1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng mô hình quản lý MBO nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục đối với thanh niên khuyết tật trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp

114 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN VÕ HOÀI NAM ÁP DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ MBO NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THANH NIÊN KHUYẾT

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VÕ HOÀI NAM

ÁP DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ MBO NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THANH NIÊN KHUYẾT TẬT TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP (Nghiên cứu trường hợp trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ

Hà Nội, 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VÕ HOÀI NAM

ÁP DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ MBO NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THANH NIÊN KHUYẾT TẬT TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP (Nghiên cứu trường hợp trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Khoa học quản lý

Mã số: 8340401.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thị Hải Yến

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Thị Hải Yến là giáo viên đã trực tiếp hướng dẫn, cô đã truyền đạt những kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong quá trình học tập

và chỉ bảo cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Khoa học quản lý đã tạo điều kiện hỗ trợ cho tôi nghiên cứu tài liệu và trao đổi kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, và gia đình đã động viên, khích

lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận khóa luận

Hà Nội, ngày 03 tháng 06 năm 2019

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 6

4 Câu hỏi nghiên cứu 6

5 Giả thuyết nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Phạm vi nghiên cứu 7

8 Bố cục luận văn 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ MBO VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THANH NIÊN KHUYẾT TẬT TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 9

1.1 Một số vấn đề lý luận về mô hình quản lý MBO 9

1.1.1 Khái niệm mô hình quản lý MBO 9

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển mô hình quản lý MBO 10

1.1.3 Nội dung và quy trình của mô hình quản lý MBO 12

1.1.4 Ý nghĩa mô hình quản lý MBO 17

1.2 Một số vấn đề lý luận về khả năng tiếp cận giáo dục đối với thanh niên khuyết tật trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp 19

1.2.1 Khái niệm khả năng, tiếp cận, khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp 19

1.2.2 Khái niệm thanh niên khuyết tật 22

1.2.3 Hệ thống giáo dục nghề nghiệp cho thanh niên khuyết tật 25

1.3 Mối quan hệ giữa việc áp dụng mô hình quản lý MBO và khả năng nâng cao tiếp cận giáo dục của thanh niên khuyết tật 27

1.3.1 Sự phù hợp về lý thuyết của mô hình quản lý MBO với khả năng tiếp cận giáo dục của thanh niên khuyết tật 27

Trang 5

1.3.2 Sự phù hợp về thực tiễn áp dụng của mô hình quản lý MBO với khả năng tiếp cận giáo dục của thanh niên khuyết tật 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CỦA THANH NIÊN KHUYẾT TẬT VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

MÔ HÌNH QUẢN LÝ MBO TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH

2.2 Khảo sát thực trạng và đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 45

2.2.1 Khảo sát khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của cá nhân thanh niên khuyết tật 45 2.2.2 Đánh giá thực trạng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 51 2.3.1 Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 55 2.3.2 Đánh giá hoạt động hỗ trợ thanh niên khuyết tiếp cận giáo dục nghề nghiệp và dự báo khả năng áp dụng mô hình quản lý MBO nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp cho thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 63

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM ÁP DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ MBO VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC CHO THANH NIÊN KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI

TỈNH VĨNH PHÚC 70

Trang 6

3.1 Định hướng và quan điểm đổi mới hoạt động hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã

hội nói chung và người khuyết tật nói riêng 70

3.2 Điều kiện thực nghiêm áp dụng mô hình quản lý MBO nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 75

3.2.1 Điều kiện thực nghiệm áp dụng mô hình quản lý MBO nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 75

3.2.2 Quy trình thực nghiệm áp dụng mô hình quản lý MBO nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 77

3.3 Khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 85

3.3.1 Đối với chính quyền địa phương tỉnh Vĩnh Phúc 85

3.3.2 Đối với Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 86

3.3.3 Đối với bản thân thanh niên khuyết tật 88

3.3.4 Đối với gia đình và xã hội 90

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu % tuổi của người khuyết tật Vĩnh Phúc 34

Bảng 2.2: Cơ cấu giới tính của thanh niên và thanh niên khuyết tật 35

Bảng 2.3 Mức độ khó khăn thực hiện chức năng của người khuyết tật 37

Bảng 2.4 Trình độ học vấn cao nhất theo nhóm tuổi thanh niên 38

Bảng 2.5 Trình độ học vấn của người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên 38

Bảng 2.6 Việc làm của thanh niên khuyết tật 39

Bảng 2.7 Nhu cầu học nghề của thanh niên khuyết tật 42 Bảng 2.8 Khả năng chi trả chi phí học nghề của thanh niên khuyết tật và gia đình 47

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc một hay nhiều chức năng nào đó của bộ phận cơ thể bị suy giảm Do khuyết tật nên họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, lao động và tham gia hoạt động xã hội Vì vậy việc hỗ trợ trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đối với người khuyết tật là nghĩa vụ của gia đình, xã hội và nhà nước Là mắt xích quan trọng trong chính sách an sinh

xã hội, với truyền thống nhân đạo của dân tộc, người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội Người khuyết tật được nhà nước và xã hội trợ giúp chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật

Hiện nay số lượng người khuyết tật ở Việt Nam là khá lớn và tiếp tục có xu hướng gia tăng đặc biệt trong đó số lượng lớn là các thanh niên khuyết tật Trước tình hình đó Đảng và nhà nước đã cung cấp nhiều dịch vụ xã hội để hỗ trợ cho họ như: y tế, giáo dục, sinh kế và việc làm…Tuy nhiên, không phải người khuyết tật nào cũng được hưởng các dịch vụ hỗ trợ này và cơ hội tiếp cận các dịch vụ của mỗi đối tượng và vùng miền là không giống nhau do những rào cản về thông tin, nhận thức và những sự kì thị, phân biệt đối xử

Quá trình tổ chức thực hiện Luật NKT trong những năm qua cho thấy, Nhà nước, gia đình và xã hội đã nỗ lực cho mục tiêu bảo đảm quyền bình đẳng về cơ hội cũng như những quyền, lợi ích đặc thù của NKT trên nhiều mặt: chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề và việc làm, bảo đảm điều kiện tiếp cận trong các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, nhà chung cư, công trình công cộng, giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông… nhằm khắc phục một phần khó khăn cho NKT trong hòa nhập cuộc sống và tiếp cận các dịch vụ xã hội, giảm thiểu dần

Trang 10

những rào cản hòa nhập xã hội đối với NKT Nhà nước đã bố trí ngân sách đảm bảo thực hiện các chính sách đối với NKT (trợ cấp hàng tháng, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng, cấp thẻ BHYT, chế độ mai táng phí, đầu tư cơ sở BTXH, chăm sóc NKT đặc biệt nặng cô đơn,…) và khuyến khích, vận động nguồn lực từ các tổ chức,

cá nhân tham gia vào các hoạt động trợ giúp NKT Chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp NKT được ưu đãi về tín dụng, thuế, tiền thuê đất… bước đầu có hiệu quả Gia đình của NKT phát huy tích cực vai trò quan trọng trong bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc NKT Tuy nhiên thực tế cho thấy theo báo cáo của Bộ LĐTBXH, phần lớn người khuyết tật có việc không ổn định, làm các công việc tạm thời, lao động chân tay, rất ít người khuyết tật tìm được công việc ổn định để tự lập và duy trì cuộc sống

Như nhiều địa phương khác trên đất nước, Tỉnh Vĩnh Phúc cũng là nơi đang

có nhiều NKT sinh sống và làm việc Các cơ quan chính quyền địa phương đã triển khai nhiều dịch vụ xã hội, hoạt động hỗ trợ để giúp cho NKT, tuy nhiên cơ hội để NKT nói chung và TNKT nói riêng tiếp cận được với giáo dục nghề nghiệp còn nhiều hạn chế

Từ những khó khăn nêu trên chúng ta có thể khẳng định rằng NKT rất cần sự quan tâm từ các cá nhân, gia đình, tổ chức và cộng đồng, đặc biệt cần nhấn mạnh vai trò vô cùng quan trọng của tiếp cận giáo dục nghề nghiệp trong việc giúp đỡ cho NKT có cơ hội được tiếp cận với giáo dục nghề nghiệp một cách dễ dàng và hiệu quả nhất

Dựa trên cơ sở thực trạng tại Việt Nam và tại địa phương tỉnh Vĩnh Phúc tác

giả đã mạnh dạn đi vào thực hiện đề tài: “Áp dụng mô hình quản lý MBO nhằm

nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục đối với thanh niên khuyết tật trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, nghiên cứu trường hợp trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc” để hiểu rõ hơn thực trạng khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của thanh

niên khuyết tại tại tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho thanh niên khuyết tật một cách hiệu quả nhất Chọn

đề tài này làm luận văn thạc sĩ tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé vào việc phát triển,

Trang 11

hoà nhập đời sống cộng đồng xã hội cho người khuyết tật tại Việt Nam nói chung

và tại tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nâng cao khả năng cho người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng là một đề tài lớn được cập nhật liên tục trong 5 năm trở lại đây Mỗi công trình được đưa ra ở Việt Nam hiện nay thì ngày càng có nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề những quan điểm, hướng đi khác nhau về các vấn đề của NKT nói chung và TNKT nói riêng Trong đó các công trình nghiên cứu đa phần là làm rõ được những khó khăn mà NKT đang gặp phải như: khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần, về việc

làm, nhà ở, giáo dục và chăm sóc sức khỏe…

Trong đó tiêu biểu phải kể đến các công trình về NKT như: Thứ nhất phải kể

đến cuốn sách “Người khuyết tật ở Việt nam: kết quả điều tra tại Thái Bình Quản Nam, Đà Nẵng, Đồng Nai” của Viện nghiên cứu phát triển xã hội, nhà xuất bản chính trị quốc gia Nội dung cuốn sách nêu lên nhứng khái niệm cơ bản về NKT, những đặc điểm kinh tế - xã hội của NKT như : trình độ học vấn,việc làm,tình trạnh khuyết tật, những khó khăn của người khuyết tật trong sinh hoạt, giáo dục, hôn nhân, trong tham gia các hoạt động xã hội, đưa ra những thông tin về sự kì thị , phân biệt đối xử , sự hỗ trợ của nhà nước , của cộng đồng đối với người khuyết tật…Những thông tin đó đều có giá trị rất to lớn cả trong nghiên cứu và thực tiễn ,

nó không chỉ đúng với NKT tại một số địa phương trong nghiên cứu mà còn đúng

với NKT trong cả nước

Hội thảo quốc tế Chính sách về Khuyết tật và giáo dục hòa nhập “Quyền của

người khuyết tật và Giáo dục: Liên hệ với Việt Nam, 2016” do viện Khoa học đã phối hợp với viện Chính sách công và người khuyết tật Hoa Kỳ tổ chức Hội thảo nhấn mạnh vấn đề giáo dục đạt hiệu quả cao sẽ mang lại lợi ích cho người khuyết tật, tuy nhiên cơ hội tiếp cận giáo dục ra sao, mức độ của thiết chế giáo dục trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp cho thanh niên khuyết tật như thế nào còn chưa được

đề cập đến

Trang 12

Báo cáo khảo sát về “Đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật Việt Nam” năm 2016 đã cung cấp cái nhìn tổng thể về các tổ chức của người khuyết tật, các dịch vụ dạy nghề cho người khuyết tật, thực trạng hiện nay ở Việt Nam người khuyết tật rất ít được học nghề, tuy nhiên báo cáo chưa đưa ra được giải pháp làm sao để nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục đối với người khuyết tật nói chung và đối tượng thanh niên khuyết tật nói riêng.Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu đưa ra được giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận với giáo dục của thanh niên

khuyết tật trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam

Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu mô hình sinh kế cho NKT tại cộng đồng” do Hội

bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi được thực hiện năm 2015 Nội dung của đề tài đã đưa ra được mô hình hỗ trợ sinh kế phù hợp trợ giúp cho NKT tại cộng đồng,

từ đó thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo bền vững của Đảng và Nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ, đảm bảo cuộc sống ổn định lâu dài cho NKT ở

hiện tại và tương lai

Tiếp đến là “Báo cáo chính sách giảm thiểu kì thị và phân biệt đối xử với

NKT” (trong hai năm 2015 và 2016) của Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội Báo cáo đã chỉ ra mối quan hệ tương tác giữa khuyết tật, kì thị và nghèo đói Khẳng định việc xây dựng các chính sách, chương trình giảm thiểu, tiến tới xóa bỏ kì thị và phân biệt đối xử liên quan đến khuyết tật sẽ hạn chế được các chi phí liên quan đến khuyết tật, thúc đẩy sự hòa nhập bình đẳng của NKT, giảm thiểu các tác động tiêu cực của khuyết tật và xóa bỏ được tình trạng nghèo đói liên quan đến khuyết tật Hội thảo “Đánh gía kết quả và hiệu quả thực hiện thí điểm mô hình hỗ trợ sinh kế cho NKT tại cộng đồng” của Hội bảo trợ Người tàn tật và trẻ em mồ côi Việt nam Nội dung chủ yếu là đánh giá hiệu quả của một số mô hình thí điểm hỗ trợ sinh kế cho NKT tại một vài địa phương, đưa ra những bài học kinh nghiệm từ những mô hình đã được triển khai Từ đó đề xuất những giải pháp cho các mô hình tiếp theo1

1 Báo cáo chính sách giảm thiểu kì thị và phân biệt đối xử với NKT (2015-2016), Viện Nghiên cứu Dư luận

xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội

Trang 13

Hay hội thảo “Phát triển mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho NKT” tổ

chức ngày 24/6/2016 tại Hà Nội, dưới sự phối hợp của Cục Bảo Trợ Xã hội thuộc

Bộ lao động –Thương binh và xã hội với tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Trong hội thảo, các đại biểu được chia sẻ một số mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho NKT của các Tổ chức Xã hội như: Hội chữ thập đỏ Tây Ban Nha, Hội vì sự phát triển của NKT tỉnh Quảng Ninh, Hội NKT huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) Đồng thời thảo luận xung quanh các vấn đề như khả năng áp dụng các mô hình dạy nghề, tạo việc làm cho NKT ở địa phương, các hình thức dạy nghề, những điều kiện cần

thiết để việc học nghề và tạo việc làm cho NKT trở nên hiệu quả

Vấn đề về dịch vụ xã hội cho NKT được đề cập nhiều trong các bài báo cáo, các buổi hội thảo và công tác xã hội Trong đó tiêu biểu phải kể đến báo cáo của Ths.Phạm Hồng Trang: “Các dịch vụ cơ bản trợ giúp NKT ở Việt Nam” tại Hội thảo quốc tế Công tác xã hội trong quá trình hội nhập và phát triển của Việt Nam năm 2017 đã đưa ra được những nét khái quát nhất về thực trạng NKT ở Việt Nam cũng như những dịch vụ xã hội cơ bản trợ giúp cho NKT nhằm giúp bản thân NKT

và toàn thể cộng đồng có cái nhìn đúng đắn về NKT và những việc làm trợ giúp cho

họ, giúp họ có thể dễ dàng hòa nhập với cộng đồng

Tất cả những bài viết, bài báo cáo và nội dung cuộc hội thảo kể trên đều khẳng

định chắc chắn rằng việc trợ giúp cho NKT vươn lên hòa nhập với cộng đồng là hết sức cần thiết Hiện nay đã và đang có rất nhiều mô hình được xây dựng để trợ giúp

NKT khắc phục khó khăn và cải thiện cuộc sống

Tuy nhiên, các bài báo cáo trên chưa đề cập đến các giải pháp cụ thể của trong việc trợ giúp, hỗ trợ NKT giải quyết các vấn đề khó khăn, đặc biệt là vấn đề tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của NKT sao cho đạt hiệu quả Các đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu một khía cạnh như: y tế, phục hồi chức năng, các chính sách xã hội …

Mà NKT được hưởng chứ không thực sự đi sâu vào nghiên cứu đối tượng riêng là TNKT và cơ hội tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của nhóm người yếu thế trong xã hội, họ cần đến các nghề nghiệp hơn bất kì ai để họ có thể dễ dàng hòa nhập với

cộng đồng xã hội

Trang 14

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả từ việc dựa trên những kinh

nghiệm và kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về thực trạng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của TNKT và các giải pháp hữu ích nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp cho TNKT tại tỉnh Vĩnh Phúc trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến tính ứng dựng của mô hình

quản lý MBO

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của thanh niên khuyết tại tại trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của thanh

niên khuyết tại tại trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Mô hình quản lý MBO đang được áp dụng như thế nào tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng?

- Thực trạng khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay như thế nào?

- Áp dụng mô hình quản lý MBO như thế nào để nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc trong

hệ thống giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam?

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Mô hình quản lý MBO đang được áp dụng rất nhiều trong hoạt động quản lý của các doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, bởi tính đơn giản và dễ áp dụng mô hình quản lý MBO có thể ứng dụng trong môi trường cơ quan quản lý nhà nước

- Thực trạng hiện nay khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của thanh niên khuyết tật tại tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc còn nhiều hạn chế

- Có thể tạo động lực và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên khuyết tật trên

cơ sở áp dụng mô hình quản lý theo mục tiêu (MBO) tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc Các thanh niên khuyết tật được tạo động lực và định hướng nghề

Trang 15

nghiệp có khả năng tiếp cận với giáo dục trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp tốt hơn so với thanh niên khuyết tật không được tạo động lực

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Khảo sát, nghiên cứu các thông tin liên quan trong các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế, trên mạng Internet, hội nghị, hội thảo…, phân tích, chọn lọc những dữ liệu cần thiết nghiên cứu các nguồn thông tin,

dữ liệu trong các bài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước làm cơ sở lý luận

và chứng minh các lập luận của luận văn

- Phương pháp thống kê và phân tích định lượng: Dựa trên các số liệu thu thập

và xử lý về NKT tại Việt Nam và địa phương, tác giả sẽ so sánh rút ra các kết luận cho các vấn đề được nghiên cứu

- Phỏng vấn sâu: Tác giả tiến hành phỏng vấn các thanh niên khuyết tật đang theo học nghề, thanh niên khuyết tật có nhu cầu học nghề, gia đình của thanh niên khuyết tật, đại diện đơn vị sử dụng lao động là thanh niên khuyết tật và đại diện đơn

vị đào tạo nghề cho thanh niên khuyết tật nhằm thu thập thông tin khách quan nhanh chóng

- Điều tra khảo sát: Tác giả xây dựng một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn trên giấy theo những nội dung xác định, người được hỏi sẽ trả lời bằng cách viết trong một thời gian nhất định, có người không thể viết tác giả sẽ đọc câu hỏi và đánh phiếu nhằm thăm thu thập thông tin, thăm dò ý kiến nguyện vọng của đối tượng

Trang 16

Chương 3: Thực nghiệm áp dụng mô hình quản lý MBO và khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp cho thanh niên khuyết tật tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ MBO VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC ĐỐI VỚI THANH NIÊN KHUYẾT TẬT TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

1.1 Một số vấn đề lý luận về mô hình quản lý MBO

1.1.1 Khái niệm mô hình quản lý MBO

MBOlà Management by Objectives – mô hình quản trị theo mục tiêu: Bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu của cấp cao nhất, sau đó xác định mục tiêu và chỉ tiêu của các cấp thấp hơn hoặc trong thời hạn ngắn hơn2 MOB Quản lý toàn bộ công việc dựa trên việc đo lường mục tiêu và dựa trên kế hoạch thực hiện mục tiêu Mô hình quản lý MBO là cách quản lý thông qua các cấp quản lý và các thành viên trong doanh nghiệp tự mình xác định mục tiêu, sau đó tự tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả3

Hay còn có định nghĩa khác: Quản ký theo mục tiêu là cách tiếp cận các nghiệp

vụ đối với các chức năng lập kế hoạch và kiểm tra Nó trả lời các chức năng lập kế hoạch và kiểm tra nó trả lời các câu hỏi: cần phải làm gì, điều đó phải làm như thế nào Khi nào phải làm điều đó sẽ phải tốn bao nhiêu cần coi các tham số công việc nao là thoả đáng sẽ đạt đượctiến bộ nào trong công việc thực hiện mục tiêu Bản chất của quản lý theo mục tiêu là thiết lập, liên kết mục tiêu cùng với các hành động hướng tới mục tiêu của mọi nhân viên trong công ty Một phần quan trọng của quản lý theo mục tiêu là đo lường và so sánh hiệu suất thực tế của nhân viên với các tiêu chuẩn

Lý tưởng nhất là nhân viên được tham gia thiết lập mục tiêu và lựa chọn các chương trình hành động, họ sẽ có nhiều khả năng thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình Theo George S Odiorne, hệ thống quản lý theo mục tiêu có thể được coi là một quá trình mà trong đó các quản lý và nhân viên cùng xác định mục tiêu chung, mong đợi của quản lý đối với nhân viên và sử dụng các biện pháp đo lường nhằm điều hướng hoạt động của tổ chức và đánh giá kết quả của cá nhân4 Quản lý hiện

Trang 18

https://www.ihcm.vn/tin-tuc/tin-tuc/499-quan-ly-theo-muc-tieu-phuong-thuc-duoc-google-apple-metro-đại ngày nay áp dụng Quản lý theo mục tiêu như là một cấu phần của hệ thống quản trị nguồn nhân lực (Quản trị nhân sự)

Mục đích của MBO là gia tăng kết quả hoạt động của tổ chức bằng việc đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua các mục tiêu của nhân viên trong toàn bộ

tổ chức Lý tưởng là các nhân viên nhận được các dữ liệu đầu vào đủ để xác định các mục tiêu của họ, thời gian phải hoàn thành Quản ký theo mục tiêu là cách tiếp cận các nghiệp vụ đối với các chức năng lập kế hoạch và kiểm tra Nó trả lời các chức năng lập kế hoạch và kiểm tra nó trả lời các câu hỏi: cần phải làm gì, điều đó phải làm như thế nào Khi nào phải làm điều đó sẽ phải tốn bao nhiêu cần coi các tham số công việc nao là thoả đáng sẽ đạt đượctiến bộ nào trong công việc thực hiện mục tiêu

Trong khuôn khổ của đề tài tác giả theo quan điểm của Peter Drucker đã được

xuất bản trong cuốn sách năm 1954 của ông “Thực hành quản lý”: "Mô hình quản

lý MBO là cách quản lý thông qua các cấp quản lý và các thành viên trong doanh nghiệp tự mình xác định mục tiêu, sau đó tự tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả, MBO đòi hỏi phải xác định rõ ràng và rành mạch các mục tiêu hay các kết quả công việc mà ta mong muốn xây dựng các chương trình thực tế để thực hiện chúng

và đánh giá chính xác các thông số công việc bằng cách đo kết quả cụ thể theo các

giai đoạn thực hiện các mục tiêu đã đề ra" 5

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển mô hình quản lý MBO

MBO (Management by Objectives), Mô hình quản trị mục tiêu được đưa ra và

áp dụng từ nửa đầu thế kỉ XX, cha đẻ của mô hình này là Peter Drucker – một chuyên gia quản trị người Đức

Peter Ferdinand Drucker (19/11/1909 – 11/11/2005) sinh tại thủ đô Vienna

của Áo, lấy bằng tiến sĩ luật quốc tế tại Đại học Frankfurt (Đức) Peter Drucker là

chuyên gia hàng đầu thế giới về tư vấn quản trị Ông được coi là cha đẻ của ngành Quản trị kinh doanh hiện đại, những đóng góp của ông được đánh giá rất cao, tạp chí Financial Times (Thời báo Tài Chính) đã bình chọn ông là 1 trong 4 nhà Quản

5

Peter Drucker (1954),“The Practice of Management”, trang 9-24

Trang 19

lý bậc thầy của mọi thời đại Là một bậc thầy về kinh tế học, ông còn nghiên cứu về

các khoa học khác Trong quá trình truyền đạt kinh nghiệm quản lý của mình, ông

áp dụng cách truyền đạt những bài học qua những phương pháp thuật học khác nhau như sử học, tâm lý học, xã hội học, vật lý học, văn hóa, tôn giáo…Ông được trao tặng rất nhiều giải thưởng cũng như huân chương cáo quý của các nước trong đó có: Huân Chương Tự Do Tổng Thống do tổng thống George W Bush trao tặng 9/7/2002; Huân chương Hạng Nhất của Áo 1991, Huân chương của Nhật Bản v v Ông cũng nắm giữ 25 chứng chỉ học vị tiến sĩ các loại của các trường Đại học từ Hoa Kỳ, Bỉ, Czech, Anh, Tây Ba Nha cho đến Thụy Sĩ6

Ngay từ những năm đầu trong sự nghiệp của mình, Peter Drucker đã bắt đầu xây dựng lý thuyết MBO của mình Năm 1946, ông viết “Concept of Corporation” (tạm dịch “Quan Niệm về Doanh Nghiệp”) sau 2 năm nghiên cứu cung cách quản lý của General Motor, lúc đầu công ty rất hài lòng với kết quả của Drucke Nhưng sau khi cuốn sách được xuất bản cùng với những lời gợi ý về “phân quyền” thì GM coi đây là sự phản bội với công ty họ Alfred Sloan – giám đốc GM lúc bấy giờ đã dành hẳn quyển tự truyện của mình như một sự phản đối với “Concept of Corporation”

Dù vậy, đây là quyển sách đánh dấu sự manh nha ra đời của MBO với lý thuyết về

sự phân quyền (Decentralizing) Tới năm 1954, với sự ra đời của “The Practice Of Manager” (tạm dịch “Thực Hành Quản Trị”), Drucker đã hoàn thiện lý thuyết

“Quản trị theo Mục Tiêu” Ông đưa ra lý thuyết về mô hình MBO thông qua quyển sách “The Practice ofManagement” Drucker đã đặt ra câu hỏi về khả năng liên kết giữa mối quan hệ con người và hệ thống tổ chức của công ty, tính hiệu quả khi vận hành được đánh giá dựa trên 2 yếu tố khách quan (môi trường kinh doanh) và chủ quan (khả năng thực thi của kế hoạch) Chính vì nhận biết được tính hiệu quả của

nó nên Odione đã tiếp tục phát triển mô hình này vào năm 1965 với tên gọi Quản lý theo mục tiêu (Managerment by objectives – MBO7 )

Trang 20

Mô hình này nhận được rất nhiều sự chú ý, và được áp dụng rộng rãi cho đến những năm 1990 Và MBO đã trở thành một trong những mô hình có sức ảnh hưởng lớn được áp dụng phổ biến và rộng rãi trên toàn cầu cho đến tận ngày nay Hiện nay, ý tưởng này có thể đã trở thành một phần không thể tách rời của thực tiễn kinh doanh hiện đại Nó đã phát triển thành Balanced Scorecard, cung cấp một khung tối ưu hơn cho cùng một quá trình Xuất phát từ thực tế các nhà quản lý

bị sa đà quá nhiều vào các chuỗi công việc hàng ngày mà quên đi mục tiêu chính của họ Hiện nay, MBO khuyến khích việc mở rộng tham gia của mọi cấp bậc quản

lý vào quá trình lập kế hoạch chiến lược nhằm tăng cường khả năng thực hiện kế hoạch thay vì chỉ có một số lãnh đạo cấp cao làm công việc này Mọi thành viên không chỉ nêu rõ những mục tiêu, định hướng của tổ chứa mà còn nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của họ trong quá trình đạt được mục tiêu của tổ chức

Thực tế, điểm độc đáo của MBO là cam kết được đưa ra 2 chiều (giữa người quản trị và nhân viên), cả 2 cùng nhau định giá và ước lượng lại được mình đã làm được gì và chưa được gì Yếu tố thành công của MBO nằm ở chỗ, nhân viên có quyền tham gia vào việc đặt ra các mục tiêu và chọn lựa theo ý mình mong muốn, cam kết đã được đưa ra dựa trên năng lực họ có, từ đó họ tự tin đảm bảo trách nhiệm trong việc thực thi kế hoạch Đó là sợ dây liên kết quan trọng giữa mục tiêu tổng thể của công ty, manager và nhân viên

Lý thuyết quản trị mà Drucker để lại không chỉ là kho tàng vô giá của các nhà quản trị mà còn cho tất cả mọi người Những lời khuyên của ông rất thực tế và bất

cứ ai cũng có thể áp dụng Lý tưởng của Drucker cho tới nay vẫn là kim chỉ nam cho mọi nhà quản trị, thể hiện giá trị, sự trường tồn vượt thời gian của nó và vẫn sẽ

là trong tương lai tới đây Ông xứng đáng được vinh danh là “nhà Quản Trị bậc thầy của mọi thời đại”

1.1.3 Nội dung và quy trình của mô hình quản lý MBO

Quản lý theo mục tiêu MBO là một quá trình xác định, thiết lập các mục tiêu trong nội bộ tổ chức, trong đó nhà quản lý và nhân viên thống nhất mục tiêu và hiểu được làm

thế nào để đạt được đích MBO là Management by Objectives – mô hình quản trị theo mục

Trang 21

tiêu: Bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu của cấp cao nhất, sau đó xác định mục tiêu và chỉ tiêu của các cấp thấp hơn hoặc trong thời hạn ngắn hơn

MBO Quản lý toàn bộ công việc dựa trên việc đo lường mục tiêu và dựa trên

kế hoạch thực hiện mục tiêu Phương thức quản lý theo mục tiêu được Peter

Drucker đưa ra từ năm 1954, do tính đơn giản và hiệu quả, nó được nhiều doanh nghiệp như Google, Apple, Metro Cash & Carry,… sử dụng

Trong thực tế (MBO) thường được ứng dụng đến quản lý trực tiếp (trưởng bộ phận) và cho những công việc rõ chỉ tiêu kế hoạch để giao cho vị trí công việc đó Trong khi đó, MBO vừa giúp giảm gánh nặng quản lý, vừa tạo điều kiện cho cấp dưới chủ đông, sáng tạo trong quá trình xây dựng, lựa chọn phương án hành động

để hoàn thành mục tiêu được giao

Peter Drucker vạch ra quá trình sáu bước cho MBO thể hiện trong mỗi giai đoạn có những thách thức mà tổ chức phải giải quyết để toàn bộ hệ thống hoạt động hiệu quả Quy trình MBO gồm 6 bước:

Trang 22

Bước 1: Đặt hoặc xem xét mục tiêu tổ chức

MBO bắt đầu với các mục tiêu tổ chức chiến lược được xác định rõ ràng, được thể hiện bằng Sứ mệnh và Tầm nhìn rõ ràng, dễ hiểu Những tuyên bố này nên chứa các mục tiêu cụ thể Mục tiêu mơ hồ như “cải thiện sự hài lòng của khách hàng” là

vô nghĩa đối với các thành viên trong nhóm; và chúng cũng khó đo lường Mục tiêu tốt hơn là “giảm 90% khiếu nại của khách hàng” Mục tiêu này cụ thể, rõ ràng hơn nhiều và quan trọng là đo lường được

Bước 2: Truyền tải mục tiêu xuống nhân viên

Để hỗ trợ sứ mệnh, tổ chức cần đặt mục tiêu và mục tiêu rõ ràng cho mọi đơn

vị kinh doanh, bộ phận, đội nhóm và nhân viên (Những mục tiêu này được truyền tải từ trên xuống từ cấp độ cao đến cấp độ thấp.) Để thiết lập mục tiêu hiệu quả, hãy

sử dụng từ viết tắt SMART để đặt mục tiêu rõ ràng, có thể đạt được Mục tiêu SMART là: Specific: Cụ thể, Measurable: Có thể đo lường được, Agree: Đã được thống nhất, Realistic: Thực tế, Time related: Liên quan đến thời gian cụ thể.8

Thiết lập các mục tiêu rõ ràng và tiêu chuẩn hiệu suất cho từng mục tiêu, mà bạn có thể sử dụng để theo dõi tiến trình trong toàn tổ chức Đây cũng là yếu tố quan trọng để truyền đạt kết quả và đánh giá tính phù hợp của các mục tiêu mà bạn

đã đặt ra

Bước 3: Khuyến khích nhân viên tham gia vào thiết lập mục tiêu

Các nhân viên cần hiểu mục tiêu và giá trị cá nhân của họ phù hợp với mục tiêu của tổ chức như thế nào Điều này sẽ thành công khi bạn chia sẻ và thảo luận các mục tiêu chung và mục tiêu từng cấp độ, để mọi người hiểu tại sao mọi thứ đang được thực hiện

Bắt đầu bằng cách gặp gỡ từng nhân viên Thảo luận mục tiêu cá nhân và nghề nghiệp của họ và giúp họ xác định năm giá trị hàng đầu Hướng dẫn nhân viên viết một tuyên bố nhiệm vụ cá nhân xác định chính xác những gì họ muốn thực hiện Tiếp theo, hãy nhìn vào mục tiêu của tổ chức Các giá trị cá nhân và mục tiêu nghề nghiệp của các nhân viên phù hợp với mục tiêu của tổ chức như thế nào? Nếu

8 Drucker Peter (2006), Management by objectives: SMART, Retrieved on 22nd June, 2008 from

http://E:\Management by Objectives (Drucker) SMART.htm

Trang 23

điều này không rõ ràng từ đầu, hãy sử dụng các kỹ thuật như Drill Down hoặc 5 câu hỏi tại sao để tìm được gốc rễ mục tiêu cá nhân của họ Khi bạn xác định những gì

họ quan tâm nhất, hãy giải thích mục tiêu cá nhân của nhân viên phù hợp với mục tiêu của tổ chức như thế nào

Nếu có thể, cho phép các thành viên trong nhóm đặt mục tiêu của riêng mình

để giúp tổ chức đạt được mục tiêu chung Quyền tự chủ này sẽ tăng quyền sở hữu

và động lực cho các mục tiêu Thay vì mù quáng làm theo yêu cầu, người quản lý, người giám sát và nhân viên trong hệ thống MBO biết họ cần làm gì và tại sao họ cần phải làm điều đó Bằng cách ra quyết định và trách nhiệm thông qua tổ chức, mọi người có thể giải quyết vấn đề một cách thông minh và độc lập, và điều này làm tăng động lực và hiệu quả

Mọi người trong tổ chức đều tham gia đặt mục tiêu của riêng mình Những đóng góp vào mục tiêu tổng thể của nhóm, góp phần vào các mục tiêu của bộ phận, góp phần vào các mục tiêu của đơn vị kinh doanh, góp phần vào mục tiêu của tổ chức

Bước 4: Theo dõi tiến độ

Để hiệu quả, bạn phải theo dõi tiến độ của các thành viên trong nhóm để đạt được mục tiêu Hệ thống giám sát bạn tạo ra cần phải kịp thời, để bạn có thể giải quyết các vấn đề trước khi nó ảnh hưởng tới các mục tiêu quan trọng Với hiệu ứng xếp tầng, không có mục tiêu nào được đặt trong sự cô lập; và thiếu mục tiêu trong một khu vực sẽ ảnh hưởng đến các mục tiêu ở khắp mọi nơi

Mặt khác, đây là điều cần thiết để đảm bảo rằng các mục tiêu kém được thiết

kế không dẫn dắt các hành vi sai trái Ví dụ, một mục tiêu của trung tâm chăm sóc khách hàng là hoàn thành tất cả các cuộc gọi trong vòng bảy phút có thể khuyến khích các thành viên trong nhóm xử lý cuộc gọi nhanh chóng và không dành thời gian không cần thiết để trò chuyện

Tuy nhiên, có thể là cuộc gọi của khách hàng trở nên phức tạp hơn, nhưng các nhà điều hành trung tâm cuộc gọi sẽ chấm dứt cuộc gọi của họ sau 6 phút 59 giây để đáp ứng mục tiêu của họ Rõ ràng, điều này sẽ làm phiền khách hàng, những người

Trang 24

sau đó phải gọi lại Trong tình huống này, quá trình giám sát nên chọn sự thay đổi trong môi trường mục tiêu và thay đổi mục tiêu

Thiết lập một kế hoạch cụ thể để theo dõi hiệu suất mục tiêu (mỗi năm một lần, kết hợp với đánh giá hiệu suất, là không đủ!) Lên kế hoạch họp ba tháng một lần – hoặc thường xuyên khi thích hợp – để thảo luận về tiến độ công việc và hiệu suất Viết thỏa thuận hiệu suất cho các thành viên trong nhóm của bạn và đảm bảo rằng họ hiểu cách bạn sẽ đo lường hiệu suất của họ Hãy nhớ rằng MBO thực chất

là một quy trình quản lý Đừng sử dụng nó như một sự thay thế cho khả năng lãnh đạo tốt: hai người nên làm việc cùng nhau!

Bước 5: Đánh giá và khen thưởng hiệu suất

MBO được thiết kế để cải thiện hiệu suất ở tất cả các cấp của tổ chức Để đảm bảo điều này xảy ra, bạn phải có một hệ thống đánh giá toàn diện tại chỗ

Cung cấp phản hồi mang tính xây dựng, kỹ lưỡng cho tất cả nhân viên về mục tiêu của họ và về mục tiêu của tổ chức Hãy nhớ nguyên tắc tham gia: khi bạn trình bày kết quả trên toàn tổ chức, bạn có một cơ hội khác để liên kết những thành tựu

cá nhân và nhóm cụ thể với hiệu suất của công ty Cuối cùng, MBO có thể thúc đẩy hiệu suất và năng suất toàn tổ chức Chỉ cần đảm bảo rằng bất kỳ hệ thống giám sát hiệu suất nào đều có các điều kiện về môi trường và điều kiện để thực hiện

Khi các nhân viên của bạn đạt được mục tiêu của họ, bạn có thể khen thưởng cho họ theo nhiều cách Một lời cảm ơn đơn giản cho một công việc được thực hiện tốt cũng là một cách ghi nhận hay, hoặc bạn có thể làm nổi bật thành tích của họ với nhóm hoặc bạn có thể có chiến lược đãi ngộ cho công việc mà họ làm Khi bạn thưởng cho những người đạt mục tiêu, bạn gửi một thông điệp rõ ràng đến tất cả mọi người rằng mục tiêu đạt được là có giá trị và quá trình MBO không chỉ là một bài tập, mà còn là một khía cạnh quan trọng của việc đánh giá hiệu suất

Bước 6: Lặp lại chu trình

Khi bạn đã trải qua năm bước đầu tiên, chu kỳ sẽ bắt đầu lại với một đánh giá khác về mục tiêu và mục tiêu của tổ chức Khi xem xét các mục tiêu, thành quả và tạo các mục tiêu mới, hãy yêu cầu phản hồi từ nhân viên về những gì diễn ra tốt đẹp

Trang 25

và những gì có thể được cải thiện, xem xét các yếu tố môi trường, và tính đến hiệu

suất trong quá khứ của nhân viên

1.1.4 Ý nghĩa mô hình quản lý MBO

Mô hình quản lý MBO cung cấp cơ sở quan trọng cho việc hoạch định của doanh nghiệp kích thích tính chủ động và tinh thần trách nhiệm của mọi người mọi

bộ phận tham gia quản lý tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển năng lực với tính sáng tạo và năng động giúp nhà quản lý nhận thấy dễ hơn và rõ hơn các thiếu xót trong công tác quản lý để nâng cao hiệu lực và hiệu qủa Điều đó cho thấy tất cả các cán bộ trong bộ máy quản lý của một số tổ chức đều chịu trách nhiệm thực hiện công tác quản lý mục tiêu nếu không có sự hợp tác cần thiết ở tất cả các cấp thì xác xuất thành công sẽ không cao xuất phát từ nhiêm vụ trên chúng ta phân thành ba cấp quản lý cơ bản cấp cao cấp trung và cấp thấp cấp cao gồm hội đồng giám đốc nhưng người lãnh đạo có trong trách cao nhiệm vụ chính của nhóm này là xác định những nguyên tắc hoạt động chủ yếu của công ty tập trung vào sự chú ý vào vấn đề làm gì chứ không phải là làm thế nào còn cấp trung gian

Tương ứng như vậy các mục tiêu của các cán bộ quản lý cấp thấp nhằm nâng cao sản lượng, nâng cao năng suất lao động và trình độ của từng cán bộ, giảm phế phẩm, giảm công việc làm ngoài giờ Các cán bộ quản lý ở cấp này thường giải quyết nhiệm vụ “làm thế nào” và rất ít liên quan Đến việc xác định công tác quản

lý trong điều kiện làm việc hiện nay và tương lai

Ngoài ra (MBO) còn là cách để điều khiển phối hợp và thúc đẩy hoạt động của các nhà quản lý Bắt đầu từ cấp quản trị cao nhất trong công ty nó bao gồm 6 giai đoạn của MBO Xác định các mục tiêu của doanh nghiệp ở cấp hội đồng quản trị Phân tích các công việc quản lý và xác định các vị trí nghề nghiệp cơ bản trong

đó phân chia trách nhiệm và quyền quyết định cho cá nhân các nhà quản lý Xác định các tiêu chuẩn hoạt động của từng vị trí, bộ phận toàn doanh nghiệp Chấp nhận và xác định các mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp Sắp xếp các mục tiêu cá nhân với mục tiêu của doanh nghiệp Thiết lập hệ thống thông tin quản lý để điều

Trang 26

khiển hoạt động theo mục tiêu Hiệu quả kinh doanh sẽ đạt được khi 6 nhân tố này được phối hợp trong hệ thống quản lý

Vận dụng tư tưởng này trong hoạt động kinh doanh, các nhà quản trị trước hết phải xác định đầy đủ chính xác những mục tiêu kinh doanh của toàn doanh nghiệp và của từng bộ phận, từng người đảm bảo cho các mục tiêu này thống nhất với nhau Khi hệ thống MBO hoàn chỉnh được xác lập, các nhà quản trị sẽ có cơ sở xây dựng, thực hiện các kế hoạch riêng của họ, qua đó thực hiện một cách tự động các

kế hoạch của doanh nghiệp Cơ chế này cho phép những người lãnh đạo đảm bảo những người quản lý của họ đang làm việc như họ mong muốn - đặc biệt trong các khu vực quản lý chủ yếu Mỗi người trong doanh nghiệp đều hiểu rõ họ phải đạt mục tiêu gì và họ sẽ góp phần đạt mục tiêu chung của cả doanh nghiệp như thế nào? Bởi vậy việc áp dụng phương pháp quản lý mục tiêu (MBO) một cách hợp lý kết hợp với đạo lý và nguyên tắc lãnh đạo mọi người một Cách hiệu quả sẽ làm tăng hiệu suất của người cán bộ quản lý, làm cho người đó có thể thoả mãn về lao động của mình và lam tăng thu nhập của công ty Cùng với việc sử dụng 11 quy tắc

cơ bản của (MBO) đã giúp các nhà quản lý thực hiện mục tiêu một cách tốt hơn Các nguyên tắc quản lý là:

- Cụ thể hoá chức năng và nhiệm vụ: xác định bản chất và công việc được giao

- Dự báo: đánh giá về tương lai, xác định đối tượng dự báo, xác định nhu cầu về các nguồn lực chủ yếu

- Đề ra mục tiêu: xác định kết quả cuối cùng công việc

- Lập chương trình: lập kế hoạch hành động nhằm thực hiện mục tiêu

- Nghiên cứu tiến độ: xác định các tham số thời gian của mục tiêu và trương trình

- Lập ngân sách: xác định và phân bố các nguồn lực để thực hiện mục tiêu

- Nhận xét và điều chỉnh

- Xây dựng các định mức

- Đo các tham số công việc

- Thực hiện các hoạt động điều chỉnh

- Thực hiện mục tiêu

Trang 27

1.2 Một số vấn đề lý luận về khả năng tiếp cận giáo dục đối với thanh niên khuyết tật trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp

1.2.1 Khái niệm khả năng, tiếp cận, khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp

- Khái niệm khả năng

Khái niệm khả năng: Theo John G Nocholls (1984) cũng như JACOB và cộng sự (2011), khái niệm khả năng bao gồm yếu tố cá nhân và yếu tố xã hội Theo yếu tố cá nhân, khả năng đề cập đến tính có thể hoặc không thể thực hiện một công việc/mục đích nào đó mà một cá nhân tự mình đảm nhiệm dù không có

sự hỗ trợ từ bên ngoài, theo đó, góc độ này nhấn mạnh đến năng lực cá nhân như:

sức khỏe, học vấn, nguồn lực kinh tế cá nhân9 Theo yếu tố xã hội, khả năng đề cập đến tình trạng có thể hoặc không thể xuất hiện sự can thiệp, tác động từ bên ngoài nhằm trợ giúp cho cá nhân thực hiện một công việc/mục đích nào đó, góc độ

này nhấn mạnh đến năng lực xã hội có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng

lực cá nhân như: các mối quan hệ xã hội của cá nhân, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, yếu tố chính trị

Do vậy, khả năng theo nghĩa rộng đề cập đến năng lực của một cá nhân và

năng lực can thiệp từ bên ngoài (xã hội) để hỗ trợ cá nhân đó có thể thực hiện một hoạt động, một ước muốn, một công việc, một nhiệm vụ nào đó

- Khái niệm tiếp cận

Khái niệm tiếp cận: Theo Jan Scheurer và Carey Curtis (2007), cũng như theo Julio Fenk (1992), tiếp cận là khái niệm bao gồm ba trạng thái: động, tĩnh và sự kết hợp giữa động và tĩnh Trạng thái động đề cấp đến tính di chuyển, dịch chuyển, tiếp xúc, gắn bó Trạng thái tĩnh đề cấp đến sự mong muốn, ao ước hoặc quyền theo luật định Trong khi đó, trạng thái kết hợp giữa động và tĩnh đề cập đến năng lực của

con người Do vậy, khái niệm tiếp cận đề cập đến năng lực con người có thể di

chuyển, tiếp xúc, gắn bó với một đối tượng (đồ vật, con người, công việc ) theo nhu cầu, nguyện vọng hoặc quyền theo luật định 10

Trang 28

Trên cơ sở khái niệm khả năng và tiếp cận nêu trên, đề tài xây dựng cách hiểu

về khả năng tiếp cận như sau: khả năng tiếp cận đề cập đến năng lực của một cá

nhân và năng lực can thiệp, tác động từ bên ngoài (xã hội) để hỗ trợ cá nhân đó có thể tiếp xúc, gắn bó, thực hiện một hoạt động, một công việc, một nhiệm vụ nào đó gắn với mong muốn, nhu cầu, nguyện vọng của bản thân hoặc gắn với quyền theo luật định

- Khái niệm giáo dục nghề nghiệp

Khái niệm giáo dục: Theo Anne Sophie du Mortier và Stephanie Mailliot (2011), có nhiều cách hiểu khác nhau về giáo dục và mỗi khái niệm đều phản ánh một hoặc một vài chiều cạnh nhất định tùy theo mục đích nghiên cứu đề ra11

Do vậy, khi bàn về nội hàm của thuật ngữ này, các nhà xã hội học đã tổng hợp tri thức của các ngành khoa học từ đó đưa ra lập luận rằng, mặc dù tồn tại nhiều cách

hiểu, cách diễn tả, cách sử dụng ngôn từ khác nhau, nhưng suy đến cùng thì giáo dục

là sự truyền đạt tri thức, kinh nghiệm lũy tích từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đồng thời nó cũng là quá trình lĩnh hội các tri thức mới Theo

nghĩa này, giáo dục vừa mang tính chủ động, vừa mang tính thụ động Tính chủ động của giáo dục thể hiện qua quá trình truyền giao tri thức và tính thụ động của nó thể hiện qua quá trình tiếp thu tri thức được truyền giao [Berliner, 2015]

Khái niệm nghề nghiệp: Theo Anne Sophie du Mortier và Stephanie Mailliot (2011), nghề nghiệp là một khái niệm bao hàm 02 chiều kích, đó là cộng đồng và cá nhân Yếu tố cộng đồng miêu tả một nhóm xã hội, các nhà kỹ thuật và các nhà đào tạo của một nghề cụ thể, trong khi đó, yếu tố cá nhân đề cập đến kinh nghiệm, tri thức mà cá nhân đó học được từ một nghề nào đó Do vậy, Latreille (1980) định

nghĩa, nghề nghiệp thể hiện ra ngoài như một đặc tính ổn định của hoạt động

chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể, nó bao hàm một tập hợp các tri thức, bí quyết hoặc kỹ năng, kỹ thuật mà một cá nhân tích lũy, học hỏi được

Khái niệm giáo dục nghề nghiệp: Giáo dục nghề nghiệp là khái niệm được hình thành trên cơ sở tổ hợp của khái niệm giáo dục và nghề nghiệp Căn cứ theo

Trang 29

nội hàm của 02 khái niệm nêu trên, giáo dục nghề nghiệp được hiểu là sự truyền đạt

và tiếp thu từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác một tập hợp các tri thức, bí quyết hoặc kỹ năng, kỹ thuật thể hiện đặc tính ổn định của một hoạt động chuyên môn cụ thể Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 của Việt Nam

quy định rõ hơn về các cấp bậc đào tạo, theo đó, giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo 02 hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên Cũng theo quy định của luật trên: Đào tạo nghề nghiệp chính quy là hình thức đào tạo theo các khóa học tập trung toàn bộ thời gian do cơ sở giáo dục nghề nghiệp và

cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp thực hiện để đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.Đào tạo nghề nghiệp thường xuyên là hình thức đào tạo vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có hướng dẫn đối với các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác, được thực hiện linh hoạt về chương trình, thời gian, phương pháp, địa điểm đào tạo, phù hợp với yêu cầu của người học Tương tự, từ khái niệm khả năng tiếp cận, giáo dục nghề nghiệp và TNKT nêu trên, đề tài đưa ra cách hiểu về khái niệm Khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của TNKT như sau:

- Khái niệm khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của TNKT

Khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của TNKT được hiểu là tình trạng sử dụng năng lực cá nhân (như: sức khỏe, học vấn, nguồn lực kinh tế ) của những người thuộc độ tuổi từ đủ 16 đến 30 bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể làm suy giảm về thể chất, thần kinh hay trí tuệ trong một thời gian dài hoặc suốt

cả cuộc đời kết hợp với năng lực can thiệp, tác động từ bên ngoài (xã hội) nhằm giúp

đỡ các cá nhân nêu trên có thể tiếp xúc, lĩnh hội các tri thức, bí quyết hoặc kỹ năng,

kỹ thuật thể hiện đặc tính ổn định của một hoạt động chuyên môn cụ thể theo các cấp đào tạo (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và chương trình đào tạo nghề nghiệp khác) và

Trang 30

hình thức đào tạo (đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên) khác nhau gắn với mong muốn, nhu cầu, nguyện vọng của bản thân hoặc gắn với quyền theo luật định

Cũng từ những khái niệm nêu trên, đề tài đưa ra cách hiểu “Nâng cao khả

năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của TNKT“ là tập hợp các giải pháp tác động

cải thiện năng lực cá nhân (như: sức khỏe, học vấn, nguồn lực kinh tế ) của những

người thuộc độ tuổi từ đủ 16 đến 30 bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận trên

cơ thể làm suy giảm về thể chất, thần kinh hay trí tuệ trong một thời gian dài hoặc suốt cả cuộc đời kết hợp với các giải pháp tăng cường năng lực can thiệp, tác động

từ bên ngoài (xã hội) nhằm giúp đỡ các cá nhân nêu trên có thể tiếp xúc, lĩnh hội các tri thức, bí quyết hoặc kỹ năng, kỹ thuật thể hiện đặc tính ổn định của một hoạt động chuyên môn cụ thể theo các cấp đào tạo (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và chương trình đào tạo nghề nghiệp khác) và hình thức đào tạo (đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên) khác nhau gắn với mong muốn, nhu cầu, nguyện vọng của bản thân hoặc gắn với quyền theo luật định

1.2.2 Khái niệm thanh niên khuyết tật

- Khái niệm khuyết tật

Khái niệm khuyết tật: Có rất nhiều cách hiểu và cách diễn giải khác nhau về khuyết tật bởi tính đa dạng, phức tạp của khái niệm, của công cụ đo lường, cũng như

sự khác biệt văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, do vậy, cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về khuyết tật (Françoise KBAYAA, 2015) Năm 1988, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra sự phân loại: khiếm khuyết (imparrment), khuyết tật (disability)

và tàn tật (handicap), theo đó, khuyết tật có nội hàm khác biệt với khiếm khuyết và tàn tật, cụ thể12:

Khuyết tật: ám chỉ sự suy giảm chức năng bởi sự thiếu hụt hay bất thường của

bộ phận cơ thể nào đó gây nên ở con người.Trong Công ước về quyền của người khuyết tật ngày 06 tháng 12 năm 2006, Đại hội đồng Liên hợp quốc định nghĩa

khuyết tật gắn với sự suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong

12

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (1988)

Trang 31

một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở

sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của con người vào xã hội trên cơ sở bình đẳng.13 Tuy nhiên, ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011 và chính thức

sử dụng thuật ngữ “khuyết tật” thay cho thuật ngữ “tàn tật” Luật này nêu rõ “khuyết

tật là tình trạng khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc tình trạng suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”14

Căn cứ theo hoàn cảnh đặc thù và sự biến đổi của xã hội Việt Nam, khái niệm người khuyết tật được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, có thời điểm, người khuyết tật còn được gọi là người tàn tật Cụ thể:

Theo nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ Việt Nam về hướng

dẫn thi hành một số điều của Bộ lao động về lao động người tàn tật: người tàn tật là

người mà khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở lên do tàn tật, được hội đồng giám định y khoa xác định.Theo Pháp lệnh người tàn tật của Việt Nam ban hành

ngày 01/11/1998 “Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người

khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh họat, học tập gặp nhiều khó khăn”

Theo Chương I, điều 2 của Luật người khuyết tật số 51/2010/QH12 (lúc này, thuật ngữ người tàn tật được thay thế bằng thuật ngữ người khuyết tật), người

khuyết tật được định nghĩa là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận trên

cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn

Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về người khuyết tật, trong khuôn khổ

đề tài nghiên cứu này, khái niệm người khuyết tật được sử dụng để miêu tả những người bị

khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể làm suy giảm về thể chất, thần kinh hay trí tuệ trong một thời gian dài hoặc suốt cả cuộc đời

Trang 32

- Khái niệm thanh niên

Khái niệm thanh niên : Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách mà chưa có sự thống nhất chung bởi tồn tại sự khác biệt về đặc điểm văn hóa, lối sống, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, cũng như tuổi thọ bình quân đầu người Do vậy, một số quốc gia cho rằng, thanh niên là những người thuộc độ tuổi từ 15 đến 24, một số khác kéo dài khoảng cách độ tuổi này từ 15 đến

30 và cá biệt có quốc gia ghi nhận thanh niên là những người thuộc độ tuổi từ 15 đến 40 (Phạm Văn Uýnh, 2010) Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên, nghĩa là từ 15 đến 28 tuổi (Phạm Văn Uýnh, 2010)15 Tuy nhiên, điều 1, Luật Thanh niên năm 2005 đã quy

định rõ “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi“

- Khái niệm thanh niên khuyết tật

Khái niệm thanh niên khuyết tật: Quy định về độ tuổi được ghi nhận trong luật Thanh niên nêu trên được sử dụng để nhận diện thanh niên trong đề tài nghiên cứu này

Từ những khái niệm nêu trên về người khuyết tật và TNKT, đề tài đưa ra cách

hiểu về TNKT như sau: TNKT là những người từ đủ 16 đến 30 tuổi bị khiếm khuyết

một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể làm suy giảm về thể chất, thần kinh hay trí tuệ trong một thời gian dài hoặc suốt cả cuộc đời

Tương tự, từ khái niệm giáo dục nghề nghiệp và TNKT nêu trên, đề tài đưa ra cách hiểu về Giáo dục nghề nghiệp cho TNKT dưới đây:

Giáo dục nghề nghiệp cho TNKT được hiểu là sự truyền đạt các tri thức, bí quyết hoặc kỹ năng, kỹ thuật thể hiện đặc tính ổn định của một hoạt động chuyên môn cụ thể cho những người từ đủ 16 đến 30 tuổi bị khiếm khuyết một hoặc nhiều

bộ phận trên cơ thể làm suy giảm về thể chất, thần kinh hay trí tuệ trong một thời gian dài hoặc suốt cả cuộc đời, đồng thời cũng là quá trình các cá nhân nêu trên tiếp thu các tri thức bí quyết, kỹ năng, kỹ thuật chuyên môn của một nghề

15 Phạm Văn Uýnh (2010), “Thực trạng thanh niên tỉnh Cà Mau, những giải pháp và chính sách cần thiết đối

với thanh niên trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội”, báo cáo nghiên cứu khoa học, Cà Mau

Trang 33

1.2.3 Hệ thống giáo dục nghề nghiệp cho thanh niên khuyết tật

Theo luật số: 74/2014/QH13 của Quốc hội quy định về giáo dục nghề nghiệp trong đó điều 4 đã nêu mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp;

có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn Đối tượng được tham gia giáo dục dạy nghề là công dân nước Việt Nam, do đó TNKT là đối tượng được phép tham gia giáo dục dạy nghề

Theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động giáo dục nghề nghiệp được giao cho Bộ LĐTBXH phụ trách và đơn vị đảm nhiệm trong đó có tổng cục dạy nghề và cục bảo trợ Căn cứ theo quy định pháp lý này, trung tâm bảo trợ xã hội trực thuộc cục bảo trợ xã hội được phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp

Theo luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, Trường trung cấp và Trường cao đẳng (khoản 1, điều 5) Các cơ sở này được tổ chức theo 3 loại hình là cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục và cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài Theo giải thích của văn bản luật nêu trên:

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc

cá nhân, do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở giáo dục nghề nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; cơ sở giáo dục nghề nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài

Trang 34

Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Căn cứ Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm

2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội (Sau đây gọi tắt là Nghị định số 68/2008/NĐ-CP) Căn

cứ Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020

Theo đó tại điều 4 nội dung có nêu tiêu chuẩn về giáo dục và học nghề, Cơ sở bảo

trợ xã hội bảo đảm cung cấp cho đối tượng được học văn hóa (đối với người có khả năng học tập); được học nghề (đối với trẻ em từ 13 tuổi trở lên và những người có khả năng lao động và có nhu cầu học nghề), cụ thể:

- Bảo đảm phổ cập giáo dục theo quy định tại khoản 1, Điều 11 Luật Giáo dục năm 2005

- Cung cấp giáo dục chính quy hoặc không chính quy trong các trường công lập, dân lập hoặc các cơ sở bảo trợ xã hội

- Giáo dục đối tượng về đạo đức xã hội, vệ sinh, kiến thức phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, sức khỏe sinh sản và các chủ đề khác phù hợp với độ tuổi và giới tính

- Hướng dẫn đối tượng các phương pháp tự phòng tránh buôn bán, lạm dụng, bạo hành và bóc lột

- Cung cấp sách vở, tài liệu học tập và bố trí nơi học tập cho đối tượng

- Tư vấn để đối tượng tự lựa chọn học nghề và phù hợp với điều kiện của địa phương

- Đối tượng được hỗ trợ học tiếp lên hoặc học nghề tùy thuộc vào độ tuổi, sự lựa chọn và nhu cầu thị trường

Như vậy, căn cứ theo luật người khuyết tật năm 2010, TNKT được quyền tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội, học nghề (điều 4), điều này có nghĩa trung tâm bảo trợ xã hội là đơn vị tham gia trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp được phép thực hiện hoạt động giáo dục nghề nghiệp mà TNKT được quyền tiếp cận trên cơ sở quyền bình đẳng và quyền được ưu tiên dành cho họ

Trang 35

1.3 Mối quan hệ giữa việc áp dụng mô hình quản lý MBO và khả năng nâng cao tiếp cận giáo dục của thanh niên khuyết tật

1.3.1 Sự phù hợp về lý thuyết của mô hình quản lý MBO với khả năng tiếp cận giáo dục của thanh niên khuyết tật

Bản chất của mô hình MBO quản lý theo mục tiêu là thiết lập, liên kết mục tiêu cùng với các hành động hướng tới mục tiêu của mọi nhân viên trong tổ chức Một phần quan trọng của quản lý theo mục tiêu là đo lường và so sánh hiệu suất thực tế của nhân viên với các tiêu chuẩn Lý tưởng nhất là nhân viên được tham gia thiết lập mục tiêu và lựa chọn các chương trình hành động, họ sẽ có nhiều khả năng thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình để góp phần thực hiện mục tiêu chung của

tổ chức Do đó mọi tổ chức đều có thể ứng dụng mô hình quản lý MBO trong việc thiết lập và quản lý mục tiêu hoạt động của tổ chức

Trung tâm bảo trợ xã hôi là một tổ chức, trung tâm có những mục tiêu cụ thể trong quá trình hình thành xây dựng và phát triển Trực thuộc sự quản lý của Bộ lao động thương binh và xã hội do đó các mục tiêu này được xây dựng đa phần dựa trên chức năng nhiệm vụ hoạt động của tổ chức do nhà nước phân công, trong đó có mục tiêu về định hướng giáo dục đào tào nghề nghiệp cho các đối tượng trong trung tâm, và một phần trong đó là các thanh niên khuyết tật

Trong nội dung trên đề tài đã đưa ra cách hiểu về việc nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp của TNKT là tập hợp các giải pháp tác động cải thiện năng lực cá nhân (như: sức khỏe, học vấn, nguồn lực kinh tế ) của những người thuộc độ tuổi từ đủ 16 đến 30 bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể làm suy giảm về thể chất, thần kinh hay trí tuệ trong một thời gian dài hoặc suốt cả cuộc đời

Có nhiều loại hình và hoạt động tác động đến năng lực cá nhân của TNKT trong

đó có tác động về mặt tâm lý, nhận thức nhằm giúp đỡ các cá nhân nêu trên có thể tiếp xúc, lĩnh hội các tri thức, bí quyết hoặc kỹ năng, kỹ thuật thể hiện đặc tính ổn định của một hoạt động chuyên môn cụ thể khác nhau gắn với mong muốn, nhu cầu, nguyện vọng của bản thân hoặc gắn với quyền theo luật định

Trang 36

Xét từ lý thuyết của mô hình quản lý MBO và lý thuyết về khả năng nâng cao

tiếp cận giáo dục cho thanh niên khuyết tật đã cho thấy tính phù hợp cụ thể như sau:

Mô hình quản lý MBO: chia ra hai đối tượng là tổ chức và cá nhân, ý nghĩa của mô hình nhấn mạnh đến việc thiết lập mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân, trong khi đó để nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của thanh niên khuyết tật cũng cần đến mục tiêu của tổ chức (Trung tâm bảo trợ xã hội) và mục tiêu của các cá nhân (TNKT), mục tiêu của tổ chức và mục tiêu cá nhân gắn bó mật thiết không thể tách rời

Lý tưởng của mô hình quản lý MBO là việc các cá nhân được quyền đóng góp, tham gia vào việc xây dựng mục tiêu chung của tổ chức, đồng thời mục tiêu của tổ chức được xây dựng dựa trên thực tế lắng nghe những nguyện vọng của các cá nhân, xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ này sẽ đem đến những thành công lớn Đối với hoạt động của một tổ chức cụ thể là trung tâm bảo trợ xã hội khi phải chịu trách nhiệm với đa dạng các đối tượng do đó để hiệu quả trong việc quản lý thì các nhà quản lý phải quan tâm để lắng nghe nguyện vọng của các nhóm đối tượng, tìm ra những mục tiêu chung để cùng thực hiện là điều cần phải làm Đồng thời, các

cá nhân cũng cần phải chủ động trong việc chia sẻ nguyện vọng với nhà quản lý để quá trình thấu hiểu và thực hiệc đạt kết quả tốt

Từ những ý nghĩa lý tưởng của mô hình quản lý MBO mang lại là điều mà các tổ chức và cá nhân mong muốn thực hiện được trong thực tế, chính từ sự phù hợp về lý thuyết nên hoàn toàn có thể ứng dụng trong điều kiện thực tiễn tại bất kỳ

tổ chức nào Trong giới hạn phạm vi của đề tài, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu ứng dụng trong phạm vi trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

1.3.2 Sự phù hợp về thực tiễn áp dụng của mô hình quản lý MBO với khả năng tiếp cận giáo dục của thanh niên khuyết tật

Từ sau khi Việt Nam đã gia nhập WTO dường như các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ đã nhanh chóng thích ứng với sân chơi toàn cầu này Ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam áp dụng một cách toàn diện MBO từ cấp lãnh đạo đến từng nhân viên Việc phân bổ mục tiêu đến từng phòng

Trang 37

ban, từng nhân viên đã góp phần tăng năng suất lao động, giảm chi phí đầu vào và tối đa hoá nguồn lực của doanh nghiệp

Nguồn lực của doanh nghiệp thông thường bao gồm 5 yếu tố chính: lao động, nguyên vật liệu, máy móc, năng lượng và hệ thống Quy trình hệ thống, trong đó MBO và nguồn lực lao động là 2 yếu tố quyết định đến năng suất và giảm chi phí Thực tế cho thấy, 2 yếu tố này hiện nay rất được chú trọng, từ đó khuyến khích thúc đẩy nhân viên làm việc vì mục tiêu chung của doanh nghiệp Cuối cùng, vấn đề quan trọng trong MBO là việc truyền đạt thông tin về mục tiêu Thực tế, ở cấp độ quản lý (giám đốc điều hành và giám đốc bộ phận) trong doanh nghiệp Việt Nam đã

có nhiều thay đổi về mục tiêu ưu tiên phát triển của doanh nghiệp, từ đó góp phần

thức đẩy đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp

Căn cứ dựa trên kết quả đạt được của nhiều doanh nghiệp có ứng dụng mô

hình quản lý MBO đã cho thấy tính hiệu quả của mô hình này trong việc thúc đẩy tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp, xác định được mục tiêu của cá nhân bền vững gắn liền với mục tiêu chung và từ mục tiêu cá nhân góp phần vào mục tiêu chung của tổ chức là điều mà mọi tổ chức hướng đến nhất là trong bối cảnh hiện nay

Từ những lợi ích của mô hình MBO đem lại cho các doanh nghiệp khi ứng dụng vào hoạt động quản lý, và xu hướng phát triển xã hội hóa chủ động của các cơ quan tổ chức tác giả nhận thấy trong bối cảnh hiện nay MBO hoàn toàn có thể ứng dụng trong công tác quản lý của cơ quan nhà nước cụ thể trong trung tâm bảo trợ xã hội về việc tạo động lực lao động và khả năng tiếp cận giáo dục của thanh niên khuyết tật

Một số chính sách của nhà nước về NKT

Theo số liệu của Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), hiện nay, đối tượng có nhu cầu trợ giúp xã hội ở nước ta rất lớn, chiếm 20% dân số, trong đó người khuyết tật chiếm tỉ lệ cao Kinh phí chi trợ giúp xã hội

Trang 38

gần 15.000 tỷ đồng/ năm16 Trong khi đó, nguồn lực thực hiện trợ giúp xã hội còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước dẫn đến mức hỗ trợ còn thấp, chưa bảo đảm được nhu cầu sinh hoạt tối thiểu Một bộ phận người dân khó khăn chưa tiếp cận được chính sách Để thực hiện Chương trình mục tiêu trợ giúp xã hội giai đoạn 2016 -

2020 mà Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt, Bộ LĐTBXH đã đưa ra các giải pháp

để huy động kinh phí ngoài ngân sách đầu tư cho công tác bảo trợ xã hội

Trong thời gian qua, lĩnh vực trợ giúp xã hội được Nhà nước rất quan tâm Nhiều văn bản quy phạm pháp luật lĩnh vực này được xây dựng, ban hành Đến nay,

63 tỉnh, thành phố đã thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng, trong đó có trẻ em mồ côi, người đơn thân nuôi con thuộc hộ nghèo, người cao tuổi trên 80 tuổi không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, người cao tuổi cô đơn, không nguồn nuôi dưỡng, người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng, gia đình, cá nhân nhận chăm sóc tại cộng đồng, người nhiễm HIV thuộc hộ nghèo Tuy nhiên, công tác bảo trợ xã hội còn gặp phải một số khó khăn Đó là nguồn lực thực hiện trợ giúp xã hội còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; chưa động viên, thu hút được nhiều sự tham gia của các doanh nghiệp, khu vực tư nhân và các cá nhân, tổ chức xã hội đầu tư vào trợ giúp xã hội; nhiều đối tượng thụ hưởng chính sách còn có tâm lý ỷ lại vào Nhà nước Diện bao phủ của trợ giúp xã hội còn hạn chế Mức hỗ trợ còn thấp, chưa bảo đảm được nhu cầu sinh hoạt tối thiểu Còn một bộ phận người dân khó khăn chưa tiếp cận được chính sách, dịch vụ trợ giúp xã hội Chênh lệch đời sống của đối tượng sống ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mặt bằng chung của cả nước còn cao Hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội chủ yếu chăm sóc nội trú nhưng cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa quản lý trường hợp và chăm sóc, trợ giúp đối tượng tại gia đình, cộng đồng; năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp xã hội còn yếu Ngoài ra, tình hình thiên tai, biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra phức tạp, gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng và có tác động lâu dài đến tính mạng và tài

16 Người khuyết tật ở Việt Nam: Thách thức, giải pháp, cơ hội cho ngân hàng thương mại và bài học kinh nghiệm từ Australia, https://bitly.vn/8zi1

Trang 39

sản của nhân dân, đòi hỏi phải sử dụng một lượng lớn nguồn lực từ trung ương đến địa phương để hỗ trợ cho các đối tượng

Mới đây, Bộ LĐTBXH cũng đưa ra kế hoạch để xã hội hóa công tác bảo trợ

Bộ LĐTBXH cho biết, sẽ đổi mới cơ chế trợ giúp xã hội phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường; tạo môi trường pháp lý bình đẳng, cạnh tranh giữa cơ sở trợ giúp

xã hội công lập và ngoài công lập Cùng với đó, Bộ LĐTBXH sẽ xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động tổ chức, cá nhân góp vốn dưới dạng góp cổ phần, hợp tác, liên kết và được ưu tiên vay vốn tại các ngân hàng, quỹ đầu tư phát triển để đầu tư nâng cấp, mở rộng hoặc xây dựng cơ sở trợ giúp xã hội; khuyến khích hình thức hợp tác giữa Nhà nước với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân về hoạt động của các cơ sở trợ giúp xã hội

Các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư nâng cấp, mở rộng hoặc xây dựng cơ sở trợ giúp xã hội được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, Bộ LĐTBXH sẽ đa dạng hóa các hình thức đầu tư, hình thức quản lý cơ sở trợ giúp xã hội, đẩy mạnh xã hội hóa, bảo đảm phù hợp với khả năng đầu tư của Nhà nước và khả năng huy động nguồn lực xã hội để phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội

Ngoài ra, Bộ LĐTBXH sẽ tổ chức vận động và tạo môi trường pháp lý thuận lợi thúc đẩy sự tham gia tích cực của các tổ chức đa phương, song phương và tổ chức phi chính phủ quốc tế trong việc đầu tư nguồn lực trong lĩnh vực trợ giúp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội và các nhóm dân cư yếu thế, dễ bị tổn thương Như vậy có thể thấy trong bối cảnh hiện nay nhà nước và xã hội đã nhìn nhận

và có định hướng thay đổi trong hoạt động quản lý vận hành các trung tâm bảo trợ

xã hội theo hướng sau:

- Tăng cường vai trò chủ động của các trung tâm bảo trợ xã hội trong các hoạt động đặc biệt trong việc hỗ trợ định hướng nghề nghiệp

- Tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp tư nhân tham gia hỗ trợ các đối tượng trong lao động, định hướng nghề nghiệp Khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -

Trang 40

nghề nghiệp, các tổ chức khác, công dân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tham gia hoạt động đào tạo nghề nghiệp

- Tăng cường liên kết cải thiện, đa dạng hóa loại hình dịch vụ trên cơ sở nhiều nguồn lực

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam – NCCD (2010), Báo cáo năm 2010 về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo năm 2010 về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật
Tác giả: Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam – NCCD
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
2. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2016), Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản liên quan/ Report on implementing the Ordinance of PWD and related social policies, MOLISA, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản liên quan
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Nhà XB: MOLISA
Năm: 2016
3. Bộ LĐTBXH (2014), Kinh nghiệm đào tạo nghề các nước, http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=19574 (truy cập ngày 20-12-2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm đào tạo nghề các nước
Tác giả: Bộ LĐTBXH
Năm: 2014
4. Chính phủ (2012), Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT 5. Lê Thị Dung (2011), Công tác xã hội với người khuyết tật, Nhà xuất bản Laođộng xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: Lê Thị Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Laođộng xã hội
Năm: 2011
6. Nguyễn Thị Kim Hoa (2014), giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
14. Nguyễn Việt Tuấn (2015), Giáo dục học nghề nghiệp, nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học nghề nghiệp
Tác giả: Nguyễn Việt Tuấn
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2015
15. UB Quốc gia về NKT Việt Nam (2016), Hệ thống các văn bản quy định hiện hành về NKT, Nhà Xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các văn bản quy định hiện hành về NKT
Tác giả: UB Quốc gia về NKT Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2016
16. Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề (2015), Báo cáo dạy nghề Việt Nam giai đoạn 2013 – 2014, NXB. Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dạy nghề Việt Nam giai đoạn 2013 – 2014
Tác giả: Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề
Nhà XB: NXB. Lao động – Xã hội
Năm: 2015
17. Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (2008), Người khuyết tật ở Việt Nam, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người khuyết tật ở Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2008
18. Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (2011), Chi phí kinh tế của sống chung với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi phí kinh tế của sống chung với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
19. Vietnam Busness Forum (2011), Kinh nghiệm từ mô hình đào tạo và dạy nghề ưu tú của Na UyTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm từ mô hình đào tạo và dạy nghề ưu tú của Na Uy
Tác giả: Vietnam Busness Forum
Năm: 2011
20. Anne-Lise Hứstmark Darrou (2003), Initial vocational training in Norway, Revue internationale d’éducation de Sèvres Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Initial vocational training in Norway
Tác giả: Anne-Lise Hứstmark Darrou
Năm: 2003
21. Anne Sophie du Mortier và Stephanie Mailliot (2011), Métier une notion en transformation, MÉMO N° 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Métier une notion en transformation
Tác giả: Anne Sophie du Mortier và Stephanie Mailliot
Năm: 2011
22. Berliner, D. (2002), Educational research: The hardest science of all, Educational Researcher, Vol. 31/8, pp. 18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Educational research: The hardest science of all, Educational Researcher
Tác giả: Berliner, D
Năm: 2002
23. Christine Kahlen (2010), Formation professionnelle en Allemagne, Institut de l’économie allemande de Cologne Sách, tạp chí
Tiêu đề: Formation professionnelle en Allemagne
Tác giả: Christine Kahlen
Năm: 2010
24. La Treille G (1980), La naissance des métiers en France, 1950-75. Étude psycho sociale, Lyon, Presses Universitaires de Lyon Sách, tạp chí
Tiêu đề: La naissance des métiers en France
Tác giả: La Treille G
Năm: 1980
25. Franỗoise KBAYAA (2015), La formation professionnelle continue des personnes handicapées mentales, Unapei Sách, tạp chí
Tiêu đề: La formation professionnelle continue des personnes handicapées mentales
Tác giả: Franỗoise KBAYAA
Năm: 2015
26. Kumiko Tsukamoto (2016), Vocational Education and Training (VET) in Japan, https://internationaleducation.gov.au/International- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vocational Education and Training (VET) in Japan
Tác giả: Kumiko Tsukamoto
Năm: 2016
27. Jan Scheurer và Carey Curtis (2007), Accessibility Measures: Overview and Practical Applications, Curtin University of Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accessibility Measures: Overview and Practical Applications
Tác giả: Jan Scheurer, Carey Curtis
Nhà XB: Curtin University of Technology
Năm: 2007
28. John G. Nicholls (1984), Achievement Motivation: Conceptions of Ability, Subjective Experience, Task Choice, and Performance, Psychological Review, Vol. 91, No. 3, 328-346 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Achievement Motivation: Conceptions of Ability, Subjective Experience
Tác giả: John G. Nicholls
Năm: 1984

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w