1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái vùng đất ngập nước đồng rui – tiên yên, quảng ninh

151 122 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 4,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến đổi khí hậu không chỉ tác động lên kinh tế-xã hội của Việt Nam mà còn tác động lên đa dạng sinh học nói chung, các hệ sinh thái nói riêng, trong đó có các hệ sinh thái vùng đất ngập

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

****************

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC ĐỒNG RUI –

HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

****************

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Trần Văn Thụy

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là do tự bản thân thực hiện và không sao chép

các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các

thông tin, số liệu thứ cấp được sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được

trích dẫn rõ ràng, đảm bảo tính chính xác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về

tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 2019

Học viên

Nguyễn Phương Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sỹ Khoa học môi trường của học viên được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện và tích lũy kiến thức tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng với sự hướng dẫn, dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo khoa Môi trường

và sự tham khảo ý kiến của các bạn đồng học

Đầu tiên, học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Trần Văn Thụy, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn khoa học để học viên có

thể hoàn thành luận văn này

Qua đây, học viên cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo thuộc Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, những người đã cung cấp những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình đào tạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên hoàn thành khóa đào tạo

Học viên cũng cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp những người đã ủng hộ học viên suốt quá trình học và hoàn thành luận văn

Học viên xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 2019 Học viên

Nguyễn Phương Thảo

Trang 6

141T

141T

141T

141T

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Các chỉ tiêu định lượng rừng ngập mặn 30

Bảng 2 Tổ thành thực vật các ô tiêu chuẩn điều tra 31

Bảng 3 Mật độ cá thể loài trên ha 32

B ảng 4 Giá trị nguồn lợi của hệ thực vật có mạch 44

B ảng 5 Danh sách các loài Cá quý hiếm có giá trị bảo tồn 46

Bảng 6 Đặc trưng nhiệt độ trung bình tỉnh Quảng Ninh từ năm 1980 ÷ 2010(P 0 P C) 49

Bảng 7 Số ngày có Tmin =< 13P o P C trong giai đoạn 1980 – 2010 50

Bảng 8 Số ngày có có Tmax > =35P o P C trong giai đoạn 1980 – 2010 50

Bảng 9 Lượng mưa trung bình các tháng đo đạc tại một số trạm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong nhiều năm giai đoạn 1980 - 2010 51

Bảng 10 Mực nước triều (cm) ghi nhận được tại Hòn Dấu trong nhiều năm 56

Bảng 11 Nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa trung bình các tháng trong năm (giai đoạn từ năm 2005 đến 2015) 91

Bảng 12 Nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa trung bình các tháng trong năm 2017 91

B ảng 13 Kết quả đo chất lượng nước tại xã Hải Lạng tháng 7/2016 92

B ảng 14 Kết quả đo chất lượng nước tại xã Cộng Hòa tháng 7/2016 92

B ảng 15 Kết quả đo chất lượng nước tại xã Đồng Rui tháng 7/2016 92

B ảng 16 Kết quả quan trắc chất lượng nước biển ven bờ khu vực cảng Mũi Chùa năm 2017 93

Bảng 17 Thành phần loài và phân bố của cá ở ba hồ nước ngọt khu vực ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên 94

Bảng 18 Cấu trúc thành phần loài Thực vật nổi khu vực nghiên cứu 97

B ảng 19 Mật độ thực vật nổi vùng đất ngập nước thuộc xã Hải Lạng 99

B ảng 20 Mật độ thực vật nổi vùng đất ngập nước thuộc xã Cộng Hòa 100

B ảng 21 Mật độ thực vật nổi tại khu vực ĐNN thuộc xã Đồng Rui 101

Trang 8

B ảng 22 Danh lục các loài Rong biển tại khu vực nghiên cứu 102

B ảng 23 Các loài thân mềm có giá trị sử dụng thu được tại RNM Đồng Rui 104

B ảng 24 Các loài giáp xác có giá trị sử dụng thu được tại RNM Đồng Rui 106

B ảng 25 Cấu trúc hệ thống khu hệ Lưỡng cư, Bò sát ở khu vực nghiên cứu 107

B ảng 26 Cấu trúc thành phần loài Lưỡng cư, Bò sát ở khu vực nghiên cứu 107

B ảng 27 Cấu trúc thành phần loài Chim thuộc khu vực ĐNN Đồng Rui 108

B ảng 28 Thành phần động vật nổi tại khu vực nghiên cứu 108

B ảng 29 Cấu trúc thành phần loài động vật đáy tại khu vực nghiên cứu 109

B ảng 30 Thành phần loài côn trùng ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu 109

B ảng 31 Cấu trúc thành phần loài cá tại khu vực nghiên cứu 109

B ảng 32 Danh sách các loài cá kinh tế và phân bố của loài ở vùng ĐNN Đồng Rui 110

B ảng 33 Danh sách các loài thực vật quý hiếm có giá trị bảo tồn 114

B ảng 34 Danh sách các loài Lưỡng cư, Bò sát quý hiếm có giá trị bảo tồn 115

B ảng 35 Danh sách các loài Chim quý hiếm có giá trị bảo tồn 116

B ảng 36 Các loài thú cần được ưu tiên bảo tồn tại khu vực nghiên cứu 116

Bảng 37 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (P 0 P C) so với thời kỳ 1980 ÷ 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) của tỉnh Quảng Ninh 118

Bảng 38 Nhiệt độ TB của tỉnh Quảng Ninh từ năm 2020 - 2100 (P 0 P C) so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 119

Bảng 39 Mức thay đổi lượng mưa so với thời kỳ 1980 ÷ 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) địa bàn tỉnh Quảng Ninh 119

Bảng 40 Lượng mưa TB của tỉnh Quảng Ninh từ năm 2020 ÷ 2100 so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 120

Bảng 41 Mực NBD so với thời kỳ 1980 ÷ 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) khu vực tỉnh Quảng Ninh 121

Trang 9

Bảng 42 Phạm vi ngập theo kịch bản nước biển dâng ứng với các mức triều tại các khu vực 121

B ảng 43 Biến đổi nhiệt độ và lượng mưa của tỉnh Quảng Ninh theo kịch bản

bi ến đổi khí hậu Việt Nam 123

Trang 11

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

BODR 5 R: Nhu cầu oxy sinh hóa

Tmtb: Nhiệt độ tối thấp trung bình năm

Txtb: Nhiệt độ tối cao trung bình năm

Trang 12

MỞ ĐẦU

Vào thế kỷ 21, chúng ta đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng biến đối khí hậu Những báo cáo gần đây của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã xác nhận rằng biến đổi khí hậu thực sự đang diễn ra và gây ra nhiều tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường tại nhiều nước trên thế giới Một trong những tác động chắc chắn của biến đối khí hậu là làm mực nước biển trung bình toàn cầu dâng lên, điều này khiến nguy cơ ngập lụt tăng cao, nhiễm mặn nguồn nước mặt, nước ngầm và thay đổi hình thái học bờ biển chẳng hạn như xói mòn hay mất những vùng đất ngập nước

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã trở nên hiện hữu.Việt Nam được đánh giá là một trong số ít nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu (IPCC, 2013) Biến đổi khí hậu không chỉ tác động lên kinh tế-xã hội của Việt Nam mà còn tác động lên đa dạng sinh học nói chung, các hệ sinh thái nói riêng, trong đó có các hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đồng Rui – huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu lên đa dạng sinh học ở Việt Nam nói chung, ở vùng đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên nói riêng vẫn còn ít được nghiên cứu Nhằm góp phần vào nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học (các hệ sinh thái) của vùng đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên trong bối cảnh biến đổi khí

hậu, học viên đã chọn đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên, Quảng Ninh” và đề

xuất môṭ số điṇh hướng về giải pháp thích ứng, giảm thiểu nhằm bảo vệ các hệ sinh thái và lồng ghép vấn đề BĐKH, nước biển dâng vào kế hoac̣h phát triển kinh tế –

xã hội các địa phương ven biển trong bối cảnh BĐKH

Mục tiêu

- Xác định được biểu hiện của biến đổi khí hậu tại khu vực vùng đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên: nước biển dâng, mức diễn biến nhiệt độ, lượng mưa, các hiện tượng thời tiết cực đoan

Trang 13

- Xác định được các hệ sinh thái quan trọng tại vùng đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên;

- Phân tích và đánh giá được các tác động của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái tại vùng đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên;

- Đề xuất hướng quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học vùng đất ngập nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu hệ sinh thái đất ngập nước trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trong cuốn “Thư mục nghiên cứu về rừng ngập mặn” (Chương trình Biển KT.03, 1991-1995) đã liệt kê hơn 420 công trình nghiên cứu của 12 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương từ năm 1600 đến năm 1975 Phần lớn các nghiên cứu này đã đề cập đến khu hệ động thực vật phân bố trong hệ sinh thái RNM

và khẳng định: Đất ngập nước rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới, ngày nay rừng ngập mặn

đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng.[26]

Tài liệu đầu tiên nghiên cứu về vai trò của rừng ngập mặn do Odum đưa ra

đã phân tích vai trò to lớn của mùn bã phân hủy từ lá cây đước đỏ (Rhizophora mangle) trong chuỗi thức ăn vùng cửa sông ven biển Florida Nghiên cứu khác ở Florida (Mỹ) đã chỉ ra rằng “Cấu trúc mùn bã hữu cơ phụ thuộc rất nhiều vào mắt xích thức ăn trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Đây còn là nơi ươm nuôi ấu trùng cho nhiều loại cá, giáp xác và động vật thân mềm” Ngoài ra, tác giả còn đưa ra được sơ đồ mối quan hệ giữa rừng ngập mặn với các thành phần sinh vật sống [48]

Theo V.J Chapman (1975) có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển rừng ngập mặn là: Nhiệt độ, thế nền đất bùn, sự bảo vệ, độ mặn, thủy triều, dòng chảy hải lưu, biển nông [55]

Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng và đất rừng ngập mặn ở vùng châu Á Thái Bình Dương cho rằng: Hệ sinh thái rừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nguyên nhân chính là do việc khai thác tài nguyên rừng, đất rừng ngập mặn không hợp lý gây

ra các biến đổi tiêu cực đối với môi trường đất và nước Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia có rừng và đất ngập mặn, cần phải có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này bằng các giải pháp như: xây dựng các hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn và

Trang 15

nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng kết hợp với việc xây dựng các mô hình lâm ngư kết hợp [58]

Một số công trình nghiên cứu về lượng mưa, nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn P.B Tomlinson (1986) cho rằng nhiệt độ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố rừng ngập mặn Cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trường có nhiệt độ ấm, nhiệt độ của tháng lạnh nhất không dưới 20P

o P

C, biên độ nhiệt theo mùa không vượt quá 10P

o P

rễ, thân và lá đều thấp dần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự, 1983)[50]

Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và phân

bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Giglioli và King, 1966; Clark và Hannonn, 1967;

S Aksornkoae và cộng sự, 1985) Đất RNM là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu OR 2 R, giàu HR 2 RS, rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, nghèo chất dinh dưỡng A Karim và cộng sự cho biết sự phát triển của thực vật ngập mặn liên quan đến số lượng phù sa lắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ở nơi có lớp đất phù sa dày [50]

Năm 1983, đề án “Chương trình nghiên cứu tổng hợp và đào tạo về hệ sinh thái rừng ngập mặn Châu Á - Thái Bình Dương” của UNDP/UNESCO ra đời với sự tham gia chính thức của 12 nước trong khu vực Công trình gồm tập hợp các báo cáo về tình hình rừng ngập mặn của 11 nước và một số vấn đề gây tình trạng giảm sút rừng trong khu vực đã được in trong cuốn “Rừng ngập mặn Châu Á và Thái Bình Dương: Thực trạng và quản lý” (1996) [16]

Khu vực Châu Á và Đông Nam Á là nơi có diện tích ĐNN lớn của thế giới

Do mật độ dân cư cao (chiếm 60% số dân toàn thế giới) các cộng đồng dân cư nơi

Trang 16

đây phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên ĐNN Hiện nay, các nghiên cứu về ĐNN tại khu vực châu Á và Đông Nam Á chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: Xác định loại hình và sự phân bố của ĐNN; Nghiên cứu các mối đe doạ, những ảnh hưởng, tác động hiện nay và yêu cầu về bảo vệ ĐNN, đa dạng sinh học của các vùng ĐNN Hướng nghiên cứu này đã thu hút nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (The World Conservation Union - IUCN), Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF), các tổ chức phi chính phủ (NGO) Trong đó quan trọng nhất là vai trò của IUCN vì đây là tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợp kết nối với các hoạt động với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu ĐNN trên Thế giới [43]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Theo Rollet (1981) thống kê, đến cuối thế kỷ 19 Việt Nam chỉ có 3 tài liệu liên quan tới RNM [33]

Theo Phan Nguyên Hồng có nhiều tài liệu liên quan đến thảm thực vật ngập mặn, điển hình như một số công trình: RNM mũi Cà Mau (C.Moquillon, 1950), Thảm thực vật bờ biển bùn cát ở bán đảo Cam Ranh (J.P.Barry, L.C.Kiệt, V.V.Cương, 1961) [33]

Công trình nghiên cứu có hệ thống về RNM đầu tiên ở Việt Nam là của Vũ Văn Cương (1964) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn - Vũng Tàu Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn và nhóm thực vật nước lợ [33]

Lê Công Khanh (1986) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) mô tả các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ cây có trong RNM Tác giả đã xếp 57 loài cây ngập mặn vào 4 nhóm dựa vào tính chất ngập nước và độ mặn của nước: Nhóm mọc trên đất bồi ngập nước mặn (độ mặn của nước từ 15-32‰) có 25 loài, trong đó có Đưng, Cóc trắng; nhóm sống trên đất bồi thường ngập nước lợ (độ mặn 0,5 - 15‰) có 9 loài, trong

đó có Vẹt đen và nhóm sống trên đất bồi ít ngập nước lợ có 12 loài [33]

Nguyễn Hoàng Trí (1999), cho rằng Đưng không có ở miền Bắc Việt Nam, chỉ có ở ven biển miền Trung và Nam Bộ Cóc trắng gặp cả ở ba miền, trên vùng

Trang 17

đất cao ngập triều không thường xuyên, nền đất tương đối chặt Vẹt đen không có ở miền Bắc, gặp ở vùng nước lợ ở miền Nam Trang phân bố từ Bắc vào Nam, chịu được biên độ nhiệt khá khắc nghiệt, hiện được trồng nhiều ở miền Bắc [28]

Đỗ Hữu Thư, Đào Mạnh Sơn, Vũ Trung Tạng , đã nghiên cứu tổng quan RNM ở Việt Nam, xây dựng nên bản đồ phân bố RNM Việt Nam và định hướng quy hoạch cho một số vùng ở Việt Nam [48]

Phan Nguyên Hồng (1999) đã đề cập đến vấn đề phân bố, sinh thái, sinh lý sinh khối RNM Việt Nam Số loài cây ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam ít hơn và

có kích thước cây bé hơn ở miền Nam vì có nhiệt độ thấp trong mùa đông Vùng ít mưa, số lượng loài và kích thước cây giảm Khi điều kiện khí hậu và đất không có

sự khác biệt nhau lớn thì vùng có chế độ bán nhật triều cây sinh trưởng tốt hơn vùng

có chế độ nhật triều Độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống của các loài và phân bố RNM Loại rừng này phát triển tốt ở nơi có nồng độ muối trong nước từ 10-25‰.Trong các nhân tố sinh thái thì khí hậu, thủy triều, độ mặn và đất đóng vai trò quyết định sự sinh trưởng và phân

bố của thảm thực vật RNM Các nhân tố khác góp phần tích cực trong việc phát triển hay hạn chế của kiểu thảm thực vật này.[33]

Một trong số những dự án đầu tiên có liên quan đến ĐNN ở Việt Nam là “Dự

án sông Mê Kông và đồng bằng sông Cửu Long” của Uỷ ban sông Mê Kông (1957)

do chính phủ 4 nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam thành lập Năm 1989, Việt Nam tham gia công ước Ramsar, trên cơ sở các văn bản Công ước, các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về những vấn đề có liên quan đến ĐNN đã được tập hợp lại, xác định những nội dung “nghiên cứu về ĐNN” một cách chính thức ở Việt Nam [43,70]

Về kiểm kê và phân tích các chức năng, giá trị của ĐNN có các công trình của Lê Diên Dực, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng Trong công trình nghiên cứu của Lê Diên Dực (1989), đã kiểm kê và công bố 32 vùng ĐNN quan trọng, cần được bảo vệ của nước ta [22] Năm 2003, Việt Nam cũng đã có những cố gắng trong công tác nghiên cứu, quản lý và bảo tồn ĐNN như: “Chương trình bảo tồn

Trang 18

ĐNN quốc gia”; Nghị định 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN; “Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010” (số 192/2003/QĐ-TTg), v.v Năm 2004, Phan Nguyên Hồng (2004) trong báo cáo về lịch sử nghiên cứu ĐNN Việt Nam đã thống kê hơn 500 nghiên cứu về khí tượng thủy văn, địa chất, địa mạo, ĐDSH, hệ cửa sông ven biển, hệ đầm phá, HST RNM, HST rạn san hô, thảm cỏ biển Các nghiên cứu này đã góp phần đóng góp vào bộ tư liệu nghiên cứu về ĐNN ven biển Việt Nam [34,35] Năm 2005, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu “Tổng quan hiện trạng ĐNN Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsamsar” [14] Năm 2006, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu: “Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học vùng ĐNN sông Mê Kông: Hệ thống phân loại ĐNN Việt Nam” do tác giả Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực thực hiện [22]

Năm 2015, Trần Văn Thụy, Phạm Minh Dương, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Văn Cường đã công bố các dẫn liệu về đa dạng sinh học hệ sinh thái bãi bồi trong

đó các nghiên cứu về các quần xã thực vật ngập mặn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình [36]

Những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu về ĐNN ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các vấn đề: Vai trò môi trường của các hệ sinh thái ĐNN ở Việt Nam đối với đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu (Tổng cục Môi trường, 2012) nhằm những định hướng chiến lược về bảo tồn, sử dụng, quản lý và phát triển bền vững các vùng ĐNN trong tương lai [26,30]

1.2 Các nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu lên các hệ sinh thái trên Thế giới và Việt Nam

a Một số khái niệm liên quan đến thời tiết, khí hậu

Thời tiết là trạng thái tức thời của khí quyển ở một địa điểm cụ thể được đặc

trưng bởi các đại lượng đo được, như nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa…hoặc các hiện tượng quan trắc được như sương mù, dông, mưa, nắng…

Khí hậu là sự tổng hợp của thời tiết, được đặc trưng bởi các giá trị trung bình

thống kê và các cực trị đo được hoặc quan trắc được của các yếu tố và hiện tượng thời

Trang 19

tiết trong một khoảng thời gian đủ dài, thường là hàng chục năm

Biến đổi khí hậu, theo IPCC 2007, là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí

hậu so với trạng thái trung bình trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ

hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển

Đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu, theo UNEP 2009, thường được dựa

trên các kịch bản của BĐKH trong tương lai và được biểu hiện như thay đổi về nhiệt

độ, lượng mưa, mực nước biển dâng và những thông tin khác Có thể phân tích những thay đổi và xu hướng trong các thông số khí hậu bằng cách sử dụng thông tin và dữ liệu sẵn có Khi phân tích tác động của biến đổi khí hậu thì phải đánh giá được những tác động trực tiếp và hậu quả kinh tế - xã hội của Biến đổi khí hậu, và xem xét vai trò các dịch vụ hệ sinh thái và quy mô xã hội tác động Biến đổi khí hậu

Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng

và giảm nhẹ BĐKH Như vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH Thích ứng với BĐKH (adaptation), theo IPCC

2001, là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi để ứng phó với những tác động thực tại hoặc tương lai của khí hậu do

đó làm giảm tác hại hoặc tận dụng những lợi ích mang lại Trong đó, tăng cường khả năng thích ứng là một phương thức giảm mức độ tổn thương và định hướng phát triển bền vững Giảm nhẹ BĐKH( mitigation), theo IPCC 2007, là sự can thiệp của con người nhằm làm giảm nhẹ áp lực lên hệ thống khí hậu; bao gồm chiến lược giảm nguồn phát thải khí nhà kính và tăng bể chứa khí nhà kính

b Các nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu lên các hệ sinh thái trên Thế giới

Tại Hội nghị cấp cao LHQ về phát triển bền vững (Rio+20), Chương trình Phát

Trang 20

triển LHQ (UNDP) đã công bố nghiên cứu “Những quan sát trực tiếp về biến đổi khí hậu và sự bền vững của hệ sinh thái lớn”, cảnh báo các hiểm họa từ biến đổi khí hậu đối với môi trường sống của sinh vật Là nguyên nhân làm cho hệ sinh thái đang ngày càng bị mất cân bằng [58, 59]

+ Các khả năng chống chịu của nhiều hệ sinh thái (khả năng thích ứng của chúng một cách tự nhiên) có thể sẽ vượt qua ngưỡng chịu đựng vào năm 2100 do tác động kết hợp của biến đổi khí hậu, những hiện tượng thời tiết cực đoan kèm theo Các hệ sinh thái trên đất liền có khả năng trở thành một nguồn bổ sung thêm carbon vào năm 2100, do đó làm khuếch đại biến đổi khí hậu.[51]

+ Khoảng 20 đến 30% các loài được đánh giá (thay đổi từ 1% đến 80% số lượng loài giữa các vùng sinh thái) cho đến nay có thể sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ngày càng cao khi nhiệt độ toàn cầu trung bình là vượt quá 2 đến 3°C so với mức nhiệt độ thời kỳ tiền công nghiệp.[54]

+ Vùng đất ngập nước ven biển, bao gồm đầm lầy mặn và rừng ngập mặn, rất nhạy cảm với nước biển dâng, với dự báo thiệt hại toàn cầu là 33% cho trường hợp nước biển dâng lên 36 cm trong giai đoạn 2000-2080 Sự biến động lượng mưa lớn hơn có khả năng làm tổn thương các loài sinh vật sống ở vùng đất ngập nước và rừng ngập mặn ven biển thông qua các thay đổi về chế độ thủy triều, thời gian và độ sâu của vùng ngập nước [52,61]

+ Ngập lụt ven biển ở vùng trũng rất có khả năng trở thành một nguy cơ lớn hơn so với hiện nay do nước biển dâng và các trận bão lớn ven biển Nếu không có giải pháp thích ứng, hơn 100 triệu người có thể phảo chịu cảnh ngập lụt chỉ do nguyên nhân là nước biển dâng Tính dễ tổn thương tăng nhanh nhất theo khu vực

có thể sẽ là vùng Đông, Đông Nam và Nam Á, và các khu vực đô thị hóa ven biển trên khắp châu Phi, và các hòn đảo nhỏ, đặc biệt ở châu Á.[62,69]

c Các nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu lên các hệ sinh thái Ở Việt Nam

Những nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam phần lớn mới được đề cập trong thời gian gần đây Ở cấp độ quốc gia, những tác động của

Trang 21

biến đổi khí hậu được trình bày một cách khá đầy đủ trong nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008, 2009), Nguyễn Đức Ngữ (2008); Nguyễn Đức Ngữ

và Nguyễn Văn Hiệu (2009); của Viện Nghiên cứu Chiến lược Tài nguyên và Môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường (IPONRE, 2009), của Lưu Đức Hải (2009), và gần đây nhất của Viện Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2011) Một số nghiên cứu cũng đề cập đến tác động của nước biển dâng lên vùng ven biển của Việt Nam, như của Carew-Reid (2008), về ngập lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Hữu Ninh, 2007), và ở thành phố Hồ Chí Minh (ADB, 2010)[12]

Biến đổi khí hậu tác động đến đa dạng sinh học chưa được nghiên cứu nhiều, ngoài một số nghiên cứu bước đầu (Trương Quang Học, 2007), hay đến hệ sinh thái ven biển (Phan Nguyên Hồng và Trần Thục, 2009) BĐKH và ĐDSH có sự tương tác nhân quả với nhau và trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tới sự phát triển của tự nhiên và con người [44] Đối với Việt Nam, mực nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn - các hệ sinh thái đất ngập nước của các đồng bằng lớn nhất

cả nước – nơi sinh sống của các công đồng dân cư lâu đời (hiện có tỷ lệ đói nghèo cao), vùng có tiềm năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất và các sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài bản địa bao gồm cả các khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển BĐKH còn ảnh hưởng đến các thuỷ vực nội địa (sông, hồ, đầm lầy ) qua sự thay đổi nhiệt độ nước và mực nước làm thay đổi lớn tới thời tiết (chế độ mưa, bão, hạn hán, cháy rừng, El-nino…).[8]

BĐKH làm cho đa dạng sinh học vùng bờ cùng với nguồn lợi thủy hải sản giảm sút, đặc biệt là những vùng đất ngập nước ven biển Các HST vùng bờ bị suy thoái và thu hẹp diện tích Các quần thể động thực vật có thể mất tới 60% các nơi cư trú tự nhiên Hệ sinh thái (HST) biển Việt Nam khá đa dạng và có vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, dinh dưỡng trong vùng biển thông qua các chu trình sinh địa hóa Đồng thời, các HST này đem lại nhiều giá trị, lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội, với khoảng 28 triệu người chịu tác động gián tiếp và trực tiếp trong đời sống Tuy vậy, trong những thập niên gần đây, các HST biển của nước ta đang

Trang 22

bị suy thoái nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng do tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) [18]

Vùng biển nước ta có khoảng 20 HST điển hình, phân bố trên 1 triệu kmP

2 P

diện tích ở Biển Đông, với 155.000 ha rừng ngập mặn, khoảng 1.300 kmP

Rừng ngập mặn với diện tích trên 250.000 ha (năm 2016) có thể làm giảm xói mòn bờ biển và bảo vệ đường bờ khỏi bão và triều cường Hiện các nhà khoa học cảnh báo, khi nước biển dâng, độ mặn nước trong rừng ngập mặn có thể vượt quá 25% dẫn tới một số loài sinh vật trong rừng ngập mặn sẽ bị tuyệt chủng Bên cạnh đó, sự gia tăng trường sóng sát rừng ngập mặn do mực nước biển dâng tạo ra sóng lớn đánh thẳng vào rừng gây xói lở bãi, làm suy thoái hoặc biến mất RNM [12,21,22]

Áp lực của BĐKH cũng tác động rất lớn đến HST đầm phá Do BĐKH, những cơn bão lũ làm hình thành, bồi đắp, mở rộng các cửa của đầm phá, tạo ra nhiều luồng di cư của các luồng thủy sinh; làm mặn hoặc ngọt hóa nguồn nước kéo theo sự thích nghi hoặc loại bỏ các loài trong hệ đầm phá, hạn chế nguồn lợi thủy sinh; giảm suất sinh học của HST

1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên 1.3.1 Vị trí địa lý khu vực đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên

Khu vực ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên bao gồm xã đảo Đồng Rui và diện tích phần ngập nước ngoài đê xã Hải Lạng, huyện Tiên Yên, vùng ĐNN trên sông Voi lớn và sông Voi Bé thuộc các xã Cộng Hòa (thành phố Cẩm Phả), xã Đài Xuyên, Bình Dân (huyện Vân Đồn), tổng diện tích khoảng 16.000 ha Đây là khu vực bồi tụ ven biển, có địa hình thấp, thoải dần ra biển, độ cao trung bình từ 1,5 mét đến 3 mét, nhiều nơi được cải tạo thành đất canh tác, đắp đầm nuôi trồng thủy sản, còn lại

là bãi sú vẹt, cồn cát ven biển bị ngập nước thủy triều [11,12]

Trang 23

Trung tâm của vùng ĐNN là xã đảo Đồng Rui với diện tích 4.910 ha, có tọa

độ địa lý từ 21P

0 P

11’ đến 21P

0 P

33’ vĩ độ Bắc và từ 107P

0 P

13’ đến 107P

0 P

32’ kinh độ Đông Trung tâm xã cách huyện lỵ 23 km về phía Nam Phía tây giáp huyện Ba Chẽ, Phía đông giáp huyện Vân Đồn và Phía bắc giáp xã Hải Lạng, Tiên Yên Đồng Rui là một xã đảo có địa hình tương đối bằng phẳng.[1,45]

Toàn xã Đồng Rui có khoảng 554 hộ với 2198 khẩu, trong đó cuộc sống của người dân phụ thuộc chính vào hoạt động nông nghiệp (trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi) và nuôi trồng và đánh bắt thủy sản tự do ở khu vực đất ngập nước Việc các

hệ sinh thái đất ngập nước trong đó tiêu biểu là hệ sinh thái rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng đối với sinh kế và đời sống người dân Hệ sinh thái đất ngập nước

ở các xã Hải Lạng, Đồng Rui, huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh được coi là hệ sinh thái điển hình của khu vực phía bắc Việt Nam Các hệ sinh thái trong khu vực đất ngập nước trước đây có chất lượng tốt, rất phong phú về số lượng loài cây, về các loài thủy sinh có giá trị kinh tế cao, đã đem lại nguồn lợi và sinh kế tốt cho người dân địa phương.[1,45]

Trang 24

Hình 1 Sơ đồ vị trí khu vực đất ngập nước Đồng Rui - Tiên Yên

Trang 25

1.3.2 Đặc điểm môi trường sống của sinh vật vùng đất ngập nước Đồng Rui –

Tiên Yên

a Khí hậu và thủy - hải văn

Khí hậu khu vực Đồng Rui thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa hè nóng

và ẩm, mùa đông khô và lạnh

Độ ẩm trung bình năm khoảng 86%, trong đó tháng cao nhất (tháng 3 và tháng 4) đạt91-92%, tháng thấp nhất (tháng 11 và tháng 12) đạt 80%

- Ch ế độ gió:

Chế độ gió ở khu vực nghiên cứu chịu sự chi phối của hệ thống gió mùa Vào mùa đông, hướng gió thịnh hành bắc, đông bắc Mùa hè gió thịnh hành là hướng nam, đông nam Tốc độ gió tại khu vực hàng năm không lớn, trung bình khoảng 2,5-3,5 m/s

- Hệ thống sông suối và chế độ thủy văn

Khu vực ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên chịu sự tác động của hai lưu vực sông là sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ

Sông Tiên Yên có diện tích lưu vực 1.070 kmP

2 P

, dài 82 km, lưu lượng thấp nhất 28 mP

3

P

/s, lưu lượng nước lớn nhất vào mùa lũ lên đến 2.090 mP

3 P

/s

Sông Ba Chẽ bắt nguồn từ núi Khe Ru ở độ cao 789 m trên đất Hoành Bồ, độ

Trang 26

cao trung bình lưu vực đạt 275m, dài 80km, lưu vực 978 kmP

2 P

Sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ đổ vào Vịnh Tiên Yên và ảnh hưởng trực tiếp đến vùng ĐNN Đồng Rui- Tiên Yên

Chế độ thuỷ văn của sông Tiên Yên và sông Ba chẽ không điều hoà trong năm, có sự chênh lệch lớn về lưu lượng nước giữa 2 mùa Về mùa khô (mùa kiệt) mực nước thấp, lưu lượng nhỏ, xâm nhập mặn do dòng Trái lại, vào mùa mưa, địa hình dốc về phía Nam nên tạo ra nhiều khe suối nhỏ, chia cắt thành nhiều khu vực, đặc trưng của các suối này là có độ dốc từ 4-6% thoát nước nhanh, vào mùa mưa thường có lũ đơn, không kéo dài nên gây ngập lụt ở một số nơi

- Chế độ thuỷ triều:

Thuỷ triều ở khu vực Đồng Rui - Tiên Yên chịu ảnh hưởng chung của chế độ nhật triều thuần nhất, trong một ngày có một lần nước lớn và một lần nước ròng Về mùa hè, nước thường lên vào buổi chiều và về mùa đông thường lên vào buổi sáng Các đỉnh triều (nước lớn) thường cách nhau 25 giờ Số ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống chiếm 85-95% (tức trên 25 ngày) trong tháng Biên độ thuỷ triều ở đây khoảng 3,5 - 4,0m Trong một năm có 101 ngày có biên độ triều lớn trên 3,5m Biên độ triều lớn nhất lên đến 4,0m trong các tháng 1, 6, 7 và 12, giảm đi còn khoảng 3,0 m vào các tháng 3, 4, 8 và 11 đồng thời với sự suy giảm tính chất thuần nhất của nhật triều

- Sóng:

Vào mùa đông, độ cao của sóng cao nhất chỉ ở mức 0,5- 0,7m với tần suất rất bé (khoảng 0,48%) xuất hiện chủ yếu vào tháng 12 Hầu hết các tháng trong năm ở cấp 0,25- 0,5m Vào mùa hè, cấp độ cao sóng từ 0,25- 0,5m chiếm 4-9% Cấp độ cao cao nhất lên đến 2-2,5 m vào tháng 7 và tháng 8 do bão ảnh hưởng trực tiếp gây ra Hướng sóng thịnh hành trong mùa hè chủ yếu hướng Đông Nam với tần suất 20-40%

- Nhi ệt độ nước biển và độ mặn:

Khu vực Đồng Rui - Tiên Yên nằm trong vịnh Bắc Bộ là vùng biển lạnh nhất nước ta, nhiệt độ có khi xuống tới 13°C

Trang 27

Mùa đông: nhiệt độ nước biển trung bình khoảng 20,5 - 21,5°C, cao nhất từ 23,5 - 24,5°C, trung bình thấp nhất khoảng 18 - 19°C Thời kỳ này độ mặn có giá trị cao, cao nhất vào tháng 1 và tháng 2, nằm trong khoảng 31 - 32

Mùa hè: nhiệt độ nước biển đạt giá trị cao nhất trong năm, trung bình khoảng 29,5 - 30°C, trung bình thấp nhất trong khoảng 26-27°C Nhiệt độ nước biển cao nhất rơi vào tháng 7 Độ mặn thấp nhất vào tháng 7, 8 giá trị trung bình từ 21 - 22‰, thậm chí xuống đến 5 - 17‰ Ở khu vực các cửa sông đổ độ mặn thấp nhất có thể xuống tới 2 - 4‰

c M ôi trường nước biển ven bờ

Kết quả đo nhanh chất lượng nước trên các sông khu vực ĐNN Đồng Rui do Trung tâm quan trắc môi trường tỉnh Quảng Ninh thực hiện trong tháng 7/2016 (xem phụ lục) Tại khu vực cảng Mũi Chùa, chất lượng nước biển đang có dấu hiệu

bị ô nhiễm Kết quả quan trắc năm 2017 cho thấy, các thông số NHR 4 RP

+ P

, Cd, Pb, Fe cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép của QCVN 10-MT:2015/BTNMT

1.3.3 Tính đặc thù của khu đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên

Đường bờ của không gian vịnh trên khu vực các xã Đồng Rui, Hải Lạng và

Cộng Hòa (Tp Cẩm Phả) có hướng đường bờ khác hẳn:

+ Đường bờ phía bắc: từ Mũi Chùa đến hết xã Hải Lạng, giáp đường 18, có

hướng song song với đường vĩ tuyến, gần vuông góc với đường 18

+ Đường bờ phía tây: đúng hướng bắc - nam của kinh tuyến tạo nên một

“góc thước thợ” (vuông góc)

Đây là đặc điểm duy nhất chỉ vùng ĐNN Đồng Rui - Hải Lạng - Cộng Hòa mới có, khác biệt hẳn với bất cứ vùng ĐNN trên bờ biển đông bắc, trên Vịnh Bắc

Bộ nói riêng và ở toàn Việt Nam nói chung

Với địa thế có đảo Cái Bầu của huyện Vân Đồn che chắn ở phía Đông nguồn nước chính đi vào khu vực nghiên cứu là 2 dòng sông Tiên Yên và Ba Chẽ cùng với

sự ảnh hưởng của thủy triều Ở đây đã hình thành nên một “ổ sinh thái” rất tốt cho

hệ thủy sinh vật, vừa thuận lợi cho việc cư trú cũng như việc sinh sản, dễ tạo thế ổn định đối với việc phát triển nguồn lợi thủy sản

Trang 28

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Các hệ sinh thái đất ngập nước khu vực ĐNN Đồng Rui: hệ sinh thái RNM;

hệ sinh thái cửa sông; hệ sinh thái bãi triều; hệ sinh thái đầm nuôi; hệ sinh thái hồ ao; hệ sinh thái nông nghiệp (ruộng lúa, hoa mầu); hệ sinh thái quần

- Trong phạm vi nghiên cứu nhỏ của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu các hiện tượng bão, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, mưa lớn kéo dài, nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển, … trong bối cảnh BĐKH đang diễn

ra tại khu vực Đồng Rui – Tiên Yên và tỉnh Quảng Ninh và các tác động của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái khu vực nghiên cứu

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến hành từ giai đoạn 2017 - 3/2019

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm:

- Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm vùng đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên trong đó nêu rõ đặc điểm các hệ sinh thái khu vực đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên, liệt kê các hệ sinh thái chính trong khu vực đất ngập nước, nêu hiện trạng của các hệ sinh thái

- Nội dung 2: Nghiên cứu một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở khu vực đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên

Trang 29

- Nội dung 3: Phân tích, liệt kê các ảnh hưởng của BĐKH lên các hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên

- Nội dung 4: Đề xuất các giải pháp quản lý để bảo tồn, giảm thiểu các tác động tiêu cực của BĐKH đến đa dạng sinh học nói chung và hệ sinh thái nói riêng ở vùng đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên phục vụ mục tiêu phát triển bền vững

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Ph ương pháp luận

Đề tài sử dụng các phương pháp tiếp cận: tiếp cận hệ sinh thái, tiếp cận quản

lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và Mô hình DPSIR để thực hiện nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận văn

a Tiếp cận về phát triển bền vững

Nguyên tắc cơ bản là phát triển bền vững: Phải đảm bảo phát triển trước mắt không làm tổn hại đến tương lai và quản lý bảo vệ tốt tài nguyên thiên nhiên, bảo

tồn đa dạng sinh học vùng ĐNN Đồng Rui- Tiên Yên

Thuật ngữ phát triển bền vững có thể được hiểu đó là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm phương hại tới sự đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai Phát triển bền vững cần đảm bảo sự phát triển bền vững cả về kinh tế, bền vững cả về môi trường và bền vững cả về xã hội Do đó, nội dung thực hiện của dự án này dựa trên những căn cứ khoa học về điều kiện tự nhiên, môi trường và hiện trạng tài nguyên sinh vật, tình hình kinh tế - xã hội cũng như các điều kiện liên quan khác được tổng hợp chọn lọc từ các chương trình điều tra nghiên cứu đã thực hiện cũng như những điều tra bổ sung, điều chỉnh mới Trên cơ sở của toàn bộ các số liệu đó tiến hành đề xuất thành lập Khu bảo tồn ĐNN Đồng Rui – Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

b Tiếp cận hệ sinh thái

Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái là một chiến lược quản lý đất, nước và nguồn tài nguyên sinh học nhằm thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững, hợp lý những nguồi tài nguyên đó Cơ sở khoa học để sử dụng hợp lý và phát triển bền vững

Trang 30

tài nguyên sinh vật nói riêng hay các hệ sinh thái nói chung dựa trên việc tập hợp các luận cứ và nguyên lý về tính toàn vẹn của hệ sinh thái, cấu trúc các thành phần và chức năng của chúng, trong đó cần quan tâm trước hết đa dạng sinh học, môi trường

và xu hướng diễn thế của chúng trong mối tương quan qua lại với điều kiện tự nhiên

và phát triển kinh tế - xã hội trong vùng Việc xây dựng cơ sở khoa học phải dựa trên các phân tích tổng hợp, mang tính hệ thống, chú trọng các mối tương quan giữa các yếu tố sinh học, môi trường với các yếu tố tự nhiên và nhân tác.[16]

Đối với một hệ sinh thái nhạy cảm như các hệ sinh thái ven biển, mục tiêu phát triển bền vững chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên tiếp cận sinh thái, trong

đó trọng tâm là duy trì và phục hồi các hệ sinh thái, đảm bảo sự phát triển bình thường của các loài ưu thế, bảo tồn các loài quý hiếm, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về sự biến đổi và chiều hướng diễn thế các hệ sinh thái Một số mô hình bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh học thích ứng dựa trên các luận điểm kinh tế sinh thái cũng được xem xét, chọn lựa và áp dụng, kèm theo các đề xuất về quy hoạch sinh thái

c Tiếp cận quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng

Quản lý thiên nhiên dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn diện nhằm xác định những vấn đề mang tính nhiều mặt ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của cộng đồng địa phương

“Dựa vào cộng đồng” là một nguyên tắc mà người sử dụng tài nguyên đồng thời là người quản lý tài nguyên đó Điều này giúp phân biệt nó với các chiến lược quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác có tính tập trung cao hoặc không có

sự tham gia của cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên.[7]

Trong quá trình phát triển của tự nhiên, bản chất, chức năng và giá trị của bất

kỳ một hệ sinh thái nào cũng vừa phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên, vừa chịu ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hoá của con người Do đó, một hệ sinh thái ven biển bất kỳ cần được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau về tự nhiên (sinh học, sinh thái, địa lý, địa chất, thuỷ văn ), về xã hội (văn hoá, phong tục, tập quán, xung đột môi trường), kinh tế Do đó, ngoài việc điều tra tổng thể về đa dạng sinh học và giá trị nguồn lợi thủy, hải sản thì để có thể đề xuất được các giải pháp

Trang 31

quy hoạch chi tiết, quản lý, sử dụng hợp lý và phát triển bền vững cần có sự tích hợp các chuyên ngành, sự phối hợp các chuyên gia thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học tự nhiên , khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế, quản lý…

và cần thiết có sự tham gia của cộng đồng

Từ các kết quả điều tra, khảo sát cập nhật về sinh cảnh, điều kiện tự nhiên, đa dạng sinh học và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, kết hợp phân tích, giải đoán các ảnh vệ tinh theo các mốc thời gian tương ứng để đánh giá sự biến đổi và dự báo chiều hướng diễn thế các hệ sinh thái trong vùng Những kết quả phân tích này sẽ được tích hợp với những phân tích các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra biến động, bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tác đối với cảnh quan, đa dạng sinh học và chiều hướng diễn thế các hệ sinh thái

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Phân tích, phân loại các tài liệu tham khảo để tìm ra cấu trúc lý thuyết, cách thức thực hiện luận văn, từ đó tổng hợp và xây dựng các giả thuyết mới

Phương pháp hồi cứu, tổng hợp tài liệu: Phương pháp này nhằm kế thừa tối

đa các tài liệu đã có để thống kê, phân tích đánh giá các điều kiện tự nhiên, TNTN - môi trường, hiện trạng KT - XH tại khu vực nghiên cứu Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình khai thác và NTTS được cung cấp bởi Phòng ban thuộc huyện Tiên Yên, Quảng Ninh

Thông qua phương pháp này tác giả sử dụng các kịch bản BĐKH và nước biển dâng đã công bố của Việt Nam (MONRE, 2009, 2011) và các nguồn số liệu khác, ở các cấp độ khác nhau (quốc gia, khu vực/vùng, tỉnh, huyện)

Phương pháp này được sử dụng ở giai đoạn tổng hợp cơ sở dữ liệu, viết luận văn giúp làm rõ hơn cơ sở lý luận và các hướng nghiên cứu cũng như các công trình nghiên cứu đã thực hiện ở khu vực nghiên cứu.Việc phân tích và tổng hợp, tổng luận các tài liệu và các công trình nghiên cứu trước đó mang lại một số lợi ích cơ bản: giúp tránh sự trùng lặp trong nghiên cứu; thừa kế các kết quả nghiên cứu trước đó; biết được các thiếu xót của các nghiên cứu trước đó và định hướng được các nghiên cứu ở mức độ phát triển cao hơn

Trang 32

Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp từ các nghiên cứu của các chuyên ra về lĩnh vực BĐKH và đa dạng các hệ sinh thái, số thiệu được thống kê từ các tổ chức khoa học có uy tín hoặc các báo cáo chính thức của các cơ quan quản lý nhà nước

b Phương pháp khảo sát và nghiên cứu thực địa

Các đợt khảo sát sẽ được tiến hành theo lộ trình vạch sẵn, lấy thông tin và lấy mẫu tại các cơ sở, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất công nghiệp

+ Dựa vào bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000, bản đồ tỷ lệ 1/100.000 và bản đồ hiện trạng sử dụng đất của khu vực để xác định vị trí điều tra ngoài thực địa + Ghi nhận kỹ lưỡng những đặc trưng của địa điểm nghiên cứu

+ Chụp ảnh: Trong quá trình điều tra khảo sát thực địa, sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của các loài được nuôi trồng ở địa phương, các bãi nuôi trồng…

+ Phương pháp khảo sát điều tra ô tiêu chuẩn ngoài thực địa:

* Phương pháp tính các chỉ tiêu định lượng rừng ngập mặn:

- Phương pháp tính tiết diện ngang:

g= tiết diện ngang thân cây

G = tổng tiết diện ngang (đơn vị tính mP

2 P

)/ô tiêu chuẩn hoặc/ha

Trang 33

hi là chiều cao cây thứ i N: tổng chiều cao trong ô tiêu chuẩn

) Hvn: Chiều cao vút ngọn lâm phần F: Hình số thân cây hoặc độ thon thân cây (đối với rừng tự nhiên các

loại chựa chọn hình số = 0,45

- Phương pháp đo DR 1.3 R(cm): Dùng thước đo vanh (thước thợ may) để đo chu

vi thân cây và chuyển sang đường kính thân cây (Quy đổi từ chu vi ra đường kính)

D = Cvi/ π

- Phương pháp đo chiều cao vút ngon thân cây: Phương pháp đo chiều cao vút ngọn cây rừng có nhiều thiết bị từ hiện đại đến thủ công như: Vertex, truphon,… Brumley, Sunto Tuy nhiên đối với rừng ngập mặn, chiều cao tán rừng thấp, khoảng cách cây gần Do vậy, để đảm bảo độ chính xác đến 10cm, nhóm nghiên cứu sử dụng thước gậy (dạng sào) có độ dài dưới 8m và chia thành từng centimét để xác định chính xác chiều cao tán rừng

c Phương pháp phân tích, đánh giá, dự báo

Phân tích những thông tin thu thập được để đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế và đề xuất các giải pháp liên quan đến đề tài luận văn

Phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và đất ngập nước nói riêng

Phân tích các yếu tố biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến đất ngập nước

Tổng hợp, phân tích, đánh giá nhận thức, ý thức trách nhiện của các cấp, nhân dân trong công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học cũng như việc kết nối thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước và nhân dân trong tỉnh

Trang 34

d Phương pháp đánh giá tổng hợp của mô hình DPSIR

Mô hình đánh giá tổng hợp DPSIR viết tắt của 5 từ: Động lực – Driving Forces (D), Áp lực – Pressure (P), Hiện trạng – State (S), Tác động – Impact (I), Đáp ứng – Response (R) do tổ chức Môi trường châu Âu (EEA) xây dựng năm

1999 Đây là mô hình nhận thức dùng để xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả, nguyên nhân gây ra các vấn đề môi trường, hậu quả

của chúng và các biện pháp ứng phó cần thiết

Cấu trúc của mô hình DPSIR bao gồm các thông số, chỉ thị về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu, căn cứ vào đặc điểm, bản chất các thông số này được chia thành 05 hợp phần (Hình dưới)

Các động lực chi phối đặc điểm, chất lượng môi trường vùng gồm: đặc trưng địa hình, khí hậu, thủy văn và các hoạt động sản xuất chính, phát triển kinh tế xã

hội: nông nghiệp, ngư nghiệp, du lịch

Thông số thể hiện áp lực là thông tin định tính, định lượng chất lượng môi trường, cường độ các áp lực sẽ làm thay đổi đáng kể đến các hệ sinh thái vốn có

Thông số thể hiện các biện pháp ứng phó với các hậu quả môi trường và xã hội

Cấu trúc của mô hình DPSIR được mô tả trong Hình dưới :

Trang 35

Chiều thuận Chiều phản hồi

Hình 2 Sơ đồ mô hình DPSIR

DRIVING (Động lực)

PRESSURE

RESPONSE (Đáp ứng)

IMPACT (Tác động)

Trang 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm các hệ sinh thái khu vực đất ngập nước Đồng Rui – Tiên Yên 3.1.1 Hệ sinh thái cửa sông Ba Chẽ - Tiên Yên

Thành phần loài sinh vật cửa sông khá đa dạng về nguồn gốc, gồm những loài nước lợ, nước mặn và nước ngọt thích nghi với nồng độ muối thấp, song tuyệt đại đa số

có nguồn gốc từ khu hệ sinh vật biển Ngoài chúng ra, trong vùng còn gặp một số loài nước ngọt và nhiều loài nước mặn rộng muối di nhập vào kiếm ăn và sinh sản

Thực vật nổi

Trong HST cửa sông Ba Chẽ và Tiên Yên ghi nhận được 31 loài thực vật nổi (Phytoplankton) Nhóm tảo thuộc ngành tảo Silic thường chiếm ưu thế về số loài với 23 loài như những đại diện thuộc các chi Surirella, Navicula, Chaetoceros, Melosira,v.v lần lượt có các đỉnh cao phát triển về số lượng, nhiều khi còn xảy ra hiện tượng nở hoa của nước và nạn thủy triều đỏ [19,20,26,31]

Trong HST này còn ghi nhận được 3 loài rong biển di cư vào và phân bố với

phần giáp với HST bãi triều là Rong lông cứng liên phái - Cladophora coelothrix, Rong lông cứng lọn - Cladophora glomerata và Rong lông mi - Calothrix crustacea

Động vật nổi

Động vật nổi phát triển kém hơn so với Thực vật nổi, ghi nhận được trong

HST này có 74 loài Trong đó, chủ yếu là Copepoda (chiếm 28 loài) các nhóm còn

lại có số lượng loài ít hơn với các đại diện Malacostraca, Branchiopoda,

[20,29,31]

Động vật đáy

Ghi nhận có 29 loài trong HST cửa sông, có 14 loài thuộc ngành chân khớp Arhtropoda chủ yếu là các loài Tôm trong đó 07 loài có giá trị kinh tế, ngành thân mềm Mollusca có 10 loài trong đó có 07 loài có giá trị kinh tế, Ngành Giun đốt Annelida có 5 loài trong đó loài Rươi – Tylorhynchus heterochaetus có giá trị kinh

tế cho khai thác [20,31]

Trang 37

Động vật đáy tập trung chính vào nhóm ăn lọc, ăn bùn, ít di động (giun nhiều

tơ, thân mềm, giáp xác sống đáy ) và đông nhất là giáp xác( tôm, cua)

Côn trùng

Xác định được 23 loài côn trùng phân bố trong HST này trong đó bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) có 10 loài, bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 5 loài, bộ Cánh nửa (Hemiptera) có 2 loài, bộ Cánh giống (Homoptera) có 1 loài, bộ Cánh thẳng (Orthoptera) có 2 loài, bộ Hai Cánh (Diptera) có 2 loài [41,47]

Bộ Cánh màng (Hymenoptera), bộ Chuồn chuồn (Odonata), bộ Bọ ngựa (Mantodea), bộ Gián (Blattoptera), bộ Cánh đều (Isoptera) đều không ghi nhận

được loài nào trong HST này

độ sẽ nguy cấp (VU) và cá Mòi cờ hoa - Clupanodonthrissa ở cấp độ nguy cấp (EN)

[37,38]

Lưỡng cư, Bò sát

Xác nhận được 27 loài động vật trong đó có 8 loài lưỡng cư và 19 loài bò sát phân bố tại HST này Nguồn gen quý hiếm có giá trị bảo tổn được ghi nhận trong HST này là các loài Rồng đất - Physignathus cocincinus, Tắc kè - Gekko gecko và Rắn sọc dưa - Coelognathus radiatus đều ở cấp độ sẽ nguy cấp (VU) (sách đỏ Việt

Nam, 2007) [20,31]

Chim

Kết quả nghiên cứu, khảo sát khu hệ chim của khu vực ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên đã ghi nhận trong HST cửa sông có 140 loài chim Có 2 loài có tên trong

danh lục đỏ của IUCN (2016) là Cò mỏ thìa- Platalea minor cấp độ nguy cấp

(EN)và Cò lạo ấn độ- Mycteria leucocephala cấp độ ít bị đe dọa (NT); 4 loài có tên

Trang 38

trong sách đỏ Việt Nam là Cốc đế - Phalacrocorax carbo sinensis, Cò mỏ thìa - Platalea minor cấp độ nguy cấp (EN) và Cò lạo Ấn Độ - Mycteria leucocephala,

Bói cá lớn - Ceyx lugubriscấp độ sẽ nguy cấp (VU) [20,31]

- 5 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam: Cầy mực - Arctictis binturong cấp độ nguy cấp (EN); Dơi lá Tô ma - Rhinolophus thomasi, Rái cá vuốt bé - Aonyx cinerea,

Rái cá thường - Lutra lutra, Sóc đen - Ratufa bicolor cấp độ sẽ nguy cấp (VU) [20,31]

3.1.2 Hệ sinh thái bãi triều

a Đặc điểm sinh cảnh của HST bãi triều

* Các loại bãi triều

Ở vùng ĐNN Đồng Rui có 2 loại bãi triều chính: bãi triều cát và bãi triều bùn

b Các đặc trưng của quần xã sinh vật

Hệ sinh thái bãi triều có diện tích khá lớn tại khu vực ĐNN Đồng Rui- Tiên Yên Đây là hệ sinh thái có tiềm năng nuôi trồng thủy sản cao của vùng

Thực vật nổi và rong biển [29]

Ghi nhận được 131 loài trong tổng số 195 loài thực vật nổi của khu vực ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên

Nhóm loài chiếm ưu thế trong các chi Bacteriastrum,Coscinodiscus, Rhizosolenia, Chaetoceros, Navicula, Nitzschia,

Khu hệ rong biển của HST bãi triều chứa toàn bộ khu hệ Rong biển của khu vực ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên với 21 loài ghi nhận được Số lượng loài rong biển được phát hiện tương đối thấp so với khu hệ rong biển Việt Nam (được trình bày chi tiết trong hiện trạng đa dạng sinh học vùng ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên)

Thực vật có mạch [19,20,26,31]

Trang 39

Thể nền của HST bãi triều chưa ổn định, chịu tác động lớn của thủy chiều nên chỉ có rải rác các loài cây tiên phong là những loài ngập mặn thực thụ với các đại diện

như: Sú - Aegiceras corniculatum (L.) Blanco, Mắm biển - Avicenniamarina (Forsk.) Veirh, Trang - Kandeliaobovata Sheue Liu & Yong, Đâng - RhizophorastylosaGriff,… Bên cạnh đó ở vùng bãi triều này ghi nhận được 2 loài cỏ Xoan thuộc chi Halophila spp.Hệ sinh thái này là nơi ghi nhận được 13 loài thực vật

Trong 13 loài ghi nhận được có 12 loài ít bị lo ngại (LC) cần theo dõi để có

kế hoạch bảo vệ khi số lượng cá thể của loài ngoài tự nhiên bị đe dọa (IUCN, 2016)

Trong khu hệ động vật đáy thuộc HST bãi triều, các loài thường gặp có giá

kinh tế cao, được dân địa phương thường xuyên khai thác gồm sò (Arca), ngao (Meretrix), vẹm (Mytilus), hàu (Ostrea), phi (Sanguinolaria), ngán (Cyclina), vạng (Mactra), don (Glaucomya), dắt (Aloidis), tu hài (Lutraria), ốc đĩa (Nerita),… và đã

ghi nhận được 30 loài có giá trị kinh tế

Côn trùng [41,47]

Ghi nhận được 12 loài trong đó 7 loài bộ Cánh nửa (Hemiptera), 4 loài thuộc

bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) và 1 loài thuộc bộ Chuồn chuồn (Odonata) là Orthetrum sabina

Trang 40

-nguy cấp (VU) và cá Mòi cờ hoa -Clupanodonthrissa ở cấp độ -nguy cấp (EN)

Lưỡng cư, Bò sát

Xác nhận được 11 loài bò sát phân bố tại HST bãi triều [12,20,31]

Nguồn gen quý hiếm có giá trị bảo tổn được ghi nhận trong HST này là Tắc

kè -Gekko gecko ở cấp độ sẽ nguy cấp (VU) (sách đỏ Việt Nam, 2007)

Chim

Kết quả nghiên cứu khu hệ chim của khu vực ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên đã ghi nhận trong HST bãi triều có 99 loài chim được quan sát, phỏng vấn và thu thập

mẫu tại HST này [12,20,31] Trong số 99 loài chim có ở HST này có 2 loài có tên

trong danh lục đỏ của IUCN (2016) là 2 loài có tên trong danh lục đỏ của IUCN (2016) là Cò mỏ thìa -Platalea minor cấp độ nguy cấp (EN)và Cò lạo ấn độ - Mycteria leucocephala cấp độ ít bị đe dọa (NT); theo sách đỏ Việt Nam (2007) có

Cò mỏ thìa -Platalea minor cấp độ nguy cấp (EN) và Cò lạo Ấn Độ -Mycteria leucocephala ở cấp độ sẽ nguy cấp (VU)

Thú

HST bãi triều thuộc khu vực ĐNN Đồng Rui là sinh cảnh sống và khu vực

kiếm mồi của 12 loài thú [12,20,31] Trong số 12 loài thú có ở HST bãi triều có:

- 2 loài có tên trong danh lục đỏ của IUCN (2016): Rái cá vuốt bé - Aonyx cinerea cấp độ sẽ nguy cấp (VU); Rái cá thường -Lutra lutra cấp độ ít bị đe dọa (NT)

- 5 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam: Rái cá vuốt bé - Aonyx cinerea, Rái

cá thường -Lutra lutra cấp độ sẽ nguy cấp (VU)

3.1.3 Hệ sinh thái rừng ngập mặn

RNM ở khu vực ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên phân bố khắp vùng rìa trong đê

và ngoài đê Qua quan sát trực tiếp, vùng trong đê có thảm rừng với độ cao và độ dày kém hơn vùng ngoài ngoài đê Các loài thực vật ngập mặn ưu thế tại đây gồm trang, đâng, vẹt dù, sú, mắm

Các đặc trưng của quần xã thực vật ngập mặn:

Các kết quả nghiên cứu đã xác định trong RNM khu ĐNN Đồng Rui - Tiên Yên có tính đa dạng cao về thực vật nổi, động vật nổi, động vật đáy và côn trùng,

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w