1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu lựa chọn phương án dự báo lũ cho các trạm thủy văn cơ bản tỉnh an giang phục vụ công tác dự báo nghiệp vụ

107 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa hình An Giang có 2 dạng chính là đồng bằng do phù sa sông Mekong trầm tích tạo nên và vùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên, hơn phân nửa diện tích của tỉnh có độ cao địa hình dưới 2.0m,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LƯU VĂN NINH

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ CHO CÁC TRẠM THỦY VĂN CƠ BẢN TỈNH AN GIANG PHỤC VỤ

CÔNG TÁC DỰ BÁO NGHIỆP VỤ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Lưu Văn Ninh

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ CHO CÁC TRẠM THỦY VĂN CƠ BẢN TỈNH AN GIANG PHỤC VỤ

CÔNG TÁC DỰ BÁO NGHIỆP VỤ

Chuyên ngành: Thủy văn học

Mã số: 8440224.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THANH SƠN

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sỹ khoa học “Nghiên cứu lựa chọn phương án dự báo lũ cho các trạm thủy văn cơ bản tỉnh An Giang phục vụ công tác dự báo nghiệp vụ” được thực hiện vào năm 2018 tại Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của quý thầy, cô và đồng nghiệp

Trước hết, tác giả xin trân trọng cảm ơn Thầy PGS.TS Nguyễn Thanh Sơn là người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình hoàn thành luận văn Tác giả xin cảm ơn TS Cấn Thu Văn đã tận tình góp ý và hướng dẫn kỹ thuật cho luận văn này

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hỗ trợ về bộ cơ

sở dữ liệu khí tượng thủy văn, đặc biệt là bộ số liệu phục vụ công tác dự báo dòng chảy ở các trạm thuộc tỉnh An Giang trong khuôn khổ đề tài: “Nghiên cứu xây dựng

cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn tỉnh An Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu”, mã

số 373.2016.12, tác giả chân thành cảm ơn

Tác giả xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo, đồng nghiệp Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh An Giang, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, Tổng cục Khí tượng Thủy văn và Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, quý Thầy, Cô trong Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tác giả cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Chắc chắn rằng, luận văn vẫn còn không ít hạn chế và thiếu sót Vì vậy, tác giả mong muốn nhận được sự góp ý quý báu của độc giả và các bạn đồng nghiệp

Trân trọng

Tác giả

Lưu Văn Ninh

Trang 4

i

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH AN GIANG VÀ BỘ CƠ SỞ DỮ LIỆU KTTV 5

1.1 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH AN GIANG 5

1.1.1 Vị trí địa lý 5

1.1.2 Địa hình 6

1.1.2.1 Đồng bằng phù sa 6

1.1.2.2 Đồng bằng ven núi 7

1.1.3 Hệ thống sông, kênh, rạch và hồ 8

1.1.3.1 Hệ thống sông chính 8

1.1.3.2 Hệ thống rạch tự nhiên 9

1.1.3.3 Hệ thống kênh đào 10

1.1.3.4 Hệ thống khe suối 10

1.1.3.5 Hệ thống hồ 10

1.1.4 Đặc điểm khí tượng - khí hậu 11

1.1.4.1 Thời gian nắng 11

1.1.4.2 Gió 11

1.1.4.3 Mưa 12

1.1.4.4 Độ ẩm không khí 13

1.1.4.5 Bốc hơi 14

1.1.4.6 Diễn biến nhiệt 14

1.1.5 Thủy văn 15

1.1.5.1 Đặc điểm thủy văn mùa lũ 15

1.1.5.2 Đặc điểm thủy văn mùa kiệt 18

1.1.5.3 Thủy triều 21

1.1.5.4 Chất lơ lửng (phù sa) 26

1.2 TỔNG QUAN KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH AN GIANG 28

1.2.1 Kinh tế 28

Trang 5

ii

1.2.2 Xã hội 29

1.3 BỘ CSDL KTTV PHỤC VỤ DỰ BÁO LŨ TỈNH AN GIANG 30

1.3.1 Thu thập, xử lý và xây dựng bộ CSDL KTTV 30

1.3.2 Đánh giá kết quả thu thập, xử lý số liệu và xây dựng bộ CSDL KTTV 30

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ CHO CÁC TRẠM CƠ BẢN THUỘC TỈNH AN GIANG 32

2.1 TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ 32

2.2 PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ CHO CÁC TRẠM CƠ BẢN THUỘC TỈNH AN GIANG 37

2.2.1 Phân tích diễn biến lũ, ngập lụt 38

2.2.1.1 Lũ sông Mekong 38

2.2.1.2 Lũ sông Cửu Long 42

2.2.1.3 Ngập lụt 43

2.2.1.4 Thời gian truyền lũ 44

2.2.2 Phân tích diễn biến thủy triều 45

2.2.3 Phân tích ảnh hưởng của các công trình đến dòng chảy lũ 49

2.2.3.1 Hệ thống hồ đập thủy điện thượng nguồn sông Mekong 49

2.2.3.2 Hệ thống đê bao và công trình thủy nông 50

2.2.4 Phân tích, lựa chọn phương án dự báo lũ 51

2.2.4.1 Phân tích phương án dự báo 51

2.2.4.2 Lựa chọn, xây dựng phương án dự báo 54

2.2.4.3 Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính nhiều biến cho từng trạm dự báo……… ……… 57

2.3 ÁP DỤNG DỰ BÁO KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 68

2.3.1 Áp dụng dự báo kiểm nghiệm 69

2.3.2 Đánh giá kết quả dự báo 78

CHƯƠNG 3: DỰ BÁO NGHIỆP VỤ CHO CÁC TRẠM CƠ BẢN THUỘC TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN 80

3.1 PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ NGHIỆP VỤ CHO CÁC TRẠM CƠ BẢN THUỘC TỈNH AN GIANG 80

3.1.1 Quy trình kỹ thuật dự báo lũ nghiệp vụ 81

3.1.2 Xác định các sai số 81

Trang 6

iii

3.1.3 Kết quả dự báo lũ nghiệp vụ 83

3.1.4 Đánh giá phương án dự báo mực nước lớn nhất ngày 92

3.2 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÔNG TÁC DỰ BÁO LŨ NGHIỆP VỤ THUỘC ĐÀI KTTV TỈNH AN GIANG 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

KẾT LUẬN 95

KIẾN NGHỊ 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 7

iv

DANH MỤC HÌNH

Hình 1-1 Bản đồ hành chính tỉnh An Giang 5

Hình 1-2 Trung tâm đồi núi cao hai huyện Tri Tôn-Tịnh Biên 7

Hình 1-3 Tổng số giờ nắng trung bình tháng tại An Giang 11

Hình 1-4 Biến trình tổng số giờ nắng năm và xu thế tại An Giang 11

Hình 1-5 Hoa gió mùa khô 12

Hình 1-6 Hoa gió mùa mưa 12

Hình 1-7 Lượng mưa trung bình tháng mùa khô 12

Hình 1-8 Lượng mưa trung bình tháng mùa mưa 12

Hình 1-9 Độ ẩm TB năm và diễn biến 13

Hình 1-10 Độ ẩm thấp nhất TB tháng 13

Hình 1-11 Tổng lượng bốc hơi tháng 14

Hình 1-12 Tổng lượng bốc hơi năm và xu thế 14

Hình 1-13 Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối năm 14

Hình 1-14 Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối năm 14

Hình 1-15 Nhiệt độ cao nhất TB và tuyệt đối tháng TBNN 15

Hình 1-16 Nhiệt độ thấp nhất TB và tuyệt đối tháng TBNN 15

Hình 1-17 Đường quá trình mực nước giờ trong mùa lũ 16

Hình 1-18 Phân bố mực nước cao nhất năm thời kỳ 1985-2015 17

Hình 1-19 Mực nước thấp nhất năm tại Tân Châu, Châu Đốc (1985-2015) 19

Hình 1-20 Mực nước thấp nhất năm tại Chợ Mới, Long Xuyên (1985-2015) 19

Hình 1-21 Mực nước thấp nhất năm nội đồng TGLX 20

Hình 1-22 Phân bố mực nước thấp nhất năm thời kỳ 1985-2015 20

Hình 1-23 Quá trình mực nước giờ trong mùa lũ dọc sông Tiền-Vũng Tàu 22

Hình 1-24 Quá trình mực nước giờ trong mùa khô dọc sông Hậu-Vũng Tàu 23

Hình 1-25 Quá trình mực nước giờ cao điểm mùa lũ trong vùng TGLX 25

Hình 1-26 Quá trình mực nước giờ cao điểm mùa khô trong vùng TGLX 25

Hình 1-27 Hàm lượng chất lơ lửng lớn nhất, nhỏ nhất trạm Tân Châu 27

Trang 8

v

Hình 1-28 Hàm lượng chất lơ lửng lớn nhất, nhỏ nhất trạm Châu Đốc 27

Hình 1-29 Tổng lượng chất lơ lửng vào sông Tiền tại Tân Châu 28

Hình 1-30 Tổng lượng chất lơ lửng vào sông Hậu tại Châu Đốc 28

Hình 2-1 Bản đồ mạng lưới trạm KTTV tỉnh An Giang 38

Hình 2-2 Hồ đập thủy điện trên dòng chính Mekong 50

Hình 2-3 Vị trí trạm thủy văn lưu vực sông Mekong 50

Hình 2-4 Sơ đồ khối xây dựng phương án dự báo 56

Hình 2-5 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Tân Châu năm 2009 69

Hình 2-6 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Tân Châu năm 2010 69

Hình 2-7 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Tân Châu năm 2011 70

Hình 2-8 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Châu Đốc năm 2009 70

Hình 2-9 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Châu Đốc năm 2010 71

Hình 2-10 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Châu Đốc năm 2011 71

Hình 2-11 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Vàm Nao năm 2009 72

Hình 2-12 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Vàm Nao năm 2010 72

Hình 2-13 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Vàm Nao năm 2011 72

Hình 2-14 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Chợ Mới năm 2009 73

Hình 2-15 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Chợ Mới năm 2010 73

Hình 2-16 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Chợ Mới năm 2011 74

Hình 2-17 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Long Xuyên năm 2009 74

Hình 2-18 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Long Xuyên năm 2010 75

Hình 2-19 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Long Xuyên năm 2011 75

Hình 2-20 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Xuân Tô năm 2009 76

Hình 2-21 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Xuân Tô năm 2010 76

Hình 2-22 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Xuân Tô năm 2011 76

Hình 2-23 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Tri Tôn năm 2009 77

Hình 2-24 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Tri Tôn năm 2010 77

Hình 2-25 Biểu đồ tương quan Hmax thực đo và dự báo trạm Tri Tôn năm 2011 78

Trang 9

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1-1 Thống kê lượng mưa phân bố theo mùa tại An Giang 13

Bảng 1-2 Mực nước đỉnh lũ đầu mùa (m) một số năm điển hình ở An Giang 15

Bảng 1-3 Mực nước đỉnh lũ lớn nhất năm (m) các trạm dọc sông Tiền, sông Hậu 16

Bảng 1-4 Lưu lượng lũ trung bình ngày lớn nhất năm (m3/s) trên sông chính 17

Bảng 1-5 Mực nước đỉnh lũ lớn nhất năm (m) các trạm nội đồng TGLX 18

Bảng 1-6 Mực nước thấp nhất năm (m) các trạm dọc sông Tiền, sông Hậu 19

Bảng 1-7 Mực nước thấp nhất năm (m) các trạm nội đồng Tứ giác Long Xuyên 20

Bảng 1-8 Lưu lượng trung bình ngày nhỏ nhất (Qm3/s) trên sông chính ở An Giang 21

Bảng 1-9 Lưu lượng triều lên trung bình ngày lớn nhất (m3/s) trên sông chính 23

Bảng 1-10 Hàm lượng phù sa lơ lửng (g/m3) chảy xuôi bình quân ngày lớn nhất năm 26

Bảng 1-11 Tổng lượng phù sa lơ lửng (triệu tấn/năm) gia đoạn 2009-2015 27

Bảng 2-1 Mạng lưới trạm KTTV tỉnh An Giang 37

Bảng 3-1 Kết quả tính toán sai số cho phép dự báo lũ 82

Bảng 3-2 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Tân Châu (ngày 05-09/9/2018) 84

Bảng 3-3 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Tân Châu (ngày 15-19/9/2018) 84

Bảng 3-4 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Tân Châu (ngày 25-29/9/2018) 84

Bảng 3-5 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Châu Đốc (ngày 05-09/9/2018) 85

Bảng 3-6 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Châu Đốc (ngày 15-19/9/2018) 85

Bảng 3-7 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Châu Đốc (ngày 25-29/9/2018) 86

Bảng 3-8 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Vàm Nao (ngày 05-09/9/2018) 86

Bảng 3-9 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Vàm Nao (ngày 15-19/9/2018) 87

Bảng 3-10 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Vàm Nao (ngày 25-29/9/2018) 87

Bảng 3-11 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Chợ Mới (ngày 05-09/9/2018) 87

Bảng 3-12 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Chợ Mới (ngày 15-19/9/2018) 88

Bảng 3-13 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Chợ Mới (ngày 25-29/9/2018) 88

Bảng 3-14 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Long Xuyên (ngày 05-09/9/2018) 88

Bảng 3-15 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Long Xuyên (ngày 15-19/9/2018) 89

Trang 10

vii

Bảng 3-16 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Long Xuyên (ngày 25-29/9/2018) 89

Bảng 3-17 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Xuân Tô (ngày 05-09/9/2018) 89

Bảng 3-18 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Xuân Tô (ngày 15-19/9/2018) 90

Bảng 3-19 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Xuân Tô (ngày 25-29/9/2018) 90

Bảng 3-20 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Tri Tôn (ngày 05-09/9/2018) 91

Bảng 3-21 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Tri Tôn (ngày 15-19/9/2018) 91

Bảng 3-22 Kết quả dự báo Hmax ngày trạm Tri Tôn (ngày 25-29/9/2018) 91

Trang 11

viii

BẢNG CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BĐKH Biến đổi khí hậu CSDL Cơ sở dữ liệu ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long GIS Hệ thống thông tin địa lý KTTV Khí tượng Thủy văn KT-XH Kinh tế - xã hội MRC Ủy ban quốc tế sông Mekong NĐTB Nhiệt độ trung bình

PCTT Phòng chống thiên tai

TB Trung bình TBNN Trung bình nhiều năm TGLX Tứ giác Long Xuyên TNMT Tài nguyên Môi trường WMO Tổ chức khí tượng thế giới

Trang 12

1

MỞ ĐẦU

An Giang là tỉnh đầu tiên tiếp nhận nước từ sông Mekong đổ về Đồng bằng sông Cửu Long, tiếp giáp với Campuchia, là tỉnh có mạng lưới sông suối, kênh rạch chằng chịt Địa hình An Giang có 2 dạng chính là đồng bằng do phù sa sông Mekong trầm tích tạo nên và vùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên, hơn phân nửa diện tích của tỉnh có độ cao địa hình dưới 2.0m, là khu vực rất nhạy cảm với các yếu tố khí tượng thủy văn như vấn đề lũ sông Mekong, ngập úng khi mưa lớn, tổ hợp của thủy triều dâng cao với lũ sông Mekong và lượng mưa tại chỗ,

Những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu dẫn đến chế độ mưa, cường độ mưa biến động hơn, kết hợp với nước biển dâng cùng với sự biến đổi dòng chảy ở thượng lưu sông Mekong do hệ thống các thủy điện bậc thang, kết hợp với hệ thống đê bao và sự gia tăng đô thị hóa, thay đổi cơ sở hạ tầng, vận hành hệ thống công trình thuỷ lợi, làm cho vấn đề lũ lụt, ngập úng ở tỉnh An Giang trở nên ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Bên cạnh đó, do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và các hoạt động kinh

tế của con người tạo ra cộng lực làm biến dạng quy luật, tần suất xuất hiện và cường

độ hoạt động của các yếu tố khí tượng thủy văn đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn Trong hơn 10 năm gần đây, công tác dự báo

lũ đã có những bước tiến nhất định về cả nội dung và chất lượng, cùng với sự phát triển của công nghệ và các mô hình dự báo khí tượng, có nhiều sản phẩm dự báo mưa

số trị với thời gian dự kiến khá dài đã hỗ trợ cho việc dự báo lũ sớm cho từng hệ thống sông Phương thức dự báo lũ từ các hình thế thời tiết điển hình gây mưa sinh

lũ, từ số liệu quan trắc mưa và lượng mưa dự báo Tuy nhiên, mức đảm bảo của dự báo thường 70-80% tuỳ từng vị trí Dự báo lũ hạn vừa với thời gian dự kiến trước 5 ngày được thực hiện trên cơ sở của phương pháp phân tích thống kê Cơ sở của phương pháp là phân tích dự báo 2 thành phần chính của dòng chảy tạo thành từ lượng trữ nước trong sông và từ lượng mưa trong thời gian dự báo Hạn chế của các

Trang 13

2

phương pháp đang sử dụng hiện nay là lượng mưa dự báo được lấy trung bình cho toàn lưu vực lớn trong thời hạn 5 ngày hoặc 1 ngày Chất lượng dự báo chưa cao, mức đảm bảo dự báo quá trình và đặc trưng dòng chảy đạt khoảng 65-70%, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của địa phương

Hiện nay, đã có nhiều phần mềm được xây dựng để đáp ứng yêu cầu tính toán

dự báo thủy văn trên các lưu vực sông từ thượng lưu về hạ lưu Các phần mềm này

đã giải quyết được các bài toán dự báo lũ từ mưa, tính toán truyền lũ trong sông, điều tiết hồ chứa, ngập lụt, Các mô hình toán được ứng dụng vào tính toán dự báo dòng chảy ở các lưu vực sông Đối với dự báo hạn ngắn, các mô hình đang từng bước nghiên cứu và đưa vào sử dụng, hỗ trợ đắc lực trong nghiệp vụ dự báo Tuy nhiên, do điều kiện địa hình có nhiều thay đổi, sự phát triển của các đập thủy điện trên lưu vực

và hệ thống đê bao đã làm thay đổi chế độ dòng chảy, gây khó khăn rất nhiều cho việc ứng dụng các mô hình trong dự báo lũ Nếu không có sự phát triển và nâng cấp lưới trạm quan trắc, các thông tin đầy đủ về các hồ chứa, địa hình, cơ sở hạ tầng, thì khó có thể sử dụng các mô hình vào tính toán dự báo có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu phục vụ phòng chống thiên tai

Trước những thực trạng về công tác dự báo nêu trên, để nghiên cứu lựa chọn các phương án dự báo lũ phù hợp với điều kiện cụ thể cho từng trạm cơ bản thuộc hệ thống sông kênh trên địa bàn tỉnh An Giang, nhằm nâng cao chất lượng dự báo, phục

vụ hiệu quả các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai và ứng phó với BĐKH cho tỉnh An Giang Với những kiến thức được đào tạo trong suốt quá trình học tập cao học tại Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng như kinh nghiệm được làm việc tại cơ quan về dự báo Khí tượng Thủy văn của tỉnh An Giang, cùng với mong muốn được học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn và áp dụng các

kiến thức đã được đào tạo, học viên đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu lựa chọn phương

án dự báo lũ cho các trạm thủy văn cơ bản tỉnh An Giang phục vụ công tác dự báo nghiệp vụ" Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thanh Sơn, tác giả đã làm việc

nghiêm túc và đã hoàn thành luận văn với những nội dung chính sau đây:

Trang 14

3

Phương pháp nghiên cứu:

1) Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu: Thực hiện trên cơ sở kế thừa,

phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, số liệu thông tin có liên quan, các tài liệu thu thập được từ quá trình thực hiện đề tài, từ các đề tài đã thực hiện trước đây, các niên giám thống kê của tỉnh có liên quan đến phân bố dân cư và các hoạt động kinh

tế - xã hội, các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,…

2) Phương pháp điều tra thực địa: tiến hành điều tra, khảo sát thực địa nhằm

nắm rõ tình hình, đặc trưng, đặc điểm các trạm đo phục vụ công tác đo đạc và dự báo;

3) Phương pháp kế thừa: Phương pháp được sử dụng để thu thập và kế thừa

những kết quả đã nghiên cứu về dự báo thủy văn trong nước và thế giới, đặc biệt là

dự báo thủy văn ở ĐBSCL;

4) Phương pháp phân tích thống kê: phương pháp này được sử dụng để xây

dựng, phân tích các đặc trưng về dòng chảy, khí tượng và tính tần suất các đặc trưng

5) Phương pháp mô hình toán: được sử dụng để áp dụng cho việc mô phỏng

dòng chảy từ nguồn dữ liệu thực đo hoặc đánh giá các phương pháp dự báo khác;

6) Phương pháp hệ thống thông tin và viễn thám GIS: phương pháp nhằm

khai thác bản đồ và thành lập các bản đồ chuyên đề về đặc trưng khí tượng, thủy văn

và giá trị dự báo;

7) Phương pháp chuyên gia: Ý kiến chuyên gia sẽ được thu thập để làm sáng

tỏ các phương án dự báo và kết quả dự báo cũng như đưa vào áp dụng trong công tác

dự báo nghiệp vụ

Phạm vi của luận văn:

- Về không gian: Khu vực tỉnh An Giang

- Về chuyên môn: Lựa chọn phương án dự báo lũ tại các trạm cơ bản

Mục tiêu của luận văn:

- Mục tiêu tổng quát:

Trang 15

4

Lựa chọn được phương án dự báo lũ cho các trạm cơ bản trên địa bàn tỉnh An Giang đảm bảo độ tin cậy phục vụ công tác dự báo nghiệp vụ

- Mục tiêu cụ thể:

1) Lựa chọn được hệ thống CSDL KTTV đồng bộ, hoàn chỉnh, tin cậy, phục

vụ công tác dự báo thủy văn và các ngành, lĩnh vực khác của tỉnh;

2) Lựa chọn được phương án dự báo đảm bảo chất lượng, cụ thể cho các trạm trên hệ thống sông, kênh tỉnh An Giang;

3) Đề xuất các phương án dự báo cho các trạm phục vụ dự báo nghiệp vụ tại Đài KTTV tỉnh An Giang

Bố cục của luận văn:

Phần mở đầu: Nội dung chủ yếu giới thiệu tổng quát về các phương pháp và

chất lượng dự báo lũ trong những năm qua

Chương 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh An Giang và bộ

cơ sở dữ liệu KTTV phục vụ dự báo lũ

Chương 2: Tổng quan các phương án dự báo; phân tích lựa chọn phương án

dự báo lũ cho các trạm cơ bản tỉnh An Giang; áp dụng dự báo thử nghiệm và đánh giá kết quả

Chương 3: Phương án dự báo lũ nghiệp vụ cho các trạm cơ bản thuộc tỉnh An

Giang; Đề xuất giải pháp thực hiện công tác dự báo lũ nghiệp vụ thuộc Đài KTTV tỉnh An Giang

Kết luận: Trình bày một số kết quả của luận văn đạt được

Kiến nghị: Kiến nghị một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Tài liệu tham khảo: Thống kê các tài liệu đã được tác giả tham khảo trong

quá trình thực hiện luận văn

Trang 16

5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI

TỈNH AN GIANG VÀ BỘ CƠ SỞ DỮ LIỆU KTTV

1.1 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH AN GIANG

1.1.1 Vị trí địa lý

An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, nằm ở vùng hạ lưu sông Mekong, thuộc ĐBSCL, là tỉnh biên giới, có diện tích tự nhiên 3536.6802 km², phía bắc tây bắc giáp Campuchia dài 104 km, tây nam giáp tỉnh Kiên Giang dài 69.789km, nam giáp thành phố Cần Thơ dài 44.734km, đông giáp tỉnh Đồng Tháp dài 107.628km An Giang có điểm cực bắc trên vĩ độ 10°57' (xã Khánh An, huyện An Phú), cực nam trên vĩ độ 10°12’ (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực tây trên kinh độ 104°46' (xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực đông trên kinh độ 105°35' (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới) Chiều dài nhất theo hướng bắc nam là 86km và đông tây là 87.2km Với

11 huyện (thị, thành phố), 156 xã (phường, thị trấn), có đường biên giới giáp với nước bạn Campuchia gần 100 km của 18 xã, thị trấn thuộc 05 huyện, thị biên giới [2]

Hình 1-1 Bản đồ hành chính tỉnh An Giang

Trang 17

6

1.1.2 Địa hình

Trên địa bàn An Giang, ngoài đồng bằng do phù sa sông Mekong trầm tích tạo nên, còn có vùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên Do đó, về địa hình, xét tổng quát, An Giang có 2 dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi

1.1.2.1 Đồng bằng phù sa

Xét về nguồn gốc hình thành, ở An Giang, địa hình đồng bằng có 2 loại chính

là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi Đồng bằng phù sa ở An Giang là một bộ phận của ĐBSCL, có nguồn gốc trầm tích lâu dài của phù sa sông Mekong, do môi trường và điều kiện trầm tích khác nhau mà hình thành nên các cánh đồng lũ hở, lũ

kín, cồn bãi, gò, gờ, đê sông, đầm lầy, rất phức tạp Song, nếu xét tổng quát, địa

hình đồng bằng phù sa ở An Giang có các đặc trưng cơ bản sau đây [5]

Độ nghiêng nhỏ theo hai hướng chính, hướng từ biên giới Việt Nam-

Campuchia đến lộ Cái Sắn và hướng từ bờ sông Tiền đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang

Độ dốc của hai hướng này chỉ từ 0.5÷l,0cm/km

Độ cao khá thấp và tương đối bằng phẳng, có thể chia thành 3 cấp chính, cấp

có độ cao từ 3.00m trở lên nằm ở ven Sông Hậu, sông Tiền và các khu vực đất thổ cư hoặc bờ kênh đào; cấp có độ cao từ l.50÷3.00m nằm ở khu giữa sông Tiền - sông Hậu

và cấp có độ cao dưới l.50m phổ biến ở phía hữu ngạn sông Hậu

Hình dạng, đồng bằng phù sa ở An Giang có 3 dạng chính và 01 dạng phụ

Dạng cồn bãi mà nhân dân địa phương quen gọi là cù lao tương tự như chiếc thuyền

úp ngược Dạng lòng chảo, địa hình ở hai bờ sông cao hơn và thấp dần vào trong nội đồng, điển hình là khu giữa sông Tiền - sông Hậu Dạng hơi nghiêng tập trung ở phía

hữu ngạn sông Hậu thuộc vùng trũng TGLX, thấp dần từ bờ sông Hậu vào trong nội đồng cho đến tận ranh giới với tỉnh Kiên Giang Dạng gợn sóng là một dạng phụ nằm trong khu vực dạng lòng chảo, được hình thành do sự kết nối đan xen các bãi bồi ven các sông nhánh (nhân dân địa phương gọi là xép) và các rạch tự nhiên đã bị phù sa sông bồi lấp

Trang 18

và núi Cấm

Đồng bằng ven núi kiểu phù sa cổ có nguồn gốc từ phù sa sông trong thời kỳ Pleistocene với đặc tính là có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau Trên mỗi bậc thang khá bằng phẳng hầu như không có độ nghiêng Chênh lệch độ cao giữa các bậc thang không lớn, thường dao động từ l.0÷5.0m Kiểu đồng bằng này ở An Giang không nhiều, chủ yếu ở xã An Cư và Vĩnh Trung huyện Tịnh Biên

Đồi núi ở An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau, phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km, khởi đầu từ xã Phú Hữu, hụyện

An Phú, qua xã Vĩnh Tế, thành phố Châu Đốc, bao trùm lên gần hết diện tích hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập huyện Thoại Sơn Đứng trên góc độ địa hình, có thể chia núi An Giang thành

2 dạng chính: dạng núi cao và dốc, dạng núi thấp và thoải [5]

Hình 1-2 Trung tâm đồi núi cao hai huyện Tri Tôn-Tịnh Biên

Trang 19

8

Dạng núi cao và dốc được hình thành trong các thời kỳ tạo sơn mãnh liệt, do

đó hình dạng của chúng thường là cao, có độ dốc lớn trên 25°, các thành tạo có nguồn gốc Magma là chính, phần lớn là đá cứng với nhiều pha tạo lập khác nhau (đá núi lửa

và đá Granitoit có tuổi Jura thượng, đá Granite có tuổi Creta) Theo kết quả nghiên cứu của ngành Địa chất thì ở An Giang, phần nhiều các núi lớn có độ dốc và độ cao vượt trội như núi Cấm, núi Cô Tô, núi Dài đều thuộc dạng này

Dạng núi thấp và thoải được hình thành từ các thành tạo trầm tích và phun

trào có tuổi Trias và Creta nên có độ dốc nhỏ dưới 15°, độ cao thấp và ít khe suối, thậm chí một số núi có lớp thành tạo bề mặt phần lớn là đất Ở An Giang, phần lớn các núi thấp nằm liền hoặc gần kề các núi lớn như núi Nam Qui, Sà Lon, núi Đất, đều thuộc dạng này

Độ cao đồi núi ở An Giang có thể được phân chia thành 6 cụm và 2 núi độc

lập Cụm núi Sập thuộc địa bàn huyện Thoại Sơn, trong đó Núi Sập to lớn hơn có độ

cao là 85m với chu vi là 3800m Cụm núi Ba Thê nằm trên đất huyện Thoại Sơn, trong đó núi Ba Thê lớn nhất với độ cao 221m và chu vi khoảng 4220m Núi Nổi nằm

độc lập thuộc huyện An Phú với độ cao 10m và chu vi khoảng 320m Núi Sam đứng độc lập thuộc thành phố Châu Đốc có độ cao 228m và chu vi khoảng 5200m Cụm núi Phú Cường nằm trên địa bàn huyện Tịnh Biên, cao nhất là núi Phú Cường 282m với chu vi khoảng 9500m Cụm núi Cấm nằm giáp trên địa bàn hai huyện Tri Tôn và

Tịnh Biên, trong đó Núi Cấm cao nhất tới 705m có chu vi 28600m Cụm núi Dài thuộc huyện Tri Tôn, trong đó núi Dài cao nhất tới 554m và chu vi là 21625m Cụm

núi Cô Tô thuộc địa bàn huyện Tri Tôn, trong đó Cô Tô là núi cao nhất tới 614m với

Trang 20

9

các vùng đồi núi của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), qua Myanmar và đi vào vùng trung

hạ lưu qua các nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Mekong là con sông dài nhất ở Đông Nam Á, nếu so sánh với những con sông lớn trên thế giới thì được xếp hạng thứ 10 về lượng dòng chảy (500.109m3/năm) và chiều dài (4200km), đứng thứ 25 về diện tích lưu vực (795000km2) [7]

Sau Phnom Penh về phía hạ lưu một ít, sông Mekong chia ra hai nhánh đều chảy qua lãnh thổ Campuchia rồi vào lãnh thổ Việt Nam, nhánh phía đông gọi là sông Tiền và nhánh phía tây gọi là sông Hậu

Sông Tiền chảy theo hướng tây bắc-đông nam, đoạn qua An Giang dài khoảng 80km, lần lượt chảy qua Tân Châu, Cao Lãnh, Mỹ Thuận rồi đổ ra biển Đông bằng 6 cửa là cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, cổ Chiên và Cung Hầu

Sông Hậu có hướng chảy song song với sông Tiền, đoạn qua An Giang dài gần 100km, lần lượt chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ và đổ ra biển Đông bằng 3 cửa là Định An, Bassac và Trần Đề

Tại xã Khánh Bình huyện An Phú, sông Hậu chia dòng, nhánh hữu ngạn hẹp

có độ rộng chỉ bằng 1/4 dòng chính gọi là sông Bình Di Sau một đoạn dài trên l0km, sông Bình Di chảy đến Vĩnh Hội Đông thì gặp sông Tà Keo và sông Châu Đốc Bắt đầu từ ngã ba này, sông Châu Đốc chảy dài đến thành phố Châu Đốc thì nhập lưu trở lại vào sông Hậu, dài 18km

Sông Vàm Nao chảy ven xã Phú Mỹ huyện Phú Tân và xã Kiến An huyện Chợ Mới, nối liền sông Tiền với sông Hậu, theo hướng đông bắc-tây nam, có chiều dài khoảng 7km

Trang 21

10

Những rạch lớn hiện có ở An Giang gồm Mương Khai, Cái Đầm và Cái Tắc (huyện Phú Tân), Ông Chưởng và Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới), Long Xuyên (thành phố Long Xuyên), Chắc Cà Đao và Mặc Cần Dưng (huyện Châu Thành) và rạch Cần Thảo (huyện Châu Phú), [5]

1.1.3.3 Hệ thống kênh đào

Trong vùng trũng TGLX có kênh Cái Sắn, Long Xuyên, Núi Chóc - Năng Gù,

Ba Thê, Mười Châu Phú, Tri Tôn, kênh Đào, Cần Thảo, Trà Sư, Tám Ngàn, Vĩnh Tế, T4, T5, T6, Khu vực giữa sông Tiền-sông Hậu có kênh Vàm Xáng, Vĩnh An, Thần Nông, An Giang còn có hệ thống kênh dẫn cấp II với tổng chiều dài hiện có tới trên 1.600km, đan xen với hệ thống kênh cấp I và II còn có hệ thống kênh cấp III với tổng chiều dài gần 3100km Tính chung các loại kênh từ cấp I đến cấp III, An Giang có trên 5200km, đạt mật độ xấp xỉ l.5km/km2, với năng lực giao lưu nước lớn nhất vào mùa lũ khoảng 7500m3/s và nhỏ nhất là vào mùa kiệt cũng còn tới 1650 m3/s [5]

1.1.3.4 Hệ thống khe suối

Trong cụm núi Cấm, từ độ cao trên 700m, nước mưa và nước ngầm đã dồn chảy vào các suối An Hảo, Ô Tức Xa và suối Tiên Ở cụm núi Dài với độ cao trên 500m có các suối Vàng, Ô Tà Sóc và Khe Đá Còn cụm núi Cô Tô cao trên 600m có các suối Ô Thum và Soài So Hệ thống khe suối ở vùng này có chiều dài ngắn, độ dốc lòng dẫn và độ dốc lưu vực lớn, diện tích lưu vực nhỏ, [5]

1986 đến 1994 như hồ Soài So, Ô Tức Xa, Cây Đuốc, An Hảo,…[5]

Trang 22

11

1.1.4 Đặc điểm khí tượng - khí hậu

An Giang chịu ảnh hưởng của loại hình khí hậu nhiệt đới gió mùa Hàng năm

về mặt khí hậu ở khu vực này được chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, gần trùng với hai mùa gió mùa mùa hè và gió mùa mùa đông Trung bình mùa mưa được bắt đầu từ tháng V đến tháng X và mùa khô từ tháng XII đến tháng III, giữa các mùa là thời kỳ chuyển mùa là tháng XI và tháng IV [3]

1.1.4.1 Thời gian nắng

Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm tại An Giang 2482 giờ Trong mùa khô

từ tháng XII đến tháng IV là các tháng có thời gian nắng nhiều nhất, trung bình hàng tháng có từ 220÷250 giờ, mỗi ngày trung bình có tới 7÷9 giờ Các tháng mùa mưa,

số giờ nắng trung bình dưới 180 giờ, trung bình mỗi ngày 5÷6 giờ Tháng ít nắng nhất

là tháng VIII, IX và X, trung bình hàng tháng từ 150÷160 giờ nắng [3]

Hình 1-3 Tổng số giờ nắng trung bình

tháng tại An Giang

Hình 1-4 Biến trình tổng số giờ nắng năm và xu thế tại An Giang

1.1.4.2 Gió

Từ tháng V đến tháng XI, hướng gió ưu thế là Tây Nam, từ tháng XII đến tháng IV năm sau, hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam đến Nam Gió có thành phần Tây có tần suất không đáng kể dưới 10% chủ yếu là các tháng chuyển mùa Tốc

độ gió mạnh nhất ở An Giang là 20 m/s (cấp 8) [3]

Trang 23

Hình 1-7 Lượng mưa trung bình tháng

mùa khô

Hình 1-8 Lượng mưa trung bình tháng

mùa mưa

Trang 24

13

Hàng năm tại An Giang trung bình có từ 03 đến 05 ngày có lượng mưa trên 50mm tập trung chủ yếu trong mùa mưa có những năm lên đến 15 ngày Lượng mưa ngày lớn nhất trên 100mm trong năm tại An Giang chỉ có từ 01 đến 03 ngày có những năm không có lượng mưa trên 100 mm/ngày [3]

Bảng 1-1 Thống kê lượng mưa phân bố theo mùa tại An Giang

1.1.4.4 Độ ẩm không khí

Trong thời kỳ mùa khô từ tháng XII đến hết tháng IV năm sau, độ ẩm tương đối trung bình <80% và độ ẩm thấp nhất <40%, vì là thời kỳ thịnh hành gió mùa mùa đông cũng là thời kỳ ít mưa [3]

Hình 1-9 Độ ẩm TB năm và diễn biến Hình 1-10 Độ ẩm thấp nhất TB tháng

Địa điểm Năm Mùa mưa

(5 - 11)

Mùa khô (12 - 4)

Mùa chuyển tiếp (4, 11)

Tỷ lệ mùa mưa (%)

Tỷ lệ mùa khô (%)

Tỷ lệ mùa chuyển tiếp (%)

Trang 25

14

1.1.4.5 Bốc hơi

Tổng lượng bốc hơi trung bình năm đạt 1241 mm, các tháng mùa khô từ tháng XII năm nay đến tháng IV năm sau dao động từ 95÷122 mm/tháng, các tháng mùa mưa tổng lượng bốc hơi giảm rõ rệt, dao động từ 88÷105 mm Tổng lượng bốc hơi ngày theo trung bình năm dao động từ 02÷04 mm [3]

Hình 1-11 Tổng lượng bốc hơi tháng Hình 1-12 Tổng lượng bốc hơi năm và xu

thế

1.1.4.6 Diễn biến nhiệt

Nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1985÷2015 là 27.4°C, NĐTB tháng thấp nhất

là tháng I, từ tháng II NĐTB tăng nhanh, sau khi cực đại vào tháng IV, V do có mưa chuyển mùa nên NĐTB giảm dần cho đến cuối năm; nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 39.4°C, từ tháng III đến tháng VI số ngày nắng nóng trung bình từ 14÷31 ngày, riêng tháng IV nắng nóng trọn tháng; nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 17.0°C [3]

Hình 1-13 Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối

năm Hình 1-14 Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối năm

Trang 26

1.1.5.1 Đặc điểm thủy văn mùa lũ

- Mực nước đỉnh lũ đầu mùa

Trong chuỗi số liệu từ năm 1985÷2015 cho thấy mực nước đỉnh lũ đầu mùa tại Tân Châu xuất hiện ở mức trên 3.50m chỉ xảy ra sau tháng VII, trong các tháng

Trang 27

16

Chuỗi tài liệu mực nước đỉnh lũ lớn nhất năm từ 1926 đến 2015 của các trạm dọc sông Tiền và sông Hậu cho thấy, khu vực phía trên Vàm Nao đa số lũ lớn nhất năm xảy ra vào tháng IX, X; khu vực phía dưới Vàm Nao do ảnh hưởng của sự phân chia nước và thủy triều nên lũ lớn nhất năm xảy ra muộn hơn so với phía trên Vàm Nao khoảng từ 10 ngày đến 01 tháng Tính từ năm 1926÷2015, trong chuỗi số liệu quan trắc dài 90 năm qua, ở An Giang tại Tân Châu vào năm 1961 có mực nước đỉnh

lũ chính vụ lớn nhất là 5.11m và mực nước đỉnh lũ chính vụ thấp nhất xảy ra năm

2015 là 2.55m, chênh lệch nhau 2.56m [4]

Hình 1-17 Đường quá trình mực nước giờ trong mùa lũ

Bảng 1-3 Mực nước đỉnh lũ lớn nhất năm (m) các trạm dọc sông Tiền, sông Hậu

Trạm H max trung bình/năm H max lớn nhất/năm H max nhỏ nhấ/năm

Trang 28

17

Hình 1-18 Phân bố mực nước cao nhất năm thời kỳ 1985-2015

- Lưu lượng lũ, tốc độ dòng chảy lũ

Trên địa bàn An Giang, do có hiện tượng chảy tràn nên lưu lượng lũ lớn nhất năm xuất hiện khá sớm so với mực nước lũ lớn nhất năm bình quân từ 2÷3 ngày Lưu lượng lũ lớn nhất năm của sông Tiền qua mặt cắt Tân Châu ứng với các trận lũ cực lớn lên tới 26000m3/s và của sông Hậu qua mặt cắt Châu Đốc xấp xỉ 8000m3/s xuất hiện vào đỉnh điểm mùa lũ là tháng IX hoặc tháng X hàng năm Tuy ở khu vực đồng bằng, nhưng do áp lực lũ rất mạnh nên tốc độ dòng chảy lũ lớn nhất sông chính có năm đạt tới trên 2.70m/s tại Tân Châu và 2.00m/s tại Châu Đốc [4]

Bảng 1-4 Lưu lượng lũ trung bình ngày lớn nhất năm (m 3 /s) trên sông chính

Trạm Q max lớn nhất Q max nhỏ nhất Q max trung bình

Trang 29

18

- Ngập lụt nội đồng

Về mùa lũ, nước từ trung và thượng lưu sông Mekong chảy dồn về, một lượng nước lớn đã tràn bờ sông chảy vào vùng trũng Campuchia và Việt Nam Phần ở Việt Nam, có thể chia thành ba vùng bị ngập lớn, đó là vùng trũng Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười và vùng giữa sông Tiền - sông Hậu

Số liệu quan trắc nhiều năm, trước năm 1984 cho thấy, khi mực nước ở Tân Châu khoảng 2.50m thì nước lũ từ vùng trũng Campuchia, từ sông Tiền, sông Hậu

và các kênh rạch bắt đầu chảy tràn vào các vị trí thấp trũng nhất trong hai vùng trên của tỉnh Khi mực nước Tân Châu đạt trên mức 3.50m thì một số vùng thấp của huyện

An Phú, Phú Tân và thành phố Châu Đốc đã có độ sâu ngập lụt từ 0.20÷0.50m Mực nước Tân Châu ở mức 4.00m thì hầu hết diện tích đất nông nghiệp của tỉnh đều bị ngập Từ sau năm 1984, do phát triển rộng khắp hệ thống đê bao chống lũ đầu mùa

và sau đó là hệ thống đê khép kín có độ cao vượt mực nước đỉnh lũ lịch sử, rồi đến xây dựng hệ thống công trình tiêu thoát lũ ra biển Tây và hệ thống công trình điều khiển lũ Bắc Vàm Nao, dẫn đến diện tích, độ sâu và thời gian ngập lụt trên địa bàn tỉnh An Giang giảm đi nhanh chóng theo thời gian từ 1985÷2015 [4]

Bảng 1-5 Mực nước đỉnh lũ lớn nhất năm (m) các trạm nội đồng TGLX

Trạm H max trung bình/năm H max lớn nhất/năm H max nhỏ nhấ/năm

1.1.5.2 Đặc điểm thủy văn mùa kiệt

Ở An Giang, tùy tình hình lũ lụt năm trước và kết hợp diễn biến thủy triều ở biển Đông và biển Tây trong mùa kiệt năm sau mà các đặc trưng thủy văn nhỏ nhất

Trang 30

Bảng 1-6 Mực nước thấp nhất năm (m) các trạm dọc sông Tiền, sông Hậu

Trạm H min trung bình/năm H min lớn nhất/năm H min nhỏ nhấ/năm

Hình 1-19 Mực nước thấp nhất năm tại

Tân Châu, Châu Đốc (1985 ÷ 2015)

Hình 1-20 Mực nước thấp nhất năm tại Chợ Mới, Long Xuyên (1985 ÷ 2015)

Trong trung tâm vùng trũng TGLX, do có sự điều tiết dòng chảy của vùng trũng và tác động tổng hợp ngược chiều nhau của triều biển Đông và biển Tây, nên mực nước thấp nhấp năm cao hơn nhiều so với sông chính khi xét cùng dọc các tuyến kênh cấp I từ sông Hậu chảy xuyên suốt TGLX đổ ra biển Tây [4]

Trang 31

20

Bảng 1-7 Mực nước thấp nhất năm (m) các trạm nội đồng Tứ giác Long Xuyên

Trạm H min trung bình/năm H min lớn nhất/năm H min nhỏ nhất/năm

Hình 1-21 Mực nước thấp nhất năm nội đồng TGLX

Hình 1-22 Phân bố mực nước thấp nhất năm thời kỳ 1985-2015

Trang 32

21

- Lưu lượng dòng chảy mùa kiệt nhỏ nhất năm

Dòng chảy sông Mekong tuy phong phú, song phân bố không đều theo thời gian, mùa lũ từ tháng V đến tháng XI chiếm tới 80% đến 90%, mùa kiệt từ tháng XII đến tháng IV năm sau chỉ có 10% đến 20% lượng dòng chảy năm Ở An Giang, lưu lượng kiệt nhất năm xuất hiện vào tháng III hoặc tháng IV Tùy thuộc vào độ lớn lũ năm trước và cường độ thủy triều năm sau, mà lưu lượng nhỏ nhất trung bình ngày hàng năm của sông Tiền qua mặt cắt Tân Châu dao động từ 1100m3/s đến 3900m3/s, của sông Hậu qua mặt cắt Châu Đốc từ 250m3/s đến gần 600m3/s [4]

Bảng 1-8 Lưu lượng trung bình ngày nhỏ nhất (Qm 3 /s) trên sông chính ở An Giang

Trạm Q min lớn nhất/năm Q min nhỏ nhất/năm Q min trung bình/năm

Như vậy, An Giang vừa là tỉnh có vùng chịu ảnh hưởng chính của sóng triều biển Đông (bốn huyện, thị cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) lại vừa có vùng chịu ảnh hưởng tổng hợp của sóng triều biển Đông và sóng triều biển Tây (7 huyện, thị, thành nằm trong TGLX) [4]

- Mực nước đỉnh triều và chân triều trên hệ thống sông chính

Xét trên đường quá trình mực nước giờ của các trạm Long Xuyên và Châu Đốc (sông Hậu), Chợ Mới và Tân Châu (sông Tiền) thì ở đây chế độ bán nhật triều chiếm ưu thế, còn số ngày có chế độ nhật triều trong tháng hầu như không đáng kể

Trang 33

22

Cứ trong khoảng nữa tháng có 3 đến 5 ngày triều cường, sau đó, triều giảm dần kéo dài khoảng 5 đến 6 ngày, tiếp đó là 3 đến 5 ngày triều lên và xuống rất yếu gọi là kỳ nước kém Các kỳ con nước ở đây lặp lại một cách tuần hoàn nhưng khác nhau về cường độ, hết kỳ nước cường, triều giảm chuyển sang kỳ nước kém, hết kỳ nước kém, triều tăng lên lại đến kỳ nước cường

Trong mỗi ngày có hai đỉnh và hai chân triều, mực nước hai đỉnh triều trong ngày của các trạm trên chênh nhau từ 0.10÷0.40m và hai chân triều chênh nhau từ 0.30÷0.70m (ở vùng cửa sông có khi tới gần 2.00m) Trong một chu kỳ triều, các chênh lệch trên cũng có những dao động đáng kể, giá trị thấp nhất thường xuất hiện vào kỳ triều kém và lớn nhất vào thời kỳ triều cường Trong một năm, mực nước đỉnh triều và chân triều cũng có nhiều thay đổi Đầu mùa mưa, do ảnh hưởng của lượng nước sông từ thượng nguồn chảy về nhiều dần, dẫn đến mực nước đỉnh triều và chân triều bắt đầu tăng và đạt trị số lớn nhất vào tháng 9 hoặc tháng 10 [4]

Hình 1-23 Quá trình mực nước giờ trong mùa lũ dọc sông Tiền-Vũng Tàu

Cuối mùa mưa, đầu mùa khô, do nước sông từ thượng nguồn vế ít dần, nên mực nước đỉnh triều và chân triều lại bắt đầu giảm và đạt trị số thấp nhất vào tháng

IV hoặc tháng V

Trang 34

23

Hình 1-24 Quá trình mực nước giờ trong mùa khô dọc sông Hậu-Vũng Tàu

- Lưu lượng triều trên hệ thống sông chính

Chế độ dòng chảy sông Tiền và sông Hậu là tổng hợp của 2 chế độ dòng chảy

đó là dòng chảy sông Mekong xuôi dòng theo sông Tiền và sông Hậu và dòng chảy thủy triều từ biển Đông theo các cửa của sông Tiền và sông Hậu truyền vào giao thoa với nhau Vì vậy, lưu lượng tại một mặt cắt ngang sông có dòng chảy xuôi khi dòng chảy sông từ thượng nguồn về mạnh đẩy lùi dòng triều về phía biển và có dòng chảy ngược khi dòng triều mạnh đẩy lùi dòng chảy sông về phía thượng lưu

Xét tại một mặt cắt ngang sông, bước vào mùa khô, dòng chảy sông về ít dần tạo diều kiện cho dòng triều lấn sâu về phía thượng lưu sông, lưu lượng triều chảy ngược (lưu lượng triều lên, QTRL) tăng dần và đạt mức lớn nhất tùy từng năm có thể

là vào tháng III, IV, V, sau đó dòng chảy thượng lưu về tăng dần đạt mức lớn nhất vào tháng IX, X hàng năm thì dòng triều chảy qua mặt cắt ngang đó lại ở mức nhỏ nhất năm [4]

Bảng 1-9 Lưu lượng triều lên trung bình ngày lớn nhất (m 3 /s) trên sông chính

Trạm Q TRLmax lớn nhất/năm Q TRLmax nhỏ nhất/năm Q TRLmax trung bình/năm

Trang 35

24

- Biên độ triều trên hệ thống sông chính

Trong một năm, biên độ triều của các trạm ven sông cũng có những biến động mạnh mẽ Bước vào mùa kiệt, biên độ triều của các trạm tăng dần và đạt trị số lớn nhất vàọ tháng IV hoặc V Tiếp đó mùa lũ về, nước sông lên, biên độ triều giảm và đạt trị số nhỏ nhất vào tháng IX hoặc X Thay đổi dọc theo đường đi của thủy triều trong sông thể hiện rõ nhất là sự tiết giảm của biên độ triều Dọc sông Tiền, biên độ thủy triều bình quân của Vũng Tàu lớn hơn 0.90m so với Mỹ Thuận, của Mỹ Thuận lớn hơn 0.70m so với Chợ Mới và của Chợ Mới lớn hơn 0.30m so với Tân Châu

Biên độ triều của các trạm dọc sông Hậu cũng có mức độ tiết giảm tương tự Song về độ lớn, nếu so sánh giữa hai sông cùng vị trí tương ứng, biên độ triều của sông Hậu lớn hơn 0.20÷0.50m so với sông Tiền

- Thủy triều nội đồng

An Giang có hai vùng tách biệt nhau bởi sông Hậu, đó là vùng 4 huyện cù lao

và dải đất phía tây sông Hậu thuộc TGLX Chế độ thủy triều vùng 4 huyện cù lao do chế độ bán nhật triều từ biển Đông truyền vào sông Hậu, sông Tiền, sau đó hai sóng triều có cùng nguồn gốc lại tiếp tục được truyền vào các kênh rạch tạo ra hai pha triều ngược chiều nhau (một từ sông Tiền truyền vào và một truyền từ sông Hậu vào), dẫn đến sự suy giảm độ lớn triều trong kênh rạch vùng 4 huyện cù lao rất lớn đạt tới 10cm/km, cho nên vào đến giữa trung tâm vùng, biên độ triều chỉ còn lại một nửa so với sông chính

Vùng TGLX chịu ảnh hưởng của hai hệ sóng triều đó là sóng triều biển Tây

và sóng triều biển Đông Sóng triều biển Đông mang tính chất bán nhật triều không đều, có biên độ lớn truyền vào TGLX qua sông Hậu theo các kênh lớn như Cái Sắn, Rạch Giá - Long Xuyên, Tri Tôn, Vĩnh Tế, Sóng triều biển Tây mang tính chất nhật triều không đều là chính với biên độ nhỏ hơn triều biển Đông (trong chu kỳ thiên văn

19 năm, tại cửa Rạch Giá và Hà Tiên, triều biển Tây có biên độ triều cực đại 0.90m, trong khi đó tại Vũng Tàu, biên độ triều cực đại là 4.35m) Triều từ biển Tây truyền vào TGLX bằng các cửa kênh từ Rạch Sỏi đến Hà Tiên [4]

Trang 36

25

Hình 1-25 Quá trình mực nước giờ cao điểm mùa lũ trong vùng TGLX

Hình 1-26 Quá trình mực nước giờ cao điểm mùa khô trong vùng TGLX

Thủy triều từ phía sông Hậu truyền vào TGLX có ảnh hưởng vượt quá ranh giới hai tỉnh An Giang và Kiên Giang khoảng 4km, biên độ triều giảm với mức 3cm/km Thủy triều phía biển Tây ảnh hưởng sâu vào TGLX khoảng từ 15km đến 25km, biên độ triều giảm 2cm/km Do tổ hợp của hai sóng triều đã tạo nên khu giáp

Đường quá trình mực nước giờ trong mùa lũ Các trạm Vĩnh Gia - Lò Gạch - Cô Tô - Vọng Thê - Vĩnh Hanh - Núi Sập (từ ngày 25 - 29/10/2006)

Vĩnh Gia Cô Tô Vọng Thê Núi Sập Lò Gạch Vĩnh Hanh

Đường quá trình mực nước giờ trong mùa kiệt Các trạm Vĩnh Gia - Lò Gạch - Cô Tô - Vọng Thê - Vĩnh Hanh - Núi Sập (từ ngày 27 - 31/5/2004)

Trang 37

26

nước có diện tích bao gồm một phần diện tích huyện Thoại Sơn và phần lớn diện tích của hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, trong khu vực giáp nước có những biến đổi về hình dạng và độ lớn triều rất phức tạp theo cả thời gian lẫn không gian

1.1.5.4 Chất lơ lửng (phù sa)

- Thành phần cấp phôi hạt: Phù sa lơ lửng sông Cửu Long qua hai mặt cắt Tân

Châu (sông Tiền) và Châu Đốc (sông Hậu) không chứa hạt to và vừa Thành phần cát chỉ chứa các hạt nhỏ và bụi, trong hạt bụi chỉ có các loại to và vừa Thành phần sét chứa loại hạt bụi là chủ yếu Tại Tân Châu loại cát hạt bụi chiếm tới 45%, Châu Đốc loại hạt bụi to chiếm tới 38% Phù sa sông Tiền có độ đều mịn hơn của sông Hậu, nhưng trong phù sa sông Hậu thành phần sét chiếm 34%, trong khi đó của sông Tiền chỉ chiếm có 16%

- Hàm lượng phù sa: Thời kỳ trước năm 2009, vào các tháng cao điểm mùa

lũ, hàm lượng phù sa lơ lửng sông Cửu Long không cao, đối với sông Hậu qua mặt cắt ngang Châu Đốc bình quân 250g/m3 và sông Tiền qua mặt cắt ngang Tân Châu là 550g/m3 Trong các tháng cao điểm của mùa khô, hàm lượng phù sa lơ lửng có trong nước sông Tiền và sông Hậu dao động 30÷80g/m3

Trong thời kỳ 2009÷2015, hàm lượng phù sa lơ lửng sông Tiền qua mặt ngang Tân Châu trong các tháng cao điểm mùa lũ xấp xỉ 300g/m3 và sông Hậu qua mặt cắt ngang Châu Đốc gần 200g/m3; các tháng cao điểm mùa khô xấp xỉ thời kỳ trước năm

Trang 38

27

năm tính chung cho hai mặt cắt ngang (Tân Châu+Châu Đốc) là 11.6 g/m3/năm Điều này phù hợp với thực tế, diễn biến của BĐKH toàn cầu, cùng với tốc độ phát triển hệ thống đập thủy nông và thủy điện trên ḍòng chính và 21 phụ lưu của sông Mekong, đồng hành với diện tích rừng và mật độ rừng phòng hộ đầu nguồn của các nước sông Mekong chảy qua liên tục bị thu hẹp và thưa dần, là những nguyên nhân chính làm suy giảm hàm lượng phù sa lơ lửng sông Cửu Long

Hình 1-27 Hàm lượng chất lơ lửng lớn

nhất, nhỏ nhất trạm Tân Châu

Hình 1-28 Hàm lượng chất lơ lửng lớn nhất, nhỏ nhất trạm Châu Đốc

- Tổng lượng phù sa: Tuy hàm lượng không cao, nhưng do tổng lượng dòng

chảy lớn, nên tổng lượng phù sa lơ lửng hàng năm của sông Tiền và sông Hậu qua hai mặt cắt ngang tại Tân Châu, Châu Đốc tương đối lớn Trong khi đó, do có lượng dòng chảy lớn gấp 4÷5 lần sông Hậu và hàm lượng phù sa cao hơn, nên tổng lượng phù sa sông Tiền qua mặt cắt ngang Tân Châu trong cùng các thời gian tương ứng lớn gấp nhiều lần so với của sông Hậu qua mặt cắt Châu Đốc Trong thời kỳ 2009÷2015, tổng lượng phù sa sông Tiền và sông Hậu có cùng tỷ lệ suy giảm tương ứng với mức độ suy giảm hàm lượng phù sa như trình bày ở phần trên

Bảng 1-11 Tổng lượng phù sa lơ lửng (triệu tấn/năm) gia đoạn 2009-2015

Trang 39

28

Hình 1-29 Tổng lượng chất lơ lửng vào

sông Tiền tại Tân Châu

Hình 1-30 Tổng lượng chất lơ lửng vào

sông Hậu tại Châu Đốc

1.2 TỔNG QUAN KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH AN GIANG

1.2.1 Kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2018 (theo giá so sánh 2010) tăng 6.52% so cùng kỳ năm trước Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2.04% (đóng góp 0.65 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) cao hơn mức tăng 0.55% của năm 2017; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 8.88% (đóng góp 1.29 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) cao hơn mức tăng 6.38% của năm 2017; khu vực dịch vụ tăng 8.64% (đóng góp 4.49 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) cao hơn mức tăng 6.50% của năm 2017; thuế sản phẩm trừ trợ giá sản phẩm tăng 5.28% (đóng góp 0.09 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) cao hơn mức tăng 4.61% của năm 2017

Cơ cấu kinh tế năm 2018 tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực (tỷ trọng khu vực II, khu vực III tăng dần qua các năm), trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp

và thuỷ sản chiếm tỷ trọng 28.90%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 14.79%; khu vực dịch vụ chiếm 54.73%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 1.58% (cùng kỳ năm 2017 lần lượt là: 30.22%; 14.38%; 53.78% và 1.61%)

Đến cuối năm 2018 có 46/119 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tăng 13 xã

so với năm 2017, vượt 03 xã so với kế hoạch đề ra Ngày 14/11/2018, thành phố Châu Đốc được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2017 theo Quyết định số 1552/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Trang 40

29

1.2.2 Xã hội

Song song với phát triển kinh tế, An Giang còn tập trung chăm lo phát triển

sự nghiệp giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, xóa đói giảm nghèo, cùng nhiều phong trào khác, góp phần làm cho kinh tế-xã hội của An Giang ngày càng khởi sắc, đổi mới toàn diện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và năng cao

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tỉnh thường xuyên củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động, gắn phong trào với việc xây dựng nông thôn mới và văn minh đô thị làm cho phong trào ngày càng khởi sắc và phát huy hiệu quả Đến nay, toàn tỉnh có 503726 hộ gia đình văn hóa (đạt 93.24% so tổng số hộ), 861 khóm/ấp văn hóa (đạt 96.95% so tổng số ấp), 10 xã đạt chuẩn văn hóa (đạt 8.4% so tổng số xã), 12 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị (đạt 32.43%)

Tính từ đầu năm 2018, tình hình thiên tai diễn biến bất thường, mưa dông làm thiệt hại 255 căn nhà người dân, trong đó, nhà sập hoàn toàn 19 căn, tốc mái, xiêu vẹo 236 căn Xảy ra 54 điểm sụp lún, sạt lở đất bờ sông, kênh, rạch, gồm: An Phú:

10 điểm; Tân Châu: 08 điểm; Châu Phú: 03 điểm; TP.Long Xuyên: 10 điểm; Chợ Mới: 14 điểm và Phú Tân: 09 điểm, với tổng chiều dài sạt lở 2589m, làm ảnh hưởng

110 căn nhà, trong đó có 03 nhà sụp hoàn toàn và 08 căn bị sụp một phần xuống sông

❖ Nhìn chung, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2018 đạt kết quả khá toàn diện, nhiều lĩnh vực cao hơn so năm 2017 Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Tình hình sạt lở gây nhiều thiệt hại và ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người dân; ô nhiễm môi trường, tiếng ồn chậm được xử lý gây bức xúc dư luận

xã hội Thiếu sự tham gia của các doanh nghiệp trong việc triển khai, ứng dụng các

đề tài khoa học công nghệ vào sản xuất Những điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai, tín dụng,… chưa được giải quyết kịp thời; những lợi thế các ngành kinh tế mũi nhọn chưa khai thác tốt Công tác quản lý các hoạt động phục vụ du lịch từng lúc, từng nơi đạt hiệu quả chưa cao Đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin thực hiện cải cách hành chính, phục vụ nhân dân có nhiều tiến bộ tuy nhiên chưa đồng bộ, đặc biệt ở cấp

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w