1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chu trình mưa ngày đêm và sự biến đổi của nó trên khu vực tây nguyên

76 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với tháng I,II,III và IV mức độ lệch chuẩn có xu hướng tăng lên trong khoảng từ 5-10mm, độ lệch chuẩn lớn nhất xảy ra tại Pleiku và Kon Tum là 20mm, độ lệch chuẩn lớn thường tập trun

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Họ và tên: Nguyễn Văn Huấn

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

CHU TRÌNH MƯA NGÀY ĐÊM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NÓ

TRÊN KHU VỰC TÂY NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Họ và tên: Nguyễn Văn Huấn

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

CHU TRÌNH MƯA NGÀY ĐÊM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NÓ

TRÊN KHU VỰC TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành: Khí tượng và Khí hậu học

Mã số: 8440222.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 3

thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội và toàn thể quí Thầy, Cô đã giảng dạy, giúp đỡ trong thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ viên chức Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Nguyên, Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia và các đồng nghiệp đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn

Do thời gian nghiên cứu chưa nhiều, trình độ và kinh nghiệm thực tiễn còn có phần hạn chế nên luận văn chắc chắn không tránh được thiếu sót, vì vậy kính mong quí Thầy, Cô giáo, đồng nghiệp đóng góp ý kiến để kết quả nghiên cứu được hoàn thiện hơn./

Hà Nội, tháng 3 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Văn Huấn

Trang 4

TÓM TẮT

Phân tích đánh giá diễn biến chu trình ngày của mưa theo không gian, thời gian có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dự báo thời tiết Luận văn này tập trung nghiên cứu sự biến đổi ngày đêm của lượng mưa theo các mùa trong năm, nhằm xác định rõ hơn quy luật mưa trên khu vực Tây Nguyên Khu vực nghiên cứu được phân thành các vùng điều kiện địa lý khác nhau, số liệu được sử dụng trong luận văn là các chuỗi số liệu mưa giờ từ năm 1980-2017 Phương pháp nghiên cứu áp dụng trong luận văn là phương pháp thống kê khí hậu Kết quả nhận được cho thấy phân

bố mưa theo thời gian trong năm có sự khác biệt khá rõ theo các vùng địa lý, khu vực phía Bắc, vùng trung tâm và phía Nam Tây Nguyên lượng mưa lớn nhất trong năm tập trung vào tháng 8, tháng 9; trong khi các tỉnh thuộc phía Đông Tây Nguyên đỉnh mưa năm lại lùi về tháng 10, tháng 11 Diễn biến mưa trong ngày ở khu vực phía Bắc và phía Đông thể hiện mưa tập trung nhiều vào khoảng từ 15-19 giờ, cao nhất vào 17 giờ trong ngày; vùng Nam Tây Nguyên mưa sớm hơn so với những vùng khác, cao nhất vào thời điểm 15 giờ trong ngày, từ sau 23 giờ đến 10 giờ sáng

là thời điểm có lượng mưa thấp trong ngày trên toàn khu vực Tây Nguyên

ABTRACT

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 3 KếT QUả VÀ THảO LUậN 2

TỔNG QUAN 3

1.T ÌNH HÌNH NGHIÊN CứU TRÊN THế GIớI VÀ TRONG NƯớC 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước ……… ……… 7

CHƯƠNG 1: SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2.1 N GUồN Số LIệU 8

2.2 P HƯƠNG PHÁP Xử LÝ , TÍNH TOÁN 9

2.2.1 Xử lý số liệu 9

2.2.2 Phương pháp tính toán 9

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13

3.1 Đ ặC ĐIểM CHế Độ MƯA ở T ÂY N GUYÊN 13

3.1.1 Vùng Bắc Tây Nguyên 13

3.1.2 Vùng Đông Tây Nguyên 13

3.1.2 Vùng giữa Tây Nguyên 13

3.1.3 Vùng Nam Tây Nguyên 14

3.2 C HU TRÌNH NGÀY ĐÊM CủA LƯợNG MƯA TRUNG BÌNH GIờ , LƯợNG MƯA GIờ LớN NHấT VÀ Độ LệCH CHUẩN TRÊN KHU VựC T ÂY N GUYÊN 15

3.2.1 Khu vực phía bắc Tây Nguyên 15

3.2.2 Khu vực Đông Tây Nguyên 24

3.2.3 Khu vực giữa Tây Nguyên……… 33

3.2.4 Khu vực Nam Tây Nguyên 42

3.3 T ầN SUấT XUấT HIệN MƯA VÀO CÁC GIờ TRONG NGÀY 51

3.3.1 Khu vực phía Bắc Tây Nguyên 51

Trang 6

3.3.3 Khu vực giữa Tây Nguyên 54

3.3.4 Khu vực Nam Tây Nguyên 56

3.4 T ầN SUấT BắT ĐầU MƯA , KếT THÚC VÀ CƯờNG Độ MƯA 58

3.4.1 Tần suất giờ bắt đầu, kết thúc mưa 58

3.4.2 Tần suất cường độ mưa giờ 61

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 677

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC HÌNH Hình 3.1: Biến trình mưa trung bình giờ mùa khô khu vực phía Bắc Tây Nguyên 17 Hình 3.2: Độ lệch chuẩn mưa giờ mùa khô khu vực Bắc Tây Nguyên……….… 17 Hình 3.3: Lượng mưa lớn nhất giờ trong mùa khô khu vực Bắc Tây Nguyên 18 Hình 3.4: Biến trình mưa trung bình giờ mùa mưa khu vực phía Bắc Tây Nguyên ….20 Hình 3.5 Độ lệch chuẩn mưa giờ mùa mưa khu vực Bắc Tây Nguyên………… 21 Hình 3.6 Lượng mưa giờ lớn nhất khu vực Bắc Tây Nguyên……… 22 Hình 3.7 Biểu đồ lượng mưa giờ trung bình giờ nhiều năm khu vực Bắc Tây Nguyên ….23 Hình 3.8 Biểu đồ độ lệch chuẩn lớn nhất và trung bình khu vực Bắc Tây Nguyên 23 Hình 3.9 Biến trình mưa trung bình giờ mùa khô khu vực Đông Tây Nguyên……….25 Hình 3.10 Độ lệch chuẩn mưa giờ mùa khô khu vực Đông Tây Nguyên…………26 Hình 3.11 Lượng mưa lớn nhất giờ trong mùa khô khu vực Đông Tây Nguyên… 27 Hình 3.12 Biến trình mưa trung bình giờ mùa mưa khu vực Đông Tây Nguyên…… 28 Hình 3.13 Độ lệch chuẩn mưa giờ mùa mưa khu vực Đông Tây Nguyên……… 30 Hình 3.14 Lượng mưa giờ lớn nhất mùa mưa khu vực Đông Tây Nguyên……… 31 Hình 3.15 Biểu đồ lượng mưa giờ trung bình giờ nhiều năm khu vực Đông Tây Nguyên…….31 Hình 3.16 Biểu đồ độ lệch chuẩn lớn nhất và trung bình khu vực Đông Tây Nguyên………32 Hình 3.17 Lượng mưa giờ lớn nhất khu vực Đông Tây Nguyên……… 32 Hình 3.18 Lượng mưa giờ trung bình mùa khô khu vực giữa Tây Nguyên……….34 Hình 3.19 Độ lệch chuẩn mưa giờ mùa khô khu vực giữa Tây Nguyên………… 35 Hình 3.20 Lượng mưa lớn nhất giờ trong mùa khô khu vực giữa Tây Nguyên… 36 Hình 3.21 Biến trình mưa trung bình giờ mùa mưa khu vực giữa Tây Nguyên……….37 Hình 3.22 Độ lệch chuẩn mưa giờ mùa mưa khu vực giữa Tây Nguyên………….39 Hình 3.23 Lượng mưa giờ lớn nhất mùa mưa khu vực giữa Tây Nguyên…………40 Hình 3.24 Biểu đồ lượng mưa giờ trung bình giờ khu vực giữa Tây Nguyên… 40 Hình 3.25 Biểu đồ độ lệch chuẩn lớn nhất khu vực giữa Tây Nguyên……….41

Trang 9

Hình 3.26 Lượng mưa giờ lớn nhất khu vực giữa Tây Nguyên………41 Hình 3.27 Lượng mưa giờ trung bình mùa khô khu vực Nam Tây Nguyên… 42 Hình 3.28 Độ lệch chuẩn mưa giờ mùa khô khu vực Nam Tây Nguyên………… 44 Hình 3.29 Lượng mưa giờ lớn nhất trong mùa khô khu vực Nam Tây Nguyên… 45 Hình 3.30 Biến trình mưa trung bình giờ mùa mưa khu vực Nam Tây Nguyên… 46 Hình 3.31 Độ lệch chuẩn mưa giờ mùa mưa khu vực Nam Tây Nguyên……… 47 Hình 3.32 Lượng mưa giờ lớn nhất mùa mưa khu vực Nam Tây Nguyên…… ….48 Hình 3.33 Lượng mưa trung bình giờ nhiều năm khu vực Nam Tây Nguyên….….49 Hình 3.34 Biểu đồ độ lệch chuẩn lớn nhất khu vực Nam Tây Nguyên……… 50 Hình 3.35 Lượng mưa giờ lớn nhất khu vực Nam Tây Nguyên……… …….50 Hình 3.36 Tần suất có mưa tại các giờ trong ngày các trạm Bắc Tây nguyên…….53 Hình 3.37 Tần suất có mưa tại các giờ trong ngày các trạm Đông Tây nguyên… 54 Hình 3.38 Tần suất có mưa tại các giờ trong ngày các trạm giữa Tây nguyên…….56 Hình 3.39 Tần suất có mưa tại các giờ trong ngày các trạm Nam Tây nguyên… 57 Hình 3.40 Tần suất thời gian bắt đầu, kết thúc mưa………… ……… 60 Hình 3.41 Tần suất bắt đầu có mưa giờ trên cả khu vực Tây Nguyên ……… ….60 Hình 3.42 Tần suất cường độ mưa trong một giờ tại khu vực Tây Nguyên…….…63

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Danh sách trạm và độ dài chuỗi số liệu……….…… 8 Bảng 3.1 Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm và tỉ trọng ……… 14 Bảng 3.2 Bảng tần suất cường độ mưa giờ %……… …….64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết

Mưa là một trong những yếu tố khí tượng có tính bất đồng nhất và biến động lớn theo không gian và thời gian Sự hình thành mưa phụ thuộc phức tạp vào nhiều quá trình khác nhau như các hình thế thời tiết, độ ổn định khí quyển, đặc điểm địa

lý, điều kiện địa hình của địa phương Hiểu biết đầy đủ về quy luật biến thiên theo không gian và thời gian của mưa sẽ góp phần nâng cao chất lượng các bản tin dự báo

Biến trình hay chu trình mưa ngày đêm là một trong những đặc trưng mưa hiện đang được nhiều nhà khoa học quan tâm, nhất là ở các vùng nhiệt đới Chu trình mưa ngày đêm là một trong những dạng dao động nổi bật nhất của khí hậu trên các vùng nhiệt đới Việc hiểu làm rõ được biên độ và pha của chu trình ngày đêm của mưa rất quan trọng đối với mô hình hoá khí hậu khu vực vì nó liên quan đến các quá trình hình thành mây cũng như vai trò của các nguồn bức xạ, nguồn nước Ngoài ra, thông tin về quy luật biến đổi mưa như thời điểm mưa, cường độ mưa trong ngày có thể là những thông tin hữu ích để hiểu được bản chất của các quá trình hình thành mưa, qua đó cung cấp thông tin cho công tác dự báo thời tiết nghiệp vụ

Nghiên cứu, phân tích và đánh giá chu trình mưa ngày đêm và sự biến đổi mùa của nó ở Việt Nam nói chung, khu vực Tây Nguyên nói riêng, vì vậy là rất quan trọng và cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn

ra hết sức phức tạp, khó lường như hiện nay

Tây nguyên là một trong 7 vùng khí hậu Việt Nam có hai mùa tương phản rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến hết tháng 10 hoặc đầu tháng 11 Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về mưa ở Tây Nguyên nhưng hầu như chưa có công trình nào đề cập đến chu trình ngày của mưa ở đây Cùng với tầm quan trọng đối với khoa học, việc hiểu biết

và nắm được quy luật của chu trình mưa ở đây còn có ý nghĩa phục vụ thực tiễn, đặc biệt đây là nơi trồng và xuất khẩu cà phê, hồ tiêu nổi tiếng của thế giới

Trang 11

2 Mục tiêu của đề tài

- Chỉ ra được sự phân hoá theo không gian và sự biến đổi của chu trình mưa ngày đêm ở Tây Nguyên

- Xác định được sự biến đổi mùa của chu trình mưa ngày đêm ở Tây Nguyên

3 Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở công cụ thống kê, các đặc trưng về mưa nói chung và chu trình mưa nói riêng trên khu vực Tây Nguyên sẽ được xử lý, tính toán, phân tích

5 Cấu trúc luận văn

Nội dung của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, được bố cục thành 3 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Số liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả và thảo luận

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Bài toán nghiên cứu biến trình ngày đêm của mưa đã được nhiều tác giả trên thế giới đề cập, đặc biệt trong những năm gần đây Sau đây là một số công trình tiêu biểu:

Guixing Chan, và cộng sự (2008), đã sử dụng số liệu vệ tinh kết hợp với các

mô hình để nghiên cứu sự biến đổi theo không gian của chu trình mưa ngày đêm và mùa của lượng mưa trên khu vực đông nam Trung Quốc (SEC) Kết quả cho thấy phân bố không gian của các chu trình ngày đêm đối với SEC có tính dao động mùa mạnh và có sự khác biệt rõ ràng giữa các khu vực Biên độ dao động ngày đêm của lượng mưa khá nhỏ vào mùa xuân nhưng đầu mùa hè biên độ dao động này lớn hơn nhiều so với mùa xuân Trong khu vực SEC lượng mưa buổi sáng chiếm phần lớn tổng lượng mưa trong ngày, đặc biệt là các thung lũng, vùng đồng bằng và các khu vực xa bờ Nghiên cứu chỉ ra tần suất xuất hiện mưa cao vào buổi sáng ở miền Tây SEC Nhưng phía Đông SEC lượng mưa buổi sáng tương đương với lượng mưa buổi chiều Ngược lại, phân bố không gian của các chu trình ngày đêm của lượng mưa vào mùa hè chủ yếu phụ thuộc vào địa hình Buổi sáng (chiều) mưa chủ yếu xảy ra ở các vùng thung lũng, lưu vực sông và đại dương Lượng mưa đạt cực đại vào buổi chiều trở thành đặc điểm nổi bật ở miền Nam Trung Quốc Về mùa hè mưa xảy ra rải rác vào buổi sáng ở miền Trung Trung Quốc, điều này có thể liên quan đến sự dịch chuyển về phía bắc của dải mưa mùa hè

Theo Tianjun Zhou (2009), lượng mưa trong mùa hè phía Đông Trung Quốc

có biến trình ngày rõ rệt Mưa đạt cực đại vào nửa đêm ở phía đông cao nguyên Tây Tạng và giữa phía trên thung lũng sông Dương Tử là rất rõ Phía Nam đất liền Trung Quốc và phía Đông Bắc Trung Quốc có lượng mưa đạt lớn nhất vào chiều muộn Chu trình ngày đêm của lượng mưa mùa hè tại khu vực Trung Đông Trung Quốc giữa sông Dương Tử và thung lũng sông Hoàng Hà được đặc trưng bởi hai

Trang 13

đỉnh có thể so sánh được, một là vào buổi sáng sớm, một vào cuối chiều Các pha ngày đêm của giáng thuỷ mùa hè phía Đông Trung Quốc được xác định cụ thể bởi thời gian của các trận mưa Những trận mưa kéo dài trong 1-3 giờ thường thể hiện cực đại xung quanh chiều tối, trong khi những trận mưa kéo dài hơn 6 giờ thường xảy ra trong thời gian từ giữa đêm đến trưa và đạt cực đại lúc gần sáng sớm Trong khi biến đổi theo mùa của pha ngày đêm là nhỏ ở phía Tây nam Trung Quốc, đỉnh mưa ở miền Đông nam Trung Quốc dịch chuyển rõ rệt từ chiều muộn trong mùa nóng sang sáng sớm trong mùa lạnh, thể hiện sự biến đổi mạnh mẽ theo mùa Khả năng phát triển mây khác nhau trên hai khu vực có thể là nguyên nhân đóng góp vào

sự khác biệt

Keiko Yamamoto (2007, 2008) đã phân tích chu trình ngày của phản hồi vô tuyến (PHVT) ra đa của khu vực phía Bắc Thái Lan và phía Bắc Lào bằng việc sử dụng số liệu ra-đa thời tiết Viên Chăn (từ năm 2007) Thời kỳ phân tích là 5 tháng

từ tháng 4 năm 2008 đến tháng 8 năm 2008 và sản phẩm CAPPI 3 km được tạo ra liên tục 7.5 phút một với bán kính 270 km Kết quả cho thấy, vào tháng 4, thời điểm trước khi gió mùa hoạt động, PHVT trung bình tháng của khu vực đạt cực đại xung quanh 17 giờ Mặt khác, cực đại dao động xung quanh 1 giờ vào tháng 7, tháng mà biến trình ngày thể hiện rất rõ Hệ thống mây đối lưu thì di chuyển từ Tây Nam đến Đông Bắc

Nghiên cứu của Gang Zhang, và cộng sự (2015) đã cung cấp sự hiểu biết tốt hơn về chu kỳ ngày đêm của lượng mưa mùa nóng (tháng 6 đến tháng 9) trên khu vực Tây Phi Lượng mưa từ hệ thống quan trắc lượng mưa vùng nhiệt đới và các trường khí quyển từ mô hình động lực trên các vùng được sử dụng để đánh giá giai đoạn 1998-2013 và phân tích cho năm 2006 Trong cả hai trường hợp nghiên cứu, hầu hết các vùng của Tây Phi đều có duy nhất lượng mưa đạt đỉnh vào buổi chiều hoặc ban đêm Trung bình ở Tây Phi chu kỳ ngày đêm có hai đỉnh, nhưng loại chu trình ngày đêm này lại không điển hình trên quy mô không gian nhỏ hơn Hệ thống mưa thường được tạo ra vào buổi chiều và lan truyền về phía Tây, kéo dài vào ban

Trang 14

gây mưa và nói chung không ổn định ở địa phương Lượng mưa đêm xuất hiện thường xuyên nhất khoảng kinh độ 3-100 kinh vùng hạ lưu các khu vực có đỉnh điểm mưa vào buổi chiều Lượng mưa trong chu kỳ ngày đêm có liên chặt chẽ với thời gian của các trận mưa lớn

Scott Curtis (2004) đã mô tả sự biến đổi chu trình ngày đêm trong mùa hè ở miền Nam Mexico, Trung Mĩ và các đại dương lân cận Ông đã sử dụng bộ dữ liệu

vệ tinh về gió để nghiên cứu yếu tố địa hình tác động đến chu trình mưa Tác giả xác định rằng lượng mưa tăng vào buổi tối trên mặt đất trong khi lượng mưa cực đại

ở bờ biển Thái Bình Dương là ban ngày

Tanaka và cộng sự (2013) đã nghiên cứu sự biến đổi ngày đêm của lượng mưa tại bốn trạm trong và xung quanh Manaus (03°S, 60°W) bằng cách sử dụng của nghiên cứu này với dữ liệu mưa giờ từ 2006 đến 2011, với phương pháp tính toán số liệu của Tanaka và cộng sự (2013) là: Dữ liệu mưa được xử lý chi tiết theo giờ (HP) thu được tại bốn trạm quanh khu vực Manaus trong giai đoạn 2006-2011

để phân tích Chuỗi số liệu trong 6 năm nghiên cứu gồm có có 6 × 365 × 24 giờ Năm nhuận số liệu ngày 29 tháng 2 không được đưa vào để tính toán, hay nói cách khác là không dùng số liệu ngày 29-2 để tính trong nghiên cứu này

Như vậy nếu cho P (i, j, k) là lượng mưa theo giờ thứ i của ngày thứ j của năm thứ k HP trung bình cho giờ thứ I dược đưa ra bởi công thức sau:

Trong đó J và K là số ngày và số năm Tần số mưa (FP), số lượng trận mưa, giờ thứ I của ngày đưa ra:

Trong đó C(i, j, k) = 1 if P(i, j, k) ≥ 1 mm Sự kiện mưa C(I,j,k)=0

Trang 15

Tổng trong phương trình 1 và 2 thường quá số ngày trong năm (365) và số năm dữ liệu (là 6) Nếu trong một ngày cụ thể hoặc trong một tháng cụ thể dữ liệu

bị thiếu, thì không được được tính Tương tự, trung bình cho một tháng cụ thể trong năm có thể được xác định Điều quan trọng cần nhớ là một sự kiện mưa được xác định là C (i, j, k) = 1 chỉ khi tỷ lệ mưa lớn hơn hoặc bằng 1 mm/h

Nghiên cứu chỉ ra các biến thiên mưa trong quy mô lớn cũng như quy mô nhỏ rất quan trọng đối với sự thay đổi lượng mưa trong lưu vực Gió mậu dịch ổn định mang lại độ ẩm cho lục địa Nam Mỹ từ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương Chu kỳ theo mùa trong vận chuyển độ ẩm xác định mùa mưa và ít mưa (hoặc mùa khô) Đối lưu có tổ chức và quy mô nhỏ là nguyên nhân cho các trận mưa trong lưu vực sông Amazon Các hiệu ứng địa phương như gió brizơ sông điều khiển chu kỳ ngày đêm của các trạm gần sông hơn

Nghiên cứu chỉ ra sự biến đổi lượng mưa tại bốn trạm trong và xung quanh Manaus ở trung tâm lưu vực sông Amazon được nghiên cứu với các quan trắc hàng giờ trong khoảng thời gian 6 năm cho phép phân tích hợp lý để tìm ra sự khác biệt giữa mùa mưa và mùa khô, cũng như sự khác biệt giữa rừng và khu đô thị Tần suất các trận mưa của trạm rừng và trạm đô thị khác nhau, chủ yếu là do độ ẩm cao hơn trong rừng do thoát hơi nước Lượng mưa ban ngày thường xuyên hơn lượng mưa vào ban đêm Các trạm rừng có lượng mưa thường xuyên hơn các trạm thành phố

Số giờ mưa phổ biến tại các trạm rừng (12 – 16h địa phương) khác với các trạm thành phố (10 – 14h địa phương) nằm gần các con sông hơn

Lượng mưa mùa mưa chiếm 80% lượng mưa hàng năm, phù hợp với tần suất mưa lớn hơn trong mùa này Hiệu ứng gió brizơ sông - đất liền rất quan trọng đối với tần suất lớn hơn của các trận mưa vào buổi sáng tại các trạm gần các con sông

Sự thay đổi hoàn toàn của các trận mưa cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các trạm rừng và đô thị Sự thoát hơi nước của thảm thực vật giữ cho độ ẩm cao giúp lượng mưa thường xuyên hơn và cao hơn trên rừng Ngay cả ở một khu vực rừng nhiệt đới

có lượng mưa cao hơn, tần suất lớn nhất của các sự kiện là cường độ mưa thấp và

Trang 16

trong nghiên cứu này có giá trị liên quan chặt chẽ đối với khu vực Manaus Mặc dù khả năng áp dụng kết quả đối với lưu vực sông Amazon lớn hơn còn hạn chế, nên

đề cập rằng các thành phố dọc theo sông Amazon như Santar cũng có sự tương phản giữa rừng, thành phố và sông nơi kết quả có thể được sử dụng

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nước đã có những nghiên cứu bước đầu về hoàn lưu, cơ chế, biến động mùa mưa ở Việt Nam Nguyễn Đức Ngữ (2007) đã nghiên cứu tác động của ENSO đến thời tiết, khí hậu, môi trường kinh tế xã hội ở Việt Nam Nghiên cứu đã tính toán và chỉ ra các đợt Elnino, LaNina và tác động của nó đến một số yếu tố khí tượng thủy văn như nhiệt độ, lượng mưa, hoạt động của bão… cho một khu vực cụ thể ở Việt Nam

Ngô Đức Thành và Phan Văn Tân (2012) đã sử dụng phương pháp kiểm nghiệm phi tham số Mann Kendall và phương pháp ước lượng xu thế của Sen để đánh giá xu thế biến đổi của 7 yếu tố khí tượng cho giai đoạn 1961-2007 Kết quả cho thấy lượng mưa giảm ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và tăng ở phía Nam [3]

Vũ Thanh Hằng và các cộng sự (2009) đã sử dụng số liệu lượng mưa ngày tại các trạm quan trắc ở bảy vùng khí hậu Việt Nam thời kỳ từ năm 1961 đến 2007

để xác định xu thế biến đổi của lượng mưa ngày cực đại Kết quả phân tích cho thấy, trong thời kỳ từ năm 1961 đến 2007, hầu hết trên khắp cả nước đều thể hiện

xu thế tăng lên của lượng mưa ngày cực đại ngoại trừ vùng đồng bằng Bắc Bộ Đặc biệt tăng mạnh trong những năm gần đây Sự biến đổi đó cũng có những khác biệt giữa các thời đoạn, trong những thời đoạn ngắn xu thế tăng/giảm là không đồng nhất giữa các vùng khí hậu [1]

Nói chung, ở Việt nam chưa có công trình nghiên cứu nào đã công bố đề cập đến biến trình ngày đêm của mưa ngoại trừ một vài khóa luận tốt nghiệp đại học ngành khí tượng của sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Vì vậy có thể nói luận văn này là công trình đầu tiên ở Việt Nam đề cập đến vấn đề này

Trang 17

CHƯƠNG 2: SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nguồn số liệu

Số liệu được sử dụng trong luận văn là tập số liệu mưa giờ được khai thác từ

17 trạm khí tượng trên khu vực Tây Nguyên Danh sách trạm và thông tin về các chuỗi số liệu được trình bày trong bảng 2.1.Trong số 17 trạm có các trạm cấp 1 là: Pleiku, Buôn Mê Thuột, Đăk Nông, Đà Lạt, còn lại là các trạm cấp 2 (An Khê, AYunPa, Yaly, Đăk Tô, Kon Tum, Eahleo, Buôn Hồ, Lăk, Ma Đrăk, Đăk Min, Liên Khương là trạm cấp 2

Thiết bị đo lượng mưa giờ được đo giờ là Vũ lượng ký Xiphong (do Liên Xô sản xuất) và SL1 – SL3 do Trung Quốc sản xuất Độ chính xác của thiết bị đo 0.1mm Kết quả quan trắc là các giản đồ được thiết bị ghi lại theo thời gian Các trị

số ghi trên giản đồ được qui toán và đọc số liệu chính xác đến 0.1mm

Bảng 2.1 Danh sách trạm và độ dài chuỗi số liệu

TT Tên trạm Kinh độ Vĩ độ Thời gian quan trắc Tổng số năm

Trang 18

Một giờ (trong ngày) được xem là có mưa nếu lượng mưa đo được trong giờ

đó ít nhất bằng 0.1mm Những trường hợp không mưa hoặc có mưa nhưng lượng

mưa đo được dưới 0.1mm (thực tế là không đo được với độ chính xác của thiết bị)

thì lượng mưa được gán mưa bằng 0, coi như không có mưa Số liệu bị mất (không

thực hiện quan trắc) thì không được bổ khuyết Tóm lại kết quả tính toán trong luận văn đều dựa trên bộ số liệu có thực

2.2.2 Phương pháp tính toán

Các đặc trưng của mưa được xử lý theo từng giờ, từng ngày, từng tháng trong năm, nghĩa là các đặc trưng được xem là hàm của thời gian trong ngày, các tháng trong năm và tại các trạm

Các đặc trưng được tính toán gồm:

- Trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (Dx) của lượng mưa giờ tính cho

những trường hợp có mưa (tức là dung lượng mẫu là tổng số trường hợp có mưa

với lượng mưa đo được =>0.1mm)

- Lượng mưa giờ cực đại là trị số lớn nhất của chuỗi lượng mưa ứng với từng giờ, tháng, năm tại trạm

Trang 19

- Tần suất có mưa (tại giờ nào đó trong ngày) được xác định bằng tỉ số trường hợp có mưa trên tổng số trường hợp có số liệu quan trắc Đại lượng này đặc trưng cho xác suất xuất hiện mưa tại từng giờ trong ngày của các tháng và tại các trạm

- Tần suất thời điểm bắt đầu một trận mưa là tần suất mà tại thời điểm (giờ trong ngày) đó mưa bắt đầu xảy ra mà trước đó không có mưa

- Tần suất kết thúc một trận mưa là tần suất mà tại thời điểm đó mưa chấm dứt, (tức là giờ tiếp theo không có mưa)

- Vì trong quá trình xử lý các chuỗi số liệu được tách thành từng tháng được xem là một quan trắc nên “thời điểm bắt đầu mưa” sẽ không được tính cho giờ đầu tiên (1 giờ sáng), và “thời điểm kết thúc mưa” sẽ không được tính cho giờ cuối cùng của ngày (12 giờ đến) hay giờ thứ 24)

Các công thức tính toán các đặc trưng được trình bày như sau:

1 Trung bình mưa của giờ thứ t của tháng m tại trạm St được tính bởi:

Mean (St, m, t) = 1

𝑁 𝑦𝑟2 𝑁𝑑=1𝑑𝑎𝑦 𝑅(𝑆𝑡, 𝑦, 𝑚, 𝑡)

Trong đó: N= (yr2 –yr1 + 1) × Nday

yr1, yr2 là năm bắt đầu và kết thúc có từ số liệu

Nday số ngày trong tháng

Trang 20

3 Lượng mưa giờ lớn nhất của chuỗi lượng mưa ứng với từng giờ, tháng, năm tại trạm được tính bởi:

Max = Max (R(St, y, m, d, t)) (3)

Trong đó: R là lượng mưa giờ lớn nhất

St: Trạm cần tính lượng mưa giờ lớn nhất

Y: Năm; m: tháng; d: ngày; t: giờ

4 Tần suất mưa (Rreq) vào giờ thứ t trong ngày của tháng m của trạm St được tính bởi:

Rreq (St, m, t) = 𝑆ố 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 ℎợ𝑝 𝑐ó 𝑚ư𝑎 𝑅(St ,m ,t)≥0.1

𝑠ố 𝑛𝑔 à𝑦 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑡𝑟ắ𝑐 (4)

Trong đó: 𝑅 𝑆𝑡, 𝑚, 𝑡 ≥ 0.1

5 Tần suất bắt đầu các sự kiện mưa từng giờ trong ngày (bắt đầu có mưa)

Start : Tần suất thời điểm bắt đầu một trận mưa mưa là tần suất mà tại thời

điểm (giờ trong ngày) đó mưa bắt đầu xảy ra mà trước đó không có mưa

- Vì trong quá trình xử lý các chuỗi số liệu được tách thành từng tháng được xem là một quan trắc nên “thời điểm bắt đầu mưa” sẽ không được tính cho giờ đầu

tiên (1 giờ sáng), như vậy Start – Freg: được tính từ 2h đến 24h

Start (St, m, t) = 1

𝑁 𝑦𝑟2 𝑁𝑑=1𝑑𝑎𝑦 𝑆𝑡𝑎𝑟𝑡 𝑆𝑡, 𝑦, 𝑚, 𝑡 ∗ 100%

Lưu ý rằng thời gian bắt đầu có mưa một trận mưa được định nghĩa là ít nhất

có 2 giờ mưa liên tục có lượng nhỏ nhất ≥ 0.1

6 Tần suất kết thúc một sự kiện mưa từng giờ trong ngày được ký hiệu End

(kết thúc một trận mưa)

- Tần suất kết thúc một trận mưa là tần suất mà tại thời điểm đó mưa chấm dứt, (tức là giờ tiếp theo không có mưa)

Trang 21

- Vì trong quá trình xử lý các chuỗi số liệu được tách thành từng tháng được xem là một quan trắc nên “thời điểm kết thúc mưa” sẽ không được tính cho giờ cuối

cùng của ngày (giờ thứ 24), như vậy End – Freg: được tính từ 02 giờ 23 giờ

End (St, m, t) = 1

𝑁 𝑦𝑟2 𝑁𝑑=1𝑑𝑎𝑦 𝐸𝑛𝑑 𝑆𝑡, 𝑦, 𝑚, 𝑡 ∗ 100%

Thời gian được tính bắt đầu kết thúc một trận mưa được định nghĩa là ít nhất

có 2 giờ liên tục không có mưa

Trang 22

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm chế độ mưa ở Tây Nguyên

Trên cơ sở bộ quan trắc số liệu quan trắc mưa giờ từ 17 trạm của khu vực Tây Nguyên một số đặc trưng khí hậu đã được tính toán tổng hợp như trong bảng 3.1 từ đó có thể thấy lượng mưa năm trên khu vực Tây Nguyên là khá lớn, phổ biến

từ 1700- 3000mm Có thể nhận thấy rằng phân bố trên Tây Nguyên phân hóa thành

4 vùng khá rõ, sau đây sẽ được phân tích chi tiết hơn cho từng vùng

3.1.1 Vùng Bắc Tây Nguyên

Lượng mưa năm khu vực Bắc Tây Nguyên dao động từ 1793.0mm – 2310.6mm; Mùa mưa kéo dài 6 tháng có lượng ≥ 100mm (từ tháng V- X), các tháng mùa khô từ (XI- IV) năm sau; Tổng lượng mưa mùa mưa từ 1656.4mm - 12009.8mm, tỷ trọng lượng mưa mùa mưa chiếm 88.4% - 90.8%, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VIII lượng đạt 474.1mm, chiếm tỷ trọng 23% lượng mưa năm Tổng lượng mưa toàn mùa khô chỉ khoảng 213.8mm – 216.9mm, kéo dài trong 6 tháng, chiếm tỷ trọng từ 9.2-11.6% năm

3.1.2 Vùng Đông Tây Nguyên

Độ cao đi ̣a hình vùng cao nguyên có độ cao 750m trở lên đến 2000m Tổng lượng mưa năm phân bố không đều Mùa mưa kéo dài trong 7- 8 tháng bắt đầu từ khoảng tháng IV đến tháng XII, với tổng lượng mưa mùa mưa 1168.4- 1923.5mm, chiếm 90.4- 92.6% tỷ trọng lượng mưa năm Từ khoảng tháng I đến tháng III năm sau là các tháng mùa khô với tổng lượng mưa từ 106.6- 205.0mm, lượng mưa thấp chiếm 7.1- 9.6% tỷ trọng lượng mưa năm

3.1.2 Vùng giữa Tây Nguyên

Vùng khí hậu này chiếm phần lớn diện tích Tây Nguyên chủ yếu phần diện tích có độ cao địa hình < 750m và xen kẽ một ít khu vực núi cao > 750m Đặc trưng lượng mưa từ 1554.7- 1991.0mm, mùa mưa kéo dài trong 6 - 7 tháng bắt đầu từ khoảng tháng V đến tháng XI, với tổng lượng mưa mùa mưa 1405.0- 1846.3mm,

Trang 23

chiếm 86.7- 93.7% tỷ trọng lượng mưa năm Từ khoảng tháng X đến tháng IV năm sau là các tháng mùa khô với tổng lượng mưa từ 140.9- 156.7mm, lượng mưa thấp chiếm 7.3- 9.6% tỷ trọng lượng mưa năm

3.1.3 Vùng Nam Tây Nguyên

Bao gồm toàn bộ diện tích phía Nam Tây Nguyên, mùa mưa kéo dài trong 8-

9 tháng bắt đầu từ khoảng tháng III đến tháng XI, với tổng lượng mưa mùa mưa 1423.2- 2757.7mm, chiếm 88.2- 93.4% tỷ trọng lượng mưa năm Từ khoảng tháng XII đến tháng III năm sau là các tháng mùa khô với tổng lượng mưa từ 134.3- 189.8mm, lượng mưa thấp chiếm 6.1-11.8% tỷ trọng lượng mưa năm

Nhìn chung lượng mưa khu vực Tây Nguyên phân bố rất không đồng đều

giữa các khu vực và ngay trong một vùng nhỏ , lượng mưa cũng phụ thuộc chặt chẽ điều kiện đi ̣a lý ngoài ra còn theo đi ̣a hình Lượng mưa lớn thường tập trung ở các khu vực Đắk Nông, Bảo Lộc; lượng mưa thấp hơn thường tập trung phía Đông Tây Nguyên Tây Nguyên; Ayunpa, An Khê

Bảng 3.1 Tổng lƣợng mƣa trung bình nhiều năm và tỉ trọng

Tên trạm Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 Tổng

năm

Tỉ trọng

% mùa mưa

Trang 24

Từ Bảng 3.1 có thể thấy mùa mưa khu vực Tây Nguyên kéo dài phổ biến khoảng 6 tháng bắt đầu từ khoảng tháng V- X hàng năm ; thời gian còn lại từ XI đến IV năm sau là mùa khô Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm đi ̣a hình của mỗi vùng thì mùa mưa lại có những khác biệt đáng kể : Các khu vực núi thấp và thung lũng thấp (An khê, Ayunpa, Madrăk) mùa mưa kéo dài 7 tháng bắt đầu từ tháng V nhưng kết thúc chậm hơn một tháng khoảng tháng XII ; Vùng Tây Nam (Đăk Nông, Bảo Lộc) mùa mưa kéo dài 8, có khi đến 9 tháng bắt đầu sớm hơn ở cuối tháng III hoặc đầu tháng IV và kết thúc trong tháng X hoặc tháng XI

Thời gian mưa lớn tập trung chủ yếu trong các tháng từ VII - IX, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VIII Điều này phù hợp với sự phân bố mưa khu vực nửa phía Tây Cao Nguyên Những vùng thung lũng phía Đ ông thời kỳ mưa lớn đã

tháng IX- X hàng năm

Phân bố không gian của lượng mưa khu vực Tây Nguyên có sự phân hóa rất

rõ theo đi ̣a hình, sự khác biệt giữa phía Tây Trường Sơn và Đông Trường Sơn

3.2 Chu trình ngày đêm của lƣợng mƣa trung bình giờ, lƣợng mƣa giờ lớn nhất và độ lệch chuẩn trên khu vực Tây Nguyên

3.2.1 Khu vực phía Bắc Tây Nguyên

Khu vực phía Bắc Tây Nguyên gồm các trạm Đăk Tô, Kon Tum, Pleiku, Ialy Diễn biến theo mùa của lượng mưa trong khu vực phía Bắc Tây Nguyên, tiến hành tính toán biểu diễn sự biến đổi một ngày đêm Hình 3.1 cho thấy trong các tháng XI, XII lượng mưa trung bình giờ thường dưới 2mm và có biến thiên nhỏ của lượng mưa trung bình giữa các giờ có lượng mưa Điều này chỉ ra rằng các trận mưa hầu như có cùng cường độ vào tất cả các giờ trong ngày Tuy nhiên cần quan tâm vào 8 giờ đối với trạm Yaly nếu có mưa thì có lượng mưa lớn hơn các trạm khác với lượng mưa khoảng 3.5-5mm/giờ Ngoài ra các trận mưa vào cuối giờ chiều trong các tháng I, II, III và IV luôn có xu hướng mạnh hơn Lượng mưa lớn nhất tập trung vào lúc 17 giờ, nửa đêm và sáng sớm với biến thiên từ 5 – 15mm, sau thời

Trang 25

gian 19 giờ đến 14 giờ hôm sau lượng mưa trung bình giờ rất nhỏ dưới 1mm Trạm Ialy, gần hồ hơn so với tất cả các trạm khác, có lượng mưa giờ trung bình lớn hơn trong thời gian đêm muộn và sáng sớm (24-2giờ) so với ba trạm khác Sự khác biệt giữa các biến đổi một ngày đêm tại trạm Ialy có thể quy cho một phần là do trạm gần hồ thủy điện

Như vậy lượng mưa tập trung nhiều nhất trong khoảng 15-19 giờ, nói chung các giờ ban ngày 6-14 giờ, ban đêm 19-5 giờ lượng mưa ít hơn Mưa xảy ra vào khoảng thời gian từ sau 19giờ -13 giờ hôm sau là thấp nhất, lượng mưa cao nhất vào khoảng 17-18 giờ

Điều cần quan tâm ở đây là vào các giờ chiều tối lúc 19 giờ, nửa đêm 23-24 giờ và đầu giờ sáng trong các tháng I,II,III nếu có mưa cường độ mưa thường có lượng mưa khá lớn ở tất cả các trạm

Trang 26

Hình 3.1 Biến trình mƣa trung bình giờ mùa khô khu vực phía Bắc Tây Nguyên

Hình 3.2 Độ lệch chuẩn mƣa giờ mùa khô khu vực Bắc Tây Nguyên

Trang 27

Từ Hình 3.2 có thể thấy độ lệch chuẩn lượng mưa từng giờ trong ngày đối với các tháng trong mùa khô là có sự chênh lệch, tuy nhiên mức độ lệch chuẩn là không đáng kể, độ lệch chuẩn trong các tháng XI, XII là rất nhỏ, mức độ lệch chuẩn chủ yếu chỉ dưới 5mm, lớn nhất cũng chỉ là 7mm Đối với tháng I,II,III và IV mức

độ lệch chuẩn có xu hướng tăng lên trong khoảng từ 5-10mm, độ lệch chuẩn lớn nhất xảy ra tại Pleiku và Kon Tum là 20mm, độ lệch chuẩn lớn thường tập trung và tăng dần trong khoảng thời gian từ 15 đến 18 giờ, các giờ còn lại độ lệch chuẩn hầu như không đáng kể

Hình 3.3 Lƣợng mƣa lớn nhất giờ trong mùa khô khu vực Bắc Tây Nguyên

Trang 28

Từ Hình 3.3 có thể thấy lượng mưa giờ lớn nhất ở tháng XI, XII tại các giờ

có sự chênh lệch không lớn, lượng mưa lớn nhất giờ tập trung dao động trong khoảng 5mm đến 10mm là chủ yếu, lượng mưa lớn nhất trong tất cả các giờ cũng chỉ đạt 25mm tại trạm Đăk Tô, và Pleiku là 20mm, các tháng I, II từ 20 giờ đêm hôm trước đến 14 giờ hôm sau thường không có mưa, nếu có lượng mưa lớn nhất

đo được cũng chỉ dưới 5mm, thời gian còn lại lượng mưa lớn nhất dao động trong khoảng 20 đến 35mm và thường tập trung từ 17 đến 18 giờ trong ngày Trong tháng III, IV lượng mưa lớn nhất giờ có thể xảy ra bất cứ giờ nào trong ngày nhưng có sự chênh lệch lượng mưa cực đại giữa các giờ, lượng mưa lớn nhất thường tập trung vào 17 đến 18 giờ có lượng cao nhất từ khoảng 65 đến 75mm, sau đó lượng mưa cao nhất có xu hướng giảm dần dao động từ 30 – 50mm Như vậy có thể thấy lượng mưa giờ các tháng trong mùa khô đặc biệt trong tháng III, IV là khá lớn và cần nói thêm rằng lượng mưa lớn nhất thường xảy ra trong khoảng thời gian cuối giờ chiều (15h-18h)

Trang 29

Hình 3.4 Biến trình mƣa trung bình giờ mùa mƣa khu vực phía Bắc Tây Nguyên

Hình 3.4 cho thấy trong các tháng V đến tháng X lượng mưa giờ có cường

độ trung bình lớn nhất dưới 3mm/giờ và có biến thiên nhỏ giữa các giờ Điều này chỉ ra rằng các trận mưa hầu như có cùng cường độ vào tất cả các giờ trong ngày Tuy nhiên, các trận mưa vào cuối giờ chiều trong các tháng có xu hướng mạnh hơn Lượng mưa lớn thường tập trung trong khoảng thời gian từ 14 đến 19 giờ có lượng trung bình khoảng từ 2 - 3 mm/giờ, sau thời gian từ 19 giờ đến 10 giờ hôm sau lượng mưa trung bình chỉ từ 1.0 - 2.0 mm/giờ Lượng mưa lớn nhất vào lúc 16-17giờ với lượng mưa trung bình giờ 3.0 - 4.0mm/giờ, có thể thấy các giờ ban ngày 6-13 giờ, ban đêm 19-5 giờ lượng mưa ít hơn so với các giờ còn lại Mưa xảy ra vào khoảng thời gian từ 9giờ -10 giờ là thấp nhất, lượng mưa cao nhất vào khoảng 16-

17 giờ Sự khác biệt giữa biến đổi một ngày đêm về lượng mưa tại trạm Ialy là trạm

có lượng mưa trung bình giờ lớn hơn vào các giờ, đặc biệt có lượng mưa lớn hơn vào các giờ sáng sớm, buổi chiều và nửa đêm, đây có thể quy cho một phần là do trạm gần hồ thủy điện

Như vậy có thể nói lượng mưa tập trung nhiều nhất trong khoảng 15-18giờ, nói trung các giờ ban ngày 6-14 giờ lượng mưa ít hơn, ngoài ra một số nơi mưa tập trung vào nửa đêm và sáng, mưa xảy ra vào khoảng thời gian từ 9-10 giờ là thấp nhất, lượng mưa cao nhất vào khoảng 16-17 giờ

Trang 30

Hình 3.5 Độ lệch chuẩn mƣa giờ mùa mƣa khu vực Bắc Tây Nguyên

Từ Hình 3.5 có thể thấy độ lệch chuẩn lượng mưa từng giờ trong ngày đối với các tháng trong mùa mưa là có sự chênh lệch, tuy nhiên mức độ lệch chuẩn là không đáng kể, độ lệch chuẩn trong các tháng là rất nhỏ, mức độ lệch chuẩn giờ chỉ dưới 5mm, lớn nhất cũng chỉ là 11mm, độ lệch chuẩn lớn thường tập trung và tăng dần trong khoảng thời gian từ 15 đến 19 giờ có độ lệch chuẩn khoảng 4-6mm, cá biệt có trạm Ialy độ lệch chuẩn trong các giờ đêm muộn, sáng sớm và buổi trưa có

Trang 31

độ lệch chuẩn lớn hơn so với các trạm khác và sau 19 giờ đến 14 giờ độ lệch chuẩn không đáng kể khoảng 2-4mm

Hình 3.6 Lƣợng mƣa giờ lớn nhất khu vực Bắc Tây Nguyên

Từ Hình 3.6 có thể thấy lượng mưa giờ lớn nhất từ tháng V đến tháng X tại các giờ có sự chênh lệch không lớn, lượng mưa lớn nhất giờ tập trung dao động trong khoảng 20mm đến 30mm là chủ yếu, lượng mưa lớn nhất trong tất cả các giờ dao động từ 60 - 90mm, thời gian có lượng mưa lớn nhất thường tập trung từ 15 đến

Trang 32

19 giờ trong ngày Tuy nhiên cũng còn một vài trường hợp lượng mưa lớn nhất có lượng tương đối cao cũng có thể xảy ra bất cứ giờ nào trong ngày với lượng dao động trong khoảng 40-60mm, cá biệt trạm Ialy thường có lượng mưa lớn thường xảy ra vào đêm muộn và sáng sớm trong các tháng mùa mưa Điều này có thể qui cho sự khác biệt này có thể do trạm gần hồ thủy điện

Như vậy có thể thấy lượng mưa lớn giờ lớn nhất các tháng trong mùa mưa là khá lớn có thể xảy ra bất cứ giờ nào trong ngày, tuy nhiên, lượng mưa cực trị lớn nhất thường xảy ra trong khoảng thời gian chiều muộn (17giờ-19giờ)

Hinh 3.7 Biểu đồ lƣợng mƣa giờ trung bình giờ nhiều năm khu vực Bắc Tây Nguyên

Hình 3.8 Biểu đồ độ lệch chuẩn lớn nhất và trung bình khu vực Bắc Tây Nguyên

Trang 33

Từ kết quả phân tích ở trên và Hình 3.7, H3.8 có thể mô tả chu trình ngày đêm của lượng mưa trung bình giờ, lượng mưa lớn nhất và độ lệch chuẩn trên khu vực Bắc Tây Nguyên là khu vực có lượng mưa chủ yếu tập trung trong các tháng mùa mưa, các tháng mùa khô hầu như không có mưa ở tất cả các giờ trong ngày, lượng mưa trung bình giờ trên toàn khu vực chỉ dao động từ 1.5 đến 4.5mm/ giờ, giờ cao điểm có mưa với lượng mưa lớn thường xảy ra từ 15 đến 19 giờ với lượng mưa từ 2.5 đến 4.5mm/giờ, lượng mưa cực đại thường xuất hiện lúc 17 giờ Độ lệch chuẩn lượng mưa từng giờ có sự chênh lệch, tuy nhiên mức độ lệch chuẩn là không đáng kể, độ lệch chuẩn trung bình trong khu vực thường dưới 5mm và lớn nhất khoảng 20mm/giờ, thường xuất hiện tập trung vào các giờ buổi chiều Với lượng mưa giờ cực đại ở các tháng lại khá lớn, đặc biệt trong các tháng mùa khô có giá trị

từ 50-60mm/giờ vào tháng bắt đầu mùa mưa khoảng 70-90mm Thời gian có lượng mưa đạt cực đại thường xảy ra vào khoảng thời gian 17giờ hằng ngày

3.2.2 Khu vực Đông Tây Nguyên

Khu vực phía Đông Tây Nguyên gồm các trạm 04 trạm An Khê, Ayunpa,

Madrăk và Eakmat Diễn biến theo mùa của lượng mưa trong khu vực phía Đông

Tây Nguyên, tiến hành tính toán biểu diễn sự biến đổi một ngày đêm Hình 3.9 cho thấy trong các tháng XI, XII, I, lượng mưa giờ có cường độ trung bình dao động từ 0.5mm đến 2mm/giờ, có biến thiên nhỏ của lượng mưa trung bình giữa các giờ có lượng mưa Điều này chỉ ra rằng các trận mưa hầu như có cùng cường độ vào tất cả các giờ có mưa, trong tháng I lượng mưa vào các giờ chiều và nửa đêm tại các trạm Ayunpa, Eakmat có lượng mưa lớn hơn hai trạm Madrăk và An Khê Trong các tháng II,III và IV có biến thiên nhỏ của lượng mưa trung bình giữa các giờ, lượng mưa tăng dần tập trung trong khoảng thời gian từ 14 đến 19 giờ sau đó lượng mưa giảm ở hầu hết các giờ với lượng mưa nhỏ hơn 2mm/giờ, cá biệt với trạm Eakmat

có lượng mưa khá lớn từ 10-14mm trong khoảng thời gian nửa đêm, sáng sớm và buổi trưa Sự khác biệt này có thể qui cho trạm được đặt trong một môi trường có nhiều cây công nghiệp

Trang 34

Hình 3.9 Biến trình mƣa trung bình giờ mùa khô khu vực phía Đông Tây Nguyên

Trang 35

Hình 3.10 Độ lệch chuẩn mƣa giờ mùa khô khu vực Đông Tây Nguyên

Từ Hình 3.10 có thể thấy độ lệch chuẩn lượng mưa từng giờ trong ngày đối với các tháng trong mùa khô là có sự chênh lệch giữa các trạm và giữa các giờ, tuy nhiên mức độ lệch chuẩn trong các giờ là không lớn, mức độ lệch chuẩn trong các tháng XI, XII,I là rất nhỏ chỉ dưới 5mm, duy chỉ có trạm Mađrăk độ lệch chuẩn khá lớn 15-25mm vào thời gian sáng sớm, giữa trưa và chiều muộn Đối với tháng II,III

và IV độ lệch chuẩn lớn thường tập trung và tăng dần trong khoảng thời gian từ 13 đến 19 giờ độ lệch chuẩn dao động từ 5-10mm/giờ, tập trung cao nhất vào lúc 18-

Trang 36

Hình 3.11 Lƣợng mƣa lớn nhất giờ trong mùa khô khu vực Đông Tây Nguyên

Từ Hình 3.11 có thể thấy lượng mưa giờ lớn nhất ở tháng XI, XII tại các trạm có sự chênh lệch đáng kể, lượng mưa lớn nhất tại các trạm An Khê, Madrăk, Eakmat khá lớn từ 80-140mm, lượng mưa lớn nhất thường tập trung vào các giờ sáng sớm, giữa trưa và chiều muộn, các giờ còn lại lượng mưa lớn nhất dao động trong khoảng 10mm đến 20mm là chủ yếu, tuy nhiên lượng mưa lớn nhất trong tất

cả các giờ có lượng mưa khá đều, tức là có sự biến động không nhiều ở tất cả các giờ đặc biệt trong tháng I lượng mưa lớn nhất trong các giờ chỉ dưới 10mm Các tháng II,III và IV lượng mưa giờ lớn nhất có thể xảy ra bất cứ giờ nào trong ngày,

Trang 37

lượng mưa lớn nhất có xu hướng tăng dần từ 13 giờ đến 19 giờ, lượng mưa lớn nhất thường tập trung vào 17 đến 18 giờ có lượng cao nhất từ khoảng 50 đến 80mm, sau

19 giờ đến 22 giờ lượng mưa có xu hướng giảm dần dao động từ 20 – 50mm, những giờ tiếp theo lượng mưa lớn nhất dưới 10mm Như vậy có thể thấy lượng mưa giờ các tháng trong mùa khô đặc biệt trong tháng III, IV là khá lớn và cần nói thêm rằng lượng mưa lớn nhất thường xảy ra trong khoảng thời gian cuối giờ chiều (17h-18h), trong khoảng thời gian 22 giờ đến 14 giờ hôm sau lượng mưa lớn nhất giờ khá nhỏ,

cá biệt trạm Eakmat lượng mưa lớn có thể xảy ra vào sáng sớm và buổi trưa

Trang 38

Hình 3.12 cho thấy trong các tháng mùa mưa từ tháng V đến tháng X lượng mưa giờ có trung bình có giá trị lớn nhất dưới 8mm/giờ và có biến thiên giữa các giờ Điều này chỉ ra rằng các trận mưa có cường độ thay đổi vào tất cả các giờ trong ngày, các trận mưa từ 13 giờ đến 17 giờ trong các tháng có xu hướng mạnh hơn Lượng mưa thường tập trung trong khoảng thời gian từ 13 đến 19 giờ có lượng trung bình khoảng từ 3 - 5 mm/giờ, lượng mưa lớn nhất vào lúc 16 đến 17 giờ và lượng mưa nhỏ nhất lúc 6-7 giờ, biến thiên của lượng mưa giảm dần từ 22 giờ đến 13giờ hôm sau lượng mưa trung bình chỉ từ 1.0mm - 2.0mm/giờ Tuy nhiên có sự khác nhau về giờ có lượng mưa tập trung lớn nhất giữa các trạm trong các tháng, như Trạm Eakmat lượng mưa tập trung nhiều nhất vào lúc 9 giờ tháng V với lượng 7.5mm/ giờ và lượng mưa trong các giờ thường lớn hơn so với các trạm Như vậy

có thể có sự khác biệt là có lượng mưa lớn nhất tập trung vào các giờ khác nhau trong ngày, do đó có thể qui cho yếu tố địa hình, tích chất mặt đệm có thể đã gây nên sự khác biệt này

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm