ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Võ Thu Hiền ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG DƯƠNG ĐÔNG VÀ DỰ BÁO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC CHO PHÁT TRIỂN Ở PH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Võ Thu Hiền
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG DƯƠNG ĐÔNG VÀ
DỰ BÁO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC
CHO PHÁT TRIỂN Ở PHÚ QUỐC ĐẾN NĂM 2030
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - Năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Võ Thu Hiền
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG DƯƠNG ĐÔNG VÀ
DỰ BÁO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC
CHO PHÁT TRIỂN Ở PHÚ QUỐC ĐẾN NĂM 2030
Chuyên ngành: Môi trường và Phát triển bền vững
Mã số: 8440301.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN MẠNH KHẢI
Hà Nội - Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Đánh giá chất lượng nước sông Dương Đông và dự báo khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng cho phát triển ở Phú Quốc đến năm 2030” là công trình nghiên cứu của bản thân với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải Các số liệu kế thừa từ nhiệm vụ “Xây dựng chương trình quản lý tổng hợp lưu vực sông Dương Đông, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nước, đặc biệt là khu vực hạ lưu sông” đã được sự đồng ý của chủ trì nhiệm vụ - TS Dương Thị Thanh Xuyến, Tổng cục Môi trường Nội dung, kết quả trình bày trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu
của mình
Học viên
Võ Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và học tập tại Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi đã được các thầy cô tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu về lĩnh vực môi trường Đến nay, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ khoa học với đề tài “Đánh giá chất lượng nước sông Dương Đông và dự báo khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho phát triển ở Phú Quốc đến năm 2030”
Trước tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải đã luôn đồng hành, khích lệ, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trực tiếp tôi hoàn thành luận văn này Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các thầy, cô giáo đang giảng dạy tại Khoa Môi trường, Đại học Khoa học tự nhiên đã truyền cảm hứng, lan tỏa những kiến thức trân quý đến các thế hệ sinh viên, học viên Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên đã hỗ trợ, giúp đỡ, giải đáp các khó khăn trong suốt hai năm tôi học tập tại trường
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Văn phòng Tổng cục Môi trường đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng chương trình quản lý tổng hợp lưu vực sông Dương Đông, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nước, đặc biệt là khu vực hạ lưu sông” để có số liệu hoàn thiện luận văn trên
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp là những người đã luôn ủng hộ, động viên tôi hoàn thành khóa học này
Học viên
Võ Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về các nghiên cứu về sông Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc 4
1.2 Tổng quan về sông Dương Đông 5
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên sông Dương Đông 5
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 16
1.3 Tổng quan về các nguồn phát sinh chất thải ra sông Dương Đông 19
1.3.1 Chất thải rắn 19
1.3.2 Nước thải 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Hiện trạng chất lượng nước sông Dương Đông 35
3.2 Dự báo khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho phát triển ở Phú Quốc đến năm 2030 52
3.2.1 Hiện trạng tài nguyên nước sông Dương Đông 52
3.2.2 Phương pháp tính toán nhu cầu sử dụng nước sông Dương Đông 54
3.2.3 Dự báo nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực sông Dương Đông đến năm 2030 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 1 64
PHỤ LỤC 2 74
Trang 6DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU 5
Bảng 1.1 Nhiệt độ trung bình tháng và năm giai đoạn 1958 – 2015 tại trạm Phú Quốc (o C) 9
Bảng 1.2 Lượng mưa trung bình tháng, năm trạm Phú Quốc (mm) 11
Bảng 1.3 Phân bố cơ cấu sản xuất của các xã, thị trấn 16
Bảng 1.4 Quy mô diện tích, dân số của các đơn vị hành chính 17
Bảng 1.5 Một số cửa xả nước thải sinh hoạt chính trên sông Dương Đông 24
Bảng 1.6 Một số cơ sở xả nước thải sản xuất 26
Bảng 1.7 Một số cơ sở xả nước thải y tế 28
Bảng 2.1 Bảng quy định các giá trị qi, BPi 32
Bảng 2.2 Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH 32
Bảng 2.3 Mức đánh giá chất lượng nước theo WQI 33
Bảng 3.1 Kết quả tính toán WQI từng thông số tháng 12/2016 49
Bảng 3.2 Kết quả tính toán WQI từng thông số tháng 09/2017 49
Bảng 3.3 Kết quả tính toán WQI từng thông số tháng 10/2017 50
Bảng 3.4 Kết quả tính toán WQI từng thông số tháng 11/2017 50
Bảng 3.5 Kết quả tính WQI theo từng mặt cắt dọc theo lưu vực sông Dương Đông trong 4 đợt quan trắc 51
Bảng 3.6 Lượng mưa năm trung bình thời kỳ 53
Bảng 3.7 Hiện trạng sử dụng nước của các ngành trên lưu vực sông Dương Đông 55
Bảng 3.8 Dự báo nhu cầu sử dụng nước của các ngành trên lưu vực sông Dương Đông đến năm 2020 57
Bảng 3.9 Dự báo nhu cầu sử dụng nước của các ngành trên lưu vực sông Dương Đông đến năm 2030 58
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sông Dương Đông 6
Hình 1.2 Vị trí thị trấn (khu đô thị) Dương Đông 7
Hình 1.3 Diễn biến nhiệt độ trung bình năm tại trạm Phú Quốc 10
Hình 1.4 Biểu đồ dân số trung bình giai đoạn 2009-2016 18
Hình 1.5 Số lượng khách du lịch giai đoạn 2010-2015 18
Hình 1.6 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt trên sông Dương Đông 19 Hình 1.7 Sơ đồ hệ thống thu gom, vận chuyển chất thải rắn 21
Hình 1.8 Sơ đồ mạng sông và vị trí gây ô nhiễm 23
Hình 1.9 Một số cửa xả và điểm xả thải nước thải sinh hoạt chính trên lưu vực sông Dương Đông (Kết quả điều tra thực địa, TCMT, 2017) 25
Hình 1.10 Ảnh một số nguồn thải sinh hoạt trên LVS Dương Đông 25
Hình 1.11 Ảnh một số nguồn thải cơ sở sản xuất kinh doanh trên LVS Dương Đông 27
Hình 3.1 Diễn biến độ pH (từ thượng nguồn đến vị trí cầu nhỏ tại Phường 5 thị trấn Dương Đông) 36
Hình 3.2 Diễn biến nồng độ COD (từ thượng nguồn đến vị trí cầu nhỏ tại Phường 5 thị trấn Dương Đông) 36
Hình 3.3 Diễn biến nồng độ BOD5 (từ thượng nguồn đến vị trí cầu nhỏ tại Phường 5 thị trấn Dương Đông) 37
Hình 3.4 Diễn biến tổng chất rắn lơ lửng (từ thượng nguồn đến vị trí cầu nhỏ tại Phường 5 thị trấn Dương Đông) 38
Hình 3.5 Diễn biến nồng độ amoni NH4+(từ thượng nguồn đến vị trí cầu nhỏ tại Phường 5 thị trấn Dương Đông) 38
Hình 3.6 Diễn biến nồng độ amoni PO43-(từ thượng nguồn đến vị trí cầu nhỏ tại Phường 5 thị trấn Dương Đông) 39
Trang 8Hình 3.7 Diễn biến độ pH tại các mặt cắt (từ vị trí cầu nhỏ tại khu phố 5 đến cầu Hùng Vương thị trấn Dương Đông) 40Hình 3.8 Diễn biến tổng chất rắn lơ lửng (từ vị trí cầu nhỏ tại khu phố 5 đến cầu Hùng Vương thị trấn Dương Đông) 41Hình 3.9 Diễn biến nồng độ COD (từ vị trí cầu nhỏ tại khu phố 5 đến cầu Hùng Vương thị trấn Dương Đông) 41Hình 3.10 Diễn biến nồng độ BOD5 (từ vị trí cầu nhỏ tại khu phố 5 đến cầu Hùng Vương thị trấn Dương Đông) 42Hình 3.11 Diễn biến nồng độ amoni NH4+ (từ vị trí cầu nhỏ tại khu phố 5 đến cầu Hùng Vương thị trấn Dương Đông) 43Hình 3.12 Diễn biến nồng độ PO43-
(từ vị trí cầu nhỏ tại khu phố 5 đến cầu Hùng Vương thị trấn Dương Đông) 43Hình 3.13 Diễn biến độ pH tại các mặt cắt (từ cầu Hùng Vương ra cửa biển) 44Hình 3.14 Diễn biến tổng chất rắn lơ lửng (từ cầu Hùng Vương ra cửa biển) 45Hình 3.15 Diễn biến nồng độ COD (từ cầu Hùng Vương ra cửa biển) 46Hình 3.16 Diễn biến nồng độ BOD5 (từ cầu Hùng Vương ra cửa biển) 46Hình 3.17 Diễn biến nồng độ amoni NH4+
(từ cầu Hùng Vương ra cửa biển) 47Hình 3.18 Diễn biến nồng độ PO43- (từ cầu Hùng Vương ra cửa biển) 48Hình 3.19 Tỷ lệ sử dụng nước của các ngành trên lưu vực sông Dương Đông năm 2015 56Hình 3.20 Ước tính tỷ lệ nhu cầu sử dụng nước của các ngành trên lưu vực sông Dương Đông đến năm 2030 58Hình 3.21 Ước tính tỷ lệ nhu cầu sử dụng nước của các ngành trên lưu vực sông Dương Đông đến năm 2030 59
Trang 9MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nằm trong quẩn thể đảo ven bờ biển Tây Nam, huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang chiếm vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế, là nơi giao lưu thương mại, dịch vụ mang ý nghĩa khu vực và quốc tế Huyện đảo Phú Quốc nổi tiếng như một ngư trường lớn với nguồn tài nguyên sinh vật biển phong phú và đa dạng Nơi đây còn là khu du lịch, nhất là khu
du lịch sinh thái, thu hút được sự chú ý của nhiều du khách trong và ngoài nước với nhiều bãi biển đẹp, phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, chất lượng môi trường trong sạch
Sông Dương Đông có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện đảo Phú Quốc Đây là một trong hai con sông lớn trên huyện đảo, bắt nguồn từ dãy núi Ông Thầy với chiều dài sông chính khoảng 21,5 km, tổng chiều dài các sông suối khoảng 63 km, cả lưu vực có diện tích khoảng
104 km2, với mật độ khoảng 0,6 km/km2, là nguồn dự trữ, cung cấp nước chính cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản…) trên huyện đảo Khu vực này có tính đa dạng sinh học cao, số lượng loài động, thực vật phong phú, trong đó có nhiều loài có ý nghĩa kinh tế và bảo tồn cao, góp phần vào việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cộng đồng, đặc biệt là trong hoạt động du lịch sinh thái Nước ta với hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn trong tình trạng thiếu ngọt, chỉ có một số lượng nhỏ các đảo có nguồn nước ngọt phong phú, điển hình là đảo Phú Quốc Vì vậy, bảo vệ nguồn nước ngọt nơi đây là nhiệm vụ quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện đảo Phú Quốc
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu về tăng trưởng và phát triển kinh
tế, gia tăng dân số, đặc biệt là khách du lịch đã làm ô nhiễm môi trường trên sông Dương Đông diễn ra ngày càng mạnh mẽ Nước thải sinh hoạt ở khu vực
Trang 10dân cư, các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch hầu hết không được xử lý, một phần thẩm thấu vào đất, một phần theo kênh, rạch hoặc cống thải đổ ra sông, biển gây ô nhiễm cho nguồn tiếp nhận Nước mặt khu vực thị trấn Dương Đông bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất vì là nơi tập trung rất nhiều cơ sở sản xuất cũng như có mật độ dân cư cao hơn rất nhiều so với các khu vực khác Điển hình là trường hợp ô nhiễm môi trường nước sông Dương Đông làm cho
cá chết hàng loạt vào năm 2010, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển kinh tế - xã hội, phát triển bền vững đảo Phú Quốc Trong thời gian tới, cùng với việc xây dựng Phú Quốc trở thành trung tâm kinh tế thương mại, dịch vụ
và du lịch nghỉ dưỡng chất lượng cao, lượng chất thải sẽ phát sinh ngày càng nhiều, đe dọa trực tiếp tới nguồn nước sông Dương Đông (cả trữ lượng và chất lượng) Việc dự báo khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của sông Dương Đông sẽ giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước có biện pháp khai thác và bảo vệ dòng sông quý giá này trên huyên đảo
Với các lý do nêu trên, việc thực hiện đề tài “Đánh giá chất lượng
nước sông Dương Đông và dự báo khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho phát triển ở Phú Quốc đến năm 2030” là thực sự quan trọng và cấp thiết
III Nội dung nghiên cứu
- Tính toán WQI cho 12 mặt cắt dọc theo sông Dương Đông vào 04 đợt: tháng 12/2016, tháng 9/2017, tháng 10/2017, tháng 11/2017 Trên cơ sở
đó so sánh, đối chiếu để đánh giá mục đích sử dụng nước phù hợp
- Đánh giá hiện trạng sử dụng nước sông Dương Đông của các ngành
Trang 11trong giai đoạn 2010-2015
- Tính toán nhu cầu sử dụng nước của các ngành trên sông Dương Đông, từ đó dự báo khả năng đáp ứng của sông Dương Đông đến năm 2030
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu về sông Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc
Qua nghiên cứu, tổng hợp tài liệu cho thấy đã có một số công trình nghiên cứu tại vùng biển Phú Quốc nói chung và sông Dương Đông nói riêng như sau:
- Đề án tổng thể bảo vệ môi trường đảo Phú Quốc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- Báo cáo hiện trạng môi trường của huyện đảo Phú Quốc trong vài năm trở lại đây
- Năm 2006, Liên đoàn Địa chất biển thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng vật liệu xây dựng và môi trường biển phục vụ cho việc khai thác cát san lấp Bãi Vòng - Hàm Ninh, Phú Quốc tỉ lệ 1/25.000” do TS Đào Mạnh Tiến làm chủ nhiệm
- Năm 2006, TS Đào Mạnh Tiến và TS Phạm Văn Thanh đồng chủ nhiệm trong thực hiện đề tài “Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường biển đảo Phú Quốc từ 0 - 20m” Kết quả đã đánh giá được các nguồn tài nguyên vùng biển đảo Phú Quốc, hiện trạng môi trường trầm tích và nước biển, các dạng tai biến tự nhiên trên vùng biển đảo nghiên cứu Theo kết quả nghiên cứu mức độ dễ bị tổn thương các hệ thống tự nhiên - xã hội, các tác giả đã phân chia khu vực biển đảo Phú Quốc ra 3 vùng với mức độ dễ bị tổn thương khác nhau
- Năm 1996 - 2002, Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng II thực hiện (1996, 2002) đã điều tra tổng hợp tài nguyên hệ động, thực vật của khu vực Vườn Quốc gia Phú Quốc Đây là kết quả mang tính cơ sở cho các đánh giá, nhận xét về đa dạng và tài nguyên sinh vật của Vườn Quốc gia Phú Quốc
Trang 13- Năm 2013, Định Thị Thanh Mai và Nguyễn Thị Bé Ba đã nghiên cứu khai thác tiềm năng phát triển các loại hình du lịch ở huyện đảo Phú Quốc Nghiên cứu đã chỉ ra việc phát triển đa dạng các loại hình du lịch sẽ góp phần quan trọng cho quá trình khai thác hiệu quả lợi thế so sánh về tiềm năng, đáp ứng nhu cầu của du khách và nâng cao hiệu quả kinh tế [12]
- Năm 2015, Nguyễn Thị Bích Phượng, Võ Quốc Thành và Phạm Đăng Trí (Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ) đã nghiên cứu “Ảnh hưởng của sử dụng đất đai lên đặc tính thủy văn lưu vực sông Dương Đông, Phú Quốc” Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thay đổi hiện trạng sử dụng đất của năm 2005 và 2010 chưa ảnh hưởng đáng
kế lên chế độ dòng chảy của lưu vực Tuy nhiên khi diện tích rừng phòng hộ
bị thu hẹp và mật độ dân cư gia tăng thì sự thay đổi dòng chảy bề mặt cần được xem xét [11]
Tuy nhiên cho tới nay, chưa có một công trình nghiên cứu chi tiết và toàn diện về đánh giá chất lượng nước sông Dương Đông và dự báo khả năng
đáp ứng nhu cầu sử dụng cho các mục đích phát triển trong tương lai
1.2 Tổng quan về sông Dương Đông
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên sông Dương Đông
a) Đặc điểm địa lý tự nhiên
Sông Dương Đông thuộc huyện đảo Phú Quốc có tổng diện tích tự nhiên toàn lưu vực là 104 km2
, trục chính dài khoảng 21,5 km, chảy qua địa phận các xã Cửa Dương, Dương Tơ và thị trấn Dương Đông (Hình 1.1) Sông Dương Đông kết hợp với một số sông nhỏ khác như suối Đá Bàn, suối Đá, suối Ngọn thành một mạng lưới tưới tiêu tự chảy hoàn chỉnh Đặc biệt trên sông Dương Đông có hồ nước ngọt Dương Đông với dung tích 5,2 triệu m3
, giúp điều hòa dòng chảy thông qua việc cung cấp nước vào mùa khô và điều
Trang 14tiết dòng chảy vào mùa mưa, đây cũng là nguồn cấp nước ngọt quan trọng cho nhà máy nước sạch
Hình 1.1 Sông Dương Đông
Vùng hạ lưu của lưu vực (khoảng 10 km2) chảy qua thị trấn Dương Đông là khu vực trung tâm của huyện đảo Phú Quốc, tập trung đông dân cư, đóng vai trò quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện đảo Phú Quốc (Hình I.2) Cũng chính vì thế mà đây là nơi tập trung các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, số lượng tàu bè đi lại lớn, dẫn đến chất lượng nước sông đang có dấu hiệu ngày càng ô nhiễm
Trang 15Hình 1.2 Vị trí thị trấn (khu đô thị) Dương Đông
b) Đặc điểm địa hình
Khu vực này có địa hình thoải dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam Phía Đông là dãy núi Hàm Ninh với các núi như núi Ông Thầy, Núi Đá Bạc, núi Sao; phía Bắc là núi chóp Dài, núi Khế, núi Ông Lang, núi Gành Gió, núi Hàng Hiệu, núi ông Phụng, núi Chùa; phía Nam có dãy núi Dương Đông, núi suối Đá, núi Đầu Sói, núi Ông Diệu Vùng hạ lưu sông Dương Đông là khu
Trang 16vực lầy lội khá rộng Ngoài ra, còn có những dải đất trũng lầy lội khác ở phía Tây Bắc và Đông Nam
Sông Dương Đông là sông nhỏ, phần địa hình đồi núi tiếp giáp ngay với địa hình đồng bằng, nên khả năng trữ nước trong sông là khá kém Phần thượng lưu các sông suối có thời gian tập trung nước lớn, phần hạ lưu ngắn chỉ khoảng 6 km từ cửa sông trở vào Điều này dẫn đến vào mùa mưa, lũ trên sông thường tập trung rất nhanh, mùa cạn dòng chảy của các con suối là khá thấp, vùng hạ lưu bị xâm nhập mặn sâu
c) Đặc điểm địa chất thủy văn
Nghiên cứu địa chất thuỷ văn, địa chất công trình trên lãnh thổ Nam Bộ trong đó có đảo Phú Quốc được bắt đầu bằng công trình lập bản đồ địa chất thuỷ văn tỷ lệ 1/500.000 (Trần Hồng Phú, 1982) Tiếp theo là công trình lập bản đồ địa chất thuỷ văn, địa chất công trình Nam Bộ, tỷ lệ 1/200.000 (Bùi Thế Định, 1990) Trong công trình lập bản đồ địa chất thuỷ văn, địa chất công trình
tỷ lệ 1/200.000, các tác giả đã phân chia trên phạm vi đảo Phú Quốc thành 3 đơn vị chứa nước như sau: (i) phức hệ chứa nước khe nứt các trầm tích lục nguyên Jura - Creta (J1-K2); (ii) tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen hạ - trung (Q12-3); (iii) phức hệ chứa nước lỗ hổng các trầm tích Holocen nhiều nguồn gốc (Q2) Các đơn vị chứa nước được đánh giá là nghèo đến rất nghèo nước, chất lượng nước tốt Ở tỷ lệ nhỏ và trung bình, mức độ nghiên cứu trên đảo còn sơ lược (có 12 lỗ khoan địa chất công trình, đo vẽ trên mặt, một số hố đào khảo sát, không có lỗ khoan nghiên cứu địa chất thuỷ văn)
d) Đặc điểm khí tượng
Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới biển gió mùa, quanh năm nóng ẩm với hai mùa chính là mùa khô và mùa mưa; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng 160Kcal/cm2 và số giờ nắng trung bình năm
Trang 17khoảng 2.356 giờ nắng/năm (6,6 giờ/ ngày), dao động từ 1895 giờ nắng/năm (5,2 giờ/ngày)÷2856 giờ nắng/năm (7,8 giờ/ngày) Theo kết quả tính toán của Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu năm 2015, tổng số giờ nắng trung bình trên quy mô cả nước nước vào khoảng 1.857 giờ nắng/năm Như vậy, số giờ nắng trung bình tại Phú Quốc lớn hơn 499 giờ so với số giờ nắng trung bình cả nước
Theo kết quả quan trắc tại trạm Phú Quốc giai đoạn 1958-2015, nhiệt
độ trung bình năm Phú Quốc khoảng 27,2°C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4, 5 với nhiệt độ 28,5°C, tháng có nhiệt độ trung bình nhỏ nhất
Nguồn: Tổng cục Môi trường (2015)
Cũng theo kết quả quan trắc tại trạm Phú Quốc giai đoạn 1958-2015 cho thấy nhiệt độ trung bình các tháng đều có xu thế tăng Tháng 1 là tháng có nhiệt độ trung bình năm nhỏ nhất khoảng 25,8oC và có mức độ tăng khoảng 0,02oC/năm là tháng có mức tăng nhiệt độ lớn nhất, nhiệt độ cao nhất rơi vào khoảng tháng 5 và có xu hướng tăng khoảng 0,019oC/năm
Nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng, giai đoạn 1958 đến năm
2014, tốc độ tăng nhiệt độ 0,016°C/năm
Trang 18Hình 1.3 Diễn biến nhiệt độ trung bình năm tại trạm Phú Quốc
Nhiệt độ trung bình năm trên lãnh thổ nước ta phân bố từ khoảng 15 đến 29oC, trong khi đó nhiệt độ tại Phú Quốc dao động trong khoảng từ 26,5oC đến hơn 28oC Như vậy, nền nhiệt độ của Phú Quốc cao so với nhiệt
độ cả nước, cùng với đó là diễn biến nhiệt độ tại Phú Quốc có xu thế tăng trong các năm qua Nhiệt độ tăng sẽ tác động trực tiếp lên lưu vực như: gia tăng bốc hơi nước làm ảnh hưởng đến trữ lượng nước trên lưu vực, ảnh hưởng đến nguồn sống của các sinh vật trên lưu vực, gây khô hạn có thể dẫn đến những hậu quả thiên tai như cháy rừng hay khô hạn cho lưu vực
Căn cứ số liệu quan trắc tại trạm Phú Quốc, độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 81,8%; Độ ẩm không khí trung bình tháng cao nhất 86.6% xuất hiện vào tháng 10 và thấp nhất khoảng 76,3% xuất hiện vào tháng 1; Độ
ẩm trung bình cao nhất có thể tới 98% xuất hiện vào tháng 10 và thấp nhất khoảng 56,3% xuất hiện vào tháng 1 [4]
Chế độ gió biến đổi theo mùa trong năm như sau: mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thịnh hành bởi gió mùa Đông Bắc Gió Đông Bắc với hai thành phần chính là gió Đông chiếm 50-70% số lần xuất hiện trong tháng với tốc độ 1,8-2,8 m/s Mùa mưa, từ tháng 6 đến tháng 10 với tốc độ gió trung bình
Trang 1911
khoảng 3,0 m/s, thịnh hành bởi gió mùa Tây Nam Gió Tây Nam với thành phần chính là hướng Tây, chiếm 40-50% số lần trong tháng với tốc độ 3,0-3,5m/s Gió mạnh thường xảy ra vào các tháng 6-8 với tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc được đạt tới 31,7 m/s [4]
Mùa mưa hàng năm thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô (mùa mưa ít) kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Trong mùa mưa, mưa chủ yếu do gió mùa Tây Nam gây nên Mùa khô trùng với thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc Lượng mưa trung bình năm khoảng 2936 mm, lượng mưa mùa mưa (tháng 5-10) khoảng 2399 mm chiếm 82% lượng mưa năm, lượng mưa mùa khô khoảng 537 mm chỉ chiếm 20% Lượng mưa phân bố không đều trong năm, lượng mưa tháng 8 là lớn nhất và nhỏ nhất là tháng 2
Bảng 1.2 Lượng mưa trung bình tháng, năm trạm Phú Quốc (mm)
Tên trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Phú Quốc 30 32 69 155 274 406 423 480 468 348 180 71 2936
Nguồn: Tổng cục Môi trường (2015)
e) Đặc điểm thủy, hải văn
Nhìn chung, đặc điểm của sông là ngắn, lòng sông dốc, tính điều tiết của lưu vực kém, dòng chảy kiệt nhỏ và giảm nhanh nên độ mặn vùng cửa sông cao (21,9-31,7g/l), chiều dài xâm nhập mặn chỉ khoảng 1-2 km Tuy nhiên ở phía Tây, mặn xâm nhập mạnh và chiều dài xâm nhập mặn tới 5 km trên rạch Dương Đông, độ mặn cao hơn và độ dài mặn xâm nhập sâu hơn so với các sông rạch chảy ra biển ở phía Đông
Cũng như các sông suối trên đất liền ở nước ta, dòng chảy trên sông Dương Đông cũng biến đổi theo mùa trong năm với hai mùa là mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10 (với tỷ số dòng chảy trung bình tháng trên 8,3% tổng lượng dòng chảy năm), từ tháng 11 đến tháng 4 là thời kỳ
6 8 10 12 14 16 18 20
Trang 20mùa khô Lượng dòng chảy mùa lũ chiếm trên dưới 80% tổng lượng dòng chảy năm Tuy rằng lượng mưa trung bình tháng 11 khá lớn (trung bình thời kỳ 1961-2010 khoảng 161mm) nhưng tỷ lệ lượng mưa tháng 11 cũng chỉ chiếm 5,6% tổng lượng mưa năm Như vậy, về cơ bản, chế độ dòng chảy phù hợp với chế độ mưa
Sông Dương Đông nằm trên Đảo Phú Quốc, do đó chịu tác động chung của chế độ hải văn đảo là chế độ triều vịnh Thái Lan - chế độ thủy triều biển Tây Thủy triều biển Tây thuộc loại triều hỗn hợp thiên về nhật triều không đều Thời gian triều lên và triều xuống xấp xỉ nhau khoảng (11,3-12,0) giờ Chu kỳ triều ngày đạt 24,3 giờ, biên độ triều lớn nhất biến đổi trong phạm vi (0,8-1,2) m, mực nước chân triều dao động trong phạm vi (0,2-0,4) m, nhỏ hơn
so với dao động của mực nước đỉnh triều (0,6-0,8) m, thường có dạng chữ “M” dẫn đến thời gian duy trì mực nước thấp dài hơn so với thời gian duy trì mực nước cao, nên đường quá trình mực nước trung bình ngày nằm sát mực nước chân triều Một chu kỳ triều thường kéo dài 15 ngày Mực nước đỉnh triều trung bình và cao nhất tháng xuất hiện vào các tháng 9-11, còn mực nước thấp nhất xảy ra vào các tháng 4-6; mực nước chân triều trung bình và thấp nhất xảy
ra vào các tháng 2-6; biên độ triều lên lớn nhất thường xảy ra vào các tháng 6; biên độ triều xuống lớn nhất vào các tháng 5-7 [4]
4-g) Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên
Hệ sinh thái trên cạn của sông Dương Đông nằm trong vườn quốc gia Phú Quốc Vườn quốc gia Phú Quốc là nơi phân bố tự nhiên của hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Thành phần động, thực vật ở vườn quốc gia khá đa dạng và phong phú
- Thực vật: Vườn quốc gia Phú Quốc có 1.164 loài thực vật bậc cao, gồm
137 họ và 531 chi Trong đó có 5 loài khỏa tử (ngành hạt trần) thuộc 3 họ và 4 chi, 155 loài cây dược liệu (34 loài làm thuốc bổ và 11 loài chữa được các bệnh
Trang 21hiểm nghèo) và 23 loài Phong lan, trong đó có 1 loài mới được ghi nhận tại Việt Nam (Podochilus tenius) Vào năm 2006 qua điều tra khảo sát của tổ chức WAR cho biết đã phát hiện 3 loài Lan mới được ghi nhận ở Vườn quốc gia Phú Quốc đó là: Lan Vân Hài (Paphiopedilum callosum (Rchb F) Stein), ái Lan Lá Dẹp (Malaxis calophylla) và Âm Lan núi (Aphyllorchis Montana) [1]
- Động vật rừng: Vườn quốc gia Phú Quốc có 28 loài thú, thuộc 14 họ,
06 bộ (Bộ gặm nhấm có 9 loài; bộ Dơi có 5 loài; bộ thú lớn, bộ linh trưởng và
bộ ăn thịt cùng có 4 loài; bộ guốc chẳn có 2 loài) Mặc dù có thành phần loài tương đối nghèo, nhưng loài thú Vườn quốc gia Phú Quốc vẫn có ý nghĩa bảo tồn đa dạng sinh học cao với 8 loài quý hiếm đang bị đe doạ tuyệt chủng trong nước và trên toàn cầu, đáng chú ý là loài Sóc đỏ Phú Quốc Trong đó, có 5 loài ghi trong “Sách đỏ Việt Nam” (2000), 6 loài ghi trong Danh lục đỏ của IUCN (2004) và 7 loài ghi trong Danh lục của Nghị định 48/2002/NĐCP (2002) [1]
- Về Chim: Có 119 loài, thuộc 41 họ, 16 bộ Trong 119 loài đã ghi nhận
4 loài có mặt trong Danh lục đỏ IUCN, 3 loài ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam và 7 loài được ghi nhận trong Nghị định 48/2002/CP Đặc biệt là Diều
cá đầu xám và Bồ nông chân xám [1]
- Về Bò sát: Có 47 loài, thuộc 16 họ, 3 bộ Trong đó có 18 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2000), 9 loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2004),
21 loài ghi trong Nghị định 48/2002/NĐ-CP [1]
Ngoài ra còn có loài Nhông cát sọc (Leiopeltts guentherpetersi), đây là loài đặc hữu của Việt Nam lần đầu tiên được tìm thấy tại Vườn quốc gia Phú Quốc.Về Lưỡng cư: Có 14 loài, thuộc 14 họ, 01 bộ [1]
Tiêu biểu cho hệ sinh thái đất ngập nước ở đảo là rừng ngập mặn Thành phần chủ yếu gồm có: Đước đôi (Rhizophora apiculata), Mắm (Avicennia), Vẹt (Bruguiera gymnorhiza), Bần (Sonneratia alba), Cóc (Lumnitzera racemosa), Giá (Excoecaria agallocha) Đặc biệt, so với các sinh
Trang 22cảnh rừng ngập mặn khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thì nơi đây xuất hiện loài Cóc đỏ (Lumnitzera rosea), một loài cây ngập mặn quý có tên trong Sách Đỏ Việt Nam
Điểm đặc biệt của rừng ngập mặn là phần lớn chỉ mọc trên nền cát và phân bố thành những dãy rất hẹp dọc hai bên sông, suối, cửa rạch Các yếu tố này tạo nên tính đặc sắc, nhưng đồng thời cũng làm cho sự tồn tại của rừng ngập mặn ở đảo Phú Quốc rất mỏng manh, vì khi chúng mất đi thì khó mà có thể phục hồi được Diện tích nhỏ hẹp làm cho việc mất trắng rừng ngập mặn trên một dòng rạch rất dễ xảy ra Nền cát nghèo dinh dưỡng và sự thay đổi tính chất dòng chảy sau khi rừng mất đi có thể làm cho việc tái sinh cây rừng ngập mặn là một điều vô cùng khó
Hệ sinh thái rừng ngập mặn chiếm tỷ trọng thấp, khoảng 120 ha chiếm 0,21% tổng diện tích tự nhiên của đảo, tính đa dạng sinh học cao, có giá trị bảo tồn, là nơi trú ẩn và sinh sôi nảy nở của nhiều loài chim, thú, cá, bò sát…
vì vậy cần có chính sách bảo vệ thích đáng
Vùng biển Phú Quốc được đánh giá là ngư trường giàu có với tổng trữ lượng cá phân bố ước đạt khoảng 464.000 tấn Trong đó, trữ lượng cá nổi chiếm khoảng 51% (239.000 tấn); cá đáy và cá rạn san hô chiếm khoảng 49% (255.000 tấn) [1] Ngoài nhóm cá, vùng biển Phú Quốc còn nhiều nhóm hải sản có giá trị khác như tôm, mực, ghẹ, ốc nhảy, trai ngọc, sò huyết, sò lông, nghêu lụa, bạch tuộc, hải sâm, cá ngựa… hàng năm được khai thác với sản lượng lớn tạo nguồn thu nhập và công ăn việc làm cho người dân trên đảo và khu vực lân cận
Rạn san hô là quần cư chủ yếu ở vùng nước nông ven đảo của khu vực
An Thới (nam Phú Quốc), xung quanh hầu hết các đảo ở Nam Du và Thổ Chu Xung quanh đảo lớn Phú Quốc, rạn chỉ tồn tại với diện tích nhỏ ở một số khu vực phía Đông Bắc, Tây Bắc Do đặc điểm hệ sinh thái rạn san hô và thảm cỏ
Trang 23biển là điều kiện thích hợp để cư trú và cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho các loài cá sống ở rạn Tại vùng biển Phú Quốc có 152 loài cá thuộc 71 giống và 31
họ, trong đó các họ có giá trị kinh tế cao như cá mú 13 loài, cá mó 11 loài, cá dìa 8 loài, 7 loài cá hồng, 8 loài cá đổng… Một số loài có giá trị thương mại thuộc họ Serranidae (14 loài), Scaridae (13 loài), Lutjanidae (5 loài), Nemipteridae (5 loài) và Siganidae (5 loài) cũng thường xuất hiện ở các rạn san
hô trong vùng, chỉ có 3 loài cá bướm, bao gồm: Chaetodon octofasciatus, Chelmonrostratus và Heniochusacuminatus được ghi nhận ở Phú Quốc [1]
Mặc dù rạn san hô của vùng lõi khu bảo tồn biển Phú Quốc vẫn còn trong tình trạng khá tốt, tuy nhiên rất nhiều trong số đó đã bị hủy hoại do khai thác thủy sản trong quá khứ Vùng cỏ biển Đông Bắc đảo Phú Quốc mật độ dày với nhiều loài cá cũng bị phá hủy do tác động khai thác thủy sản Đặc biệt tại vùng biển này ghi nhận có sự xuất hiện của bò biển (dugong) hay còn gọi là cá cúi, rùa biển, cá heo… đây được coi là các sinh vật đặc biệt quý hiếm ở vùng biển Tây Nam có tên nằm trong danh mục bị đe dọa tuyệt chủng
mà việc khai thác trái phép chưa được ngăn chặn hiệu quả Những loài bị tổn thương này cần được bảo vệ và phục hồi Vì vậy cần phải có kế hoạch tiếp tục việc phục hồi các loài hệ sinh thái đã bị xuống cấp
Vùng đảo này là nơi phân bố và sinh sống của hàng loạt các nhóm loài thuỷ sinh vật khác nhau, bao gồm san hô, cá rạn, các loài cá di cư, thân mềm, giáp xác, da gai và thú biển… Kết quả từ các cuộc điều tra được tiến hành tới thời điểm này đã xác định được trong vùng biển Phú Quốc có 108 loài san hô thuộc cả hai nhóm san hô cứng và san hô mềm, 135 loài cá rạn san hô, 3 loài cá
di cư, 132 loài thân mềm lớn sinh sống trong rạn san hô, 9 loài giáp xác, 32 loài
da gai và 6 loài thú biển sinh sống và kiếm ăn [1] Trên toàn vùng đảo Phú Quốc, du lịch cũng đang phát triển rất mạnh, đây là một ưu tiên hàng đầu trong định hướng phát triển đảo Phú Quốc để biến hòn đảo này thành một
Trang 24trung tâm du lịch chất lượng cao của cả nước và khu vực Hiện nay các loại hình du lịch lặn biển đang được khu bảo tồn biển Phú Quốc khai thác và được du khách trong, ngoài nước
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a) Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
Sông Dương Đông chảy qua thị trấn Dương Đông, đây là vùng trọng điểm phát triển về kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của huyện đảo Phú Quốc Trong những năm gần đây, các xã trong lưu vực sông đã có những thành tựu phát triển đáng kể về cả kinh tế và xã hội Năm 2017, tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế đạt 19.360 tỷ đồng, tăng hơn 50% so với năm 2012 [10]
Trên sông Dương Đông hoạt động phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp phân bố tập trung tại các xã Dương Tơ và xã Cửa Dương, hoạt động phát triển công nghiệp tập trung ở thị trấn Dương Đông
Bảng 1.3 Phân bố cơ cấu sản xuất của các xã, thị trấn
TT Đơn vị hành
chính
Giá trị SX nông nghiệp
Giá trị SX lâm nghiệp
Số lượng cơ
sở SX công nghiệp Tổng
Tổng giá trị
(triệu
đồng)
Tỷ trọng
so với toàn huyện (%)
Cơ
sở
Tỷ lệ
% toàn huyện
1 TT Dương Đông 12941 3% 953 0,7% 232 27%
2 Xã Cửa Dương 99213 23% 49345 35% 90 10%
Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc (2015)
Tóm lại, hoạt động phát triển kinh tế xã hội hai bên bờ sông Dương Đông giai đoạn vừa qua có đặc điểm sau:
- Sản xuất nông nghiệp của các xã chủ yếu là sản xuất theo thủ công, mang tính tự cung tự cấp Các sản phẩm nông nghiệp phục vụ đời sống của người dân trên đảo
Trang 25- Khu vực sông Dương Đông không chịu ảnh hưởng bởi nước thải từ việc nuôi trồng thủy sản Sản lượng khai thác thủy sản tại hai đơn vị này tập trung chủ yếu ở việc đánh bắt cá ngoài biển
- Hoạt động sản xuất công nghiệp chủ yếu là chế biến hải sản (chế biến tôm khô tăng 37%; mực khô tăng 34%; sản xuất nước mắm, …), ngoài ra phát triển hoạt động sản xuất may đo quần áo, xẻ gỗ
b) Dân số và nguồn lao động
Sông Dương Đông nằm trên địa phận 01 thị trấn và một phần của các
xã Cửa Dương và xã Dương Tơ Dân số sinh sống trong các xã năm 2016 là 60.282 người, mật độ dân số trung bình vào khoảng 214 người/km2 [5]
Bảng 1.4 Quy mô diện tích, dân số của các đơn vị hành chính
TT Đơn vị hành chính Diện tích
(km 2 )
Dân số (người)
Mật độ (người/km 2 )
1 Thị trấn Dương Đông 15,06 42.973 2.853
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Quốc (2016)
Ngoài ra, Phú Quốc hàng năm đón hàng trăm nghìn lượt du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng Sự gia tăng dân số và tiếp nhận lượng khách du lịch hàng năm làm gia tăng sức ép với môi trường lưu vực, như việc gia tăng sử dụng nước làm gia tăng lượng nước thải sinh hoạt thải xuống sông, lượng rác thải gia tăng
Trang 26Hình 1.4 Biểu đồ dân số trung bình giai đoạn 2009-2016
Hình 1.5 Số lượng khách du lịch giai đoạn 2010-2015
Theo mục tiêu đề ra của huyện đảo Phú Quốc, đến năm 2020 sẽ có 2.500.000 lượt khách du lịch đến thăm quan đảo Đây thực sự là một thách thức lớn đối với vấn đề tài nguyên và môi trường của đảo Phú Quốc cũng như sông Dương Đông Với lượng khách lớn như vậy, nếu mỗi ngày khách
xả thải 0,56kg/người/ngày thì ước tính lượng rác thải rắn sẽ tăng khoảng 1,4 tấn mỗi ngày, lượng nước thải do khách du lịch thải ra tăng khoảng 5315m3/ngày, gia tăng lượng khách du lịch sẽ làm gia tăng ô nhiễm môi trường, vì vậy cần có những biện pháp hợp lý và hiệu quả nhằm giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến môi trường lưu vực
Trang 271.3 Tổng quan về các nguồn phát sinh chất thải ra sông Dương Đông
1.3.1 Chất thải rắn
a) Nguồn phát sinh chất thải rắn
Theo kết quả thống kê, nguồn phát sinh chất thải rắn ra sông Dương Đông bao gồm: (i) Chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình và khách du lịch; (ii) Chất thải rắn từ các cơ sở sản xuất kinh doanh; (iii) Chất thải rắn từ cơ sở
y tế
- Chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình và khách du lịch
Chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu phát sinh ở thị trấn Dương Đông, nơi có lượng khách du lịch tập trung đông Các nguồn chất thải thường là khu thương mại, khu dân cư và chợ… Ước tính lượng rác thải phát sinh trung bình
từ sinh hoạt của khách du lịch là 0,56 kg rác thải/người/ngày, thì đến năm
2020 ước tính tổng lượng rác thải phát sinh từ hoạt động của du khách khoảng 1,4 tấn/ngày
Thành phần CTR sinh hoạt có lượng hữu cơ chiếm tỷ lệ khá cao 55%), các thành phần có thể tái sinh, tái chế chiếm tỷ lệ khoảng 10-15%, còn lại là thành phần vô cơ, không tái chế, không tái sử dụng được Trong thành phần của CTR sinh hoạt còn chứa các chất thải nguy hại như pin, acquy, bao
(45-bì chứa hóa chất bảo vệ thực vật
Hình 1.6 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt
trên sông Dương Đông
Trang 28- Chất thải rắn từ các cơ sở sản xuất kinh doanh
Qua khảo sát cho thấy các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn chủ yếu là các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhỏ lẻ với ngành nghề sản xuất nước mắm, chế biến thủy sản và đóng tàu biển Phần lớn các cơ sở chưa thực hiện phân loại chất thải tại nguồn, thông thường được trộn lẫn với các chất thải công nghiệp khác thậm chí còn được đổ chung với chất thải sinh hoạt Ngoài ra, các cơ sở sản xuất này cũng không đăng ký với cơ quan quản lý môi trường về chất thải công nghiệp
Theo số liệu thống kê của Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc, tổng khối lượng CTR phát sinh từ các cơ sở sản xuất kinh doanh trên sông ước tính khoảng 5 tấn/ngày, trong đó CTR được thu gom chiếm khoảng 70% lượng thải ra
- Chất thải rắn y tế
Nguồn phát sinh chất thải y tế trên địa bàn từ 01 bệnh viện đa khoa huyện tại thị trấn Dương Đông và 01 trạm y tế tại xã Cửa Dương với tổng số giường bệnh là 195 giường Đối với bệnh viện đa khoa thị trấn Dương Đông, công tác thu gom, xử lý được quan tâm; với các trạm y tế tuyến xã, thực tế cho thấy, tất cả các loại CTR tại các trạm y tế xã gồm các bệnh phẩm, các dụng cụ
y tế thải loại như bông, băng, gạc, ống tiêm, kim tiêm và CTR sinh hoạt không được phân loại riêng, do đó toàn bộ CTR này đều là CTR nguy hại Điều này là mối nguy cơ không nhỏ đối với môi trường, rất cần sự quan tâm, chỉ đạo và đầu tư hiệu quả để quản lý chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm này
b) Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR chỉ được thực hiện tại thị trấn Dương Đông, các khu vực khác vẫn chưa được chú trọng và quan tâm đến công tác thu gom, xử lý CTR
Trang 29Các CTR (sinh hoạt, cơ sở sản xuất và y tế) tại thị trấn Dương Đông được thu gom, vận chuyển chung, chưa có sự phân loại CTR tại nguồn
Hình 1.7 Sơ đồ hệ thống thu gom, vận chuyển chất thải rắn
Tuy nhiên, ngay tại thị trấn Dương Đông, rác chỉ được gom chủ yếu từ các hộ dân dọc đường phố chính (xe tải chạy qua được) và tại chợ trung tâm Các hộ ở trong các hẻm, đường nhỏ xe không vào được phải tự đem rác đến đổ vào thùng rác cộng cộng (nếu ở gần) hoặc tự giải quyết Ước tính số dân được hưởng dịch vụ vệ sinh (gom rác) chiếm 70% tổng số dân của thị trấn, 30% số
hộ còn lại tự giải quyết với cách đơn giản là đổ xuống sông Đặc biệt tại khu vực cầu Nguyễn Trung Trực bắc qua sông Dương Đông, vùng bến tàu và cửa sông đổ ra biển, khu vực các nhà dân và chợ ven sông rác ứ đọng khá nhiều
Rác được thu gom vào mỗi buổi chiều hàng ngày (từ 13 giờ đến 17 giờ
30 phút) Xe chở rác thu gom di chuyển trong thị trấn Rác từ các thùng chứa, rác nhà dân được đổ thẳng lên thùng xe Xe chở rác đến bãi rác tại xã Cửa Cạn cách trung tâm thị trấn khoảng 5 km, vì vậy những rác thải được thu gom tại bãi rác không ảnh hưởng đến môi trường lưu vực sông Dương Đông bình quân mỗi ngày xe chạy được hai chuyến, thu gom khoảng 4 - 6 tấn Theo đánh giá sơ bộ qua hai đợt khảo sát thì hệ thống thu gom giải quyết được khoảng 70% lượng rác hàng ngày của thị trấn
1.3.2 Nước thải
a) Nguồn phát sinh nước thải
Nước thải ra sông Dương Đông tập trung chủ yếu ở các khu vực thị trấn Dương Đông, trong đó nước thải phát sinh nhiều nhất từ sinh hoạt và hoạt động du lịch và tập trung ở những nơi du lịch phát triển như bãi biển Bà Kèo
Trang 30(từ Dương Đông đến cửa Lấp), bãi Dinh Cậu , tiếp đó là nước thải của các
cơ sở sản xuất kinh doanh dọc hai bên bờ sông, nhiều nhất chủ yếu ở thị trấn Dương Đông Hiện có khoảng 20 nguồn thải cơ sở thuộc các loại hình sản xuất kinh doanh, cơ sở y tế Các nguồn gây ô nhiễm trên sông Dương Đông phân bố tập trung chủ yếu ở vùng hạ lưu từ vị trí cầu nhỏ ở Phường 5 thị trấn Dương Đông đến cửa biển
Đoạn sông từ vị trí cầu nhỏ tại Phường 5 thị trấn Dương Đông đến Cầu Hùng Vương nguồn gây ô nhiễm nước sông chủ yếu là do sinh hoạt và các nhà hàng ăn uống dọc sông
Đoạn sông từ vị trí Cầu Hùng Vương ra biển là vùng phát triển nhất của lưu vực sông Dương Đông Sông rộng, tàu thuyền đi lại thuận tiện nên tập trung nhiều loại hình phát triển kinh tế, nguồn gây ô nhiễm gồm: hoạt động sinh hoạt, cơ sở sản xuất nước mắm, cơ sở đóng tàu và dịch vụ chợ, nhà hàng
và vui chơi giải trí
Trang 31Hình 1.8 Sơ đồ mạng sông và vị trí gây ô nhiễm
Lượng nước thải sinh hoạt trên lưu vực còn phát sinh từ các hộ gia đình trên thị trấn Dương Đông và xã Cửa Dương, lượng nước xả thải khoảng 4.568
m3/ngày Cùng với quá trình gia tăng dân số, lưu lượng nước thải sinh hoạt cũng gia tăng gây ra nhiều ảnh hưởng đến nguồn tiếp nhận
Hầu hết nước thải sinh hoạt phát sinh chưa được xử lý, trực tiếp đổ vào các sông, suối gây suy giảm chất lượng nước mặt
Trang 32Bảng 1.5 Một số cửa xả nước thải sinh hoạt chính trên sông Dương Đông
TT X Y Tên cống xả thải Phường/Xã Loại hình
nước thải
Ước lượng nước thải (m 3 /ngày)
Hình thức
xử lý nước thải
Nguồn tiếp nhận nước thải
2 386515 1129349
Cửa xả khu phố 1
- Thị trấn Dương Đông
TT Dương Đông Sinh hoạt rất ít Không
Sông Dương Đông
3 386776 1129271 Cửa xả khu phố 1 TT Dương
Đông Sinh hoạt rất ít Không
4 387607 1130334 Cống xả thải TT Dương
Đông
Sinh hoạt, bệnh viện, y
6 385856 1130066 Cống xả khu phố 4 TT Dương
Đông
Sinh hoạt, bệnh viện, y
tế
79,12 Không
Nguồn: Kết quả điều tra thực địa, TCMT
Trang 33Hình 1.9 Một số cửa xả và điểm xả thải nước thải sinh hoạt chính trên lưu
vực sông Dương Đông (Kết quả điều tra thực địa, TCMT, 2017)
Hình 1.10 Ảnh một số nguồn thải sinh hoạt trên LVS Dương Đông
Nguồn: Tổng cục Môi trường
Trang 34- Nước thải cơ sở sản xuất kinh doanh:
Hiện nay, trên đảo Phú Quốc chưa có quy hoạch phát triển khu công nghiệp, hoạt động phát triển công nghiệp trên huyện đảo chủ yếu là các cơ sở sản xuất nhỏ, phân tán Tuy nhiên, ở đây lại có rất nhiều các cơ sở chế biến nông sản, thuỷ sản như chế biến nước mắm, chế biến hải sản đông lạnh Ngoài ra còn có cơ sở công nghiệp khác như chế biến gỗ, sản xuất nước đá, sản xuất rượu
Tổng lượng nước thải của các cơ sở sản xuất ước khoảng 10,5 nghìn
m3/ngày, tương đương với 3,8 triệu m3/năm [5] Toàn bộ nước thải sản xuất tập trung chủ yếu ở các cơ sở chế biến nông sản, thủy sản, hải sản đông lạnh Nước thải sản xuất tập trung chủ yếu tại thị trấn Dương Đông
Bảng 1.6 Một số cơ sở xả nước thải sản xuất
TT Tên cơ sở xả thải Phường/Xã Lưu lượng
NT (m 3 /ngày)
Nguồn tiếp nhận nước thải
1 Cơ sở sản xuất nước mắm Khải Hoàn TT Dương
Trực tiếp ra sông Dương Đông
2 Cơ sở sản xuất nước mắm An Duyệt TT Dương
Đông 86,4
Trực tiếp ra sông Dương Đông
3 Cơ sở sản xuất nước mắm Hồng Việt TT Dương
Đông 172,8
Trực tiếp ra sông Dương Đông
4 Cơ sở sản xuất nước mắm Phước
Thành
TT Dương Đông 60,48
Trực tiếp ra sông Dương Đông
5 Cơ sở sản xuất nước mắm Hồng Cúc TT Dương
Đông 172,8
Trực tiếp ra sông Dương Đông
6 Cơ sở sản xuất nước mắm Hồng Mai TT Dương
Đông 129,6
Trực tiếp ra sông Dương Đông
7 Cơ sở sản xuất nước mắm Hồng Ngân TT Dương
Đông 129,6
Trực tiếp ra sông Dương Đông
Nguồn: Tổng cục Môi trường
Trang 35Hình 1.11 Ảnh một số nguồn thải cơ sở sản xuất kinh doanh
trên sông Dương Đông
Nguồn: Tổng cục Môi trường
Mặc dù hiện nay nước thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh trên LVS Dương Đông có thành phần ô nhiễm chủ yếu là BOD5, COD, SS, tổng Nitơ, tổng Phốt pho ở một số điểm đã vượt mức quy chuẩn cho phép Tuy nhiên, mức vượt không lớn, nhưng nguy cơ ô nhiễm của các nguồn thải nếu như không có sự giám sát và kiểm tra chặt chẽ của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương
- Nước thải y tế
Hiện nay trên toàn bộ vùng nghiên cứu chỉ có 1 bệnh viện đa khoa huyện tại thị trấn Dương Đông, 1 trạm y tế tại xã Cửa Dương với tổng số giường bệnh là 195 giường Nếu coi mỗi giường bệnh sử dụng một ngày hết
90 lít nước thì lượng nước thải y tế trung bình ước tính gần 18 m3
/ngày, trong
đó riêng lượng nước thải của bệnh viện chiếm tới 97%
Trên thực tế qua điều tra khảo sát tại một số cơ sở y tế tại thị trấn Dương Đông Tổng lượng nước thải tại các cơ sở này vào khoảng 69 m3
/ngày
Trang 36Bảng 1.7 Một số cơ sở xả nước thải y tế
TT Tên cơ sở xả thải Phường/Xã Lưu lượng
NT (m 3 /ngày)
Hình thức xử
lý nước thải
Nguồn tiếp nhận nước thải
1 Trạm y tế xã Xã Cửa Dương 4 Không Thải ra sông suối
kênh mương
2 Bệnh viện đa khoa TT Dương Đông 69,12 Bể phốt Sông Dương Đông
Nguồn: Tổng cục Môi trường
Cũng như các cơ sở sản xuất, hầu hết các cơ sở y tế và cả bệnh viện đa khoa huyện đều chưa có hệ thống xử lý nước thải Toàn bộ nước thải đổ trực tiếp ra cống rãnh thoát nước chung với nước thải sinh hoạt và sản xuất Nước thải y tế tuy chỉ rất nhỏ xong các chất thải này thường có độc tính cao, do các chất tàn dư của thuốc như thuỷ ngân, thuốc khử trùng
b) Tình hình xử lý nước thải
- Đối với nước thải sinh hoạt: hầu hết nước thải sinh hoạt đô thị ở các thị trấn và các khu du lịch trên đảo được thải chung với các loại hình nước thải khác (cơ sở sản xuất, nhà hàng, khách sạn, y tế ), chỉ được xử lý sơ bộ qua bể phốt trước khi vào hệ thống thoát nước chung Hiện nay trên đảo chỉ
có 1 trạm xử lý nước thải chung cho các loại nước thải Tại thị trấn Dương Đông hệ thống thoát nước thải được bố trí tại trung tâm thị trấn, khả năng thu gom nước thải có công suất 70 nghìn m3/ngày đạt tỷ lệ 80%
Với các khu dân cư khác thì nước thải chủ yếu được thoát tự nhiên vào
ao, hồ, kênh, rạch, khu vực có địa hình trũng và thoát ra sông suối hoặc xả trực tiếp ra biển (đối với những nơi nằm sát biển)
- Đối với các cơ sở sản xuất phân tán: theo kết quả điều tra, thu thập ở
18 cơ sở thì hầu như không có cơ sở nào có xử lý nước thải trước khi đổ ra ngoài Hiện tượng ô nhiễm dầu gây ra các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lên
hệ sinh thái, làm giảm cường độ quang hợp của tảo từ đó làm giảm quá trình
Trang 37luân chuyển các muối dinh dưỡng trong môi trường nước, làm biến đổi về cấu trúc và số lượng quần thể thực vật đáy và động vật đáy của vùng triều
Trang 38CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các thông số về chất lượng nước (BOD5, COD, NH4, PO4, TSS, Tổng Coliform, pH)
- Các yếu tố về kinh tế xã hội, tài nguyên thiên nhiên, nguồn thải thuộc sông Dương Đông
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Sông Dương Đông, trong đó tập trung đánh giá chất lượng nước sông đoạn chảy qua thị trấn Dương Đông (từ vị trí dọc theo cầu Mới, phường 5 đến khu vực cửa biển, cắt đường Võ Thị Sáu)
- Phạm vi thời gian: 2010-2017
2.3 Phương pháp nghiên cứu
a) Thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan
Thu thập, tổng hợp các tài liệu đã có của các công trình đã nghiên cứu
có liên quan để phục vụ việc đánh giá hiện trạng điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội, tài nguyên và môi trường Đây là cơ sở xác định các nội dung cần phải khảo sát, bổ sung nhằm sử dụng triệt để kết quả nghiên cứu đã có
b) Điều tra, khảo sát bổ sung, đo đạc tại hiện trường
- Phương pháp điều tra, khảo sát bổ sung ngoài hiện trường được thực hiện trên cơ sở các tài liệu đã có nhằm cập nhật, bổ sung các tài liệu mới nhất
để có thông tin chính xác hơn cho việc thực hiện các nội dung của đề tài Phương pháp sử dụng chủ yếu là điều tra xã hội học thông qua phỏng vấn hoặc quan sát thực tế nhằm bổ sung thông tin về hiện trạng kinh tế - xã hội, hiện trạng các nguồn thải và ô nhiễm môi trường, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá chất lượng nước
Trang 39- Phương pháp đo đạc tại hiện trường; lấy và phân tích bổ sung mẫu đất, trầm tích, nước, không khí… được sử dụng nhằm đánh giá chính xác hiện trạng chất lượng môi trường sông Dương Đông Cụ thể là: khảo sát, đo, phân tích chất lượng nước tại 12 mặt cắt dọc theo sông Dương Đông theo 04 đợt: tháng 12/2016, tháng 9/2017, tháng 10/2017, tháng 11/2017 Tại mỗi mặt cắt tiến hành xác định vị trí tọa độ và đo chiều rộng mặt cắt, toạ độ, chiều sâu, vận tốc dòng chảy, đo pH, DO và lấy mẫu phân tích chất lượng môi trường nước (các thông số TSS, COD, BOD5, NH4
+, PO4 3-, Tổng Coliform) dọc theo lát cắt ngang được quy định tại Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19/3/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định đánh giá khả
năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước Chi tiết các mặt cắt, vị trí đo đạc
và lấy mẫu nước sông tại Phụ lục kèm theo
c) Phương pháp sử dụng chỉ số chất lượng nước (WQI)
Việc đánh giá diễn biến chất lượng nước dựa theo chỉ số chất lượng nước (WQI) được tính toán theo “Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 01/7/2011 của Tổng cục Môi trường về việc ban hành sổ tay hướng dẫn tính toán chỉ số chất lượng nước” [7] Chỉ số WQI được tính từ các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước và được biểu diễn qua các thang điểm Cụ thể như sau:
Căn cứ điều kiện thực tiễn, việc tính toán chỉ số WQI cho LVS Dương Đông được tính toán theo 07 thông số: BOD5, COD, NH4
+, PO4 3-, TSS, Tổng Coliform, pH
- Tính giá trị WQI cho các thông số BOD5, COD, NH4+, PO43-, TSS, Tổng Coliform theo công thức sau:
(Công thức 1)
Trang 40Trong đó:
WQISI: WQI thông số
BPi: Nồng độ giới hạn dưới của giá trị thông số quan trắc được quy định trong bảng 2.1 tương ứng với mức i
BPi+1: Nồng độ giới hạn trên của giá trị thông số quan trắc được quy định trong bảng 2.1 tương ứng với mức i+1
qi: Giá trị WQI ở mức i đã cho trong bảng tương ứng với giá trị BPi
qi+1: Giá trị WQI ở mức i+1 cho trong bảng tương ứng với giá trị BPi+1
Cp: Giá trị của thông số quan trắc được đưa vào tính toán
- Tính toán WQI đối với thông số pH: