối cảnh biến đổi

khí hậu, ven biển là khu vực dễ bị tổn thương hơn các khu vực nằm sâu trong lục địa bởi bên cạnh các tác động về nhiệt độ và lượng mưa, vùng ven biển còn chịu ảnh hưởng của mực nước biển và độ cao sóng gây ra sự xói mòn, suy thoái đất… Biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến sinh kế ven biển đặc biệt là các hoạt động kinh tế khai thác thủy hải sản và du lịch thông qua việc giảm số lượng ngày ra khơi đánh bắt hải sản, hư hỏng cơ sở vật chất,… dẫn tới suy giảm nguồn thu nhập cá nhân và ảnh hưởng đến nền kinh tế địa phương

1.3.2 Những nghiên cứu về biến đổi khí hậu đến sinh kế tại Việt Nam và tại đảo Cát Bà

Tại Việt Nam, cùng với các hoạt động được đầu tư cho nghiên cứu về BĐKH, nhiều hoạt động nghiên cứu về sinh kế và sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu Năm 2010, MONRE và UNDP đã xuất bản tài liệu về “Xây dựng khả năng phục hồi: Chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động BĐKH ở miền Trung Việt Nam” Tài liệu này đã cho thấy mối quan hệ sinh kế vùng ven biển và khả năng thích ứng trước tác động của biến đổi khí hậu mà nghiên cứu điển hình được thực hiện tại hai tỉnh Hà Tĩnh và Thừa Thiên Huế trong khuôn khổ dự án “Đói nghèo

và Môi trường” [5] Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, UNDP đã sử dụng khung sinh kế bền vững trong bối cảnh BĐKH để phân tích khả năng thích ứng của sinh kế ven biển Trong báo cáo này, các tác động của BĐKH đã được phân tích cụ thể đồng thời các chính sách, thể chế cũng đã được nhắc đến trong vai trò thúc đẩy khả năng thích ứng của cộng đồng làm sinh kế ven biển Kết quả của báo cáo là đưa ra các khuyến nghị và một chiến lược thích ứng cho sinh kế vùng ven biển miền trung Tuy nhiên, các kết quả về năng lực thích ứng còn mang tính định tính và tính dễ bị tổn

Trang 31

thương mới chỉ bước đầu được mô tả

Ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các tổ chức và các nhà khoa học nhằm cải thiện và nâng cao giá trị của các loại hình, mô hình sinh kế cho các cộng đồng dân cư theo các hướng tiếp cận khác nhau Các công trình nghiên cứu về mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH ở một số địa phương như: Phú Thọ, Hưng Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Bắc Kạn, do các cơ quan nhà nước (Bộ TN&MT, 2016 và các cơ quan khác như Bộ NN&PTNT, Trung tâm Khuyến nông quốc gia, Viện Kinh tế nông nghiệp, ), và các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước (CARE, 2014; World Vision, 2015; WWF; MCD; SRD, CRD, Viện Dragon, ) tài trợ

Bên cạnh các nghiên cứu sinh kế sinh thái nói chung cho các vùng lãnh thổ khác nhau, trong những năm gần đây, đã có những công trình nghiên cứu về sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu được thực hiện Kết quả nghiên cứu từ các công trình này, đã giúp cho các nhà quản lý, người dân có cái nhìn toàn diện về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các nguồn vốn hình thành sinh kế cũng như các mô hình, giải pháp ứng phó hợp lý nhất với bối cảnh, nguồn lực sẵn có của địa phương và người dân (Trung tâm Phát triển nông thôn, 2014; Trần Thọ Đạt, Nguyễn Thị Hoài Thu, 2012; Cục Khí tượng thuỷ văn và Biến đổi khí hậu, 2015) Ngoài ra, một số công trình trên

cơ sở nghiên cứu tổng quan tác động và các biện pháp thích ứng đã đề xuất các chỉ tiêu đánh giá mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu và tiêu chí thích ứng với biến đổi khí hậu để lựa chọn loại hình sinh kế phù hợp với lãnh thổ và nguồn lực của mỗi

cá nhân, hộ gia đình (Cục Khí tượng thuỷ văn và Biến đổi khí hậu, 2015)

Vũ Thị Hoài Thu trong nghiên cứu: Sinh kế bền vững vùng ven biển đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Nam Định

(2011) đã tiếp cận nghiên cứu theo hướng gắn kết khung sinh kế bền vững với yếu tố BĐKH để phân tích khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của BĐKH và chỉ ra cơ chế tác động Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trong bối cảnh BĐKH,

do bị tổn thương trước tác động của BĐKH nên sinh kế không chỉ cần bền vững mà còn phải thích ứng để giảm thiểu những thiệt hại do BĐKH gây ra

Đề tài “Luận cứ khoa học cho việc lựa chọn và hoàn thiện các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng ở miền Trung và đề xuất nhân rộng” của

Lê Văn Thăng (2015) đã đánh giá khả năng thích ứng với BĐKH và hiệu quả kinh tế -

Trang 32

xã hội - môi trường của các mô hình dựa vào cộng đồng ở miền Trung Từ đó đã lựa chọn và hoàn thiện một số mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ở miền Trung và đề xuất các phương án, giải pháp nhân rộng các mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ở miền Trung

Nghiên cứu: Vulnerability and adaptation of coastal livelihoods to the impacts of climate change: A case study in coastal districts of Nam Dinh, Vietnam (Trần Thọ Đạt

và cộng sự, 2014) khẳng định: Vùng ven biển là một trong những nơi dễ bị tổn thương nhất do tác động của biến đổi khí hậu Do đó, tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng của những cộng đồng dân cư ven biển với biến đổi khí hậu là một trong những thách thức quan trọng nhất Người dân đã tự nỗ lực kết hợp với sự trợ giúp của các tổ chức trong và ngoài nước điều chỉnh các hoạt động sinh kế phù hợp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là tiếp cận với các tài sản sinh kế Nghiên cứu cũng khuyến nghị để giúp các hộ gia đình thích nghi tốt hơn với những tác động của biến đổi khí hậu, Chính phủ cần hỗ trợ các hộ gia đình cải thiện tài sản sinh kế của họ, tăng cường các thể chế và chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu ở các cấp quốc gia và địa phương

Hoàng Thị Ngọc Hà và Trương Quang Học có nghiên cứu “Nghiên cứu và triển khai phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại thành phố Hải Phòng” cho

thấy, chú trọng vào sinh kế thích ứng với các hiện tượng thời tiết, thiên tai cực đoan là điều quan trọng Cũng theo Trương Quang Học và nnk (Bộ TN và MT, 2016) thì sinh

kế thích ứng với biến đối khí hậu là hệ thống sinh kế có khả năng chống chịu với tác động của biến đổi khí hậu, có khả năng phục hồi sau tác động, nhất là đối với các hiện tượng thời tiết bất thường, cực đoan, đảm bảo và duy trì năng suất Đồng thời, sinh kế này cũng có thể đóng góp cho giảm phát thải khí nhà kính

Năm 2011, Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và Môi trường đã xuất bản tài liệu hướng dẫn “Đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng” Các công cụ sử dụng trong đánh giá tác động BĐKH đã được giới thiệu trong cuốn tài liệu này Đồng thời các giải pháp thích ứng đặc biệt là thích ứng dựa vào cộng đồng đã được tập trung phân tích [37]

Năm 2012, Diễn đàn phát triển Việt Nam đã xuất bản cuốn sách Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển [10] Cuốn sách đã tổng hợp mối quan hệ giữa sinh kế ven biển và tác động của BĐKH đồng thời khả năng dễ bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động BĐKH cũng đã được làm rõ Ngoài ra, các tổ chức khác như Oxfam và hội chữ thập đỏ

Trang 33

cũng là những tổ chức tiến hành nhiều các đánh giá về tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng sử dụng trong bối cảnh giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng

Như vậy, về mặt phương pháp luận và thực tiễn, đánh giá tác động của BĐKH đối với sinh kế người dân đã được tổng hợp và bước đầu được thực hiện Tuy nhiên, các đánh giá thực địa được thực hiện chưa nhiều và chưa toàn vẹn cả quy trình Tác giả đã thực hiện theo một quy trình đầy đủ đối với một đánh giá tác động của BĐKH đến sinh kế người dân tại các xã, thị trấn thuộc đảo Cát Bà

1.3.3 Sinh kế bền vững và biến đổi khí hậu

Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã được áp dụng một cách rộng rãi để phân tích sinh kế trên nhiều lĩnh vực, bao gồm nông nghiệp và thủy sản và các sinh kế nông thôn nói chung Khung sinh kế bền vững được sử dụng như một công cụ để phân tích các nguồn lực sinh kế được sử dụng, các chiến lược sinh kế được thực hiện từ việc sử dụng các nguồn lực sinh kế đó và các kết quả sinh kế đạt được từ việc thực hiện các chiến lược sinh kế, từ đó đề xuất các sinh kế bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường ở cấp

hộ gia đình và cộng đồng Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các kết quả sinh kế đạt được có thể là tiêu cực Do đó, khung sinh kế bền vững cũng có thể được sử dụng để phân tích các mối quan hệ có thể dẫn đến các chiến lược và kết quả sinh kế không bền vững và đó cũng chính là điểm khởi đầu cho việc hỗ trợ sinh kế Trên thế giới, từ đầu những năm 1990, các tổ chức tài trợ quốc tế như CARE International, DANIDA, Oxfam, DFID, UNDP… đã áp dụng khung sinh kế bền vững để thiết kế các dự án và chương trình xóa đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên ở vùng nông thôn và ven biển ở châu Á và châu Phi theo cách tiếp cận hướng vào người nghèo và có sự tham gia Cũng

có một số nghiên cứu áp dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững để phân tích các cơ hội

và thách thức về sinh kế của người dân ở khu vực nông thôn và ven biển, từ đó đề xuất những hình thức hỗ trợ sinh kế phù hợp nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững

Theo Chambers và Conway (1992) [40], các sinh kế bền vững là các sinh kế có

thể đối phó và phục hồi từ các cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản trong khi không làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên Khi xem xét các tác động hiện tại và tương lai của BĐKH, có thể nhận thấy rằng, BĐKH là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả năng bị tổn thương của sinh kế Các ảnh hưởng của BĐKH (ví

dụ như mực nước biển dâng và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt) lên các nguồn lực

tự nhiên (như đất, nước, thủy sản) và các nguồn lực vật chất (như đường sá, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện) là rất đáng kể Trong bối cảnh BĐKH ngày càng trở nên phức tạp cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vào việc

Trang 34

các sinh kế này có bền vững trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường hay không mà còn dựa vào việc các sinh kế này có thể giảm nhẹ BĐKH hoặc thích ứng với BĐKH hay không [12,17] Chính vì vậy, gắn kết khung sinh kế bền vững với yếu tố BĐKH sẽ giúp xây dựng các sinh kế bền vững và thích ứng trong bối cảnh BĐKH Đây là một nhu cầu cấp bách hiện nay trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi bất thường và gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sinh kế của người dân, đặc biệt là người dân ven biển

Trên thế giới, mặc dù sinh kế bền vững đã được nghiên cứu từ khá lâu nhưng nghiên cứu về mối quan hệ, đặc biệt là tính dễ bị tổn thương do BĐKH đối với sinh kế vẫn còn ở mức hạn chế W Neil Adger, Trung tâm nghiên cứu Kinh tế - xã hội về môi trường Toàn cầu - đại học East Anglia Vương quốc Anh, là một trong các nhà khoa học nghiên cứu sâu về tính dễ bị tổn thương do BĐKH Năm 1999, ông đăng tải nghiên cứu về tính dễ bi tổn thương về mặt xã hội do BĐKH, bước đầu tài liệu này đã đưa ra cách tiếp cận tính dễ bị tổn thương về xã hội vào trong đánh giá BĐKH và có khả năng áp dụng trên quy mô toàn cầu [42] Cũng trong năm này, W Neil Adger đã công bố bài viết về tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội do BĐKH trong hoàn cảnh của Việt Nam Trong bài viết này, ông đã chỉ ra được nguyên nhân và sự gia tăng tính dễ

bị tổn thương do BĐKH tại vùng phía Bắc Việt Nam đối với một số các tổ chức ngành kinh tế trong hiện trạng BĐKH [4] Bài viết đã đưa ra được phương pháp luận về tính

dễ bị tổn thương về mặt xã hội Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc xem xét các mối đe dọa và tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội do BĐKH ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế mà chưa đánh giá một cách toàn diện về sinh kế người dân theo khung sinh kế bền vững

CARE là tổ chức đã hướng đến sử dụng đánh giá tính dễ bị tổn thương và năng lực trong bối cảnh BĐKH, năm 2007, CARE xây dựng khung đánh giá sử dụng trong

an ninh sinh kế hộ Trong khung đánh giá này, CARE tiếp cận theo hướng thích ứng BĐKH nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương Tính dễ bị tổn thương được hiểu ở đây

là mức độ của một hệ thống dễ bị ảnh hưởng hoặc không có khả năng đối phó trước tác động tiêu cực của BĐKH, bao gồm các hiện tượng thời tiết cực đoan và thay đổi khí hậu Tính dễ bị tổn thương có thể là một hệ thống với đặc điểm, cường độ, và tốc độ của các hiện tượng thời tiết thay đổi mà hệ thống đang phải gánh chịu, tính nhạy cảm và khả

năng thích ứng của nó Khả năng thích ứng (adaptive capacity): Là khả năng điều chỉnh

của hệ thống có thể thích ứng với BĐKH (bao gồm các hiện tượng thời tiết thay đổi và cực đoan) để điều chỉnh hạn chế các rủi ro tiềm năng, và tận dụng cơ hội, hoặc thích ứng

Trang 35

với các tác động hậu quả do BĐKH Khả năng thích ứng được CARE sử dụng theo tiếp cận 05 nguồn lực của sinh kế bền vững [4]

Bảng 1.1 Các nguồn lực của sinh kế bền vững theo CARE

Nguồn lực con người Hiểu biết về các rủi ro do BĐKH, kỹ thuật

Nguồn lực xã hội Vấn đề về giới, các tổ nhóm cộng đồng

Nguồn lực tự nhiên Nguồn nước, đất, tài nguyên thiên nhiên

Nguồn lực vật chất Cơ sở hạ tầng, phương tiện, con giống

Nguôn lực tài chính Tín dụng nhỏ, đa dạng nguồn thu

(Nguồn: CARE, Sổ tay phân tính năng lực và tính dễ bị tổn thương do khí hậu, 2009) Trong đánh giá của CARE, họ đã chỉ ra rằng các hiểm họa/thảm họa (hazard) là

một hiện tượng nguy hiểm, một sự việc, hoạt động của con người hoặc điều kiện có thể dẫn đến chết người, bị thương hoặc tác động khác đến sức khỏe, phá hủy tài sản, mất mát sinh kế và dịch vụ, kinh tế xã hội bị phá vỡ và môi trường tàn phá

Như vậy, CARE đã chỉ ra phương pháp phân tích tính dễ bị tổn thương và năng lực trong bối cảnh BĐKH Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng phương pháp này còn nhiều vấn đề cần tiếp tục bàn luận Triển khai đánh giá cần phải sử dụng nhiều loại công cụ khác nhau trong thu thập và phân tích thông tin đặc biệt là dẫn liệu mang tính

dự báo tác động về BĐKH và các số liệu mang tính định lượng về sinh kế thì cuốn sổ tay này chưa đề cập

Năm 2009, Edward H Alisson và các cộng sự [44] đã đưa ra tính dễ bị tổn thương của kinh tế nhà nước do tác động của BĐKH trong ngành thuỷ sản Tài liệu này

đã so sánh tính dễ bị tổn thương của các nền kinh tế trước tác động tiềm tàng của BĐKH trên ngành khai thác thuỷ sản của họ Ông đã phân tích tính dễ bị tổn thương dựa trên

phân tích tác động tiềm tàng (Potental Impacts) của BĐKH bao gồm mức độ tác động (Exposure), tính nhạy cảm (Sensitivity) và năng lực thích ứng (Adaptive Capacity) Tuy

nhiên, trong báo cáo này Alisson và cộng sự chỉ mới sử dụng khung đánh giá tập trung vào ngành thuỷ sản mà chưa sử dụng trong đánh giá sinh kế nói chung

Trang 36

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biến đổi khí hậu, sinh kế và tác động của BĐKH đến sinh kế của cộng đồng dân cư sinh sống trên đảo Cát Bà

2.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi không gian: Nghiên cứu giới hạn trong không gian đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, TP Hải Phòng Trong quá trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng, tác động của BĐKH và sinh kế người dân có xem xét đến mối quan hệ với không gian lãnh thổ lân cận

* Phạm vi thời gian:

- Số liệu nghiên cứu về sinh kế người dân tại đảo Cát Bà được thu thập chủ yếu trong 10 năm (2007-2017);

- Số liệu nghiên cứu về BĐKH được thu thập trong 30 năm, một số dữ liệu được

sử dụng từ khu vực của TP Hải Phòng và vùng phụ cận;

- Thời gian thu thập và điều tra dữ liệu từ tháng 1/2018 đến tháng 4/2018

2.3 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung vào 5 nội dung nghiên cứu sau:

1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội đảo Cát Bà

2 Biểu hiện của BĐKH tại khu vực đảo Cát Bà

3 Sinh kế của người dân trên đảo Cát Bà

4 Tác động của BĐKH đến sinh kế của người dân trên đảo Cát Bà

5 Giải pháp thích ứng với BĐKH cho các ngành, lĩnh vực liên quan đến sinh kế

2.4 Tiếp cận nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm hệ thống

Theo Lv Bertalanffy (1956): Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự

tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó Các yếu tố của một hệ thống thường tham gia vào nhiều hệ thống khác, điều này đòi hỏi mỗi một thành tố phải thực hiện tốt vai trò của mỗi hệ thống mà nó đóng vai Việc tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu không hoàn toàn đồng nghĩa với phương pháp phân tích hệ thống, vì ngoài phân phương pháp, tiếp cận hệ thống còn đề cập đến vấn đề lý thuyết hệ thống cũng như những ứng dụng lý thuyết này để nghiên cứu

Trang 37

Quan điểm hệ thống được sử dụng trong nghiên cứu thể tổng hợp tự nhiên, các dạng tài nguyên, các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan tác động đến sinh kế đảo Cát Bà Nghiên cứu tác động của BĐKH đến sinh kế đảo Cát Bà, tác giả đã vận dụng quan điểm hệ thống để xem xét mối quan hệ tương hỗ mật thiết của các điều kiện tự nhiên tác động đến các dạng sinh kế, và bản thân các dạng sinh kế cũng có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau

2.4.2 Quan điểm tổng hợp

Quan điểm tổng hợp nói lên tính toán hoàn chỉnh trong nghiên cứu Dù cho tác động của con người mang tính chủ quan theo tư duy của trí tuệ, nhưng do con người cũng là một sinh vật tồn tại và phát triển theo quy luật tạo hóa của tự nhiên – xã hội, nên cuối cùng con người buộc nhận ra rằng mình phải hòa nhập vào thiên nhiên đúng quy luật phát triển khách quan của chính vùng thiên nhiên đó, tức là phải chấp nhận Thời của thiên, Lợi của địa để có thể Nhân hòa

Tất cả hợp phần trong bất kỳ lãnh thổ nào cũng không đứng độc lập, tách rời nhau, mà giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau Trong nghiên cứu này, quan điểm tổng hợp được vận dụng để nghiên cứu toàn diện ĐKTN, TNTN, điều kiện KT-

XH, sinh kế người dân, BĐKH và mối quan hệ giữa các thành phần này Sự phát triển của mỗi loại hình sinh kế đều chịu ảnh hưởng của ĐKTN của BĐKH

2.4.3 Quan điểm lịch sử

Nói lên những kinh nghiệm, những sự việc xảy ra trong quá khứ như: tình trạng, mức độ, các khó khăn và thuận lợi, các thiệt hại, cách ứng phó Bên cạnh đó nếu có cách tiếp cận và suy luận lô-gic, có thể tìm ra được những quy luật tác động chung của các hiện tượng tự nhiên và xã hội đến đời sống Trong trường hợp này là những hiện tượng khí hậu và thời tiết ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng

Quan điểm lịch sử nhằm có được cái nhìn tổng quát về lịch sử tác động của BĐKH đến cộng đồng dân cư đảo Cát Bà Các cơn bão, lũ lụt, rét đậm rét hại hoặc các thiệt hại do các hiện tượng thời tiết cực đoan được thống kế trong nhiều năm

2.4.4 Quan điểm phát triển bền vững

Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng hầu hết đều công nhận phát triển bền vững (PTBV) là sự phát triển hài hòa giữa các mục tiêu tăng trưởng kinh tế với các mục tiêu xã hội và bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, PTBV còn bao hàm cả khía cạnh phát triển trong sự quản lý tốt các xung đột môi trường Với ý đó, trong hoàn cảnh BĐKH hiện nay mọi hoạt động phát triển và nghiên cứu đều phải xem xét đến khí cạnh PTBV Trong quá trình phát triển KT - XH, quan điểm phát triển bền vững của

Trang 38

đảo Cát Bà nói riêng và TP Hải Phòng nói chung, hướng tới mục tiêu: đảm bảo và phát triển sinh kế

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu thống kê

Đây là phương pháp chủ đạo nhằm tổng quan tài liệu và tổng hợp dữ liệu nghiên cứu Các dữ liệu thống kê liên quan đến các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện khí hậu, diễn biến của các yếu tố thời tiết, khí hậu tại đảo Cát Bà sẽ được thu thập và tiến hành xử lý

Đó là các tài liệu thu thập được từ các cơ quan cấp tỉnh, huyện, xã như: kế hoạch thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH TP Hải Phòng; Nghị quyết và Đề án xây dựng nông thôn mới đảo Cát Bà, Quy hoạch sử dụng đất đảo Cát

Bà đến năm 2020, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2015,

2016, 2017

2.5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Các phương pháp nghiên cứu thực địa nhằm lựa chọn các khu vực nghiên cứu điển hình, mang tính đại diện và thu thập bổ sung các số liệu, tài liệu thực tế tại khu vực nghiên cứu điển hình đó

Địa điểm nghiên cứu là các xã trên đảo Cát Bà – TP Hải Phòng được lựa chọn dựa trên tham khảo ý kiến đề xuất của các cán bộ quản lý cấp huyện, xã

2.5.3 Phương pháp chuyên gia

Nghiên cứu tác động của BĐKH đến sinh kế hoàn toàn có thể dựa vào ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu có liên quan Sau khi điều tra khảo sát thực địa, kết hợp sử dụng thêm phương pháp chuyên gia để huy động được kinh nghiệm và hiểu biết của nhóm chuyên gia liên ngành và lấy ý kiến của những người dân địa phương, từ đó lựa chọn được khu vực nghiên cứu điển hình mang tính chất đại diện

Phương pháp chuyên gia còn được sử dụng để phân tích và đánh giá độ tin cậy của những thông tin thu thập được từ các hộ gia đình Vì kiến thức của thành viên các

hộ gia đình được phỏng vấn còn hạn chế, dẫn đến nhận thức và quan niệm chưa đúng,

do đó chuyên gia cần kiểm chứng và sàng lọc lại thông tin để kết quả đánh giá được chính xác

Trang 39

2.5.4 Các phương pháp nghiên cứu có sự tham gia (PRA) của nông thôn

PRA (Participatory Resrarch Approach) thực chất là một tập hợp nhiều công cụ

khác nhau để hỗ trợ làm việc thân thiện Tuy có nhiều công cụ khác nhau nhưng trong

đề tài chỉ áp dụng một số công cụ sau:

- Dòng lịch sử: nhằm có được một cái nhìn tổng quát về lịch sử tác động của các hiện tượng thời tiết/khí hậu cực đoan đến cộng đồng thông qua các câu chuyện kể về lịch sử của những người cao tuổi và cư dân lâu năm Với các thông tin (câu hỏi) được đặt ra là các sự kiện thời tiết/khí hậu đã diễn ra trên địa bàn trong lịch sử cùng với tác động của chúng lên sinh kế và sức khỏe của người dân

- Xếp loại ưu tiên: là một công cụ giúp cộng đồng lập ưu tiên một số các lựa chọn

đã có được theo một tập hợp các tiêu chuẩn đã được xác lập hoặc các ưu tiên cá biệt Việc xếp loại ưu tiên thường được sử dụng sau khi xác định một lĩnh vực đáng quan tâm hoặc một tập hợp các lựa chọn thông qua một vài quá trình khác, ví dụ: phỏng vấn, khả năng ảnh hưởng Công cụ này được sử dụng để xếp loại ưu tiên các thành phần sinh kế dưới tác động của BĐKH và nước biển dâng Việc xếp loại được tiến hành thông qua việc phỏng vấn nhận định người dân cũng như nhận định của chúng tôi

về vấn đề

- Phương pháp phỏng vấn hộ gia đình và phỏng vấn sâu:

Sau khi xác định được chính xác khu vực nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn hộ gia đình bằng phiếu câu hỏi điều tra soạn sẵn (xem Phụ lục) được sử dụng để thu thập thông tin cơ bản về hộ gia đình, thông tin liên quan đến các hoạt động sinh kế của hộ gia đình, nguồn vốn sinh kế, tính tổn thương của các nguồn vốn này, những hỗ trợ của chính quyền địa phương và các giải pháp ứng phó với BĐKH cũng như việc áp dụng các kiến thức bản địa của người dân khi gặp phải những khó khăn liên quan đến BĐKH

Sau khi phỏng vấn hộ gia đình, tiếp tục thực hiện một cuộc phỏng vấn sâu để nhằm tìm hiểu một cách rõ hơn về các hoạt động sinh kế, kinh nghiệm và nhận thức của người dân địa phương trong việc ứng phó với những tác động của BĐKH

Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng một số công cụ trong bộ PRA như sau:

Hồ sơ hiểm hoạ: Ghi lại các diễn tiến lịch sử về rủi ro, thảm họa hoặc sự thay đổi

về tài nguyên, kinh tế, xã hội của cộng đồng

Bảng phân tích tai biến/hiểm hoạ: nhằm liệt kê, mô tả các hiện tượng tai biến môi trường tự nhiên đã xảy ra tại khu vực nghiên cứu

Các hộ được lựa chọn điều tra là những hộ mang tính đại diện cho từng loại hình sản xuất, chịu ảnh hưởng của các loại hình thiên tai, và phải bao gồm các hộ khá giàu,

Trang 40

nghèo và trung bình theo hướng dẫn của cán bộ địa phương Tổng số hộ gia đình được điều tra là 210 hộ Trong đó có lựa chọn 70 hộ có kinh tế dựa vào SXNN là chủ yếu,

70 hộ có kinh tế dựa vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản và 70 hộ tham gia vào ngành

du lịch

Tác giả đã thu thập thông tin về tác động của BĐKH đến sinh kế của người dân thông qua 50 cán bộ địa phương Trong đó có 7 chủ tịch/ phó chủ tịch, 7 cán bộ nông nghiệp, 7 cán bộ môi trường, 7 chủ tịch Hội nông dân và 22 trưởng xóm chia đều trên

7 xã và thị trấn Quá trình điều tra chủ yếu dựa trên phương pháp phỏng vấn Bước đầu quá trình phỏng vấn cho thấy 62% cán bộ nhận định lĩnh vực công tác của họ liên quan mật thiết hoặc khá nhiều đến BĐKH và 81% cán bộ phỏng vấn cho rằng BĐKH có tác động đến sinh kế của người dân đảo Cát Bà

Tác giả còn tiến hành trao đổi thông tin với cán bộ biên phòng thuộc VQG về các thông tin BĐKH và BĐKH tác động tới sinh kế người dân

2.5.5 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này là sau khi tiến hành thu thập, tổng hợp phiếu điều tra và phỏng vấn, ta cần tiến hành công việc thống kê số liệu và các bảng hỏi liên quan

Dựa vào tần suất xuất hiện của các đáp án trong phiếu điều tra Đánh giá kết quả thu thập tính phần trăm của từng câu hỏi để kết luận công tác đánh giá

Số liệu được xử lý qua phần mềm excel để tiến hành vẽ biểu đồ

Ngày đăng: 16/02/2020, 17:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm