1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đánh giá mô hình quản lý tài nguyên của công ty TNHH MTV cao phong, tỉnh hòa bình

76 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Cao Phong là một huyện miền núi thuộc tỉnh Hòa Bình, cao khoảng 300m so với mực nước biển, khí hậu ôn hòa, nhiệt độ thấp hơn các nơi khác từ 3 - 4 độ C, do được bao quanh bởi nhữn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Đặng Thanh An

T ỈNH HÒA BÌNH

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Đặng Thanh An

T ỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Khoa h ọc Môi trường

Mã s ố: 60440301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Thị Phương Loan - giảng viên ở Bộ môn Sinh thái Môi trường, Khoa Môi Trường, Trường Đại

học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã hướng dẫn tận tình và có

những định hướng chuyên môn quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn Ban Lãnh đạo và các cán bộ trong Công ty TNHH Một thành viên Cao Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi

tiến hành các nghiên cứu tại nông trường và đề tài QG.16.19 Đại học Quốc Gia Hà

Nội đã hỗ trợ trong các chuyến khảo sát thực địa và viết bài báo

Tôi xin gửi lời tri ân tới các thầy cô trong Bộ môn Sinh thái Môi trường,

Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã

giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình tôi, người thân và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

Hà N ội, tháng năm 2019

Học viên

Đặng Thanh An

Trang 4

MỤC LỤC

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT i

DANH M ỤC BẢNG ii

DANH M ỤC HÌNH iii

M Ở ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về điều kiện địa lý, điều kiện tự nhiên huyện Cao Phong 3

1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên Thế giới và ở Việt Nam 5

1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên Thế giới 5

1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam ở Việt Nam 6

1.2.3 Tình hình phát triển sản xuất cam của tỉnh Hòa Bình 9

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất cam 13

1.3.1 Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên 13

1.3.2 Nhóm yếu tố về hoạt động sản xuất 14

1.3.3 Nhóm yếu tố thị trường 15

1.3.4 Nhóm yếu tố về chính sách 15

1.4 Các mô hình quản lý tài nguyên 16

1.4.1 Mô hình quản lý của nhà nước 16

1.4.2 Mô hình quản lý dựa vào cộng đồng 16

1.4.3 Mô hình tổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý 17

1.4.4 Mô hình chia sẻ quản lý giữa tổ chức nông dân và một tổ chức có liên quan đến nhà nước 17

1.4.5 Mô hình tổ chức nông dân tự quản lý 18

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin 20

2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 20

2.2.3 Điều tra phỏng vấn 20

2.2.4 Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu 21

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đánh giá hiện trạng và hiệu quả quản lý chung của Công ty TNHH MTV Cao Phong 23

3.2 Hiện trạng quản lý và sản xuất của công ty TNHH MTV Cao Phong 28

3.2.1 Hiện trạng và hiệu quả quản lý kinh tế 28

3.2.2 Hiện trạng quản lý tài nguyên đất 42

3.2.3 Quản lý cây trồng và kỹ thuật trồng 45

Trang 5

3.2.4 Quản lý thuốc bảo vệ thực vật 46

3.2.5 Hiện trạng quản lý nguồn nước tưới 52

3.3 Đề xuất một số giải pháp duy trì và phát triển nghề trồng cam ở công ty TNHH MTV Cao Phong 55

3.3.1 Bảo vệ và cải thiện chất lượng đất 55

3.3.2 Quản lý nguồn nước tưới hiệu quả 56

3.3.3 Tiếp tục chuyển đổi, nhân rộng các kỹ thuật và mô hình sản xuất cam b ền vững 56

3.3.4 Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ và quản lý 57

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 60

Trang 6

VietGAP Vietnamese Good Agricultural Practices

(Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi của Việt Nam)

KTCB Kiến thiết cơ bản

Trang 7

DAN H MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cây có múi ở một số quốc gia (2017) 5

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng cây có múi ở Đông Nam Á (2017) 6

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng cam của Việt Nam 7

Bảng 1.4 Diện tích cho sản phẩm cam, chanh, quýt của Việt Nam 8

Bảng 1.5 Sản lượng cam, chanh, quýt ở Việt Nam 8

Bảng 1.6 Cơ cấu và thời vụ thu hoạch các giống cam quýt ở Hòa Bình 9

Bảng 3.1 Kết quả sản xuất kinh doanh các năm 2012, 2013 và 2014 28

Bảng 3.2 Mức tỷ lệ thu sản phân bổ trong chu kỳ cam 15 năm 30

Bảng 3.3 Kết quả tính chi vốn cố định trồng cam 34

Bảng 3.4 Kết quả tính chi mua thuốc BVTV vườn VietGAP 35

Bảng 3.5 Kết quả tính các khoản chi vốn lưu động vườn VietGAP năm 2017 38

Bảng 3.6 Kết quả tính chi mua phân bón vườn truyền thống 39

Bảng 3.7 Kết quả tính chi vốn lưu động vườn truyền thống 40

Bảng 3.8 Sản lượng và doanh thu vườn VietGAP 01 giai đoạn 2007 - 2017 40

Bảng 3.9 Sản lượng và doanh thu vườn truyền thống giai đoạn 2014 - 2017 41

Bảng 3.10 Kết quả tính chi phí - lợi ích của quá trình canh tác cam 42

Bảng 3.11 Diện tích đất trồng cam giao khoán cho các đội năm 2016 44

Bảng 3.12 Một số loại bệnh và thuốc phòng trừ sâu bệnh 46

Bảng 3.13 Danh mục một số thuốc BVTV thường dùng trên cây cam trong giai đoạn tháng 9/ 2016 47

Bảng 3.14 Các loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong canh tác cam 50

Bảng 3.15 Dung tích của 5 hồ chứa năm 2016 53

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Cao Phong……… 3

Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty TNHH MTV Cao Phong 23

Hình 3.2 Năng suất cam trung bình của nông hộ tại thị trấn Cao Phong 29

Hình 3.4 Tỷ lệ % các hộ tham gia VietGAP và không tham gia VietGAP 49

Hình 3.5 Tỷ lệ % các nhóm HCBVTV được sử dụng trong các vườn cam 50

Hình 3.6 Cơ cấu sử dụng HCBVTV theo nhóm đối tượng cần phòng trừ 52

Trang 9

MỞ ĐẦU

Cao Phong là một huyện miền núi thuộc tỉnh Hòa Bình, cao khoảng 300m so

với mực nước biển, khí hậu ôn hòa, nhiệt độ thấp hơn các nơi khác từ 3 - 4 độ C, do được bao quanh bởi những dãy núi đá vôi và có tầng đất canh tác dày, thoáng khí, hàm lượng dinh dưỡng cao, nên rất phù hợp với cây có múi, nhất là cam, quýt…

Từ những năm 1960 Nông trường Cao Phong (nay là Công ty TNHH MTV Cao Phong) đã được thành lập để phát triển vùng cam, với các giống cam chủ yếu là

Xã Đoài, Sông Con, Naven, Valenxia và quýt Ôn Châu… Đến năm 1976, Cao Phong đã có 900ha cam, với sản lượng khoảng 3.000 tấn/năm Sản phẩm cam giai đoạn này chủ yếu dành xuất khẩu sang Liên Xô, các nước Đông Âu, chỉ có một

phần cung cấp cho thị trường nội địa Năm 1991, sau khi Liên Xô tan rã, hợp đồng

xuất khẩu cam đi Liên Xô và các nước Đông Âu bị cắt, việc tiêu thụ trong nước

chậm, khiến diện tích cam liên tục giảm Thời gian này cây cam Cao Phong chủ yếu

vẫn được canh tác theo lối quảng canh, chất lượng chưa ổn định

Từ khoảng năm 1995 đến đầu những năm 2000, xác định cam là cây có hiệu

quả kinh tế cao, tạo đà phát triển nhanh, huyện Cao Phong đã có nghị quyết chuyên

đề về phát triển vùng cây ăn quả, cây công nghiệp, trong đó chú trọng phát triển vùng chuyên cam, quýt Từ đó cây cam đã trở thành cây chủ lực của huyện Cao Phong trong sản xuất hàng hóa, là cây làm giàu của hàng trăm hộ dân

Bên cạnh cây cam, nông trường vẫn không ngừng nâng cao chất lượng các nông sản khác như cây mía, ngô, bưởi, sắn Tuy vậy, so sánh năng suất, hiệu quả

trồng trọt, sức tiêu thụ sản phẩm mọi cây trồng khác đều không hiệu quả bằng cây cam, nên hầu hết các công nhân nông trường và các hộ gia đình giờ đây đều chuyển sang chuyên canh cây cam

Tháng 11/2014 cam Cao Phong đã được cấp ”Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý”, đây là một bước ngoặt quan trọng giúp nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng

thị trường cam Cao Phong

Trang 10

So với các nông trường Sông Bôi, Thanh Hà, đất của Cao Phong chỉ bằng một

nửa (836,57 ha) Tuy nhiên, trên diện tích đất này mỗi năm đã cho nông trường thu

nhập hàng chục tỷ đồng nhờ trồng các loại cam chất lượng cao, được nhiều người kinh doanh và tiêu dùng trong cả nước tìm đến

Trong khi có rất nhiều các nông, lâm trường đang loay hoay với việc chuyển đổi quản lý và sử dụng đất đai, Công ty THHH MTV Cao Phong là một ví dụ điển hình thành công trong công tác đổi mới sản xuất

Đề tài ”Nghiên cứu đánh giá mô hình quản lý tài nguyên của công ty

TNHH MTV Cao Phong, t ỉnh Hòa Bình” được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả

của việc quản lý sử dụng tài nguyên theo hình thức mô hình công ty

- Nghiên cứu mô hình quản lý tài nguyên của công ty TNHH MTV Cao Phong (gọi tắt là công ty Cao Phong)

- Đánh giá hiệu quả của công tác quản lý tài nguyên đất, nước, cây trồng và môi trường của công ty

Trang 11

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Cao Phong là một huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình, được tách từ huyện Kỳ Sơn năm 2012, có tọa độ địa lý từ 185031’ đến 185038’ Kinh độ Đông, từ 22084’ đến 22098’ Vĩ độ Bắc, diện tích đất tự nhiên là 25.437 ha Ranh giới hành chính của huyện ở phía Bắc giáp thị xã Hòa Bình và huyện Đà Bắc, phía Đông giáp huyện Kim Bôi, phía Tây giáp huyện Tam Lạc, phía Nam giáp huyện Lạc Sơn Cao Phong

nằm trên trục đường quốc lộ 6, tuyến đường chính chạy lên Tây Bắc, cách Hà Nội 92km về phía Tây, cách thành phố Hòa Bình 16 km Cao Phong nằm ở vị trí địa lý thuận lợi đã tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế

Cao Phong có độ cao trên 300 m so với mặt nước biển Địa hình có cấu trúc thoải, độ dốc trung bình khoảng 10 - 150, bao gồm nhiều dạng đồi bát úp thấp dần

từ Đông Nam xuống Tây Bắc Địa hình Cao Phong chia làm 3 vùng chính: vùng núi cao (gồm 2 xã là Yên Thượng Yên Lập), vùng giữa (gồm thị trấn Cao Phong

Trang 12

và 8 xã là Nam Phong, Tây Phong, Dũng Phong, Tân Phong, Xuân Phong, Đông Phong, Bắc Phong, Thu Phong), vùng hồ sông Đà (gồm 2 xã là Thung Nai, Bình

Phong) Với địa hình như vậy, Cao Phong có điều kiện thuận lợi về sản xuất nông lâm nghiệp, đa dạng hóa các loại cây trồng, đặc biệt là một số loại cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc và nuôi trồng thủy sản

Khí hậu Cao Phong mang đặc điểm chung của thời tiết, khí hậu miền Bắc Việt Nam là nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt, mùa hè nóng và mưa nhiều, mùa đông

lạnh và khô Tuy nhiên, do vị trí địa lý, đặc điểm đại hình phức tạp nên điều kiện khí hậu thời tiết của huyện Cao Phong cũng có những nét đặc thù riêng, đó là có mùa đông lạnh hơn các huyện khác trong tỉnh từ 2 - 30C Nhiệt độ trung bình năm

của Cao Phong là 23,90C, nhiệt độ thấp nhất là 13,60C, cao nhất là 29,50C Số giờ

nắng trung bình năm vào khoảng 1.500 - 1.900 giờ/ năm, nắng nhiều vào mùa hè từ tháng 6 đến tháng 9, và nắng ít vào mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3 Độ ẩm không khí của Cao Phong vào khoảng 81 – 84% Cao Phong chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhưng không lớn, tháng 4, tháng 5 chịu ảnh hưởng nhẹ của gió lào Lượng mưa trung bình hàng năm khá cao, từ 1.700 - 2.000 mm, nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm

từ 80% đến 90% lượng mưa cả năm; mùa đông mưa ít nên thường xảy ra hiện tượng thiếu nước Nhìn chung, huyện Cao Phong có khí hậu mát mẻ và độ ẩm cao, thích hợp cho sự phát triển của cây cam

Theo số liệu thống kê năm 2017, toàn huyện Cao Phong có diện tích đất tự nhiên là 459.100 ha Trong đó, đất nông nghiệp là 88.600 ha, chiếm tỷ lệ 19,30%, đất lâm nghiệp là 296.400 ha, chiếm 64.56%, đất chuyên dùng là 30.900 ha, chỉ chiếm 6,73%, đất ở là 14.000 ha, chiếm 3,05% Qua đó có thể thấy, tiềm năng đất đai của Cao Phong đã được huy động gần như tối đa cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp

Đất ở Cao Phong chủ yếu là đất feralit vàng đỏ, phát triển trên các loại đá vôi

và đá phiến thạch Nhìn chung, độ phì của các loại đất tương đối khá, tầng đất mặt tương đối dày Theo tài liệu Nông hóa Thổ nhưỡng của Sở Nông nghiệp và Phát

Trang 13

triển nông thôn tỉnh Hòa Bình, thì huyện Cao Phong có 20 loại đất khác nhau, gồm

9 loại đất chủ yếu: đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá phiến sét, đất nâu đỏ và mùn đỏ vàng trên đá bazan và trung tính, đất đỏ nâu trên đá vôi (đất vùng đồi núi); đất phù sa không được bồi, đất phù sa được bồi, đất phù sa glay, đất phù sa feralit biến chất do không được cải tạo, đất dốc tụ (vùng đất ruộng) Nhìn chung Cao Phong có địa hình đa dạng với nhiều loại đất có độ phì cao, có thể bố trí nhiều

loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, trồng rừng đa tác dụng với tất cả các hệ sinh thái tưới và không tưới

1.2.1 Tình hình s ản xuất và tiêu thụ cam trên Thế giới

Cây cam nói riêng và cây có múi nói chung hiện được trồng ở nhiều nơi trên thế

giới Cây có múi phát triển mạnh ở những vùng có khí hậu ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới

hoặc vùng khí hậu ôn đới ven biển Càng ngày, nhu cầu tiêu thụ cam quýt càng cao, ngành sản xuất cam quýt đã không ngừng phát triển cả số lượng và chất lượng

[24]

STT Châu lục/Quốc gia Diện tích (ha) Năng suất

(tấn/ ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 14

Theo thống kê của FAO, năm 2017, diện tích trồng cam của thế giới là 3.862.449 ha, chiếm 41,64% diện tích trồng cây có múi Các nước ở vùng khí hậu

cận nhiệt có diện tích trồng cam lớn trên thế giới, như Trung Quốc, Brazil, Hoa Kỳ, Mexico Tổng sản lượng cam trên thế giới năm 2017 là 73.313.089 tấn, chiếm 51,96% tổng sản lượng cây có múi Những nước có sản lượng cam lớn là Hoa Kỳ (4.615.760 tấn, năm 2017), Trung Quốc (8.685.812 tấn, năm 2017), Mexico (4.629.758 tấn, năm 2017)

[24]

TT Châu lục/Quốc gia Diện tích

(ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (tấn)

1.2.2 Tình hình s ản xuất và tiêu thụ cam ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, rất thích hợp trồng cây ăn quả, đặc biệt là các cây có múi Năm 2017, diện tích cam cả nước đạt 768.319 ha, chiếm 57,48% tổng diện tích cây có múi Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia có diện tích và sản lượng cam thuộc nhóm đầu, chỉ sau Indonexia

Diện tích trồng cam của Việt Nam tăng mạnh vào những năm 2000, cao nhất

là 72.800 ha năm 2002 và giảm mạnh xuống còn 50.700 ha năm 2003 rồi lại có xu hướng tăng đều đến năm 2010 trước khi giảm xuống con số thấp nhất là 42.764 ha vào năm 2012 Những năm gần đây diện tích trồng cam đã tăng trở lại Diện tích cây cam nói riêng và cây ăn quả nói chung giảm dần do nhiều nguyên nhân như

diện tích đất trống không còn, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ diện tích các cây

Trang 15

hàng năm có hiệu quả kinh tế kém sang cây ăn quả không còn nhiều do sự canh tranh lợi nhuận từ nhiều loại cây trồng khác hiện đang có giá cả thuận lợi trên thị trường trong nước (lúa, sắn, ngô, và nhiều loại cây công nghiệp như cà phê, cao

su, tiêu) Bên cạnh đó, một số vườn cây ăn quả đã bị nhiễm dịch hại nặng (vàng lá trên cây có múi) trong nhiều năm và không còn khả năng phòng trị; một số cây ăn

quả có hiệu quả kinh tế thấp hoặc nông dân không dủ nguồn vốn và kỹ thuật để đầu

tư Tuy diện tích giảm, nhưng năng suất cây cam nói chung và cây có múi vẫn tăng đều hàng năm do được áp dụng nhiều biện pháp thâm canh Năng suất cam trung bình cả nước ta năm 2017 đạt 13,54 tấn/ha, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonexia và Thái Lan), tăng 14,17% so với năm 2010

STT Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ ha) Sản lượng (tấn)

Diện tích trồng chanh, cam, quýt trải dài trên cả nước, trong đó nơi có diện tích

trồng chanh, cam, quýt lớn là Đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 29,6 nghìn ha, chiếm 52,57% diện tích trồng của cả nước Nguyên nhân do vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điều kiện về khí hậu thích hợp trồng cây cam Cây cam được trồng nhiều ở Tiền Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long với các giống cam Sành, cam Mật Ở Miền

Bắc, cây cam được trồng nhiều ở Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Tĩnh với các vùng trồng cam nổi tiếng như: cam Sành ở Bắc Quang – Hà Giang, Hàm Yên – Tuyên Quang, Vinh – Nghệ An, cam Bù ở Hương Sơn - Hà Tĩnh

Trang 16

B ảng 1.4 Diện tích cho sản phẩm cam, chanh, quýt của Việt Nam

Trang 17

1.2.3 Tình hình phát tri ển sản xuất cam của tỉnh Hòa Bình

Với lợi thế về điều kiện tiểu khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp, thời gian gần đây,

diện tích cây ăn quả trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ngày càng tăng, bước đầu hình thành những vùng sản xuất mang tính hàng hóa, tạo thu nhập cao, ổn định cho người dân Diện tích sản xuất cây ăn quả có múi toàn tỉnh khoảng 4.695 ha (diện tích kinh doanh 1.849 ha), năng suất bình quân 218 tạ/ha, sản lượng 40.488 tấn, trong đó huyện Cao Phong có 1.495,6 ha cam (sản lượng 19.738 tấn)

Cơ cấu giống và thời vụ thu hoạch các giống cam quýt ở Hòa Bình như sau:

Chín sớm: Cam CS1, Quýt Ôn

Chính vụ: Cam xã đoài, cam Vân

Chín muộn: Cam canh, cam V2 30 % Tháng 11 – tháng 3 năm sau

Diện tích cây ăn quả có múi trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây Theo thống kê Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hòa Bình, diện tích cây có múi trên địa bàn tỉnh năm 2016 đạt 5.145 ha (trong đó diện tích kinh doanh trên 2000 ha), năm 2017 khoảng 6.300 ha, trong đó,

diện tích cam là 3.600 ha, bưởi 2.700 ha Sự tăng lên rõ rệt về diện tích sản xuất cây

có múi của tỉnh Hòa Bình cho thấy công tác quy hoạch, thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất cây ăn quả của tỉnh bước đầu có hiệu quả Các chính sách của

tỉnh nhằm phát huy lợi thế sẵn có của địa phương, tạo sản phẩm mang tính hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người dân, Hòa Bình đã có những chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tập trung, phê duyệt các quy hoạch, đề án phát triển sản phẩm

trồng trọt trong đó chú trọng các loại cây ăn quả có thế mạnh Điển hình là Đề án tái

cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền

vững tỉnh Hòa Bình đến năm 2020 tại Quyết định số 1604/QĐ-UBND phê duyệt

Trang 18

ngày 31/8/2015; trong đó phát triển cây ăn quả có múi là dự án ưu tiên Theo sau đó

là các đề án và các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tập trung, hỗ trợ tiêu thụ nông sản hàng hóa; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp; phê duyệt các quy hoạch, đề án phát triển sản phẩm trồng trọt trong đó chú trọng vào sản xuất tiêu thụ các sản phẩm cây ăn quả như:[1]

- Đề án cải tạo vườn tạp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đến năm 2020, với mục tiêu hàng năm cải tạo khoảng 1.200 ha vườn tạp thành vườn có hiệu quả kinh tế cao, ưu tiên phát triển cây ăn quả (Quyết định 1493/QĐ-UBND ngày 09/6/2016 của UBND

tỉnh Hòa Bình);

- Quyết định số 29/2014/QĐ-UBND ngày 14/10/2014 Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc ban hành Tiêu chí quy mô diện tích tối thiểu về cánh đồng lớn trong sản xuất trồng trọt tỉnh Hòa Bình;

- Quyết định số 11/2015/QĐ-UBND ngày 27/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình ban hành Quy định một số cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa trong lĩnh vực trồng trọt, giai đoạn 2015-2020 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong đó

hỗ trợ phát triển diện tích trồng cây có múi;

- Quyết định 33/2015/QĐ-UBND, ngày 04/11/2015 ban hành Quy định về cơ

chế hỗ trợ tiêu thụ nông sản hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, giai đoạn 2015 - 2020;

- Quyết định 04/2016/QĐ-UBND, ngày 29/01/2016 ban hành Quy định thực

hiện chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, giai đoạn 2016 – 2020;

Tại Cao Phong, năm 2017 diện tích cây có múi toàn huyện khoảng 2.835,6 ha, trong đó cây cam 1.652,84 ha, cây quýt là 814,86 ha, cây bưởi là, trên 309 ha, chanh trồng bờ rào là 58,5 ha Bình quân mỗi héc-ta cho thu hoạch khoảng 25 đến 30 tấn

quả, với giá bán từ 22 nghìn đến 25 nghìn đồng/kg Giá trị thu nhập đối với cây có múi của Cao Phong thuộc nhóm cao của tỉnh (đạt trên 550 triệu đồng/ha) Ngày 16/11/2014, cam Cao Phong được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp công bố và cấp giấy

chứng nhận “Thương hiệu chỉ dẫn địa lý” cho cam Cao Phong Toàn huyện đã quy

Trang 19

hoạch vùng đủ điều kiện sản xuất cam an toàn đến 2020, quy mô 5.084 ha (chiếm trên 83% tổng diện tích cây ăn quả có múi toàn tỉnh)

Diện tích và sản lượng cam tại Cao Phong ngày càng tăng Năm 2004, tổng

diện tích cam của Cao Phong là 178 ha, diện tích cho sản phẩm là 74,3 ha, sản lượng 1895 tấn, năng suất bình quân 225,5 tạ/ha Năm 2006 tổng diện tích tăng lên 295,7 ha; diện tích cho sản phẩm 93,5 ha; sản lượng 2009,3 tấn và năng suất bình quân là 214,9 tạ/ ha Trong các cây ăn quả có múi hiện nay, cam Xã Đoài là giống

chủ lực với tổng diện tích là 251,7 ha, diện tích cho sản phẩm là 68,2 ha Cam canh

có diện tích trồng là 14,5 ha;diện tích cho sản phẩm là 68,2 ha Cam Valencia (V2)

có diện tích là 30 ha, diện tích cho sản phẩm là 17 ha Năm 2010, diện tích trồng cam của huyện là 557 ha, sản lượng đạt 9.000 tấn Năm 2013, diện tích trồng cam là

920 ha, sản lượng đạt 16.000 tấn Năm 2014, toàn huyện Cao Phong có khoảng 1.774 ha đất trồng cam, tăng gấp 10 lần so với năm 2004, gấp 6 lần so với năm

2006 và tăng gấp 3.17 lần so với năm 2010, sản lượng ước tích đạt 16.500 tấn

Những năm gần đây, việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, áp dụng các tiến bộ kĩ thuật và chú trọng đầu tư thâm canh đã mang lại hiệu quả cao cho người trồng cam

ở Cao Phong, Hòa Bình Ngày 16/11/2014, Cam Cao Phong được đón nhận chỉ dẫn địa lý “Cao Phong” bước đầu bảo hộ cho 4 giống cam là CS1, xã Đoài lùn, xã Đoài cao và cam sành Đây là một bước tiến lớn, thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ cam ở Cao Phong

- Giống cam Lòng Vàng chín sớm CS1 được Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây có múi tuyển chọn Cam có hình cầu đều, vỏ nhẵn, túi tinh dầu lộ rõ, khi chín trái vàng đậm, bổ ra có màu vàng, tép nhỏ, giòn, ăn ngọt và có vị thơm mát, không đỏ màu đường như cam sành, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Đặc tính nổi trội của cam là thời gian chín sớm hơn các giống phổ biến tại Miền Bắc hiện nay khoảng 1 tháng (thời gian thu hoạch sớm vào đầu tháng 10 đến trung tuần tháng

10 âm hàng năm), mang lại hiệu quả kinh tế cao Đây là giống có ý nghĩa trong việc

Trang 20

rải vụ thu hoạch, giúp tháo gỡ khó khăn trong cơ cấu giống cam hiện nay Năm

2017, cam xuất tại vườn cho thương lái mua buôn với giá khoảng 28.000 đồng/kg

- Giống cam Xã Đoài Cao Phong gồm 2 dòng là Xã Đoài Cao (quả hình cầu đều hơi lồi về cuối) và Xã Đoài Lùn (quả hình cầu đều) Cam khi chín vỏ có màu vàng cam, vỏ nhẵn, rõ túi tinh dầu, mọng nước, thơm, tép màu vàng nhạt, vị ngọt Cam chín muộn hơn cam Lòng Vàng khoảng một tháng (vào trung tuần tháng 11 đến

cuối tháng 12 âm hàng năm) Năm 2017, cam xuất tại vườn cho thương lái mua buôn với giá khoảng 18.000 đồng/kg

- Giống cam Canh được trồng lâu đời ở xã Vân Canh, huyện Hoài Đức , Hà

Nội Quả hình cầu dẹt, chín màu đỏ, vỏ mọng, ruột màu vàng, vị ngọt đậm, thơm

Trọng lượng trung bình 80 - 120g/quả Cam cho năng suất cao, nếu trồng mật độ dày và thâm canh ngay từ đầu có thể đạt năng suất 40 - 50 tấn/ha Thời điểm thu

hoạch cam vào tháng 11 - 12 âm hàng năm Năm 2017, cam xuất tại vườn cho thương lái mua buôn với giá bán 30.000 đồng/kg

- Giống cam Chín muộn V2 được Viện Di truyền Nông nghiệp tuyển chọn Quả

có thể bảo quản lâu trên cây và sau thu hoạch, dễ dàng trong bảo quản và vận chuyển Cam cho năng suất, chất lượng quả cao, ít hạt và chín muộn (đây là giống chín muộn nhất trong các giống cam hiện nay của Việt Nam) Năm 2017, cam xuất tại vườn cho thương lái mua buôn với giá bán 28.000 đồng/kg

Hoạt động sản xuất cam tại thị trấn Cao Phong ngày càng được nhiều sự quan tâm từ phía chính quyền địa phương và người dân Do đó, diện tích, năng suất cam trong nhưng năm qua tại đây đã tăng lên đáng kể, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và cải thiện đời sồng người dân Năng suất cam tại thị trấn Cao Phong trong

những năm qua đã tăng lên đáng kể nhờ áp dụng các biện pháp thâm canh Năm

2016, lợi nhuận mang lại cho các hộ sản xuất cam đạt trung bình trên 550 triệu đồng/ha/năm Hoạt động sản xuất cam tại Cao Phong đang được chú trọng theo hướng bền vững hơn bằng biện pháp áp dụng các mô hình sản xuất theo VietGAP

và công nghệ cao nhằm giảm việc sử dụng hóa chất, duy trì năng suất ổn định, giảm các chi phí đầu tư và tăng chu kỳ khai thác kinh doanh của cây

Trang 21

1.3 Các y ếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất cam

Có 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất cam bền vững, gồm: Điều kiện tự nhiên, Hoạt động sản xuất, Thị trường, Chính sách quản lý

1.3.1 Nhóm y ếu tố điều kiện tự nhiên

Cam là cây ăn quả lâu năm, đòi hỏi những điều kiện tự nhiên phù hợp mới có

thể sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao Điều kiện tự nhiên không phù

hợp với đặc tính sinh lý và yêu cầu sinh thái của cây sẽ gây ra những tổn thất rất lớn

và kéo dài về mặt kinh tế Ba nhân tố về đất đai, nguồn nước và khí hậu là những

yếu tố tự nhiên có sức ảnh hưởng lớn nhất đến hệ thống sản xuất nông nghiệp trong

đó gồm sản xuất cam

Đất đai là yếu tố không thể thiếu trong một hệ thống sản xuất nông nghiệp

Trong hệ sinh thái nông nghiệp, đất đóng vai trò là nơi cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây trồng Đất ở các địa hình, địa điểm khác nhau thì có thành phần cơ

giới, tính chất vật lí, hóa học khác nhau, do đó sẽ phù hợp với các loại cây trồng khác nhau Chất lượng đất ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tăng và ổn định năng

suất, tuổi thọ, chất lượng cam và vườn cây Việt Nam có 13 nhóm đất chính, trong

đó đất đỏ là nhóm đất có chất lượng thuận lợi cho phát triển cây cam, nhóm đất này chiếm 54% được phân bố chủ yếu ở trung du miền núi phía Bắc, trong đó bao gồm địa bàn huyện Cao Phong

Ngu ồn nước là một trong những yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của

cây và việc tăng năng suất, chất lượng cam Sự thiếu hụt nước tưới cho cây cam, đặc biệt trong giai đoạn cây ra hoa, thụ phấn sau đó sẽ làm giảm sút năng suất và

chất lượng cam do quả bị dày vỏ, khô múi, màu vỏ không đẹp Như vậy, nguồn nước cũng là tiêu chuẩn quan trọng để lựa chọn và quy hoạch vùng trồng cam

Khí h ậu ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và chất lượng cam Khí hậu

thời tiết thuận lợi cây trồng sẽ phát triển tốt, ngược lại thời tiết không phù hợp cây

trồng kém phát triển và không phát triển được Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, điều kiện khí hậu phù hợp cho việc trồng và phát triển nhiều loại hoa

quả nhiệt đới trong đó có cây cam Cây cam phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ

Trang 22

từ 23,9 - 270C, cường độ ánh sáng thích hợp 10.000 - 15.000 lux Các hiện tượng

thời tiết cực đoan có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây,

một số hiện thượng thời tiết cực đoan như: sương mù vào tháng 11 gây ra các bệnh thán thư, cháy lá, cháy vở ở cây cam; hiện thượng sương mù sau tết nguyên đán làm

hư thối, rụng hoa, cây không đậu được quả gây ra mất mùa, ảnh hưởng nghiêm

trọng đến năng suất và chất lượng vườn cây Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, các hiện tượng thời tiết cực đoan càng ngày càng diễn biến phức tạp hơn, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất của người dân

Như vậy, các yếu tố về đất đai, nguồn nước và khí hậu là những tiêu chuẩn đầu tiên cần dể xem xét khi lựa chọn và quy hoạch vùng trồng cam, là những yếu tố tác dộng lâu dài nhất đến hệ thống sản xuất cam, đòi hỏi chính quyền và các nhà quy hoạch cần xem xét và đánh giá kỹ lưỡng khi tiến hành quy hoạch phát triển

1.3.2 Nhóm y ếu tố về hoạt động sản xuất

Ngu ồn nhân lực là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và có tính chất quyết định đối

với một hệ thống sản xuất, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp Nguồn nhân lực bao gồm lao động quản lý, lao động nghiên cứu và phát triển, lao động trực tiếp sản

xuất sản phẩm Khu vực nông thôn luôn là khu vực có dồi dào nguồn lao động và

cần thêm việc làm, tuy nhiên trình độ lao động tại khu vực nông thôn thường không đáp ứng được yêu cầu cho hoạt động sản xuất Do đó, công việc đào tạo nguồn lao động, kiến thức về các kỹ thuật quản lý, chọn giống, canh tác, thu hái cho người dân

là rất cần thiết Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tăng năng suất vườn cây và thúc đấy quy hoạch phát triển vùng trồng cam

Cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc sản xuất

cam, là yếu tố quyết định khả năng mở rộng và nâng cao hiệu quả đầu tư của sản

xuất kinh doanh Tuy nhiên, lĩnh vực này ở nước ta vẫn còn hạn chế Hiện nay, Việt Nam nhập khẩu nhiều dây chuyền sản xuất của các nước trên thế giới, nhưng những dây chuyền này còn nhiều lạc hậu dẫn đến sản lượng và chất lượng các sản phẩm từ cam chưa cao, khả năng canh tranh còn hạn chế Vì vậy, muốn mở rộng sản xuất thì thì người dân cần đầu tư mua sắm trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng sản

Trang 23

phẩm, hạ giá thành để duy trì và nâng cao sức cạnh tranh và đầu tư cho hoạt động

chế biến

Tr ình độ kỹ thuật canh tác: Cam được trồng ở vùng có điều kiện sinh thái

thích hợp nhưng nếu kỹ thuật không tốt thì hiệu quả và chất lượng cam sẽ không đảm bảo Chu kỳ sinh trưởng của cây cam gồm 2 thời kỳ là thời kỹ kiến thiết cơ bản khoảng 3 năm và thời kỳ kinh doanh sau đó

1.3.3 Nhóm y ếu tố thị trường

Bi ến động giá cả là yếu tố quyết định đến doanh thu và lợi nhuận của sản

xuất Sự ổn định của giá cả phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và sức cạnh tranh của

sản phẩm Sự cạnh tranh từ chính các sản phẩm trong nước với nhau và với cam Trung Quốc dẫn đến giá cam ngày một thấp và bấp bênh

Quan h ệ cung cầu là yếu tố quyết định đến giá cả của cam và việc mở rộng

sản xuất cam Nếu cầu về cam tăng thì giá cam sẽ tăng, hiệu quả kinh tế cao, ổn định, thích hợp mở rộng sản xuất Tuy nhiên, nếu cung về cam tăng hơn cầu, dẫn đến giá cam giảm, sẽ tác động xấu đến người sản xuất cam Ở Việt Nam, thị trường tiêu thụ cam còn rất hạn chế vì chưa có thị trường xuất khẩu Do đó, muốn phát triển sản xuất cam bền vững cần đi đôi với việc cân bằng quan hệ cung cầu

1.3.4 Nhóm y ếu tố về chính sách

Cơ chế chính sách của nhà nước, của tỉnh là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến quá trình sản xuất cam Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách trong việc thúc đẩy sản xuất cam, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo quy mô vùng, nhằm thúc đẩy

sản xuất cam theo hướng hàng hóa Bên cạnh đó là các chính sách khuyến nông, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách phát triển khoa học - công nghệ, các chính sách về cho vay vốn, xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách hỗ trợ vùng nghèo, vùng núi phủ xanh đất trống đồi trọc Những chính sách này tạo rất nhiều

cơ hội cho hoạt động mở rộng sản xuất cam và tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản

phẩm, hỗ trợ rất tích cực cho sự phát triển của ngành nông nghiệp bền vững nói chung và sản xuất cam bền vững nói riêng

Trang 24

1.4 Các mô hình qu ản lý tài nguyên

1.4.1 Mô hình qu ản lý của nhà nước

Quản lý nhà nước đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường trước đây chủ

yếu dựa vào cơ chế quản lý mệnh lệnh và kiểm soát bằng các công cụ luật pháp và chính sách Nhưng khi nền kinh tế thị trường phát triển thì cơ chế quản lý nhà nước đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường cũng thay đổi, vận hành theo quy luật cung cầu của thị trường Tuy nhiên, vai trò của nhà nước rất quan trọng trong việc điều tiết các hoạt động vận hành theo đúng hướng, ổn định và phát triển

1.4.2 Mô hình qu ản lý dựa vào cộng đồng

Một trong những hình thức quản lý tài nguyên thu được hiệu quả cao là quản

lý tài nguyên dựa vào cộng đồng Đó là một hình thức quản lý đã và đang áp dụng ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển Nội dung của phương pháp này là lấy cộng đồng làm trọng tâm trong việc quản lý tài nguyên Đưa cộng đồng tham gia trực tiếp vào hệ thống quản lý tài nguyên, họ trực tiếp tham gia trong nhiều công đoạn của quá trình quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới

việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt động Đây là hình thức quản lý đi từ dưới lên, thực hiện theo nguyện vọng, như cầu thực tế và ý tưởng của chính cộng đồng, trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ thúc đẩy cho các hoạt động cộng đồng Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là một khái niệm rộng và đa nghĩa theo tính ứng dụng của nó trong thực tiễn, đề cập sự tham gia của các cộng đồng có lợi ích liên quan trong quản lý tài nguyên đất, nước,

rừng Mô hình là một phương tiện cho người dân trong cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định Do đó, đây là một cơ chế quan trọng cho sự tham gia thực sự

của cộng đồng vào giải quyết các vấn đề của khu vực, duy trì tính công khai từ đó

tạo hiệu quả cao trong việc xây dựng năng lực quản lý của chính quyền địa phương

Theo Madeleen (1998), quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng có 3 khía cạnh chính là trách nhiệm, quyền lực và kiểm soát

Có rất nhiều các mô hình quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng vì sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng về cả hình thức và mức độ Rất khó để nói mô hình

Trang 25

nào là tốt nhất vì mỗi mô hình thích ứng cho một cộng đồng cụ thể với những đặc trưng riêng về dân cư, địa lý, thể chế và văn hóa Để xem xét mức độ thành công

của một mô hình quản lý tài nguyên cần phải có các tiêu chí và chỉ số đánh giá cụ

thể Về lý thuyết, những tiêu chí cơ bản để đánh giá 1 mô hình có thể gồm: việc

thực hiện, tính bến vững và lợi ích thu được Mỗi tiêu chí lại có các chỉ số cụ thể

1.4.3 Mô hình t ổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý

Mô hình này tồn tại ở các xã ở Nghệ An Ở các xã này, các tổ chức nông dân như hợp tác xã sử dụng nước hay hợp tác xã nông nghiệp đã được thành lập để phối

hợp với công ty Thủy nông – là công ty dịch vụ của nhà nước, để cung cấp dịch vụ

thủy lợi cho các hộ gia đình

Việc quản lý và phân phối nước trong địa bàn được giao cho tận cơ sở theo hướng quản lý phi tập trung Công ty thủy lợi có trách nhiệm quản lý các trạm bơm đầu mối, các tuyến kênh cấp 2, cấp 3 để cung cấp nước tưới cánh đồng rộng trên

500 ha, gồm cả việc duy tu định kỳ và bảo vệ các công trình khỏi sự xâm phạm và phá hoại Công ty có trách nhiệm cấp nước từ trạm đầu mối đến các kênh cấp 3 và chuyển giao cho các hợp tác xã sử dụng nước để phân phối và dẫn nước vào đồng

ruộng Hợp tác xã có trách nhiệm quản lý, duy tu, bảo vệ và dẫn nước từ kênh cấp 3 vào hệ thống nội đồng do họ kiểm soát Thông qua hợp đồng với công ty thủy nông,

mỗi hộ gia đình có ruộng được tưới sẽ phải trả phí thủy lợi dưới sự giám sát của hợp tác xã

1.4.4 Mô hình chia s ẻ quản lý giữa tổ chức nông dân và một tổ chức có liên quan đến nhà nước

Mô hình này đã được thực hiện ở xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỈnh Tuyên Quang (Bộ NN-PTNT, 2004) Tại xã này các đội thuỷ lợi và tổ chức cộng đồng phối hợp với Hợp tác xã nông-lâm nghiệp của xã để cung cấp các dịch vụ thủy

lợi cho các hộ gia đình có nhu cầu dùng nước Hợp tác xã sở hữu và trực tiếp quản

lý các công trình thuỷ lợi địa phương, bao gồm các tuyến kênh mương, trạm bơm nước trong xã và cung cấp các dịch vụ thuỷ lợi Hợp tác xã này hoạt động tự do và độc lập với công ty thủy nông thông qua cơ chế tự chủ tài chính (tự thu chi)

Trang 26

Khoảng 80% phí thuỷ lợi thu được dùng để duy tu kênh mương nội đồng và 20% còn lại cho chi phí hành chính của hợp tác xã Mặc dù hợp tác xã chịu trách nhiệm

quản lý chung tất cả các công trình tưới tiêu nhưng các hộ gia đình sử dụng nước cũng được giao thực hiện các nhiệm vụ quản lý cụ thể Họ được yêu cầu trông coi

và bảo vệ các công trình tưới tiêu nội đồng, dẫn nước vào và ra theo lịch tưới mùa

vụ của địa phương Cách làm này đảm bảo các công trình tưới tiêu nội đồng được duy tu, sửa chữa kịp thời, tránh lãng phí nước Các đội thuỷ lợi được đào tạo nâng cao hiểu biết về thuỷ lợi và hệ thống tưới tiêu, quản lý và sử dụng công trình, thiết

bị tưới tiêu, do đó năng lực và trách nhiệm của họ được nâng cao, đảm bảo việc bảo

vệ và quản lý nguồn nước được cải thiện đáng kể Hằng năm những đội thủy lợi này

và hộ gia đình sử dụng nước cũng đóng góp công lao động để duy tu, cải tạo và nạo vét các công trình thuỷ lợi

1.4.5 Mô hình t ổ chức nông dân tự quản lý

Mô hình Hội những người sử dụng nước đã được áp dụng ở tỉnh Bắc Kạn từ

những năm 1990 ở các huyện Bạch Thông, Chợ Mới và Chợ Đồn, và đã thể hiện được sự tham gia có hiệu quả của các cộng đồng địa phương về quản lý nước cho tưới tiêu Hội những người sử dụng nước ở xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông là

một ví dụ cụ thể (ADB, 2006) Nguyên Phúc là một xã miền núi chuyên sản xuất nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa với diện tích khoảng 90 hec ta Hệ thống thuỷ lợi

của xã có khoảng 40 công trình (gồm cả trạm bơm đầu mối và kênh mương dẫn nước) nhưng hầu hết các công trình rất tạm bợ Trước khi mô hình Hội những người

sử dụng nước được áp dụng, tại địa phương không có một tổ chức hay nhóm nào

chịu trách nhiệm quản lý các công trình thuỷ lợi đó Nông dân địa phương tự do sử

dụng hệ thống thuỷ lợi để lấy nước vào ruộng của mình Vì thế có nhiều vấn đề đã phát sinh tại địa phương như đến mùa vụ thì hết nước tưới, năng suất mùa vụ thấp,

hệ thống kênh 13 mương bị xuống cấp do không được duy tu, thất thoát nước, chi phí lao động tưới tiêu cao, và đặc biệt là mâu thuẫn giữa các hộ gia đình do cạnh tranh dùng nước Thông qua sự tư vấn của dự án và sự hỗ trợ tích cực của chính quyền xã, các hộ nông dân đã thảo luận và quyết định thành lập 04 Hội những

Trang 27

người sử dụng nước tại xã để điều hành và quản lý hệ thống thuỷ nông Người dân

đã tham gia các cuộc họp cộng đồng để bầu ra một Ban quản lý cho mỗi hội những người sử dụng nước và cùng thống nhất về quy chế, quy định và nguyên tắc cho

hội Bà con cũng chọn ra những người vận hành công trình có trách nhiệm dẫn nước vào ruộng, sữa chữa nhỏ cho hệ thống thuỷ lợi, và bảo vệ các công trình thuỷ lợi Ban quản lý hội và những người vận hành thường gặp nhau hàng tháng để xem xét

lại tiến độ tưới tiêu và lập kế hoạch hoạt động cho tháng tiếp theo Họ đều đã được đào tạo về quản lý thuỷ lợi và tài chính Bà con nông dân tham gia tích cực trong

việc xây dựng các quyết định liên quan đến hoạt động của Hội những người sử

dụng nước Vào đầu mỗi mùa vụ, ban quản lý Hội chuẩn bị một kế hoạch tưới tiêu

để bà con đóng góp ý kiến và thông qua tại cuộc họp toàn thể nông hộ Kế hoạch này tập trung vào lịch cấp nước dựa vào nhu cầu của mỗi hộ gia đình và lượng nước

có trên kênh đầu mối Nhờ thành lập hội những người sử dụng nước mà công tác tưới tiêu của xã đã được cải thiện đáng kể như các công trình thủy nông được duy tu

và bảo vệ tốt hơn; lượng nước thất thoát giảm rõ ràng; diện tích được tưới 15% và năng suất mùa vụ cũng tăng lên 20% Bây giờ các hộ nông dân được giải phóng

khỏi việc lấy nước vào ruộng vì đã có nhóm vận hành thủy nông đảm nhận Do vậy,

bà con có nhiều thời gian hơn để làm các việc khác tăng thêm thu nhập và cải thiện đời sống

Trang 28

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình công ty TNHH MTV Cao Phong

tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Cụ thể là về tổ chức, tài chính, hiệu quả

quản lý tài nguyên đất, nước

- Thời gian thực hiện đề tài là từ tháng 4/2016 đến tháng 12/2017

- Địa điểm nghiên cứu: huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin

Đề tài đã tiến hành thu thập, tổng hợp và xử lý các tài liệu, thông tin từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước qua các báo cáo, sách, tạp chí khoa học

để kế thừa, phát triển những nội dung nghiên cứu mới và lý giải những kiến thức khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Ví dụ như tình hình sản

xuất và thu hoạch các vụ qua các năm; kênh phân phối sản phẩm …Đây là phương pháp nhằm nâng cao kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu, nắm được đặc điểm của khu

vực nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, giảm bớt công tác thực địa Dựa vào tài

liệu để xác định, phân tích, đánh giá đối tượng, vấn đề liên quan trên phương diện khoa học từ đó đưa ra hướng nghiên cứu cụ thể và xác định những bước cần thực

hiện, nâng cao hiệu quả công việc

2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Việc khảo sát thực địa nhằm nắm rõ hơn khu vực nghiên cứu và ghi chép lại

những thông tin cần thiết trong quá trình quan sát trao đổi, thảo luận với các đối tượng về vấn đề còn chưa nắm rõ Làm rõ những tài liệu thứ cấp đã thu thập trước

đó về khu vực nghiên cứu, loại bỏ thông tin không sát thực tế, bổ sung thêm thông tin còn thiếu hay thông tin mới trong quá trình khảo sát

Đề tài đã lập phiếu điều tra (chi tiết trình bày trong phụ lục), tiến hành điều tra, khảo sát về lịch sử, hoạt động canh tác, bón phân, tưới nước, giá thành và năng

suất thu hoạch ở các vườn trồng cam

2.2.3 Điều tra phỏng vấn

Trang 29

Điều tra phỏng vấn giúp cho người thực hiện đề tài có được các thông tin cần thiết để phục vụ nội dung nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng kỹ thuật phỏng vấn:

Ph ỏng vấn bán chính thức (semistructural interview - SSI): là hình thức phỏng

vấn có sự hẹn trước để người được hỏi có sự chuẩn bị trước về thời gian cũng như

nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu Trò truyện thân mật với người dân địa phương để lấy thông tin cần thiết Tiến hành trao đổi, lấy ý kiến của các cán bộ Công ty TNHH MTV Cao Phong Hòa Bình, các cán bộ lãnh đạo địa phương về

mức độ được trang bị kỹ thuật trồng và chăm sóc, thu hoạch, tiêu thụ cam Mức độ đáp ứng của các dịch vụ phục vụ sản xuất như hoạt động cung ứng giống, thuốc trừ sâu, phân bón, tình hình sản xuất kinh doanh cam hiện tại cũng như hướng đi cho

thời gian tới

Phỏng vấn không chính thức: thời gian đi phỏng vấn ngẫu nhiên, không hẹn

trước với người được hỏi Vì thời gian của các chủ vườn là không cố định nên kỹ thuật này phù hợp với quá trình điều tra Người được hỏi chưa được biết trước các câu hỏi, kỹ thuật hỏi chưa đủ kinh nghiệm còn cứng nhắc nên đôi khi tác giả sẽ không thu được kết quả như mong muốn

Kỹ thuật điều tra bằng phiếu (bảng hỏi): tác giả đi thực địa tại khu vực nghiên

cứu Tác giả đã soạn, in sẵn phiếu điều tra về thông tin cá nhân của chủ hộ và các

hoạt động chăm sóc vườn cam rồi đi phát phiếu điều tra cho từng hộ Một số chỉ tiêu điều tra như diện tích đất sử dụng cho trồng cam, chi sản phí, chi đầu tư ban đầu, lượng phân bón, thuốc BVTV, chi thuê nhân công, sản lượng, giá cam của từng năm

Phương pháp chuyên gia: Phương pháp chuyên gia được tiến hành thông qua

phỏng vấn sâu, giúp thu thập được kinh nghiệm và hiểu biết của nhóm chuyên gia liên ngành về các lĩnh vực nghiên cứu

2.2.4 Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu

- Sử dụng phần mềm thống kê Microsoft Excel để xử lý số liệu

Trang 30

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh, kết quả SXKD giữa các năm, chi phí của các giải pháp

- Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích

Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư Để

thực hiện được tác giả cần liệt kê đầy đủ danh mục thu chi và giá thành của chúng như: Chi các hạng mục cố định, lưu động, doanh thu do bán sản phẩm… Đây là quá trình điều tra khó khăn do chủ vườn không ghi chép đầy đủ nên thông tin được cung cấp chỉ mang tính tương đối Danh mục chi trong quá trình canh tác gồm nhiều hạng mục chi và đơn giá của các hạng mục chi thay đổi theo năm nên khó đánh giá được Giá cam thay đổi theo thời vụ của năm nên khó đánh giá chính xác được danh mục thu Trong luận văn này tác giả đã tiến hành tính thành tiền chi phí - lợi ích theo từng năm và toàn bộ chu kỳ canh tác cam Việc hiện giá của các chi phí đầu tư ban đầu về thời điểm hiện tại (năm 2017) được thực hiện với mức chiết khấu trung bình là 10%/ năm

Công thức tính : FV = F * (1+k)i (1) (Trong đó: F- khoản đầu tư ban đầu, k- hệ số chiết khấu, FV- giá trị tương lai của khoản thu nhập F tại thời điểm bất kỳ, i- thời gian (năm))

Trang 31

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Cao Phong

Công ty TNHH một thành viên Cao phong Hòa Bình tiền thân là Nông trường

Quốc Doanh Cao phong, được thành lập ngày 23/9/1964

Thực hiện nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 16 tháng 6 năm 2003 của Bộ Chính

Trị về việc sắp xếp, đổi mới, phát triển các nông lâm trường quốc doanh, năm 2006 UBND tỉnh Hoà Bình có Quyết định số 3495/QĐ-UBND phê duyệt phương án chuyển đổi Nông trường Quốc doanh Cao phong thành Công ty Rau quả Nông sản Cao Phong Ngày 20 tháng 6 năm 2011 UBND tỉnh Hòa Bình có Quyết định số 1037/QĐ-UBND về việc phê duyệt chuyển công ty Rau quả Nông sản Cao Phong thành công ty TNHH một thành viên Cao Phong Hòa Bình Tháng 6 năm 2012 mọi

thủ tục chuyển đổi công ty đã được hoàn tất và chính thức đi vào hoạt động

Tổng diện tích đất tự nhiên được giao quản lí là 836,57ha Trong đó: đất nông nghiệp 737,08ha, đất chuyên dùng 99,49ha (Đất mặt nước chuyên dùng là 36,73 ha, đất trụ sở là 1,23 ha, đất chuyên dùng khác là 61,53 ha)

Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty được trình bày trên Hình 3.1

Giám Đốc Công ty Phó Giám Đốc Công ty

Đội Bắc Phong Đội Thu Phong Đội Tân Phong

Trang 32

Là một doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, sản xuất kinh doanh các sản phẩm trong lĩnh vực Nông nghiệp, công ty TNHH một thành viên Cao Phong có các ngành nghề đăng ký kinh doanh sau:

- Trồng cây công nghiệp, cây ăn quả

- Dịch vụ cung cấp giống cây trồng, vật nuôi

- Chăn nuôi gia súc, gia cầm

- Chế biến nông sản

- Mua bán hóa chất, phân bón sử dụng trong nông nghiệp

Năm 2017, Công ty TNHH MTV có 210 cán bộ, công nhân ký hợp đồng lao động, trong đó 18 người là cán bộ quản lý và nhân viên kỹ thuật về công nghệ sinh

học, nông hóa đảm nhiệm phụ trách vườn ươm, cung cấp giống cam quýt đảm bảo

chất lượng cho thị trấn và toàn huyện; 192 công nhân trực tiếp tham gia lao động

sản xuất, được chia làm 7 đội sản xuất thực hiện quản lý, thu sản và triển khai công

việc đến người lao động thuê khoán đất

Ban Giám Đốc quản lý và điều hành toàn bộ các lĩnh vực, hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn công ty Phòng Kế hoạch – thị trường trực tiếp xây dựng, chỉ đạo điều hành các lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Cán bộ kỹ thuật của phòng trực tiếp theo dõi và giải quyết các vấn đề kỹ thuật trong trồng cam khi các đội trưởng thông báo về tình hình sản xuất dưới đội Phòng kế toán quản lý công tác nghiệp vụ, tài chính toàn công ty Phòng tổ chức tài chính có trách nhiệm xây dựng

kế hoạch về công tác, tổ chức, nhân lực của bộ máy cán bộ và kiểm soát các vấn đề thu chi của công ty Các đội sản xuất bao gồm các đội trưởng trực tiếp quản lý, điều hành công tác sản xuất, nhân lực và trực tiếp thu sản hàng năm ở dưới đội đơn vị

trồng cam của các hộ nhận khoán

Từ khi xoá bỏ bao cấp, thực hiện các chế độ quy đinh về giao khoán đất sản

xuất nông, lâm nghiệp trong các nông lâm trường quốc doanh, nhất là khi có Nghị định 01/1995/NĐ-CP của Chính phủ, công ty đã thực hiện giao khoán đất đai sản

xuất ổn định đến người công nhân lao động và hộ nhận khoán; Từ đó tạo được động

lực thúc đẩy đầu tư sản xuất phát triển, nhiều diện tích đất đã được quy hoạch đưa

Trang 33

vào giao khoán sản xuất có hiệu quả, nhiều diện tích rừng sản xuất kém hiệu quả được đầu tư cải tạo đưa vào sản xuất nông nghiệp

Thực hiện Nghị định 135/2005/NĐ - CP của Chính phủ quy định về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trong các Nông lâm trường quốc doanh thay thế nghị định 01/1995/NĐ-CP và Thông tư 102/2006/TT-BNNPTNT hướng dẫn một số điều của Nghị định 135/2005/NĐ-CP của Chính phủ Năm 2007 toàn bộ diện tích được giao đã chuyển sang giao khoán cho công nhân theo tinh thần nghị định 135 CP, và các hộ dân được công khai minh bạch bằng bảng phân chia sản phẩm, được trình trước Hội nghị người lao động để thống nhất đưa vào hợp đồng giao nhận khoán Phần công

ty chịu trách nhiệm đầu tư gồm: san ủi giải phóng mặt bằng, thiết kế lô thửa, cây

giống, hàng tháng hướng dẫn, tập huấn quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc vườn cây tới các hộ nhận khoán, kiểm soát dịch hại của vùng, đầu tư tu sửa kênh mương, nâng cấp các tuyến đường lô, đăng ký Logo nhãn hiệu hàng hóa, quảng bá giới thiệu sản phẩm xây dựng thương hiệu Công ty giữ lại một diện tích nhỏ làm Mô hình trình diễn, trồng thử nghiệm các loại giống cây trồng phân bón, thuốc BVTV

mới, chọn lọc, nhân giống, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất Trong những năm gần đây và giai đoạn hiện nay Công ty TNHH MTV Cao Phong Hòa Bình đã đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng nhanh diện tích cây có múi, tuyển chọn và đưa những giống cây có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất như: Giống cam V2 chín muộn không hạt, cam Đường canh, quýt Ôn châu, Bưởi diễn vào thay thế dần những giống cũ

Để sản phẩm đủ sức cạnh tranh và có thể phát triển sản xuất hiệu quả và bền

vững Trong những năm qua, lãnh đạo Công ty đã tập trung chỉ đạo về khâu kỹ thuật, không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm một cách toàn diện cả về

mẫu mã và qui cách sản phẩm, và đặc biệt là chất lượng sản phẩm sạch, an toàn vì

sức khoẻ cộng đồng Trên cơ sở quản lý, giám sát chặt chẽ về qui trình kỹ thuật trong sản xuất theo tiêu chuẩn "Việt GAP", đồng thời gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, bảo đảm sức khoẻ cho người lao động

Trang 34

Với chiến lược phát triển sản xuất bền vững, Công ty hết sức chú trọng trong

việc phổ biến, tập huấn kỹ thuật cho công nhân lao động và hộ nhận khoán nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, lãnh đạo Công ty đã liên hệ với chi

cục bảo vệ thực vật tỉnh Hoà Bình, tranh thủ được sự giúp đỡ của Chi cục kết hợp

mở nhiều lớp tập huấn về kiến thức IPM trên cây có múi cho người lao động Nhờ

vậy, công nhân và các hộ nhận khoán với Công ty đã ý thức được tầm quan trọng trong đầu tư thâm canh tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm Biết bảo vệ và giữ

uy tín thương hiệu sản phẩm Cao phong Các khâu canh tác đầu tư phân bón chủ

yếu tăng lượng hữu cơ như phân chuồng và phân vi sinh, giảm thiểu việc dùng phân

vô cơ Trong bảo vệ thực vật chủ yếu dùng các loại thuốc có nguồn gốc sinh học và các loại thuốc độc tố thấp, thực hiện đúng thời gian cách ly an toàn trước thu hoạch

để bảo đảm chất lượng sản phẩm sạch, an toàn cho sức khoẻ cộng đồng Chính vì

vậy mà trong những năm gần đây, năng xuất và sản lượng sản phẩm của Công ty liên tục tăng cao, chất lượng và mẫu mã sản phẩm cũng được cải thiện

Trong định hướng phát triển, công ty chủ trương hợp tác chặt chẽ với chính quyền, người dân vùng lân cận và các địa phương trong tỉnh để hợp tác đầu tư và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân, mở rộng thêm diện tích nhằm tăng nhanh sản lượng của hai loại sản phẩm đặc sản của vùng, đồng thời tiếp tục đầu tư

quảng cáo thương hiệu sản phẩm Cao phong, nghiên cứu tiếp thị tìm kiếm thị trường để mở rộng đầu ra cho sản phẩm của nông dân

Công ty TNHH MTV Cao Phong là đơn vị chủ chốt trong phát triển nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và chuyển giao công nghệ phục vụ cho sản xuất cam tại thị trấn và trên địa bàn toàn huyện Công ty đã phát huy vị trí, chức năng là trung tâm chuyển giao khoa học kỹ thuật của vùng Cao Phong, ứng dụng khoa học

kỹ thuật, đầu tư, thâm canh, tuyển chọn và phát triển, gắn với định hướng xây dựng thương hiệu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Hiện nay, Công ty tích cực đầu

tư khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ sinh học, chọn lọc các loại phân bón, chế

phẩm sinh học phù hợp phục vụ cho việc trồng, chăm sóc, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, chế biến phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Công ty đi đầu

Trang 35

trong việc phát triển sản xuất cam theo tiêu chuẩn VietGAP kết hợp với phương pháp trồng xen kẽ khoa học Năm 2015, tỷ lệ sản xuất cam theo VietGAP là 47 ha,

17 hộ được tổ chức tập huấn, năm 2016 tỷ lệ sản xuất cam theo GAP tăng lên 200ha trên tổng diện tích của huyện Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân địa phương vẫn sản xuất cam theo mô hình truyền thống, dựa vào kinh nghiệm là chính Người dân thiếu kiến thức về sản xuất cam bền vững và an toàn Mặc dù có nhiều hoạt động tập huấn, tuyên truyền nhưng số hộ đăng ký sản xuất cam theo VietGAP vẫn còn thấp và tỷ lệ diện tích cam VietGAP ít hơn nhiều so với cam truyền thống

Sau hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Công ty TNHH một thành viên Cao Phong Hòa Bình đã có nhiều thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất kinh doanh, khẳng định được vị trí, chức năng nhiệm vụ của mình là trung tâm chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho vùng và phát triển sản xuất kinh doanh Tập

thể cán bộ và công nhân lao động Công ty đã nhiều năm được UBND tỉnh Hòa Bình, Nhà Nước và Chính phủ khen thưởng Năm 1995 huân chương lao động hạng

ba Năm 2004 huân chương lao động hạng nhì Năm 2011 được tặng cờ doanh nghiệp tiêu biểu xuất sắc của Thủ tướng Chính phủ Năm 2014 huân chương lao động hạng nhất

Sản phẩm Cam, quýt quả và Mía tím của công ty đã được đăng ký Logo nhãn

hiệu hàng hóa và được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận bảo hộ từ năm 2007 Thương

hiệu cam, quýt, mía tím Cao Phong đã đoạt được nhiều danh hiệu cao quý: Năm

2006 sản phẩm cam quả của Công ty đi tham dự hội chợ BestFood Hà Nội, được

Cục an toàn vệ sinh thực phẩm và Ban tổ chức Hội trợ Việt Nam Best Food tặng thưởng huy chương vàng "Thực phẩm chất lượng an toàn vì sức khoẻ cộng đồng" Năm 2009 sản phẩm cam quả tươi của công ty được ban tổ chức Hội chợ Agro Viet

tặng Cúp vàng nông nghiệp

Năm 2010 đoạt giải cúp vàng nhãn hiệu thương hiệu nổi tiếng thời kỳ hội

nhập WTO và đoạt TOPTEN thương hiệu Việt do khách hàng bình chọn

Năm 2012 đoạt cúp TOP 100 giải thường chất lượng vàng thủ đô lần thứ nhất

Trang 36

Năm 2013 đoạt cúp TOP 50 thương hiệu nhãn hiệu nổi tiếng Sản phẩm cam

quả tươi của Công ty được Hội nông dân việt Nam chứng nhận sản phẩm Nông nghiệp tiêu biểu năm 2013

Công ty TNHH MTV Cao Phong Hòa Bình liên tục trong nhiều năm liền được UBND tỉnh Hòa Bình tăng cờ, bằng khen trong phong trào thi đua lao động sản

xuất, được UBND tỉnh công nhận là doanh nghiệp SXKD có hiệu quả nhất trong ngành Nông nghiệp của tỉnh Đây là một mô hình công ty thành công và có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý

3.2.1 Hi ện trạng và hiệu quả quản lý kinh tế

Việc thực hiện cơ chế khoán theo nghị định 135/NĐ-CP của Chính phủ đã

thực sự đem lại hiệu quả thiết thực đối với cả doanh nghiệp và hộ nhận khoán Họ

đã yên tâm mạnh dạn đầu tư nguồn vốn và trí lực vào sản xuất kinh doanh, nhất là cây ăn quả có múi đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bản thân, doanh nghiệp và địa phương Kết quả SXKD qua một số chỉ tiêu chính được trình bày trong bảng 3.1

- Của người lao động 105.787 145.167 180.041

7 Doanh thu BQ/ha đất NN Tr.đ 225,36 289,56 373,56

8 Thu nhập BQ đầu người/năm

- Của công nhân trực tiếp SX Tr.đ 72,00 98,40 114,00

- Của khối gián tiếp Tr.đ 124,74 161,84 245,10

Trang 37

Năng suất cam giai đoạn 2012 - 2017 cao hơn nhiều so với những giai đoạn trước, nhưng có biến động thất thường qua các năm Năng suất cam tăng lên cho

thấy mức độ đầu tư thâm canh cao của các hộ Năm 2014 và 2017 do mưa dầm vào tháng 10 dẫn đến rụng quả, làm năng suất cam sụt giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người dân Nhìn chung, 5 năm gần đây năng

suất cam ở Cao Phong có sự tăng lên đáng kể, tuy nhiên sự gia tăng này không ổn định dẫn đến sự bấp bênh trong thu nhập của người trồng cam

3.2.1.2 Hi ệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế của sản xuất cam xác định bằng phương pháp tính toán chi phí- lợi ích của quá trình canh tác cam.Việc tính toán chi phí - lợi ích rất phức tạp

do các chi phí không giống nhau về khoản chi và mức chi nên không thể đưa ra con

Trang 38

số chuẩn, chu kỳ canh tác kéo dài nên khó tính đầy đủ được.Quá trình tổng hợp các danh mục thu chi khó khăn do có những thông tin nhạy cảm chủ vườn không muốn cung cấp, chủ vườn không ghi chép nhật ký chăm sóc nên kết quả tính toán không tránh khỏi những sai sót Dựa vào kết quả nghiên cứu và thông tin thu thập được, tác giả đã tổng hợp các khoản chi chính của các vườn cam gồm:

- Chi n ộp sản lượng cho đơn vị quản lý đất

Cam hiện được trồng trên đất sở hữu chung (nhà nước, công ty) và sở hữu riêng (thổ cư chính chủ hoặc được thừa kế) Tuy nhiên, chỉ các vườn cam trồng trên đất sở hữu chung mới phải nộp sản lượng cho chủ sở hữu

Theo quy định của Công ty Cao Phong, định mức thu sản lượng phân hóa theo các hạng đất khác nhau như sau: Đất hạng 1 có định mức thu 13 tấn/ha/năm, hạng 2 có định mức thu 11 tấn/ha/năm, hạng 3 có định mức thu 9 tấn/ha/năm và hạng 4 có định mức thu 7 tấn/ha/năm Hiện Công ty áp dụng duy nhất một định mức thu sản cho mọi loại đất là 13 tấn/ha/năm, với đơn giá sản phẩm cam được quy định lấy bằng khoảng một nửa giá thị trường G Mức thu sản thực tế được quy 22% định mức đối với các hộ sử dụng đất nông trường, đối tượng thu sản là công nhân

của Công ty được áp dụng mức thu sản thấp hơn là 17%, chủ yếu liên quan đến một

số chính sách xã hội nên không xét đến trong nghiên cứu này Mức thu sản này được phân bổ thu trong 13 năm đầu của chu kỳ trồng và khai thác cam gồm 3 năm kiến thiết (chưa phải nộp) và 10 năm kinh doanh, được trình bày trong bảng 3.2 Mức

sản mà các hộ phải nộp (TS) cho Công ty được tính theo công thức:

TS= 13 t ấn x 0,22x K x 0,5 x G = 1,43 KG (2)

Trong đó, K là mức thu sản hàng năm, G là thực giá cam trung bình hàng năm

Tuổi vườn (năm) 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 T ận thu

Mức tỷ lệ thu sản K

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w