Bên cạnh những thành công mà các TĐKTNN đạt được, có không ít tiêu cực, làm dấy lên hoài nghi về vai trò thực tế của nó, không chỉ về hiệu quả kinh tế mà cả hoạt động xung quanh nó như:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN MINH ĐẠO
MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Minh Đạo
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
6
1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của mô hình tập đoàn kinh tế
nhà nước
44
3.1 Tổng quan về mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 55
Trang 43.2.2 Quan hệ giữa công ty mẹ - công ty con và các mối liên kết trong
tập đoàn kinh tế nhà nước
62
3.2.3 Mô hình cơ cấu tổ chức của tập đoàn kinh tế nhà nước 64 3.2.4 Quản lý giám sát của Nhà nước đối với tập đoàn kinh tế nhà nước 69 3.2.5 Kiểm soát nội bộ trong tập đoàn kinh tế nhà nước 72 3.2.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của tập đoàn kinh tế nhà nước 72 3.3 Đánh giá chung về mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước tại
Việt Nam
102
3.3.2 Những hạn chế của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước 104
Chương 4: ĐỀ XUẤT VÀ LỰA CHỌN MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH
TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI
4.2 Lựa chọn mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước và các khuyến
nghị nhằm áp dụng hiệu quả mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước
trong bối cảnh mới
113
4.2.1 Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước sau khi chuyển về Ủy ban
quản lý vốn
113
4.2.2 Các khuyến nghị nhằm áp dụng hiệu quả mô hình tập đoàn kinh
tế nhà nước trong bối cảnh mới
119
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN
142
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa
1 DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Số hiệu
6 3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí
quốc gia Việt Nam
76
7 3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Dệt may
Việt Nam
77
8 3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Công
nghiệp Than - Khoảng sản Việt Nam
78
9 3.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Điện lực
Việt Nam
79
10 3.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Xăng
dầu Việt Nam
79
11 3.7 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Bưu
chính viễn thông Việt Nam
80
12 3.8 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Công
nghiệp cao su Việt Nam
80
13 3.9 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Công
nghiệp tàu thủy Việt Nam
81
14 3.10 Tỷ suất lợi nhuận của khối DNNN 100% thuộc tập
đoàn giai đoạn 2012-2016
87
Trang 73 1.3 Mô hình TĐKT có Công ty mẹ trực tiếp đầu tư, kiểm
soát một số công ty thành viên không thuộc cấp dưới trực tiếp
31
10 3.1 Mô hình tổ chức của TĐKTNN tại Việt Nam 65
11 4.1 Các cấp bậc quản lý các TĐKTNN ở Việt Nam 115
12 4.2 Các cấp bậc quản lý các TĐKTNN ở Việt Nam khi
chuyển về Ủy ban quản lý vốn nhà nước
116
13 4.3 Mô hình TĐKTNN ở Việt Nam khi chuyển về Ủy
ban quản lý vốn nhà nước
118
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành nhiều công cuộc "đổi mới" Đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế nói chung, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nói riêng là một trong những nội dung cơ bản có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp đổi mới nền kinh tế nước ta Trong đó, cùng với việc đổi mới cơ chế là việc tìm tòi, tổ chức các hình thức tổ chức kinh doanh của các DNNN là một nhiệm vụ rất quan trọng Để đảm bảo cho DNNN không ngừng phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ một vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm lực lượng nòng cốt, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế
Xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam đặt ra yêu cầu cần phát huy và sử dụng hiệu quả tiềm năng của các thành phần kinh tế, đồng thời với việc đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý theo chiều sâu, nâng cao chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Theo hướng này đối với thành phần kinh tế nhà nước thực tế qua hơn 20 năm qua ở Việt Nam cho thấy cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách, tiến hành đổi mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh của DNNN, thực hiện đúng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) khẳng định cần: "xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh, đa
sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối, cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước để doanh nghiệp nhà nước thực sự trở thành nòng cốt của kinh tế nhà nước"
Trong quá trình quản lý, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chỉ thị, nghị quyết, quyết định, nhiều chính sách pháp luật và thực hiện nhiều biện pháp tổ chức, sắp xếp, đổi mới hệ thống DNNN, nhằm đổi mới cơ chế quản lý để DNNN tự chủ,
tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các
Trang 9thành phần kinh tế khác theo pháp luật, thực sự là đầu tàu, hạt nhân dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác phát triển Vì vậy, mô hình tập đoàn kinh
tế (TĐKT) đã ra đời và hoạt động (Mô hình này có tác dụng thúc đẩy tích tụ và tập trung tư bản, nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời, cấp hành chính chủ quản, thực hiện chủ trương xóa bỏ dần chế độ bộ chủ quản, sự phân biệt doanh nghiệp trung ương với doanh nghiệp địa phương, tăng cường vai trò quản lý nhà nước (QLNN) đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nâng cao hiệu quả nền kinh tế)
Thực trạng các tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) chủ yếu là mô hình chuyển đổi từ các tổng công ty 90 và 91 sang mô hình tập đoàn, chuyển đổi từ mô hình Nhà nước bao cấp sang cơ chế thị trường với kỳ vọng làm nòng cốt kinh tế cho các DNNN Hoạt động của các TĐKTNN ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, mô hình này đã đạt được những kết quả nhất định, là một trong những công cụ điều tiết
vĩ mô của Nhà nước Về cơ bản, các TĐKT đã nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế, khẳng định vai trò trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước, quy mô vốn liên tục tăng
Bên cạnh những thành công mà các TĐKTNN đạt được, có không ít tiêu cực, làm dấy lên hoài nghi về vai trò thực tế của nó, không chỉ về hiệu quả kinh tế
mà cả hoạt động xung quanh nó như: (i) chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư; (ii) đầu tư vốn không đúng mục đích; (iii) công tác giám sát, kiểm soát nội
bộ còn yếu dẫn đến không ngăn chặn, giảm thiểu tổn thất trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh; (iv) vai trò và cơ chế của hoạt động của kiểm soát viên trong TĐKTNN bị tê liệt không hiệu quả; (v) Cơ cấu tổ chức, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; (vi) Cơ chế quản lý của chủ sở hữu nhà nước và nhân sự đại diện chủ sở hữu nhà nước chưa rõ ràng; (vii) Trách nhiệm của người đại diện vốn chủ sở hữu chưa rõ, chưa gắn liền với hiệu quả hoạt động của tập đoàn; (viii) Chưa tách bạch trách nhiệm và còn sự mâu thuẫn giữa QLNN và cơ quan chủ quản dẫn đến chồng chéo và không đánh giá đúng trách nhiệm, không có cơ chế quản lý tình trạng đầu tư tràn lan, kém hiệu quả của TĐKTNN
Cùng với sự chỉ đạo của Chính phủ về việc thành lập Ủy ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, theo đó 21 TĐKT và tổng công ty nhà nước sẽ chuyển
Trang 10về chịu sự quản lý của Ủy ban quản lý vốn Bảy TĐKTNN bao gồm: Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp than khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam Theo đó, để đánh giá hoạt động của các TĐKTNN, bộ tiêu chí đánh giá
về tổng tài sản, tổng vốn chủ sở hữu, mức bảo toàn vốn, mức sinh lời, đóng góp với ngân sách nhà nước, các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động, kiểm soát rủi ro về tài chính, quản trị như: tài chính, kinh doanh, đầu tư, lao động, nhân sự, tiền lương, quản trị doanh nghiệp được áp dụng để đánh giá
Trước bối cảnh đổi mới như vậy, việc nghiên cứu thực trạng mô hình TĐKTNN ở Việt Nam - Thực trạng và định hướng phát triển là rất cần thiết Luận
án tập trung vào đánh giá thực trạng mô hình TĐKTNN, đo lường hiệu quả hoạt động, chỉ ra các vấn đề tồn tại và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất mô hình TĐKTNN và các kiến nghị về chính sách để nâng cao hoạt động của mô hình TĐKTNN ở Việt Nam
Luận án tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Thực trạng hoạt động của TĐKTNN ở Việt Nam hiện nay?
- Những tồn tại và nguyên nhân của mô hình TĐKTNN hiện nay là gì?
- Trong bối cảnh mới, mô hình TĐKTNN nào ở Việt Nam là phù hợp?
- Giải pháp nào để mô hình TĐKTNN hoạt động có hiệu quả?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng hoạt động của mô hình các TĐKTNN trong thời gian vừa qua, từ đó rút ra các tồn tại và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất được mô hình TĐKTNN ở Việt Nam trong bối cảnh mới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, luận giải cơ sở lý luận về mô hình TĐKTNN ở Việt Nam
- Phân tích thực trạng hoạt động của mô hình TĐKTNN thời gian từ cuối năm 2010 cho đến 5/2018
Trang 11- Phân tích và làm rõ nguyên nhân những tồn tại của mô hình TĐKTNN ở Việt Nam
- Đề xuất mô hình TĐKTNN ở Việt Nam và các kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của TĐKTNN trong bối cảnh mới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luâ ̣n án là: Thực trạng và định hướng phát triển
của mô hình TĐKTNN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận án chọn thời điểm từ cuối năm 2010 cho đến 5/2018 Đây
là khoảng thời gian Chính phủ Việt Nam tiến hành đánh giá các hoạt động của các TĐKTNN để tái cơ cấu và chuyển đổi các tập đoàn về Ủy ban quản lý vốn nhà nước
- Về không gian: Luận án tập trung đánh giá thực trạng hoạt động của mô
hình TĐKTNN theo phạm vi và địa bàn hoạt động ở cả trong và ngoài nước
- Về nội dung: Trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, thực trạng mô
hình TĐKTNN ở Việt Nam cũng được xem xét và đánh giá theo bẩy nhóm: (i) cấu trúc
sở hữu vốn; (ii) cơ chế liên kết; (iii) cơ cấu tổ chức trong nội bộ; (iv) quản lý và kiểm soát Tập đoàn, (v) kiểm soát nội bộ; (vi) quan hệ trong nội bộ TĐKTNN (vii) kết quả sản xuất kinh doanh của TĐKTNN Luận án chỉ xem xét thực trạng mô hình TĐKTNN dưới góc độ kinh tế, chủ yếu đánh giá theo quan điểm quản trị kinh doanh, không xem xét dưới góc độ QLNN
4 Tiếp cận nghiên cứu
Luận án lựa chọn phương pháp tiếp cận kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý thuyết với phân tích, đồng thời đánh giá thực tiễn trong mối quan hệ biện chứng Trong đó, sử dụng lý thuyết để định hướng cho đánh giá, phân tích thực tiễn, ngược lại từ kết quả phân tích, bổ sung cho lý thuyết và vận dụng sáng tạo lý thuyết và những điều kiện cụ thể, đánh giá thực tiễn để kiểm chứng
Do luận án tập trung nghiên cứu về mô hình TĐKTNN ở Việt Nam, đây là phạm vi rộng do vậy luận án chỉ tập trung vào nghiên cứu thực trạng hoạt động của
Trang 12mô hình TĐKTNN dưới góc độ kinh tế, từ đó chỉ ra những vấn đề còn tồn tại của các TĐKTNN và đề xuất các giải pháp và kiến nghị
5 Những đóng góp mới của luận án
5.1 Về khoa học
i) Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về TĐKTNN ở Việt Nam
ii) Hệ thống hóa được cấu trúc của mô hình TĐKTNN
iii) Đánh giá được thực trạng và nguyên nhân tồn tại của mô hình TĐKTNN ở Việt Nam
iv) Đề xuất mô hình TĐKTNN trong bối cảnh mới và các kiến nghị và giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả hoạt động của mô hình TĐKTNN mới
5.2 Về thực tiễn
Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động của mô hình TĐKTNN, luận án chỉ rõ những mặt đạt được, những mặt hạn chế và nguyên nhân; từ đó có đề xuất mô hình cho hoạt động của TĐKTNN trong giai đoạn tới; đây là tài liệu hữu ích cho hoạt động thực tế của các TĐKTNN và là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý trong quá trình xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá và quản lý hiệu quả của mô hình TĐKTNN
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu về mô hình tập đoàn
kinh tế nhà nước
Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Chương 4: Đề xuất và lựa chọn mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt
Nam trong bối cảnh mới
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1 Tập đoàn kinh tế, tập đoàn kinh tế nhà nước
Tập đoàn kinh tế là hình thức tổ chức kinh tế hiện đại ở các nước trên thế giới, hoạt động của TĐKT có mức độ ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của quốc gia
Có thể nói, sức mạnh của các TĐKT ít nhiều có ảnh hưởng tới sự bền vững và phát triển của nên kinh tế Vì vậy, nhiều công trình khoa học trên thế giới đã nghiên cứu
về TĐKT, trong đó có TĐKTNN
Các công trình nghiên cứu trên thế giới về chủ đề TĐKT có thể thấy được triển khai theo nhiều hướng nghiên cứu đa dạng và phong phú
Hướng nghiên cứu thứ nhất là tổng kết, luận giải những nội dung về xây
dựng và phát triển các TĐKT theo dạng đưa ra các mô hình lý thuyết dựa trên tài liệu thực tiễn Hướng nghiên cứu này được thể hiện trong một số công trình tiêu biểu như:
Tác giả Trương Hán Bân đã tập trung phân tích quá trình cải cách hệ thống DNNN hay còn gọi là doanh nghiệp quốc hữu ở Trung Quốc trên nhiều khía cạnh
khác nhau như sở hữu, chủ thể quản lý trong cuốn sách "Bàn về cải cách toàn
diện doanh nghiệp Nhà nước" (Trương Hán Bân, 1999) Trong đó, định hướng hình
thành tập đoàn từ các DNNN được đề cập như một giải pháp cải cách
Các tác giả Banjora và Chu trong nghiên cứu "Cải cách doanh nghiệp nhà
nước ở Trung Quốc: Ảnh hưởng của gia nhập WTO" in trong báo cáo đánh giá về
động lực kinh tế, số 13 (Bajona C., Chu T., 2010), đã phân tích tình huống các DNNN và doanh nghiệp tư nhân tại Trung Quốc sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đưa đến kết luận rằng sự gia nhập WTO đã tạo ra sức ép
Trang 14buộc nhà nước giảm đi sự bao cấp với các doanh nghiệp và từ đó lại tạo ra động lực kích thích các DNNN nâng cao hiệu quả hoạt động của bản thân doanh nghiệp và năng suất của cả nền kinh tế (Bajona C., Chu T., 2010)
Kowalski và cộng sự (2013) đã nghiên cứu sự tham gia của nhà nước trong các TĐKT lớn ở các quốc gia OECD và khẳng định rằng lợi thế tiềm ẩn của các DNNN sẽ dẫn đến những hiệu ứng thương mại xuyên quốc gia (Kowalski P., Buge M., Sztajerowska M., Egeland M., 2013) Nghiên cứu này cũng chỉ ra sự đa dạng của các quy định về DNNN ở các quốc gia đang là thách thức đối với việc phát triển các TĐKT khi họ mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài Nội dung nghiên cứu
được ghi lại trong ấn phẩm do OECD xuất bản "Doanh nghiệp nhà nước: Tác động
thương mại và những ảnh hưởng chính sách", Chính sách thương mại OECD số 147
(Kowalski P., Buge M., Sztajerowska M., Egeland M., 2013)
Hướng nghiên cứu thứ hai tập trung vào các vấn đề quản trị công ty liên
quan đến sự tham gia của Nhà nước trong các doanh nghiệp, TĐKT lớn và có thể kể đến một số công trình sau:
Công trình nghiên cứu của Mitchell và cộng sự (2005) với tiêu đề Thuần
phục các tập đoàn lớn đã khảo sát các tập đoàn lớn tại Mỹ và chỉ rõ những tác động
bất lợi của mô hình này đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, đối với cổ đông, với Chính phủ, với công nhân và mỗi người dân trong xã hội (Mitchell, Austin Vernon, and Prem Sikka, 2005)
Sharp và cộng sự (2005), đã tập trung phân tích quan điểm chung về kinh doanh tập đoàn và cách thức hoạt động của mô hình này (Sharp et al, 2005)
Boardman và Vining (1989) tìm hiểu mối quan hệ giữa vấn đề chủ sở hữu với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ba loại doanh nghiệp gồm doanh nghiệp tư nhân, DNNN và doanh nghiệp hỗn hợp từ dữ liệu thu thập được của 500 công ty lớn nhất trong các ngành của Mỹ trong đó gồm 419 tập đoàn tư nhân, 58 DNNN
và 23 doanh nghiệp hỗn hợp Kết quả phân tích hồi quy cho thấy khi đưa tất cả biến
số kiểm soát vào mô hình hồi quy thì các DNNN tỏ ra hoạt động kém hiệu quả hơn
Trang 15mô hình doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp hỗn hợp Tuy nhiên, nếu xét riêng chỉ số lợi nhuận thì sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp này là không rõ ràng Còn riêng với chỉ số Doanh số/lao động thì doanh nghiệp hỗn hợp hoạt động tốt hơn DNNN (Boardman A E., Vining A R., 1989)
Monkkhonen và cộng sự (2018) nghiên cứu mối quan hệ giữa vai trò phát triển thị trường của các DNNN trên thị trường bất động sản ở Chengdu, Trung Quốc với mức giá thị trường của các sản phẩm nhà do các công ty trên thị trường cung cấp Kết quả phân tích hồi quy cho thấy các DNNN thường đưa ra mức giá bán sản phẩm thấp hơn thị trường khoảng 7% (Monkkhonen P., Deng G., Hu W., 2018)
Cũng trong hướng nghiên cứu về DNNN và TĐKTNN, Xue và cộng sự (2018) đã phân tích hiệu quả hoạt động của các DNNN trong lĩnh vực lâm nghiệp tại vùng Đông Bắc Trung Quốc và cho thấy mô hình "doanh nghiệp xã hội" tỏ ra phù hợp hơn với các doanh nghiệp trong lĩnh vực này Nghiên cứu này cho thấy hiệu quả về doanh thu của các DNNN là thấp do có sự tham gia đầu tư của Chính phủ (Xue H., Frey G E., Yude G., Cubbage F W., Zhang Z., 2018)
Del Bo và cộng sự (2017) tìm hiểu về các vụ mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A) trong đó có sự tham gia của nhà nước và chỉ ra rằng các giao dịch liên quan đến DNNN khác biệt rõ ràng với các tiêu chí của các giao dịch tư nhân
Sự khác biệt này chủ yếu là do tài sản lớn hơn, hệ số thanh toán nợ cao hơn, kinh nghiệm giao dịch rộng hơn, và sự tiếp cận gần hơn với những người thâu tóm (cả công và tư) giữa các giao dịch công - tư, công - công, và tư - công so với tư - tư (Del Bo C.D., Ferraris M., Florio M, 2017)
Theo hướng nghiên cứu về quản trị công ty trong DNNN, Wang và cộng sự (2016) đã phân tích xem nền tảng chuyên môn của các giám đốc độc lập (ID) trong các DNNN ảnh hưởng như thế nào đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp dựa trên thông tin sẵn có của các công ty niêm yết Kết quả phân tích cho thấy 85% các ID
có nền tảng chuyên môn liên quan đến hệ thống đảng cầm quyền và nhà nước Tuy nhiên, khi phân tích hồi quy mối quan hệ giữa nền tảng chuyên môn của ID với hiệu
Trang 16quả hoạt động của DNNN thì cho thấy tỷ lệ các vị trí trong Hội đồng quản trị (HĐQT) do ID có nền tảng chuyên môn gắn chặt với đảng cầm quyền nắm giữ không có mối quan hệ tích cực đến việc giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN Trong khi đó, những DNNN có số lượng ID có "những quan điểm khác lạ"
và không liên quan đến hệ thống đảng cầm quyền thì lại có hiệu quả hoạt động cao hơn so với các DNNN còn lại (Wang Y., Jin P., Yang C, 2016)
Jiang và cộng sự (2013) nghiên cứu sự kế nhiệm giám đốc điều hành (CEO)
ở Trung Quốc và chú trọng vào quyết định lựa chọn người bên ngoài doanh nghiệp làm CEO Các tác giả đã nghiên cứu hai nhóm doanh nghiệp mẫu là các DNNN và các DN tư nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy những DNNN chọn người bên ngoài làm CEO có hiệu quả hoạt động được cải thiện đáng kể sau đó (Jiang F., Huang J., Kim K.A., 2013)
1.1.1.2 Mô hình tập đoàn kinh tế trên thế giới
Tập đoàn kinh tế cũng được khá nhiều công trình nước ngoài nghiên cứu tập trung làm rõ mô hình, hình thức hoạt động, lĩnh vực hoạt động, phân tích các nhân tố ảnh hưởng cũng như vai trò, tầm quan trọng và tác động của TĐKT tới sự phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và toàn cầu Trong khuôn phổ nghiên cứu của đề tài, luận án sẽ chỉ tập trung nghiên cứu các công trình bàn về mô hình tổ chức và hoạt động của các TĐKT
Trong bài báo "Tập đoàn kinh doanh ở các thị trường mới nổi: Mẫu mực
tuyệt vời hay ký sinh ăn bám?" đăng trên Tạp chí Văn học kinh tế, các tác giả
Khanna và Yishay Yafeh đã nghiên cứu về cấu trúc, quyền sở hữu của các TĐKT (Tarun Khanna và Yishay Yafeh, 2017)
Kinh nghiệm về việc phát triển các TĐKT đặc biệt là các TĐKTNN tại Trung Quốc được ghi lại trong các bài viết các tác giả Zhou Fangsheng và Wang
Xiaolu (2002): Con đường cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc; William Mako and Chunlin Zhang (2002): Thực hiện quyền sở hữu trong các doanh nghiệp
nhà nước: Trung Quốc học gì từ kinh nghiệm thế giới Ngoài ra, kinh nghiệm hoạt
Trang 17động kinh doanh của các TĐKT tại Nhật bản cũng được ghi trong bài viết của Lai,
G M-H (1999): Hiểu biết về đối tác kinh doanh Nhật bản quản lý tại các Keiretsu
và các tập đoàn kinh tế Keiretsy đăng trên tạp chí Thế giới kinh doanh
Bên cạnh đó, một loạt các nghiên cứu về kinh tế cũng như vai trò của Nhà nước trong việc hình thành, phát triển của các TĐKT được đề cập trong các nghiên
cứu của Wade R (1990): "Quản lý thị trường: học thuyết kinh tế và vai trò của
Chính phủ trong công cuộc công nghiệp hóa khu vực Đông Nam Á"; Andreja Bohm
(1990): "Tập đoàn sở hữu nhà 17 nước"; Geeta Gouri: "Tư nhân hóa và các doanh
nghiệp công ích"; …
1.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Từ cuối những năm 90 đến nay, Việt Nam cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau của TĐKT được trình bày trong các
ấn phẩm chuyên khảo, luận án và công trình nghiên cứu khoa học các cấp Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chuyên sâu còn hạn chế Các tác giả trong nước đã tiếp cận theo hướng từ tổng quát đến chi tiết xoay quanh các vấn đề liên quan đến DNNN nói chung và TĐKTNN nói riêng
1.1.2.1 Tập đoàn kinh tế
Nghiên cứu về TĐKT, các tác giả Việt Nam đã tiếp cận làm rõ từ cơ sở lý luận đến cơ chế quản lý, hoạt động của các công ty xuyên quốc gia, TĐKT
Tác giả Nguyễn Đình Phan với cuốn sách "Thành lập và quản lý các tập
đoàn kinh doanh ở Việt Nam" (Nguyễn Đình Phan, 1996), được xem là công trình
đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về TĐKT, đã trình bày cơ sở lý luận về TĐKT và những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu các mô hình TĐKT ở một số nước trên thế giới Các vấn đề mà cuốn sách nêu lên rất có ý nghĩa về mặt nhận thức, cũng như công việc chủ yếu cần tiến hành để thành lập các Tổng công ty 91 theo mô hình TĐKT ở Việt Nam Cuốn sách đã nêu ra một số điều kiện cơ bản để thành lập tổng công ty theo mô hình tập đoàn và cách quản lý mô hình này (Nguyễn Đình Phan, 1996)
Trang 18Các tác giả Lê Văn Sang và Trần Quang Lâm trong cuốn sách "Các công ty
xuyên quốc gia (TNCs) trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI" (Lê Văn Sang & Trần
Quang Lâm, 1996) đã tập trung phân tích nguồn gốc hình thành, các hình thức tồn tại và mô hình chiếm lĩnh, khai thác thị trường của các công ty xuyên quốc gia Trong phạm vi nghiên cứu, các tác giả đã tập trung phân tích chuyên sâu, tìm kiếm bản chất, vừa đặt chúng trong bối cảnh mới - ngưỡng cửa của thế kỷ XXI
Tác giả Nguyễn Thiết Sơn chủ biên cuốn sách "Các công ty xuyên quốc
gia: Khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện mới" (Nguyễn Thiết Sơn, 2003) cung
cấp cho người đọc những kiến thức chuyên sâu về đặc điểm, bản chất, vai trò của các công ty xuyên quốc gia, đề xuất những giải pháp, đối sách của nước ta nhằm thu hút các công ty xuyên quốc gia vào hoạt động, góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam Cuốn sách tập trung trình bày các nội dung
về quá trình phát triển của các công ty đa quốc gia, trong đó tập trung vào nguồn gốc, bản chất và đặc điểm, đặc trưng của hoạt động cũng như vai trò và tác động của nó đến hoạt động thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, phát triển R-D
và chuyển giao công nghệ của các công ty xuyên quốc gia, đặc biệt là hoạt động của các công ty xuyên quốc gia Mỹ, Nhật, Tây Âu và các NIE châu Á
Năm 2003, các tác giả Nguyễn Thị Luyến và Trịnh Đức Chiều (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
cấp cơ sở "Tập đoàn kinh doanh - Nhu cầu hình thành và phát triển ở Việt Nam"
Các tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận về tập đoàn như cơ sở khách quan của việc hình thành các tập đoàn kinh doanh, đặc điểm, nội dung, bản chất của các TĐKT và một số giải pháp hình thành TĐKT Việt Nam (Nguyễn Thị Luyến, Trịnh Đức Chiêu, 2003) Về cơ chế quản lý tài chính, tác giả Phạm Quang Trung trong
cuốn sách "Tập đoàn kinh doanh và cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn kinh
doanh" (2003) đã nêu lên cơ sở khoa học của việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài
chính trong TĐKT; nêu rõ vai trò, tầm quan trọng của cơ chế quản lý tài chính trong TĐKT có ý nghĩa quyết định toàn bộ cơ chế quản lý của tập đoàn, thực trạng cơ chế
Trang 19quản lý tài chính trong các tổng công ty mà chủ yếu là Tổng công ty 91; những quan điểm, kiến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các tổng công ty (Phạm Quang Trung, 2003)
Cuốn sách "Tập đoàn kinh tế - Lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng dụng
vào Việt Nam" do tác giả Trần Tiến Cường chủ biên đề cập khá bao quát những nội
dung xung quanh TĐKT, từ quan niệm, phương thức hình thành, nguyên tắc và điều kiện hình thành đến các mô hình tập đoàn trên thế giới (Trần Tiến Cường, 2005) Trong nghiên cứu của mình, tác giả Bùi Văn Huyên đã đề cập các vấn đề từ vĩ mô đến vi mô, từ tổng thể đến các biện pháp cụ thể nhằm vận dụng vào hình thành, phát triển TĐKT ở Việt Nam (Bùi Văn Huyền, 2008)
Bàn về xây dựng TĐKT ở Việt Nam, tác giả Minh Châu trong cuốn sách
"Tập đoàn kinh tế và một số vấn đề về xây dựng tập đoàn kinh tế ở Việt Nam"
(Minh Châu, 2005) trên cơ sở trình bày những vấn đề chung về TĐKT, kinh nghiệm phát triển TĐKT ngành bưu chính viễn thông ở một số quốc gia đã đề xuất định hướng về xây dựng TĐKT ở Việt Nam Riêng phần giải pháp, tác giả chỉ đề xuất đối với xây dựng tập đoàn Bưu chính viễn thông, các tập đoàn khác
không được đề cập cụ thể Còn cuốn sách "Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh
tế ở Việt Nam" (2008) của tác giả Bùi Văn Huyền đã lý giải việc hình thành và
phát triển các TĐKT ở Việt Nam và khẳng định với lợi thế của quốc gia đi sau, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng được các TĐKT mạnh thông qua việc kết hợp các bước đi tuần tự với những bước đột phá
Tiếp đến, tác giả Đào Xuân Thủy trong cuốn sách "Điều kiện và giải pháp
hình thành các tập đoàn kinh tế từ các Tổng công ty 91" (Đào Xuân Thủy, 2009) đã
tập trung lý giải những điều kiện và trình bày các giải pháp để hình thành các TĐKT từ các Tổng công ty 91
1.1.2.2 Tập đoàn kinh tế nhà nước
Nghiên cứu về TĐKTNN, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều tới cơ chế
quản lý như tác giả Hoàng Hà (2005) trong Luận án tiến sĩ kinh tế "Quá trình đổi
Trang 20mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ 1986 đến nay - Thực trạng và giải pháp" đã phân tích quá trình đổi mới cơ chế quản lý các DNNN ở Việt
Nam từ năm 1986 đến năm 2005 và đề xuất giải pháp
Hay tác giả Nguyễn Văn Minh và cộng sự (2013) trong nghiên cứu đề tài
"Cơ chế quản lý các tập đoàn kinh tế Nhà nước: Kinh nghiệm của Liên bang Nga
và bài học cho Việt Nam" thực hiện ở Trường Đại học Ngoại thương đã nghiên
cứu, tổng hợp cơ sở lý luận, kinh nghiệm của Liên bang Nga trong việc hình thành
cơ chế để quản lý các TĐKT và rút ra một số bài học bổ ích cho Việt Nam Tuy nhiên, đề tài mới tập trung nói đến cơ chế quản lý các TĐKTNN nói chung mà chưa có giải pháp cụ thể cho một TĐKTNN cụ thể trong lĩnh vực nào (Nguyễn Văn Minh và cộng sự, 2013)
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu sinh đã lựa chọn các đề tài luận án liên quan tới TĐKT như:
Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lan Anh (2013) trong luận án tiến sĩ kinh tế
"Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tập đoàn Hóa chất Việt Nam" đã đánh
giá thực trạng thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ của tập đoàn Hóa chất Việt Nam trên cơ sở kết quả khảo sát tại 30 công ty con thuộc tập đoàn Từ đó, tác giả chỉ ra rằng các vấn đề liên quan đến kiểm soát nội bộ còn tồn tại bao gồm: nhận thức của các nhà quản lý về hệ thống kiểm soát còn hạn chế; cơ cấu tổ chức còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; công tác kế hoạch còn thiếu sự đầu tư, vai trò của Ban kiểm soát còn mờ nhạt do các thành viên chủ yếu làm kiêm nhiệm Tác giả
đã đưa ra 6 giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của tập đoàn, trong đó giải pháp về quản trị công ty đáng lưu ý là hoàn hiện quy chế người đại diện tại công ty mẹ (Nguyễn Thị Lan Anh, 2013)
Nghiên cứu sinh Trần Đức Trương (2014) với luận án "Phát triển tập đoàn
kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế" đã hệ thống hóa cơ
sở lý luận về sự hình thành và phát triển các TĐKT trong nền kinh tế thị trường, phân tích đánh giá được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các TĐKTNN
ở Việt Nam Tác giả đã chỉ ra những thành tựu đạt được, những tồn tại yếu kém và
Trang 21hạn chế của các TĐKTNN tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012 Từ đó, tác giả mạnh dạn đề xuất các giải pháp để hoàn thiện, xây dựng và phát triển các TĐKTNN phù hợp về số lượng, ngành nghề, cũng như nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh, tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới (Trần Đức Trương, 2014)
Nghiên cứu sinh Trịnh Ngọc Tuấn (2013) đã chọn đề tài "Tăng cường hoạt
động giám sát của Quốc hội đối với tập đoàn kinh tế nhà nước" viết luận án hệ
thống cơ sở lý luận về giám sát của Quốc hội đối với các TĐKTNN; nghiên cứu kinh nghiệm giám sát quốc tế đối với các TĐKTNN và rút ra bài học cho Việt Nam Đồng thời, luận án phản ánh thực trạng giám sát của Quốc hội đối với các TĐKTNN, đánh giá hoạt động giám sát của Quốc hội theo các tiêu chí, xác định điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân Từ đó, tác giả mạnh dạn đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TĐKTNN (Trịnh Ngọc Tuấn, 2013)
Tác giả Nguyễn Thị Kim Đoan (2016) với luận án tiến sĩ "Quản lý vốn nhà
nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng" đã tiến hành
khảo sát vấn đề quản lý vốn tại các DNNN trên địa bàn nghiên cứu và đưa ra các giải pháp quản trị và kiểm soát nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước trong DNNN Tác giả đã chỉ ra các tồn tại cơ bản trong công tác quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp khảo sát như: phương thức đầu tư vốn còn nhiều vướng mắc do tồn tại nhiều đầu mối đại diện chủ sở hữu nhà nước; nhiều doanh nghiệp chưa đổi mới, chưa áp dụng nguyên tắc quản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nên công tác quản trị vốn còn lúng túng; hệ thống chỉ tiêu giám sát còn thiên lệch, chủ yếu tập trung vào các chỉ số tài chính (Nguyễn Thị Kim Đoan, 2016)
Tác giả Hoàng Tuân (2016) trong nghiên cứu của mình về "Quản lý nhà
nước về cổ phần hóa doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội" đã phân tích,
đánh giá thực trạng công tác cổ phần hóa trong DNNN trên địa bàn Hà Nội dựa trên các thông tin thứ cấp và phỏng vấn sâu chuyên gia trong lĩnh vực này Tác giả đã
Trang 22chỉ ra một số tồn tại nổi bật trong hoạt động của DNNN trong phạm vi nghiên cứu, trong đó có vấn đề đáng lưu ý là hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN chưa cao, chưa tương xứng với vị trí và sự đầu tư của ngân sách; cơ chế QLNN đối với doanh nghiệp cũng như cơ chế quản trị trong nội bộ doanh nghiệp bộc lộ nhiều yếu kém (Hoàng Tuân, 2016)
1.1.2.3 Mô hình tập đoàn kinh tế tại Việt Nam
Về mô hình hoạt động của TĐKT, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những tổng kết và đề xuất như:
Tác giả Vũ Huy Từ, trong cuốn sách "Mô hình tập đoàn kinh tế trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa" (2002), đã đi sâu phân tích lý luận về TĐKT, những nhân
tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các TĐKT, bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước tác động đến sự hình thành và tổ chức quản lý TĐKT ở Việt Nam, các tác giả đã nêu khái quát về mô hình TĐKT cần được xây dựng trong những năm đầu thế kỷ XXI Tác giả tiếp cận theo lôgíc từ lý luận đến thực tiễn hình thành mô hình này và phân tích các các tổng công ty như một "nhân tố nền tảng", trên cơ sở đó tìm kiếm các giải pháp QLNN đối với mô hình này ở Việt Nam (Vũ Huy Từ, 2002)
Tác giả Hoàng Chí Bảo và cộng sự (2012) trong Báo cáo tổng hợp đề tài
"Mô hình Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Tuy nhiên, Báo cáo mới dừng
lại ở việc đề cập đến các nội dung mang tính chất vĩ mô và mang tính định hình chung, chưa đề cập tới các mô hình phát triển cụ thể (mô hình QLNN, mô hình
tổ chức quản lý, mô hình đánh giá hiệu quả…) cho từng TĐKTNN (Hoàng Chí Bảo và cộng sự, 2012)
Tiếp đó, tác giả Phạm Quang Trung (2013) trong cuốn sách "Mô hình tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam đến năm 2020" đã chỉ ra rằng các nguyên nhân
dẫn đến sự yếu kém trong hoạt động của các TĐKTNN tại Việt Nam là do mô hình hoạt động, mô hình tổ chức quản lý, cơ chế tài chính của các tập đoàn chưa phù hiên hợp, cũng như công tác kiểm tra, giám sát còn lơi lỏng Trong nghiên cứu của
Trang 23mình, tác giả tập trung vào hệ thống hóa các quan niệm khác nhau về mô hình TĐKT, mô hình TĐKTNN; thông qua việc nghiên cứu một số TĐKT tiêu biểu trên thế giới và nghiên cứu kinh nghiệm về phát triển TĐKT của Mỹ, Đức, Trung Quốc, Singapore và Nhật Bản để rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Các tác giả cũng đã đưa ra các chủ trương, định hướng và hoàn thiện mô hình TĐKTNN ở Việt Nam trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế (Phạm Quang Trung, 2013)
Về mô hình hoạt động của TĐKTNN, luận án của Trần Quốc Việt (2017)
với đề tài "Nghiên cứu xây dựng mô hình hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Quốc
gia Việt Nam" là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, trong đó tập trung phân
tích mô hình hoạt động hiện tại của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm thành công cũng như thất bại của các tập đoàn lớn tại Hàn Quốc, Singapore hay Nga, tác giả đã đề xuất 04 mô hình hoạt động cho PVN, đồng thời có sự luận bàn về điều kiện áp dụng của các mô hình này (Trần Quốc Việt, 2017)
Ngoài ra, trong những năm qua, đã có nhiều đề tài, đề án, hội nghị, hội thảo khoa học có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề TĐKT như: Dự thảo Đề
án "Hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế trên cơ sở tổng công ty nhà nước" do
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương chủ trì (Viện Nghiên cứu Quản lý
Kinh tế Trung ương, 2003) Đề án của Bộ Kế hoạch và Đầu tư với đề tài "Hình
thành và phát triền tập đoàn kinh tế trên cơ sở tổng công ty nhà nước" phân tích lý
luận và thực tiễn về sự hình thành và phát triển TĐKT trên cơ sở tổng công ty nhà
nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2005) Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Tập đoàn kinh tế
nhà nước - Lý luận và thực tiễn" do NXB Chính trị quốc gia phối hợp với Viện
Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương và Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức năm
2009 Hội thảo khoa học "Lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về mô hình tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới", do Hội đồng Khoa học Các
cơ quan Đảng Trung ương chủ trì năm 2010 (Các cơ quan Đảng Trung ương, 2010)
Trang 24Hội thảo khoa học "Mô hình tổ chức và hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở
Việt Nam" do Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội chủ trì (Trường Đại học
Kinh tế quốc dân, 2011) Hội thảo khoa học "Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước"
do Học viện Tài chính chủ trì (Học viện tài chính, 2011) ADDIN ZOTERO_ITEM CSL_CITATION {"citationID": "p4l4RuFF", "properties": {"formattedCitation":
"(\\uc0\\u272{}\\uc0\\u7843{}ng \\uc0\\u7911{}y kh\\uc0\\u7889{}i Doanh nghi\\uc0\\u7879{}p Trung \\uc0\\u432{}\\uc0\\u417{}ng, 2015)", "plainCitation":
"(Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương, 2015)", "noteIndex": 0},"citationItems": [{"id":431,"uris":["http://zotero.org/users/4727829/items/D6WYLXFP"],"uri":["http://zotero.org/users/4727829/items/D6WYLXFP"],"itemData":{"id":431,"type":"report","title":"Báo cáo về kết quả triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu của các Tập đoàn, Tổng công ty, ngân hàng trong Khối năm 2014", "author": [{"family": "Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương","given":""}],"issued":{"date-parts": [["2015",4]]}}}],
"schema":"https://github.com/citation-style-language/schema/raw/master/csl-citation.json"} (Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương, 2015)
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu về TĐKTNN là một phạm trù được nhiều học giả trên thế giới
và Việt Nam quan tâm và có nhiều các công trình được công bố Các kết quả nghiên cứu về TĐKTNN trong nước mới chỉ rõ những kết quả hoạt động của mô hình các TĐKT từ khi chuyển đổi đến năm 2011, những kết quả này mới phản ánh được hiệu quả hoạt động ở giai đoạn đầu đang trong giai đoạn thí điểm và chưa có đầy đủ cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình TĐKTNN Mặt khác, các kết quả nghiên cứu trước đây mới chỉ phân tích thực trạng hoạt động của các TĐKTNN từ năm 2007 đến năm 2011, giai đoạn mô hình TĐKTNN mới được thành lập và chuyển đổi (có sự hỗ trợ của Chính phủ) dựa trên các chỉ số dùng cho đánh giá DNNN và tổng công ty do vậy kết quả nghiên cứu chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả hoạt động của mô hình TĐKTNN Với thất bại của tập đoàn công nghiệp tàu thủy (Vinashin) vào năm 2013 và hoạt động không hiệu quả của nhiều
Trang 25TĐKTNN trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2018, Chính phủ đã ban hành nhiều quyết nghị và quyết định điều chỉnh hoạt động của mô hình TĐKTNN để phù hợp với bối cảnh mới Do vậy, việc đánh giá thực trạng mô hình TĐKTNN ở Việt Nam, tìm ra những điểm hạn chế và đề xuất mô hình TĐKTNN, định hướng phát triển với các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cụ thể trong bối cảnh mới là cần thiết
và có tính ứng dụng cao
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
1.2.1 Tập đoàn kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm về tập đoàn kinh tế
Để tạo ưu thế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đang có xu hướng liên kết hình thành các tập hợp doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn cả trong và ngoài nước, có vốn lớn hơn, hoạt động trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực Nhiều doanh nghiệp với năng lực, năng suất lao động khác nhau, quy mô và tốc
độ phát triển khác nhau đã xuất hiện các hiện tượng chèn ép, thôn tính hoặc tự nguyện
"chung sống" trên cơ sở những liên minh hay tổ hợp để "phân chia" thị trường và khai thác những thế mạnh riêng có của từng doanh nghiệp trong một "vỏ bọc" bởi một liên minh rộng hơn Để miêu tả các liên minh, tổ hợp này, một loạt các cụm từ được sử dụng để gọi tên như "Cartel", "Association", "Consortium", "Conglomerate",
"Corporation", và gần đây là "chaebol", "Group", "MNC" Tất cả những cụm từ trên khi Việt hóa đều có ý nghĩa là "Tập đoàn"
Các liên minh hay tổ hợp kinh tế này ở mỗi quốc gia được gọi bởi các tên khác nhau Tuy nhiên khi nghiên cứu về bản chất, các cụm từ đều tập trung mô tả về một loại hình tổ chức liên kết hoặc một tổ hợp các công ty bao gồm công ty mẹ và các công ty con hoặc chi nhánh độc lập góp vốn cổ phần và chịu sự kiểm soát của công ty mẹ Và TĐKT đã trở thành hình thức khá phổ biến, đóng vai trò quan trọng, chi phối và tác động mạnh đến từng nền kinh tế trên thế giới TĐKT được xác định
là hình thức tổ chức kinh tế tiên tiến, đại diện cho trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất và nền kinh tế - xã hội hiện nay
Trang 26Cho đến nay, chưa có một khái niệm chung về TĐKT, tuy nhiên có một điểm chung về quan điểm "Tập đoàn kinh tế" là một tổ hợp các doanh nghiệp, bao gồm công
ty mẹ, công ty con và doanh nghiệp liên kết khác Công ty mẹ là trung tâm đầu não của tập đoàn, là đầu mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp liên kết với nhau; Công ty mẹ là đơn vị nắm quyền kiểm soát, xây dựng và ban hành các chính sách, chiến lược phát triển, điều phối hoạt động của các doanh nghiệp thành viên Theo quy định của luật doanh nghiệp, tập đoàn không có tư cách pháp nhân, tuy nhiên công ty mẹ, công ty con và doanh nghiệp liên kết đều tư cách pháp nhân
Có nhiều khái niệm khác nhau về TĐKT:
Theo cuốn Từ điển Kinh tế của Nhật Bản: "Tập đoàn kinh tế là một tập thể
các doanh nghiệp bao gồm nhiều doanh nghiệp hỗ trợ nhau để duy trì được khả năng độc lập, đồng thời nắm giữ các cổ phần của nhau, thiết lập được mối quan hệ mật thiết trên phương diện góp vốn, huy động nhân lực, cung ứng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm" Khái niệm này nhấn mạnh tính pháp lý và quan hệ liên kết trong
lĩnh vực sản xuất của các doanh nghiệp thành viên
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp (2005), "Tập đoàn kinh tế là nhóm
công ty có quy mô lớn" Tập đoàn là tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong đó các
doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, nhưng bản thân tập đoàn lại không phải là một pháp nhân, nghĩa là tập đoàn không có tư cách pháp nhân (Trần Tiến Cường, 2005)
Theo tác giả Trần Tiến Cường trong cuốn "Tập đoàn kinh tế: Lý luận và
kinh nghiệm quốc tế - ứng dụng vào Việt Nam", TĐKT có thể được nhận thức như
một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý gồm công ty mẹ và nhiều công ty hay chi nhánh góp vốn cổ phần chịu sự kiểm soát của công ty mẹ (Trần Tiến Cường, 2005)
Tác giả Đỗ Quang Dũng thì cho rằng: TĐKT là tổ hợp các doanh nghiệp
có quy mô lớn, hình thức tổ chức đặc biệt, cấu trúc đa dạng, vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận
Trang 27Mô hình TĐKT ở Việt Nam đang trong quá trình hình thành, mặc dù có vai trò quan trọng nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể về mô hình này Việc chưa có sự thống nhất khi xem xét khái niệm TĐKT là do sự khác nhau về cách thức tổ chức và hình thành, tư cách pháp nhân của TĐKT Cụ thể, có TĐKT được hình thành trên cơ sở chuyển đổi từ các tổng công ty nhà nước nhưng các công ty thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập kinh doanh dưới vai trò chỉ đạo chiến lược chung của công ty mẹ
Mặc dù rất khó đưa ra định nghĩa về TĐKT nhưng chúng ta cũng cần đưa ra nhận thức về một vài đặc điểm chung nhất về mô hình TĐKT ở Việt Nam Đó là Việt Nam chúng ta hiểu tập đoàn là một tập hợp các doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, hoạt động xoay quanh một tổ chức trung tâm - một công ty mẹ hoặc công ty sở hữu vốn Với cách tiếp cận như vậy, tác giả luận án đưa ra quan điểm về TĐKT như sau:
Tập đoàn kinh tế là một tổ chức không có tư cách pháp nhân bao gồm tập hợp các doanh nghiệp có quy mô lớn, có liên kết với nhau theo phương thức đặc biệt trong đó có công ty mẹ là doanh nghiệp có quy mô lớn, có nhiều công ty, xí nghiệp thành viên, có quan hệ sở hữu chặt chẽ được kiểm soát và điều hành bởi một
bộ máy thống nhất, trên cơ sở phân công, phân cấp giữa công ty mẹ với các đơn vị thành viên về các hoạt động sản xuất kinh doanh
1.2.1.2 Đặc điểm tập đoàn kinh tế
Sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất và những thay đổi về mặt tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh là quy luật tất yếu và có nhiều hình thức biểu hiện với tên gọi khác nhau TĐKT hiện nay cũng có các hình thức biểu hiện về tên gọi và đặc điểm rất phong phú Sự thay đổi và phát triển của các TĐKT tập trung vào một số đặc điểm chủ yếu:
Một là địa vị pháp lý: TĐKT được hình thành qua quá trình hình thành, liên
kết trong tập đoàn có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc theo Luật cạnh tranh TĐKT không có tư cách pháp nhân, còn một nhóm các đơn vị thành viên có pháp nhân độc lập Các doanh nghiệp trong tập đoàn hoạt động bình đẳng với nhau trước pháp luật
Trang 28Hai là cấu trúc và tổ chức: Hầu hết các TĐKT là một tổ hợp của nhiều
công ty thành viên; các công ty thành viên chịu sự chi phối của một công ty lớn nhất, đó là công ty mẹ Công ty mẹ nắm cổ phần chi phối của các công ty thành viên và tạo thành một cấu trúc giống như các vệ tinh xoay quanh hạt nhân
Ba là quan hệ sở hữu: TĐKT là thực thể đa sở hữu (nhiều chủ sở hữu hoặc
sở hữu nhiều thành viên gia đình), hoặc cũng có thể chỉ là một chủ ở công ty mẹ Nếu là nhiều chủ sở hữu thì các công ty mẹ thường được tổ chức dưới hình thức công
ty cổ phần để có thể thuận lợi trong việc huy động vốn (có thể được huy động bằng nhiều phương thức khác nhau), tăng năng lực cạnh tranh,… Quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý ngày càng có xu hướng rạch ròi hơn và trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của tập đoàn Mức độ liên kết của các công ty thành viên đã và đang đi theo xu hướng chặt chẽ hơn Do đó, sự thống nhất kế hoạch, chiến lược và sự kiểm soát các đơn vị thành viên của tập đoàn trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng
Bốn là quy mô: Hầu hết các TĐKT đều có quy mô lớn và phạm vi hoạt
động rộng cả trong nước và thế giới
Năm là vốn đầu tư, quản lý vốn: các công ty thành viên trong TĐKT ngoài
mối quan hệ về công nghệ, kỹ thuật, thị trường, thương hiệu…, thì sự liên kết chủ yếu trong tập đoàn là quan hệ về đầu tư vốn Bên cạnh việc liên kết bằng vốn theo hình thức công ty mẹ - công ty con, sự liên kết giữa các công ty trong tập đoàn còn có thể là liên kết tài chính, nhưng chưa đến mức độ quan hệ công ty mẹ - công ty con,
tỷ lệ góp vốn hoặc cổ phần của công ty mẹ chưa đủ ở mức chi phối các công ty tham gia liên kết; thu hút các doanh nghiệp độc lập không có liên kết về vốn vào quan hệ kinh tế với các công ty trong TĐKT như gia công, cung cấp bán thành phẩm, phân phối, tiêu thụ sản phẩm, thương hiệu tập đoàn
Sáu là ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh: Do lợi thế về vốn và sự hỗ trợ của
chính phủ, nên đa phần các TĐKT đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực Tuy nhiên, các TĐKT thường có ngành kinh doanh chính và các ngành kinh doanh khác xoay quanh hoặc có liên quan đến ngành chính, nhằm tận dụng các nguồn lực,
Trang 29phân tán rủi ro; bên cạnh đó, cũng có những TĐKT hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực tương đối hẹp nhằm khai thác thế mạnh về chuyên môn, công nghệ Dưới tác động của thị trường, một số tập đoàn và đơn vị thành viên có khi thay đổi hẳn lĩnh vực kinh doanh để thích ứng hoặc tìm kiếm lợi nhuận
1.2.1.3 Điều kiện và hình thức hình thành tập đoàn kinh tế
Đối với các quốc gia có nền kinh tế thị trường mới phát triển như Việt Nam, việc thành lập các TĐKT là một yêu cầu khách quan từ thực tiễn; vấn đề không phải
là có hay không hình thành các TĐKT này mà là cần cho lĩnh vực nào và quan trọng hơn là cần xác định các bước đi tiếp theo và việc tạo lập môi trường, điều kiện cho chúng phát triển Nhưng nhìn chung TĐKT được hình thành trong những điều kiện nhất định, bao gồm các điều kiện chủ quan và điều kiện khách quan Cụ thể:
• Khi hoạt động kinh doanh đạt đến một trình độ xã hội hóa nhất định, sẽ dẫn tới đòi hỏi khách quan phải lựa chọn mô hình TĐKT có quy mô lớn, nhiều vốn
• Chính phủ cần tạo lập cơ chế, chính sách, tạo dựng môi trường pháp luật, môi trường chính trị - xã hội cần thiết bảo đảm cho các TĐKT hoạt động cạnh tranh bình đẳng
• Về phía bản thân TĐKT, các điều kiện về vốn, số lượng doanh nghiệp thành viên, thị phần, năng lực sản xuất, trình độ quản lý, các mối liên kết và cấu trúc sở hữu, khả năng tích tụ và tập trung vốn, bộ máy quản lý, trình độ khoa học công nghệ là các điều kiện quan trọng cần được xem xét khi thành lập TĐKT
Tập đoàn kinh tế có thể được hình thành bằng nhiều phương thức khác nhau:
Phát triển tự thân: Đây là phương thức hình thành TĐKT có tính bền vững
cao Doanh nghiệp phát triển theo phương pháp truyền thống, tuần tự, phát triển thông qua quá trình tự tích tụ tập trung vốn và đầu tư chi phối các doanh nghiệp khác Các biện pháp như sáp nhập, hợp nhất, thôn tính và mua cổ phần… là những hình thức thúc đẩy sự phát triển của TĐKT
Liên kết tự phát giữa các doanh nghiệp: các doanh nghiệp độc lập tự nguyện
liên kết với nhau để tạo thành TĐKT có tiềm lực kinh tế, tài chính đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường
Trang 30Nhà nước đứng ra thành lập các TĐKT trên cơ sở các doanh nghiệp thuộc
sở hữu nhà nước, gọi là TĐKTNN Một số TĐKT ở các nước được hình thành dựa trên kết quả sản xuất và nguồn tín dụng từ các ngân hàng với sự hỗ trợ của Nhà nước
Tập đoàn kinh tế được hình thành từ việc kết hợp giữa liên kết tự phát và tác động của Nhà nước: Dù theo phương thức nào, việc hình thành TĐKT đều phải dựa
trên nhu cầu của thị trường, khả năng về nguồn vốn, năng lực cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và cần phải tách bạch rõ trách nhiệm của Chính phủ và doanh nghiệp
1.2.1.4 Vai trò của tập đoàn kinh tế
Một là, thu hút, tích tụ và đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn Tại một số
quốc gia Châu Á, TĐKT là đối tác quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài và các TĐKT lớn trên thế giới, tiếp nhận các nguồn vốn để cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trong nước và dần dần cho thị trường quốc tế thông qua các nhà đầu
tư nước ngoài Điển hình của việc thu hút đầu tư FDI ở giai đoạn đầu là các tập đoàn Đài Loan
Hai là, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội Các ngành công nghiệp
dịch vụ thay thế cho sản xuất nông nghiệp, trong đó khu vực dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế
Ba là, ứng dụng và phát triển khoa học kỹ thuật, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ Điển hình như các TĐKT của Hàn Quốc trong lĩnh vực chế tạo ô tô; Đài Loan
trong lĩnh vực điện tử (sản xuất màn hình, bàn phím, chíp vi tính, bộ nguồn, đầu đọc CD-ROM,…) và máy tính; Singapore trong lĩnh vực đóng dàn khoan dầu ngoài khơi
Bốn là, đào tạo và phát triển nguồn lực Nguồn nhân lực được coi là lợi thế
cạnh tranh của các TĐKT, do đó việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt
là đội ngũ quản lý giỏi và đội ngũ công nhân lành nghề, bởi họ mới có khả năng tiếp thu, vận dụng, sáng tạo các tiến bộ khoa học công nghệ để đưa ra thị trường các sản phẩm, các dịch vụ đủ sức cạnh tranh
Năm là, thúc đẩy hội nhập kinh tế Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, các TĐKT đóng vai trò khá quan trọng trong hội nhập với khu vực và thế giới Việc các TĐKT đầu tư hoạt động kinh doanh ở nước ngoài ngoài
Trang 31tìm kiếm lợi ích kinh tế cho quốc gia chủ quản, còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn cầu
1.2.2 Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
1.2.2.1 Quan điểm hình thành tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Theo nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2010 về hướng dẫn luật doanh nghiệp 2005, TĐKTNN là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động theo mô hình có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty
mẹ - công ty con TĐKTNN đóng vai trò quan trọng trong thành phần kinh tế nhà nước, hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề giữ vị trí trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân hoặc giữ vị trí chi phối trong nền kinh tế quốc dân Mặt khác, TĐKTNN có vai trò điều tiết kinh tế trong nền kinh tế thị trường vận hành theo định hướng XHCN ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ý tưởng phát triển một số tổng công ty thành TĐKT được phôi thai từ Quyết định số 91/TTg ngày 07/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh dựa trên các xí nghiệp, công ty cũ Theo đó, những tổng công ty có từ 7 doanh nghiệp thành viên trở lên và có vốn từ 1.000 tỷ đồng trở lên được gọi là tổng công ty 91 và được lựa chọn để phát triển theo hướng tập đoàn Với quyết định này đã có 18 tổng công ty 91 được thành lập
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba khóa IX (9/2001) đã chỉ ra: "Lựa chọn một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng để thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế nhà nước"
Thực hiện chủ trương trong Đại hộ Đảng lần thứ X (năm 2006), Chính phủ
đã xây dựng TĐKTNN theo cách thí điểm; theo đó, việc xây dựng thí điểm mô hình TĐKT từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu:
- Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, cần phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế;
Trang 32- Giữ vai trò bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, ứng dụng công nghệ, tạo động lực phát triển cho các ngành, các lĩnh vực khác và toàn nền kinh tế; thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh
tế khác;
- Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn;
- Tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về TĐKT
1.2.2.2 Sự cấp thiết phải hình thành tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Việc hình thành TĐKTNN ở Việt Nam là hết sức cần thiết, được thể hiện ở mấy điểm như sau:
Thứ nhất, TĐKT có thể huy động được các nguồn lực vật chất, lao động và
vốn trong xã hội vào trong quá trình sản xuất kinh doanh Góp phần cải tổ cơ cấu sản xuất, hình thành lực lượng sản xuất hiện đại, quy mô và có tiềm lực kinh tế
Thứ hai, TĐKTNN góp phần quan trọng và tích cực trong việc phân công
lao động và hợp tác quốc tế, đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Thứ ba, TĐKTNN có điều kiện phát triển công tác nghiên cứu, triển khai
ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh của các công ty thành viên; cho phép các công ty thành viên áp dụng nhanh các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn trên một quy mô rộng lớn hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động, thu hồi vốn
Thứ tư, hoạt động của các tổng công ty 90-91 đã bộc lộ những yếu kém về
năng lực cạnh tranh, cơ chế bao cấp vẫn tồn tại, nguồn vốn của các tổng công ty phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách và vay tín dụng…
Thứ năm, môi trường pháp lý cũng được xây dựng và dần hoàn thiện Trong
đó, có các quy định nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình tổng công ty hiện nay và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các tổ chức theo hướng TĐKT
Thứ sáu, môi trường kinh tế Việt Nam đã đủ điều kiện cho việc hình thành
các TĐKTNN Các loại thị trường đã được định hình; cơ cấu kinh tế và cơ chế QLNN ngày càng được đổi mới; vai trò của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước được thừa nhận; cùng với đó là sự hình thành cơ chế cạnh tranh, nhu cầu liên kết, loại bỏ
Trang 33dần những rào cản về liên doanh, liên kết, đầu tư chi phối đan xen giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; quan hệ kinh tế quốc tế đã được mở rộng
Như vậy, chúng ta có thế nói, TĐKTNN là công cụ mạnh của Nhà nước trong điều tiết và hội nhập kinh tế quốc tế; đây cũng là biện pháp nhằm nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển của các nước đi trước Việc hình thành các TĐKTNN ở Việt Nam là một tất yếu khách quan Đó là điều kiện cần thiết để chúng ta có thể phát triển và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế
1.2.2.3 Đặc điểm và vai trò của tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Các TĐKTNN được thí điểm thành lập thời gian qua đã tích cực đầu tư, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động; với các mục tiêu đề ra, vai trò của các TĐKTNN đối với sự phát triển kinh tế đất nước thể hiện ở những mặt sau:
Thứ nhất, góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế đất nước, tạo nguồn ngoại tệ và nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, hạn chế nhập siêu, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Thứ hai, thực hiện vai trò chi phối, bảo đảm việc sản xuất, cung ứng các sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế; là lực lượng vật chất quan trọng
để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh, bảo đảm cân đối cung - cầu, bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát, chống giảm phát
Thứ ba, mở đầu, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc tất cả
các thành phần kinh tế phát triển
Thứ tư, nâng cao khả năng cạnh tranh; coi trọng đầu tư vào khoa học - công
nghệ theo hướng hiện đại (ví dụ: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, ); đầu tư phát triển các sản phẩm mới; nguồn năng lượng mới (Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ); mở rộng, thâm nhập thị trường mới, thị trường quốc tế (Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam…)
Thứ năm, cùng với việc tập trung mở rộng phát triển ở trong nước, các
TĐKT đã đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tạo dựng được hình ảnh
và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới
Trang 34Thứ sáu, là lực lượng quan trọng của Nhà nước trong việc bảo đảm an ninh
quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và khẳng định chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, bảo vệ môi trường
Thứ bẩy, các TĐKTNN là lực lượng chủ lực cùng Chính phủ và xã hội thực
hiện các chương trình an sinh xã hội vì cộng đồng
1.2.2.4 Điều kiện hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Trước đây, theo Quyết định số 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 7/3/1994 về thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh, điều kiện hình thành tập đoàn kinh doanh là tập đoàn phải có 7 doanh nghiệp thành viên trở lên và có vốn pháp định ít nhất là 1.000 tỷ đồng
Theo quy định hiện hành, TĐKTNN khi dự kiến thành lập phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh: phải có ngành nghề kinh doanh chính
trong các lĩnh vực: (i) Bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin; (ii) Đóng mới, sửa chữa tàu thủy; (iii) Sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh điện năng; (iv) Khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối dầu khí; (v) Khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến than và khoáng sản; (vi) Dệt may; (vii) Trồng, khai thác, chế biến cao su; (viii) Sản xuất, kinh doanh phân bón và các sản phẩm hóa chất; (ix) Đầu tư
và kinh doanh bất động sản; (x) Công nghiệp xây dựng và cơ khí chế tạo; (xi) Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; và các ngành nghề khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Bảo đảm các điều kiện cơ cấu ngành nghề, theo định hướng của nhà
nước, các công ty thuộc TĐKTNN đăng ký kinh doanh những ngành nghề theo quy định của pháp luật, tuy nhiên phải đảm bảo tập trung kinh doanh các ngành nghề chính và chịu sự giám sát của đại diện chủ sở hữu nhà nước về việc đầu tư,
tỷ lệ vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư vào ngành nghề kinh doanh chính, ngành nghề
có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính Đại diện chủ sở hữu nhà nước
Trang 35quyết định việc điều chỉnh hoặc thay đổi đối với các ngành nghề kinh doanh chính; giám sát kinh doanh các ngành nghề kinh doanh chính, các ngành nghề có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính, ngành nghề không liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính
- Công ty mẹ của TĐKTNN phải bảo đảm các điều kiện: (i) Vốn điều lệ
không thấp hơn mức vốn tối thiểu theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; (ii) Có nguồn nhân lực đủ trình độ, kinh nghiệm và khả năng kinh doanh ngành nghề chính
và các ngành nghề có liên quan; quản lý vốn đầu tư và quản trị, điều hành, phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp liên kết; (iii) Có khả năng
sử dụng bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị trường để chi phối các công ty con và tiến hành liên kết với các doanh nghiệp liên kết khác; (iv) Có nguồn lực tài chính hoặc có phương án khả thi để huy động nguồn lực tài chính, bảo đảm đầu tư đủ vốn vào các công ty con, các doanh nghiệp liên kết khác
- Các doanh nghiệp dự kiến trở thành doanh nghiệp thành viên của
TĐKTNN có thể chuyển đổi, có kế hoạch chuyển đổi hoặc đã chuyển đổi, đăng ký kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động theo Luật doanh nghiệp
1.2.3 Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước
1.2.3.1 Khái niệm về mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước
Mô hình TĐKT là một thuật ngữ được gắn liền với các TĐKT, tuy nhiên thực tế đến nay chưa có một quan điểm nào thống nhất về khái niệm mô hình TĐKT
Theo ông Hồ Xuân Tùng, Phó trưởng ban Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát
triển Doanh nghiệp phát biểu trên báo Nhân dân: "Mô hình tập đoàn là một hình
thái tổ chức giữa các doanh nghiệp"
Cơ chế đầu tư vốn (sở hữu vốn), cơ chế liên kết kinh doanh, cơ chế (hay phương thức) quản lý là ba yếu tố được sử dụng để phân loại TĐKT Trong đó:
Mô hình TĐKT theo sở hữu vốn là mô hình TĐKT lựa chọn một trong các
mô hình đầu tư: đơn cấp, đa cấp, hoặc hỗn hợp để đầu tư và xác lập quan hệ giữa
Trang 36TĐKT với công ty nhận đầu tư Cơ cấu và quan hệ giữa TĐKT với công ty nhận đầu tư phụ thuộc vào loại mô hình đầu tư mà tập đoàn lựa chọn
Mô hình TĐKT theo liên kết kinh doanh là một tổ hợp các công ty liên kết với nhau nhằm khai thác các lợi thế nhằm gia tăng hiệu quả Mô hình TĐKT có thể liên kết theo chiều dọc, liên kết theo chiều ngang hoặc liên kết hỗn hợp
Theo cơ cấu tổ chức, tập đoàn có thể lựa chọn một trong các mô hình: tập trung, phân tán hay hỗn hợp Trong mô hình tập đoàn tập trung, quyền lực được tập trung ở công ty mẹ Trong mô hình phân tán, công ty mẹ chỉ đưa ra định hướng và kiểm soát định hướng (như chiến lược, các chính sách lớn về tài chính, đầu tư, nhân sự…) Mô hình hỗn hợp, công ty mẹ vừa giao quyền tự chủ cho các công ty con,
vừa thâu tóm quyền lực ở một số lĩnh vực trọng yếu
Mô hình TĐKT cũng cơ thể hiểu là tổ hợp các công ty có cơ cấu góp vốn, quan hệ tương tác giữa các công ty, sự phân chia quyền lực, bộ nguyên tắc quản trị công ty, nguyên tắc quản lý điều hành chung
Tóm lại, mô hình TĐKT trong phạm vi luận án này được hiểu là: hình thái
tổ chức phản ánh cơ cấu tổ chức và mối quan hệ nội bộ trong tổ chức, được thể hiện thông qua các mối liên kết pháp lý chính thức hoặc phi chính thức nhằm đạt được hiệu quả kinh tế bằng việc khai thác các lợi thế của doanh nghiệp
1.2.3.2 Phân loại các mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước
• Mô hình tập đoàn kinh tế theo sở hữu vốn
Xét từ góc độ sở hữu, TĐKT có các mô hình: (i) Mô hình cấu trúc sở hữu đơn
cấp; (ii) Mô hình gồm các doanh nghiệp thành viên đồng cấp; (iii) Mô hình công ty
mẹ trực tiếp đầu tư, kiểm soát một số công ty thành viên không thuộc cấp dưới trực
tiếp; (iv) Mô hình có cấu trúc sở hữu hỗn hợp; (v) Mô hình tập đoàn trong tập đoàn
(i) Mô hình TĐKT có cấu trúc sở hữu đơn cấp
Mô hình TĐKT này có cấu trúc công ty mẹ nắm giữ cổ phần các công ty con (gọi là các công ty cấp 2); các công ty con lại đầu tư vốn, nắm giữ cổ phiếu của các công ty cấp 3 (công ty cháu)
Trang 37Hình 1.1 Mô hình TĐKT có cấu trúc sở hữu đơn giản
Kiểu cấu trúc sở hữu đơn giản này hiện nay ít được sử dụng mà thường kết hợp, đan xen với các dạng khác phức tạp hơn
(ii) Mô hình TĐKT gồm các doanh nghiệp thành viên đồng cấp
Theo mô hình TĐKT này, các công ty con cấp 2 là các công ty đồng cấp nhưng công ty này lại kiểm soát một bộ phận cổ phần của công ty kia Như vậy có thể có một số công ty con cùng đầu tư vốn đối với công ty con khác Ví dụ, Công ty con A2 đầu tư vốn và kiểm soát một số cổ phần của công ty con B2
Tương tự ở cấp thấp hơn, công ty cấp 3 (A22) nắm giữ cổ phiếu của công ty con cấp 3 (B21)
Vốn và cơ chế là điều kiện thực hiện để tăng cường mối liên kết tài chính chặt chẽ trong tập đoàn Câu trúc tương tự mô hình này đều được các tập đoàn của Hàn Quốc như Samsung, Hyundai, LG, các tập đoàn của Nhật Bản và Mỹ như Mitsubishi, GE, GM sử dụng
Công ty cấp 3 (B21)
Công ty cấp 3 (B22)
Trang 38(iii) Mô hình TĐKT có công ty mẹ trực tiếp đầu tư, kiểm soát một số công ty thành viên không thuộc cấp dưới trực tiếp
Hình 1.3 Mô hình TĐKT có Công ty mẹ trực tiếp đầu tư, kiểm soát
một số công ty thành viên không thuộc cấp dưới trực tiếp
(iv) Mô hình TĐKT có cấu trúc sở hữu hỗn hợp
Hình 1.4 Mô hình TĐKT có cấu trúc sở hữu hỗn hợp
Công ty cấp 3 (B21)
Công ty cấp 3 (B22)
CÔNG TY MẸ
Công ty cấp 2
(A2)
Công ty cấp 2 (B2)
Công ty cấp 2 (C2)
Công ty
cấp 3
(A21)
Công ty cấp 3 (A22)
Công ty cấp 3 (C21)
Công ty cấp 3 (C22)
Công ty cấp 3 (B21)
Trang 39Mô hình TĐKT này có sự kết hợp tất cả các quan hệ sở hữu cổ phần của các
mô hình đã nêu trên Đây là mô hình phức tạp nhất về mặt sở hữu nhưng hiện nay đang được rất nhiều TĐKT áp dụng do chịu ảnh hưởng của sự phát triển cao độ của thị trường tài chính Điểm đặc biệt trong mô hình này là sự nắm giữ cổ phần và quan hệ đầu tư đan xen lẫn nhau
Mô hình TĐKT này tạo khả năng thực hiện các hoạt động đầu tư một cách dễ dàng và đa dạng nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin, kinh tế và quản lý
(v) Mô hình TĐKT tập đoàn trong tập đoàn
Hình 1.5 Mô hình TĐKT tập đoàn trong tập đoàn
Hình trên cho thấy cấu trúc trong tập đoàn tạo thành một tam giác sở hữu, thể hiện quan hệ sở hữu của công ty mẹ và các công ty sở hữu Các công ty chi nhánh cấp dưới cũng có những quan hệ sở hữu tương tự như đã đề cập trong các
mô hình khác
• Mô hình tập đoàn theo cơ chế quản lý
Xem xét dưới góc độ cơ chế (hay phương thức) quản lý, TĐKT có các mô hình: (i) Mô hình TĐKT theo cơ chế quản lý tập trung; (ii) Mô hình TĐKT theo cơ chế quản lý phân tán; (iii) Mô hình TĐKT theo cơ chế quản lý hỗn hợp
Công ty cấp 3 (A3)
Công ty cấp 3 (B1)
Công ty cấp 3 (B2)
Trang 40(i) Mô hình TĐKT theo cơ chế quản lý tập trung
Mô hình TĐKT theo cơ chế quản lý tập trung là kiểu cấu trúc văn phòng có
cơ cấu gồm Ban điều hành và một số bộ phận chức năng phụ trách những lĩnh vực hoạt động như sản xuất, kinh doanh, tài chính ; toàn bộ hoạt động của văn phòng
và hoạt động sản xuất kinh doanh của TĐKT đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Giám đốc
Hình 1.6 Mô hình TĐKT cơ cấu tổ chức tập trung
Ưu điểm: Mô hình có cấu trúc bảo đảm sự quản lý, điều hành tập trung,
thống nhất, kịp thời của lãnh đạo TĐKT đối với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày như xây dựng kế hoạch, thực thi kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch, v.v Đối với các dự án đầu tư quan trọng hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của TĐKT, mô hình này giúp cho lãnh đạo TĐKT chủ động trong phân phối và phân phối lại nguồn lực giữa các bộ phận chức năng trong tập đoàn
Hạn chế: Lãnh đạo TĐKT tập trung quá nhiều vào hoạt động tác nghiệp,
làm giảm tính tự chủ, năng động, sáng tạo của từng công ty thành viên Một hạn chế khác là do tập trung nhiều vào hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày nên xem nhẹ vai trò xây dựng chiến lược và kế hoạch dài hạn
(ii) Mô hình TĐKT theo cơ chế quản lý phân tán
Hình thức của công ty con ở mô hình này khá đa dạng: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên; Công ty liên doanh; Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên…
BAN ĐIỀU HÀNH
Công ty sản xuất,
kinh doanh
Công ty bán hàng
Công ty tài chính
Công ty khác