1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường THPT trần hưng đạo, quận thanh xuân, thành phố hà nội

110 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG Số thứ tự bảng Tên bảng Bảng 1 Số phiếu hợp lệ trên tổng số học sinh theo lớp và khối Bảng 2.1 Thời gian tự học các môn học Bảng 2.2 Dành thời gian cho môn học phân theo g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa

Hà Nội – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Luận văn “Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội” là công trình nghiên

cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa –Giảng viên Khoa Xã hội học, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Phát triển công tác xã hội (Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội) Các tài liệu sử dụng tham khảo, trích dẫn trong Luận văn đều đảm bảo rõ nguồn, trung thực Các kết quả nghiên cứu được công bố trong Luận văn là hoàn toàn chính xác, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước

Tôi xin cam đoan điều này là đúng sự thật Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Đỗ Xuân Hòa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Luận văn Xã hội học nghiên cứu về “Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội” là nền tảng quan trọng giúp học viên cao học có cơ hội dược thực hành, vận

dụng các lý thuyết ngành được tham gia học ở trường trong nghiên cứu thực tế Mặc

dù không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, song tôi hy vọng rằng công trình này sẽ cung cấp các thông tin cơ bản nhất, phản ánh được phần nào những định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay Tôi cũng mong rằng nghiên cứu sẽ đem lại những kết quả hữu ích trong thực tiễn

Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa và các thầy cô của Khoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, đặc biệt là giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Nhà giáo, thầy Vũ Đình Hà- Hiệu trưởng và tập thể Hội đồng sư phạm nhà trường, các cán bộ, các em học sinh trường THPT Trần Hưng Đạo, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và các bạn trong tập thể lớp Cao học Khóa 2017 – Xã hội học đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tuy đã có nhiều cố gắng, nỗ lực nhưng do bản thân còn chưa có nhiều kinh nghiệm, kiến thức còn hạn chế nên luận văn này không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Đỗ Xuân Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan nghiên cứu 7

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14

3.1 Ý nghĩa khoa học 14

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 14

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4.1 Mục tiêu nghiên cứu 14

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 14

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 15

5.1 Đối tượng nghiên cứu 15

5.2 Khách thể nghiên cứu 15

5.3 Phạm vi nghiên cứu 15

6 Câu hỏi nghiên cứu 15

7 Giả thuyết nghiên cứu 15

8 Phương pháp nghiên cứu 16

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1

1.1 Hệ khái niệm công cụ 1

1.1.1 Khái niệm định hướng, nghề nghiệp, định hướng nghề nghiệp 1

1.1.2 Khái niệm cha mẹ (phụ huynh), học sinh Trung học phổ thông 2

1.2 Lý thuyết liên quan 2

1.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 2

1.2.2 Lý thuyết xã hội hóa 2

1.3 Tổng quan địa bàn 2

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH 2

2.1 Tiếp cận của học sinh trong vấn đề học tập, hướng nghiệp 2

Trang 6

2.2 Mong muốn của học sinh và mức độ tìm hiểu trường/khối ngành học 4

Chương 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH 7

3.1 Yếu tố gia đình 7

3.2 Yếu tố nhà trường 7

3.3 Yếu tố năng lực cá nhân 8

3.4 Yếu tố xã hội 8

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu Nguyên nghĩa

2 Trường ĐHKHXH&NV Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Số thứ tự bảng Tên bảng

Bảng 1 Số phiếu hợp lệ trên tổng số học sinh theo lớp và khối

Bảng 2.1 Thời gian tự học các môn học

Bảng 2.2 Dành thời gian cho môn học phân theo giới tính học sinh Bảng 2.3 Mức độ thảo luận/trò chuyện trên lớp

Bảng 2.4 Tự đánh giá chung về khả năng tiếp thu

Bảng 2.5 Chọn học thêm môn học theo giới tính học sinh

Bảng 2.6 Tự cho điểm mức đánh giá đối với các ý kiến về vấn đề học

tập, hướng nghiệp Bảng 2.7 Dự định sau khi tốt nghiệp

Bảng 2.8 Mong muốn làm ở tỉnh/thành phố

Bảng 2.9 Mức độ tìm hiểu trường/khối ngành học

Bảng 2.10 Cảm giác khi tự tìm hiểu

Bảng 3.1 Gợi ý khối ngành học của bố mẹ phân theo giới tính học sinh Bảng 3.2 Cảm nhận về gợi ý khối ngành học của bố mẹ

Bảng 3.3 Tiếp tục lắng nghe ý kiến của bố mẹ

Bảng 3.4 Cảm nhận về gợi ý khối ngành học của bạn bè

Bảng 3.5 Kênh thông tin từ phía nhà trường

Bảng 3.6 Nội dung trao đổi theo kênh nhà trường

Bảng 3.7 Mong muốn làm ở các công ty tư nhân, tổ chức phi chính phủ

theo kết quả học tập Bảng 3.8 Động lực thúc đẩy chọn trường học và khối ngành học bạn

muốn Bảng 3.9 Dự định tìm hiểu thông tin khối ngành/trường học qua các

kênh

Trang 9

DANH MỤC BIỂU

Số thứ tự biểu Tên biểu

Biểu 1 Tỷ lệ Mẫu học sinh theo các khối lớp 12

Biểu 2.1 Dành thời gian cho các môn học

Biểu 2.2 Dành thời gian cho các môn năng khiếu

Biểu 2.3 Nội dung liên quan vấn đề học tập, hướng nghiệp mà các

học sinh thảo luận, trò chuyện Biểu 2.4 Tham gia học thêm các môn

Biểu 2.5 Mong muốn về khối ngành học của bản thân

Biểu 2.6 Mong muốn về công việc tương lai

Biểu 2.7 Mong muốn làm ở nơi thuộc bộ phận

Biểu 2.8 Đã tìm hiểu về trường học/khối ngành học định đăng ký Biểu 2.9 Quan tâm các nội dung trong vấn đề học tập, hướng

nghiệp Biểu 3.1 Khối ngành học mà bố mẹ gợi ý

Biểu 3.2 Gợi ý khối ngành học, ngành học của bạn bè với nhau Biểu 3.3 Các yếu tố tác động nghề nghiệp ổn định

Biểu 3.4 Các kênh tìm hiểu trường/khối ngành học

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Học sinh là thế hệ tiếp bước lực lượng nòng cốt trong lao động, và phát triển kinh tế-xã hội Một đất nước muốn có sự kế thừa truyền thống ông cha, muốn phát triển trong tương lai thì có sự đóng góp của học sinh Học sinh có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước và đặc biệt tự khẳng định được vị thế bản thân đối với khu vực và trên thế giới qua các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, thể thao, văn hóa, tay nghề,…

Ngoài việc giáo dục của nhà trường, gia đình là nhóm xã hội là cái nôi nuôi dưỡng, dạy dỗ các em nên người, dần dần định hình tính cách, tư duy tiến dần đến chinh phục các bậc học cao hơn Định hướng nghề nghiệp có vai trò quan trọng là tiền đề để hình thành định hướng, con đường tới vị trí công việc của cá nhân, dần dần chinh phục lý tưởng sống, lý tưởng cống hiến của cá nhân trong xã hội Nỗ lực học tập của học sinh trong cuộc sống là điều quan trọng nhưng định hướng nghề của học sinh mở sang trang mới trong cuộc đời người công dân trẻ, bước đến bậc cửa của tầng kiến thức cao hơn so với hệ thống giáo dục quốc dân 12 năm Sự chuyển tiếp giữa các tầng kiến thức, giữa THPT và Đại học, Cao đẳng, trường nghề luôn có những định hướng nền tảng ban đầu của mỗi người học sinh

Sự điều chỉnh, điều tiết nhân lực và nền kinh tế chủ đạo tập trung vào một số nhóm ngành nghề tác động đến sự cân nhắc, tính toán cũng như nguyện vọng mong muốn của học sinh Học sinh có sự đam mê, yêu thích trong lựa chọn ngành nghề mình mong muốn đồng thời cũng mang những dấu hiệu, đặc điểm từ sự ảnh hưởng của chính bối cảnh kinh tế xã hội Từ đó dẫn đến các lựa chọn, phương hướng, tương quan giữa học sinh, gia đình và nhà trường trong vấn đề chọn ngành học, trường học, nghề nghiệp

Trường THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân thuộc phường Thanh Xuân Nam, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Đây là một trong các trường công lập lớn của

Hà Nội, đồng thời là trường công lập đầu tiên của quận Thanh Xuân Từ những ngày đầu thành lập (1993-1994), nhà trường có 13 lớp của bậc học THPT và 3 lớp 6

Trang 11

của bậc THCS đến năm 1998-1999 chỉ đào tạo duy nhất một bậc THPT với số lượng học sinh đông đảo và bề dày lịch sử phát triển lâu dài Trong những năm gần đây, nhà trường đã có 36 phòng học khang trang và các phòng chức năng, được trang bị các thiết bị hiện đại phục vụ cho nhu cầu học tập và dạy học của thầy trò trường THPT Trần Hưng Đạo- Thanh Xuân Học sinh học tại trường hiện nay không chỉ đến từ các phường trong khu vực Quận Thanh Xuân mà còn ở các phường thuộc các quận Hoàn Kiếm, Nam Từ Liêm, Cầu Giấy, Đống Đa, Ba Đình… Trên thực tế, học sinh không chỉ gặp khó khăn trong xác định thế mạnh của bản thân mà còn ở việc định hướng con đường đi của bản thân Câu hỏi lựa chọn nghề nghiệp của học sinh hình thành trên sự hiểu biết mơ hồ, thông qua góp ý của người thân, bạn bè, tin tức truyền thông, dư luận xã hội,…

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Định hướng nghề nghiệp của

học sinh khối 12 Trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội” nhằm mô tả định hướng nghề nghiệp của học sinh đồng thời tìm hiểu, phân

tích những yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân

2 Tổng quan nghiên cứu

Hiện nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về giáo dục và định hướng học tập, nghề nghiệp cho con cái trong các gia đình từ đô thị đến nông thôn,

có thể kể đến

Tiếp cận về tìm hiểu mong muốn, dự định của các bậc cha mẹ trong định hướng bậc học và nghề nghiệp của con cái, tìm hiểu các đặc trưng cơ bản của các bậc cha mẹ, trên cơ sở kết quả nghiên cứu rút ra kết luận và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao nhận thức cho các bậc phụ huynh cũng như bản thân các bạn trẻ trong lựa

chọn nghề nghiệp qua đề tài “Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng bậc học,

nghề của con cái trong các gia đình đô thị hiện nay” năm 2001 của tác giả Nguyễn

Thị Phương Dung, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tác giả tiến hành khảo sát các hộ dân tại Phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo cơ cấu giới tính nam (53.6%), và nữ giới (46.4%), theo cơ cấu tuổi là các bậc cha mẹ từ 39-68

Trang 12

tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các bậc cha mẹ đều định hướng cho con học đến đại học và muốn con mình vào các ngành nghề trong khu vực kinh tế nhà nước như sư phạm, kỹ sư hay quản trị kinh doanh Trong định hướng bậc học và nghề nghiệp, không có sự khác biệt giữa con trai và con gái [4, tr.35]

Quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Ngọc, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn hướng đến chứng minh giả thuyết nhận thức của học sinh dân tộc nội trú ở Bắc

Giang chưa đầy đủ, chưa sâu sắc về nghề qua đề tài “Nhận thức nghề và lựa chọn

nghề của học sinh THPT dân tộc nội trú tỉnh Bắc Giang” năm 2008 cho thấy các

em học sinh còn rất phân vân, khó khăn khi lựa chọn nghề có nhiều nguyên nhân khác nhau song một trong những nguyên nân cơ bản là do công tác hướng nghiệp của trường học chưa được quan tâm đúng mức Tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, điều tra viết, phỏng vấn sâu, quan sát và phát ra 300 phiếu bảng hỏi Tác giả hướng đến phân tích các khái niệm nghề, nhận thức nghề, chọn nghề, hướng nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nhận thức nghề và chọn nghề của học sinh THPT dân tộc nội trú ở Bắc Giang chủ yếu chịu tác động của thị trường (chiếm 13.7%), sự phát triển của nghề (chiếm 19.7%) và đặc điểm tâm lý học sinh (chiếm 6.6%) [17, tr 75]

Kết quả nghiên cứu từ đề tài “Xu hướng chọn nghề nghiệp của học sinh cuối

cấp trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông tỉnh Bình Dương hiện nay”

của tác giả Huỳnh Văn Sơn đăng trên tạp chí Khoa học Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2011, cho thấy có hơn 90% học sinh tiếp tục thi vào Đại học và Cao đẳng hoặc trung học chuyên nghiệp [20, tr 128] Ngoài ra 51,4% học sinh cho rằng việc hướng nghiệp nên được giáo dục ở giai đoạn cuối cấp THCS

là thiết thực và đáng được quan tâm Điều này phản ánh xu thế quan điểm vào thời điểm này “Đại học và cao đẳng như con đường duy nhất vào đời” [20, tr 130] Tiếp cận tương tác và tiếp cận đường đời của gia đình cho thấy có sự tương đồng và bất tương đồng của các nhóm học sinh trong lộ trình học hành, hai con đường này không phải lúc nào cũng đi đôi và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh

học tập qua đề tài “Định hướng giáo dục cho con trong các gia đình nông thôn hiện

Trang 13

nay (nghiên cứu tại xã Tam Sơn, thị xã T Sơn, tỉnh Bắc Ninh)” của tác giả Nguyễn

Thị Minh Phương tại Học viện Khoa học xã hội năm 2014 cho thấy chính sự biến

cố nào đó bất chợt từ hai lộ trình này đều có tác động đến học tập và cuộc sống của học sinh Trẻ học càng giỏi thì nhận được sự tin tưởng của cha mẹ, những đứa trẻ học k m có thể bị xem là không thể học được và không được cha mẹ ủng hộ Cha

mẹ lấy hình ảnh lao động của bản thân để chỉ ra sự vất vả nhưng còn hàm nghĩa về tình thương để con cái học hành [19, tr 112]

Sự chuyển đổi lao động việc làm ở làng xã có tác động đến định hướng giáo dục của cha mẹ với con tại xã Tam Sơn, Bắc Ninh thể hiện sự phân tách giữa nam

và nữ trong tham gia lao động nghề mới của làng- nghề mộc Nam giới làm chủ, kiểm soát quy trình kỹ thuật sản xuất, và quản lý công việc làm ăn Nữ giới làm việc các công đoạn ít đòi hỏi kỹ thuật cao Xu hướng phi nông nghiệp tập trung ở nam giới nhiều hơn so với nữ giới Vì vậy nếu các cô con gái không học lên cao thì có thể vẫn tiếp tục nghề nông nghiệp như cách “an toàn tối thiểu” của văn hóa cộng đồng làng xã Học sinh tin rằng việc đi học là con dường để tiến tới cuộc sống an nhàn hơn lao động vất vả làm ruộng tại quê hoặc nghề mộc Và sản xuất nghề mộc không chỉ là công việc đem lại thu nhập còn là đường hướng lâu dài nếu con trai lớn lên không có việc làm nào khác [19, tr 150]

Tác giả Nguyễn Văn Đạt trong “Định hướng giá trị của sinh viên hiện nay

(Nghiên cứu Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội)” năm 2014 đã đề cập đến các khái niệm liên quan giá trị, định

hướng giá trị, sinh viên và trình bày hướng tiếp cận của tác giả đối với định hướng giá trị của sinh viên Tác giả sử dụng lý thuyết hành động xã hội, sự lựa chọn duy lý của Geogre Homans và xã hội hóa nhằm giải thích hành động định hướng giá trị của sinh viên trong học tập, cuộc sống, tình yêu, hôn nhân gia đình Định hướng giá trị của sinh viên được tác giả thao tác hướng đến mục đích và thái độ của sinh viên trong các phương diện mà tác giả nghiên cứu Về phương pháp, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và phương pháp bảng hỏi (trong đó phát 400 phiếu bảng hỏi, phân đều 200 phiếu cho trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân

Trang 14

văn, và trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội) Một phần kết quả nghiên cứu với phương diện học tập cho thấy 100% sinh viên có xu hướng mong muốn sự thành đạt, 45% sinh viên cho rằng tự bản thân quyết định lựa chọn nghề, và 62% sinh viên trả lời mong muốn làm ở trong Nhà nước [6, tr 43]

Khảo sát số liệu của tác giả Lê Thị Quỳnh Nga qua bài viết “Nhận thức về lựa

chọn nghề nghiệp của học sinh THPT” đăng trên tạp chí Khoa học Giáo dục số 106,

tháng 7 năm 2014 cho biết hiểu biết của học sinh về các ngành không đều, trung bình mỗi học sinh biết được 8,79 ngành, nghề mà học sinh biết nhiều nhất là giáo viên, bác sĩ, công an, bộ đội, luật sư, kinh doanh, ca sĩ, diễn viên, và chủ yếu nằm ở các nghề quen thuộc, không biết nhiều các nghề khác Số liệu cho thấy hiểu biết của học sinh tập trung vào các nghề quen thuộc làm nhận thức về nghề bị thu hẹp, học sinh hiểu rõ nhu cầu xã hội chiếm 18,29%, hiểu về dư luận xã hội chiếm 22,56%, xu hướng phát triển nghề chiếm 28,05% Học sinh hiểu rõ yêu cầu của nghề và khả năng đáp ứng nghề của bản thân (lần lượt là 20,12% và 15,85%) và không chắc chắn bản thân có đáp ứng được với yêu cầu của nghề hay không Lý do chọn nghề

là do sự phù hợp của bản thân chiếm 4,9%, xã hội đánh giá cao chiếm 12,8% và thu nhập cao chiếm 19,5% Bên cạnh đó số liệu cho biết lời khuyên nghề nghiệp từ phía giáo viên chiếm 16,5% [16, tr 14]

Tiếp cận ở khía cạnh ý nghĩa của chọn nghề, tác giả Trương Thị Hoa chứng minh học sinh nhận thức được và coi trọng nghề vì nghĩa của nghề đối với bản thân

trong tương lai qua “Năng lực chọn nghề của học sinh THPT” đăng trên tạp chí

Khoa học Giáo dục số 107, tháng 8/2014 Số liệu cho thấy học sinh kể tên được một

số trường học quen thuộc và điểm chuẩn trong năm vừa qua nhưng lại không nắm được thông tin về trường, ưu điểm, yêu cầu, sứ mệnh Ít em học sinh trả lời được đầy đủ, học sinh hiểu đơn giản về nghề Có sự khác biệt trong sự đánh giá của học sinh khu vực nội đô và ngoại thành, học sinh nội thành thì chủ động và tích cực hơn

so với các học sinh ngoại thành [8, tr 17]

Kết quả nghiên cứu qua “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường

THPT và Trung tâm Giáo dục Thường xuyên-Kỹ thuật tại tỉnh Bình Dương” của tác

Trang 15

giả Nguyễn Hữu Châu, Hồ Văn Thông đăng trên tạp chí Khoa học Giáo dục số 112, tháng 1/2015 đã chỉ ra 67,8% học sinh cho rằng nhà trường có vai trò tích cực vào hoạt động hướng nghệp, trong khi đó vai trò của phương tiện truyền thông là 31,7% Công tác giáo dục là do nhà trường thực hiện thông qua các môn học và mục đích tư vấn hướng đến các lĩnh vực của Đại học và Cao đẳng [2, tr 20]

Tiếp cận góc nhìn cơ cấu kinh tế thông qua “Định hướng giá trị nghề nghiệp

cho học sinh đáp ứng yêu cầu chuyển dịch kinh tế, lao động” đăng trên tạp chí Khoa

học Giáo dục số 122, tháng 11/2015 của tác giả Đỗ Thị Bích Loan cho biết chính cơ cấu kinh tế thay đổi tạo ra tác động đến sự thay đổi số lượng và chất lượng lao động, kinh tế càng phát triển thì càng thu hút được số lượng lao động tăng Các lĩnh vực như nông nghiệp giảm tỷ lệ, tăng tỷ lệ về Công nghiệp và Dịch vụ Hệ tư tưởng thay đổi quan niệm về nghề nghiệp và giá trị của nghề nông trong mắt người trẻ (số liệu cho thấy chỉ có 0,5% cha mẹ cho con chọn nghề nông, 4,2% mong muốn con làm ở thành phố) [12, tr 10]

Tác giả Nguyễn Đức Trí qua bài viết “Định hướng nghề nghiệp cho học sinh

trường THCS và THPT” đăng trên tạp chí Khoa học Giáo dục số 376, tháng 2 năm

2016 cho biết học sinh trung học đã có nhận thức tương đối rõ về tâm quan trọng của chọn nghề cho bản thân Trong khi đó công tác tư vấn của trường học vẫn còn tương đối mỏng, là rào cản và hạn chế cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp [25, tr 5] Tiếp cận theo quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của tác giả Lê Thị

Thu Trà với “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trên

địa bàn Hà Nội” năm 2016, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Về thực trạng công

tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT trên địa bàn Hà Nội tác giả chỉ ra rằng hướng nghiệp được công nhận là rất quan trọng nhưng công tác phân luồng học sinh sau trung học chưa được quan tâm đúng mức nên các hoạt động này trong nhà trường vẫn mang tính hình thức và chưa thiết thực Hiện nay, giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT chủ yếu qua các môn khoa học cơ bản; chương trình giáo dục hướng nghiệp chính khóa; môn công nghệ và lao động sản xuất; tham quan, sinh hoạt ngoại khóa, tư vấn hướng nghiệp [24, tr 95] Đa số giáo

Trang 16

viên phụ trách hướng nghiệp là giáo viên chủ nhiệm hay bộ môn của trường Về phía phụ huynh, nhận thức của cha mẹ học sinh về việc chọn nghề còn tập trung hướng đến việc con em đậu đại học Bên cạnh đó, tâm lý chọn nghề chung của học sinh chọn nghề theo sự áp đặt của người lớn; chọn nghề theo “nhãn”; dễ kiếm tiền [24, tr 97] Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề của học sinh là môi trường giáo dục gia đình, giáo dục của nhà trường, nhu cầu nghề nghiệp,… Thực trạng kết quả giáo dục hướng nghiệp cho thấy hạn chế cơ bản của hướng nghiệp hiện nay là hầu hết giáo viên giảng dạy đều là kiêm nhiệm và thời lượng dành cho hướng nghiệp ít có ảnh hưởng đến kết quả nhận thức và xác định mong muốn của học sinh [24, tr 105]

“Các yếu tố ảnh hưởng định hướng giá trị Nghề nghiệp của học sinh THPT

các tỉnh miền núi Phía Bắc” của tác giả Nguyễn Dục Quang, Đỗ Thị Bích Loan,

đăng trên tạp chí Khoa học Giáo dục số 132, tháng 9/2016 phân tích các yếu tố chủ quan như đặc điểm phương tiện thể chất, sự phát triển trí tuệ, sự tự ý thức, xu hướng nghề, điều kiện sống và các yếu tố khách quan như bối cảnh kinh tế xã hội, nhu cầu

về nguồn nhân lực của địa phương, giá trị nhân cách, truyền thống gia đình là các yếu tố tác động đến giá trị nghề nghiệp của học sinh THPT các tỉnh miền núi phía Bắc [14, tr 103]

Kết quả nghiên cứu từ “Định hướng nghề của học sinh ở một số trường THPT

trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Bùi Thị Thúy Hằng đăng trên tạp chí Khoa học

Giáo dục số 404, tháng 1 năm 2017, khảo sát cho thấy có tới 96,5% học sinh lựa chọn học tiếp sau THPT, 72,9% học sinh học lên Đại học, 14,9% đi du học (nằm ở các gia đình khá giả) Các gia đình ở khu vực nội đô như THPT Nhân Chính, THPT Phan Huy Chú , học sinh có dự định du học cao hơn so với các gia đình ở khu vực ngoại thành Bên cạnh đó có 18,1% học sinh chọn khối ngành Sư Phạm, Quân đội-Công an (chiếm 17,9%), Kinh doanh chiếm 16,4%, Công nghệ thông tin chiếm 12,3% Lý giải cho thấy học sinh lựa chọn theo nhu cầu và xu hướng phát triển xã hội Có sự khác biệt về tiếp tục học hay không giữa các trường [7, tr 14]

Trang 17

Tác giả Đỗ Thị Bích Loan phân tích cho thấy sự tham gia của phụ nữ và trẻ

em gái bị hạn chế thông qua “Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh nữ trong

lĩnh vực Khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học ở Việt Nam” đăng trên tạp chí

Khoa học Giáo dục số 147, tháng 12 năm 2017 đã mô tả các khái niệm giá trị và giá trị nghề nghiệp Thông qua đó, tác giả đã đề cập đến sự rào cản trong nghề nghiệp trên phạm vi toàn cầu (28% lực lượng làm nghiên cứu khoa học) (Viện thống kê UNESCO- UIS) Học sinh nữ có xu hướng chọn các ngành sinh học, hóa, dược học, tức là khoa học đời sống trong khi đó học sinh nam chú ý các môn kĩ thuật và khoa học môi trường [13, tr 25] Bài viết cũng chỉ ra sự khác biệt về giới trong Việt Nam, phụ nữ thường làm việc một số ngành nghề nhất định và phụ nữ, trẻ em gái ít tham gia nghiên cứu khoa học Chính yếu tố tâm lý xã hội đã định hình thái độ của học sinh đối với các môn học liên quan và sự phân chia lao động theo truyền thông cũng tác động tới nghề nghiệp của từng giới, cụ thể là nữ giới làm trong quảng cáo

và nam giới đòi hỏi kỹ thuật và tay nghề[13, tr 26]

Có thể thấy các đề tài của các tác giả đi trước rất đa dạng về mặt tiếp cận và nội dung theo từng thời gian khác nhau Về mặt tiếp cận thì là xác định vai trò cha

mẹ trong hướng nghiệp cho con cái, tiếp cận nhận thức của học sinh và các xu hướng chọn nghề, tiếp cận về giá trị nghề và năng lực của cá nhân học sinh, yếu tố ảnh hưởng định hướng giá trị, tiếp cận thông qua cơ cấu chuyển dịch kinh tế, lao động, hay tiếp cận theo quản lý hoạt động giáo dục,… Như vậy các đề tài của các tác giả trên là nền tảng những kiến thức hữu ích về tài liệu khái niệm, lý thuyết đa dạng đồng thời đã mô tả các kết quả nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp của cả đối tượng học sinh và sinh viên, cha mẹ, con cái và giáo viên theo các lĩnh vực nghiên cứu xã hội học và tâm lý học

Tuy nhiên các cách tiếp cận trên có thể thấy các tác giả đang đặt mối quan hệ giữa học sinh THPT với một chủ thể xác định như cha mẹ-con cái, nhà trường-học sinh, học sinh- cơ cấu kinh tế, và năng lực của cá nhân Đề tài của chúng tôi kế thừa các kinh nghiệm và nền tảng về khái niệm, lý thuyết cũng như các kết luận đi trước

và chứng minh các dự định, hướng nghiệp của học sinh THPT theo thời gian mới

Trang 18

Sự khác biệt của đề tài chúng tôi hướng đến định hướng nghề nghiệp của học sinh thông qua những hành vi tìm hiểu xác định ngành học/trường học đăng ký, mong đợi giá trị việc làm, các hướng nghiệp của gia đình, bạn bè, nhà trường, đồng thời tìm hiểu, phân tích những yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT thông qua nghiên cứu trường hợp tại THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài trình bày và vận dụng kết hợp các phương pháp định tính và phương pháp định lượng trong nghiên cứu Các bằng chứng thu thập được từ phương pháp định lượng trưng cầu ý kiến và các kết quả từ phương pháp định tính bao gồm các khái niệm và các lý thuyết công cụ, xác định cơ sở lý luận của đề tài Từ đó vận dụng các lý thuyết lựa chọn hợp lý, lý thuyết xã hội hóa để tiến hành giải thích hiện tượng và kiểm chứng lại lý thuyết

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài tiến hành cung cấp các bằng chứng thực tiễn thông qua khảo sát định lượng và phỏng vấn sâu Qua đó, tạo cơ sở giúp các gia đìn, nhà trường, các đơn vi tuyển sinh có cách hướng nghiệp cho học sinh

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng và xác định, phân tích các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 Trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó đề xuất khuyến nghị giúp nhà trường và gia đình trong định hướng nghề nghiệp đối với học sinh

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Mô tả định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 Trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

- Phân tích các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 Trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Trang 19

5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT khối 12 Trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường THPT Trần Hưng Thanh Xuân thể hiện như thế nào

Đạo Học sinh đã tìm hiểu thông tin trường học/khối ngành qua các kênh thông tin nào?

- Yếu tố nào tác động đến Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Học sinh có dự định thi Đại học, cao đẳng và dự định vừa học Đại học, Cao đẳng vừa tìm việc làm thêm sau khi tốt nghiệp và có xu hướng mong muốn làm ở các công ty tư nhân, tổ chức Phi chính phủ và kinh doanh buôn bán hơn so với bộ phận hành chính nhà nước

- Học sinh đã tìm hiểu thông tin trường học/khối ngành học qua nhiều kênh thông tin bao gồm kênh gia đình, kênh bạn bè, kênh nhà trường và sự tự chủ động của học sinh Tuy nhiên, học sinh có xu hướng tự tìm hiểu thông tin qua phương tiện truyền thông đại chúng so với trao đổi với gia đình Cha mẹ có để cho con tự lựa chọn đăng ký theo ý con muốn nhưng vẫn có cân nhắc, hướng con theo mong muốn của cha mẹ

Trang 20

- Yếu tố gia đình, nhà trường, năng lực cá nhân và yếu tố xã hội có tác động đến Định hướng nghề nghiệp của học sinh khối 12 trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

8 Phương pháp nghiên cứu

Trong bài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp thu thập thông tin như phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp trưng cầu ý kiến

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Chúng tôi tiến hành tổng hợp và phân tích các tài liệu công trình nghiên cứu trước đó bao gồm luận văn, luận án, các bài viết đăng trên tạp chí khoa học về định hướng nghề nghiệp của học sinh Dựa trên những kết quả nghiên cứu đi trước có thể

sử dụng các thông tin làm sáng tỏ các luận điểm cho đề tài Thông tin thu được không chỉ mô tả các nội dung về định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT mà còn giúp người nghiên cứu định hình và xác định được các tiếp cận mới và có thể tiếp tục khai thác trong đề tài

8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm bổ sung các thông tin định tính nhằm làm sáng tỏ cho các dữ liệu định lượng Đề tài thực hiện phỏng vấn 10 em học sinh, 8 phụ huynh, 1 cán bộ nhà trường

8.3.Phương pháp chọn Mẫu

Trường THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân gồm 2 khối chuyên môn là A và D; chia theo 3 khối lớp 10,11 và 12, trong đó khối 12 có 10 lớp từ lớp 12A1 đến 12A5 và 12D1 đến 12D5, tổng số học sinh khối 12 là 420 học sinh Về lớp chọn, khối 12 gồm lớp 12A1 và 12D1 là lớp chọn

Tiến hành lấy 2 lớp chọn (1 lớp khối A và 1 lớp khối D) và 2 lớp thường (1 lớp khối A và 1 lớp khối D) theo bảng sau:

Trang 21

Bảng 1 Số phiếu hợp lệ trên tổng số học sinh theo lớp và khối

Khối/Lớp Loại lớp Lớp A Lớp D Tổng

Khối 12 Lớp chọn 12A1: 37/39 12D1: 33/35 70/74

Lớp thường 12A3: 40/40 12D5: 37/45 77/85

Biểu 1 Tỷ lệ Mẫu học sinh theo các khối lớp 12

8.4.Phương pháp trưng cầu ý kiến

Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến phát ra

160 phiếu và thu về 147 phiếu bảng hỏi hợp lệ cho học sinh trường THPT Trần Hưng Đạo-Thanh Xuân cho khối 12

Thời gian trưng cầu ý kiến: Từ 12/01/2019 đến 21/01/2019

Kết quả nghiên cứu được xử lý thông qua phần mềm xử lý số liệu SPSS 18.0

25,2

27,2 22,4

25,2

Tỷ lệ (%)

12A1 12A3

12D1 12D5

Trang 22

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Hệ khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm định hướng, nghề nghiệp, định hướng nghề nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm định hướng

Trước khi hành động, con người đặt ra câu hỏi “Hành động để làm gì Hướng đến cái gì Như vậy, cái nhắm tới là mục đích của hành động, là ý định cần đạt được, là nguyện vọng mong muốn Tuy nhiên, để hành động có mục đích, thì ngay bản thân trong con người phải có những hướng đi, những cân nhắc, suy nghĩ, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện phương tiện

Định hướng có thể hiểu là quá trình tương tác của các chủ thể trong quá trình

đi tới những lựa chọn, những quyết định liên quan nhu cầu Định hướng còn là những lựa chọn, hướng đi, có thể không phải kết quả, là quá trình thể hiện những hành động, cách thức của một tiến trình đạt tới kết quả nhất định

1.1.1.2 Khái niệm nghề nghiệp

Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội [10, tr 11]

Nghề hay nghiệp, Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 1988, Viện Ngôn ngữ học) định nghĩa: “Nghề: Công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội” [19, tr 702]

Như vậy ta có thể hiểu nghề nghiệp là dạng hoạt động lao động đòi hỏi con người phải có trình độ, chuyên môn, kiến thức, kỹ năng được đào tạo nhằm tạo ra các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của đời sống con người Nghề nghiệp có thể bao gồm nhiều việc làm khác nhau

Trang 23

1.1.1.3 Khái niệm định hướng nghề nghiệp

Giáo trình Chuyên đề Tâm lý học nghề nghiệp của tác giả Phạm Mạnh Hùng,

Sở Giáo dục Đào tạo xuất bản năm 2006 cho biết: Định hướng nghề là “thông tin cho học sinh biết về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các ngành nghề trong xã hội, đặc biệt là các nghề và các nơi đang cần nhiều lao động trẻ tuổi có văn hóa, về những yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công, về hệ thống trường lớp đào tạo nghề của nhà nước, tập thể và tư nhân” Sau đó thì cho học sinh tiếp cận “thử sức” một số dạng nghề để kiểm nghiệm sự hứng thú, năng lực của bản thân, từ đó mới tự giác lựa chọn hướng đi [9, tr 19]

“Tam giác hướng nghiệp” của tác giả K.K.Platonop cho rằng công tác hướng nghiệp phải làm cho học sinh hiểu rõ 3 mặt, bao gồm những yêu cầu, đặc điểm của nghề nghiệp, nhu cầu xã hội đối với ngành nghề (còn gọi là thị trường lao động) và đặc điểm nhân cách, năng lực của học sinh [9, tr 22]

Tiếp cận về một số dạng định hướng nghề có thể cụ thể ở một số dạng như sau:

- Tiếng tăm nghề nghiệp

- Tác động trực tiếp hay gián tiếp của bạn bè

- Định hướng của người thân, gia đình

- Sự say mê nghề nghiệp

- Năng lực, động cơ, nguyện vọng cá nhân

- Các tư duy về nghề, thông tin tính chất lao động

- Công tác hướng nghiệp của nhà trường, tổ chức, đơn vị lao động

- Thị trường lao động

- …

E.A.Climop đã chỉ có hai hướng cơ bản dẫn đến chọn nghề chưa chính xác, đó

là Thái độ với các tình huống chọn nghề, và sự thiếu thông tin về các tình huống đó Với hướng thứ nhất, chọn nghề chưa chính xác liên quan một số nguyên nhân sau:

- Thành kiến về tiếng tăm nghề nghiệp

- Chọn nghề do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của bạn bè

Trang 24

- Sự say mê với vẻ ngoài của nghề nghiệp

- Áp đặt của gia đình theo định hướng của người thân

Với hướng thứ hai, một số nguyên nhân cơ bản khiến chọn nghề chưa đúng:

- Đồng nhất môn học với nghề nghiệp

- Những hiểu biết lỗi thời về tính chất công việc trong lao động

- Thiếu hiểu biết về năng lực, động cơ của cá nhân

- Không đánh giá đầy đủ về thể chất mình đang có [9, tr 21]

Như vậy, định hướng nghề nghiệp có thể hiểu là những lựa chọn, hướng đi, quá trình đưa ra lựa chọn các bước đường trong học tập, nhận định về năng lực tiến tới những kỳ vọng, mong muốn đối với đam mê, sở trường công việc tương lai sau này và tiếp nhận thông tin hướng nghiệp từ các nhóm xã hội liên quan hay phương tiện truyền thông đại chúng Ở nghiên cứu này, chúng tôi giới hạn định hướng nghề nghiệp biểu hiện thông qua các tiếp cận của học sinh trong vấn đề học tập, hướng nghiệp; mong muốn của học sinh và các mức độ tìm hiểu trường/khối ngành học và hướng nghiệp của gia đình, bạn bè, nhà trường mà biểu hiện tương ứng chính là: tác động của bạn bè; định hướng của người thân, gia đình; năng lực, động cơ, nguyện vọng của cá nhân; công tác hướng nghiệp của nhà trường Bên cạnh đó, đề tài mô tả các quan điểm xoay quanh khía cạnh tư duy về nghề, nhu cầu xã hội và sự hiểu biết mặt ngoài của nghề nghiệp với chủ thể học sinh cùng với sự hướng nghiệp của các nhóm xã hội liên quan

1.1.2 Khái niệm học sinh Trung học phổ thông

Học sinh Trung học phổ thông có thể hiểu là các học sinh theo học chương trình giáo dục cao hơn tiểu học, trung học cơ sở và thấp hơn cao đẳng hoặc đại học Lứa tuổi theo học là từ 15 đến 18 tuổi gồm các khối lớp 10, 11, 12 Học sinh khối

12 là các bạn học sinh theo học chương trình học lớp 12 theo sách ban hành dành cho khối học và có các dự định sau kì thi tốt nghiệp

1.2 Các lý thuyết liên quan

1.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Trang 25

Lý thuyết lựa chọn hợp lý là một chủ thuyết lớn với những tên tuổi: George Homas, Peter Blau, James Coleman Nếu như Geogre Homas cho rằng: con người luôn lựa chọn những hành động có xác suất thành công giá của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động là lớn nhất (quá trình tối ưu hóa) Thì Elster cho rằng: “khi đối diện với một số hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin

là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất Hoặc G Simmel nói đến nguyên tắc “cùng có lợi” Thì trong tôn giáo, lý thuyết lựa chọn duy lý có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải thích các hiện tượng tôn giáo Bên cạnh sự giải thích của chủ thuyết chức năng luận, tương tác biểu trưng với các đại diện tiêu biểu: K.Marx, E.Durkheim, M.Weber… thì lý thuyết lựa chọn hợp lý đã giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về các hiện tượng

Thuyết lựa chọn hợp lý dựa trên tiền đề cho rằng, con người hoạch định hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý, nhằm đạt được một kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Con người đang sống trong một xã hội khan hiếm, không thể có tất cả hàng hóa, vị trí hay sự giúp đỡ tinh thần mà con người mong muốn, và hành vi con người bị chi phối bởi các giả định sau:

+ Cá nhân con người muốn tối đa hóa một cách hợp lý lợi ích của mình và đưa ra quyết định dựa trên sở thích và sự ưu tiên của mình

+ Cái mà cá nhân có càng nhiều thì càng lúc họ càng ít thích

+ Giá cả của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường được tự do quyết định trực tiếp bởi

sở thích và nhu cầu của người mua và người bán

Thuyết lựa chọn hợp lý của James Samuel Coleman:

+ Hành vi có mục đích của cá nhân hướng tới một mục tiêu, mục tiêu đó (có cả hành động) được định hình bởi các giá trị hay các sở thích

+ Con người lựa chọn hành động của mình nhằm tối đa hóa các lợi ích hay thỏa mãn nhu cầu mong muốn của họ Có hai thành tố lý thuyết: các actor và các tiềm năng (khả năng mà chủ thể có và kiểm soát được) Điều này được suy ra từ chính định nghĩa về thuyết hành vi lựa chọn [21, tr 62- 63]

Trang 26

Chúng tôi vận dụng lý thuyết này nhằm chỉ ra các hành vi đưa ra gợi ý của phụ huynh, gợi ý từ bạn bè, nhà trường đối với học sinh đều là những hành vi chọn lựa Đồng thời những mong muốn nhu cầu của học sinh trong bối cảnh có thể giải thích được là những hành vi lựa chọn hợp lý

1.2.2 Lý thuyết xã hội h a

Xã hội hóa là một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học Nhờ quá trình

xã hội hóa cá nhân, con người chúng ta có thể giao tiếp với nhau, học hỏi, lĩnh hội các quy tắc văn hóa nhất định mà xã hội trao cho Quá trình xã hội hóa giúp con người hòa nhập dần dần vào xã hội

Xã hội hóa cá nhân có thể hiểu là quá trình cá nhân lĩnh hội một hệ thống những tri thức, những chuẩn mực, những giá trị xã hội để phù hợp với vai trò xã hội, hòa nhập vào xã hội Quá trình xã hội hóa cá nhân gồm có hai mặt Mặt thứ nhất là ảnh hưởng của xã hội đến các cá nhân, xã hội đặt ra khuôn khổ hành vi giá trị chuẩn mực của xã hội mà cá nhân muốn tồn tại trong xã hội đó buộc phải học hỏi

và làm theo xã hội Mặt thứ hai là các cá nhân đáp ứng xã hội, học hỏi xã hội để thực hiện vai trò của mình sao cho phù hợp với sự mong đợi của xã hội Hai mặt này thường xuyên liên tục chuyển hóa cho nhau trong suốt quá trình xã hội hóa cá nhân Tóm lại xã hội hóa chính là quá trình học tập của con người học tập để tiếp thu tri thức của nhân loại và quá trình thực hiện những tri thức đó trong đời sống xã hội

Nhà Xã hội học người Nga G M Andreeva cho rằng tất cả những kinh nghiệm, kiến thức cá nhân tiếp thu được trong quá trình xã hội hóa, tất cả những tâm thế xã hội được hình thành ở cá nhân không phải là những khuôn mẫu cứng nhắc nhưng qua đó nó được khẳng định một cách tương đối chắc chắn rằng cá nhân đang sống và hành động trong môi trường xã hội thực, trong một nhóm cụ thể nào

đó Theo bà, cá nhân không trực tiếp chịu tác động các yếu tố ảnh hưởng xã hội từ các nhóm lớn mà phải thông qua nhóm nhỏ Nhóm nhỏ (yếu tố chuẩn mực, phong tục, giá trị…) dẫn đến hình thành nên những giá trị riêng Sau đó thông qua cơ chế tác động của nhóm nhỏ mà cá nhân tiếp tục [11, 323]

Trang 27

Các cá nhân chịu tác động theo quan điểm và suy nghĩ của cha mẹ, hay ý kiến của bạn bè trang lứa, những người bạn gần gũi, hoặc nhà trường, phương tiện truyền thông đại chúng mà đưa ra các hành vi chọn trường, khối ngành học liên quan Trong mỗi môi trường xã hội hóa khác nhau cá nhân có thể thực hiện thuận lợi các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội

Có thể nói xã hội hóa chính là cầu nối giúp mỗi cá nhân có thể hòa nhập vào cộng đồng và xã hội với tư cách là một thành viên của nó

Xã hội hóa trong gia đình còn có thể là việc cha mẹ truyền lại những giá trị bản sắc gia đình, hướng con cái lựa chọn theo nghề nghiệp của cha mẹ để tiếp nối truyền thống gia đình Bên cạnh đó, những hướng nghiệp của cha mẹ từ những mong đợi và quan điểm mong con cái sẽ chọn các trường học, khối ngành học theo

kế hoạch, hướng đi của gia đình Chúng tôi vận dụng lý thuyết xã hội hóa vào bài nghiên cứu này nhằm phân tích quá trình tương tác giữa các thông tin gợi ý và sự đáp lại giữa bên học sinh, gia đình, nhà trường chẳng qua là quá trình xã hội hóa giúp các bên lĩnh hội các dòng quan điểm và đáp ứng các vai trò của bản thân cá nhân

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

Được thành lập vào ngày 10 tháng 10 năm 1993 theo Quyết định số

5315/QĐ-UB của 5315/QĐ-UBND Thành phố Hà Nội, trường THPT Trần Hưng Đạo là trường THPT công lập đầu tiên của quận Thanh Xuân Năm học đầu tiên 1993- 1994, nhà trường

có 13 lớp của bậc THPT và 3 lớp 6 của bậc THCS với tổng số 768 học sinh và 25 cán bộ, giáo viên, nhân viên đều có trình độ đạt chuẩn Chỉ sau 3 năm, số lớp của nhà trường đã tăng lên 41 lớp, trong đó có 30 lớp bậc THPT Từ năm học 1998 –

1999 đến nay, nhà trường chỉ giảng dạy duy nhất bậc THPT

Để tỏ lòng thành kính, tri ân và cũng là niềm tự hào của các thế hệ thày và trò được vinh dự mang tên Người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, năm học 1994 -

1995, trường đã dựng tượng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong khuôn viên trường Tượng đài được khánh thành vào ngày 20 tháng 8 năm Ất Hợi (1995)

Trang 28

Xác định người Thầy là nhân tố quan trọng làm nên chất lượng giáo dục, bởi vậy ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Ban giám hiệu nhà trường đã quan tâm đến việc bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên Chính vì thế, từ chỗ chỉ có 25 cán bộ, giáo viên, nhân viên, đến năm học

2013 - 2014 nhà trường đã có một đội ngũ hùng hậu với hơn 100 cán bộ, giáo viên, nhân viên[3] Tính đến năm 2018-2019, tổng số đội ngũ cán bộ là 90 người, trong

đó có 82 giáo viên, trong đó, 31 thầy cô có học vị thạc sĩ thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo cho 1561 học sinh của 36 lớp hệ THPT (số liệu tính đến 30/9/2018) Vượt qua muôn vàn khó khăn của những ngày đầu mới thành lập, nhà trường ngày nay đã có cơ sở vật chất khang trang, hiện đại tạo điều kiện tốt nhất cho các hoạt động dạy và học, góp phần khẳng định vị thế của nhà trường trong ngành giáo dục Thủ Đô, giữ vững danh hiệu Trường trung học chuẩn Quốc gia Tại đây, còn có các danh hiệu thi đua cao quý mà nhà trường đã đạt được như: Huân chương lao động hạng Ba năm 2008; Bằng khen của Thủ tướng chính phủ năm 2006; Danh hiệu trường Tiên tiến, Tiên tiến xuất sắc liên tục qua các năm; Bằng khen dành cho Chi bộ Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên nhà trường những hình ảnh của hơn

20 thầy cô giáo trong Hội đồng giáo dục đầu tiên của nhà trường; các đồng chí lãnh đạo gồm Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng qua từng thời kì; các đồng chí tham gia công tác Công đoàn, Đoàn thanh niên; danh sách giáo viên dạy giỏi cấp thành phố

và học sinh giỏi cấp thành phố qua từng năm…Một trong những truyền thống quan trọng mà nhà trường hướng đến là trân trọng lịch sử, trải qua khó khăn từ ngày đầu thành lập, cho đến những hiện đại trong cơ sở vật chất, những tấm hình, gương mặt các thầy cô trong hội đồng sư phạm nhà trường cho tới các danh hiệu thi đua cao quý mà nhà trường được trao Các thầy cô của nhà trường có thể kể đến NGƯT Nguyễn Văn Giao, NGƯT Nguyễn Thị Chinh, Nhà giáo Đoàn Hoài Vĩnh, Nhà giáo

Lê Hồng Vũ, Nhà giáo Nguyễn Quốc Bình,… Hiệu trưởng hiện nay của trường là Nhà giáo, thầy Vũ Đình Hà [3]

Trang 29

Trong giai đoạn 2018-2019, trường THPT Trần Hưng Đạo- Thanh Xuân, có 3 khối lớp học 10, 11 và 12, tổng số lớp 12 là 10 lớp, tổng số học sinh toàn khối là

1520 học sinh, trong đó tổng số học sinh khối 12 của trường là 418 học sinh

Theo các năm học, nhà trường đã tạo điều kiện cho các thế hệ học sinh khối lớp 12 trong quá trình làm hồ sơ, đến đăng ký và trải qua các kì thi tốt nghiệp, kì thi THPT Quốc Gia hay các kì thi Đại học và Cao đẳng Điều đó cho thấy, đi cùng với công tác dạy và học, đào tạo người học sinh trở thành các công dân có ích cho xã hội, nhà trường hỗ trợ, và giúp đỡ các học sinh từng bước đến với ngưỡng cửa chuyển tiếp giữa thời Trung học phổ thông và Đại học, Cao đẳng, trường nghề, dần dần chinh phục các mục tiêu tiếp theo của người công dân tích cực

Trang 30

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP

CỦA HỌC SINH

Định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT được biểu hiện thông qua các khía cạnh như tiếp cận của học sinh trong vấn đề học tập, hướng nghiệp, mong muốn của học sinh và mức độ tìm hiểu trường/khối ngành học và hướng nghiệp của

bố mẹ, bạn bè và nhà trường Trong đó có thể thấy các tiếp cận của học sinh trong vấn đề học tập, hướng nghiệp thể hiện thông qua sự tự học của học sinh, dành thời gian của bản thân cho các môn học nào, nội dung thảo luận của học sinh về học tập, hướng nghiệp, lựa chọn học thêm môn, khả năng tự đánh giá với các nhận định ý kiến Việc học sinh học khá môn học nào của khối học gì thì tương ứng với khối ngành học và trường học dự kiến đăng ký thi nhất là với nhóm học sinh chưa thực

sự xác định được bản thân mong muốn ngành học nào, nghề nghiệp gì nghĩa là các học sinh xác định thế mạnh qua học lực khá môn gì hơn, qua đó dành thời gian học cho các môn học đó hơn Các cách tự đánh giá của học sinh từ đó mà cũng có sự chênh lệch xen kẽ nhiều quan điểm

2.1 Tiếp cận của học sinh trong vấn đề học tập, hướng nghiệp

Học lực của bản thân có mối quan hệ chặt chẽ với dự định lựa chọn các ngành học/trường học của học sinh THPT, nhận thức của học sinh về học lực bản thân càng rõ ràng, thực tế thì các dự định đăng ký càng đầy đủ, được tính toán, cân nhắc,

kỹ lưỡng Nhận thức về học lực của bản thân có thể được biểu hiện thông qua thời gian dành cho môn học của học sinh, thái độ với các môn học, nội dung trao đổi về học tập và các tự đánh giá chung của học sinh đối với vấn đề học tập và kỉ luật

Về thời gian tự học dành cho các môn của học sinh, nhìn vào bảng 1 có thể thấy phần lớn học sinh dành thời gian tự học từ 1 đến 3 tiếng (chiếm 54,4%)

Trang 31

Bảng 2.1 Thời gian tự học các môn học (tính theo ngày)

Đạo-theo quan điểm của một số học sinh cho biết “Vẫn còn thời gian, tháng 5, 6 mới

thi” tuy nhiên “nếu không ôn t giờ thì cũng không kịp” Tự học là tự giác ôn tập,

cố gắng nỗ lực, chia kế hoạch học ra sao cho phù hợp thời gian của bản thân Sự tự lực đó sẽ ít hoặc hạn chế sự can thiệp của giáo viên, và ở thời THPT, giáo viên như người định hướng mục tiêu cho hành động của học sinh Đồng thời người học sinh giữ vị thế chủ động trong ôn tập, sự tự học đó là nền tảng, tiền đề cho kỹ năng tự học của các bạn khi lên đại học, cao đẳng Bên cạnh đó, việc tự học khiến học sinh dần dần hình thành thói quen độc lập trong suy nghĩ, trong cuộc sống cá nhân của bản thân, giúp các bạn tự tin hơn trong việc lựa chọn cách sống, kiểu sống và xác lập tính cách bản sắc cá nhân Hơn nữa, tự học thúc đẩy học sinh ý chí học hành, và

có khát vọng, hoài bão, ước mơ, sự mong muốn về môi trường học đại học trong tương lai, việc kết thân người bạn mới, sự tham gia môi trường xã hội thu nhỏ như Đại học, cao đẳng và dần dần manh nha sự kỳ vọng tương lai làm ở đâu, mức lương, môi trường nghề nghiệp mà các bạn quan tâm Đây là điểm khác biệt trong

sự tự giác học của các học sinh theo thời kỳ, thời kỳ trước đây, sự tự giác trong khuôn khổ của dạng đề và lý thuyết, có sự can thiệp giữa gia đình và nhà trường theo các “barem chấm điểm”, những năm gần đây, sự tự giác đã cởi mở hơn, tâm thế của học sinh tự do hơn theo các hình thức thi trắc nghiệm mới

Trang 32

Đối với các môn học mà các bạn quan tâm trung bình từ 30 phút đến 3 tiếng phổ đều cho các môn mà các bạn quan tâm Các môn học mà các bạn học sinh quan tâm là các môn được dành nhiều thời gian hơn cả, có thể các môn theo ban và lựa chọn thi theo

Biểu 2.1 Dành thời gian cho các môn học

Biểu trên cho thấy học sinh cả hai khối A và D dành sự quan tâm cho môn Toán, Ngoại ngữ, Vật Lý, Ngữ Văn và Hóa học Cụ thể phần lớn học sinh dành thời gian cho môn Toán chiếm 89,1%, môn Ngoại ngữ là 66,7%, môn Vật Lý là 48,3%, Ngữ Văn là 44,9% và Hóa học là 29,3% So với hình thức thi tự luận trước đây, các môn thi được chuyên môn hóa theo ban học, học theo khối nào đăng ký theo các khối đó và tập trung theo đó như khối A (Toán, Lý, Hóa) hay khối D (Toán, Văn, Anh) nhưng hiện nay các hình thức thi đã có sự thay đổi mà ở đó học sinh có sự quan tâm gần với điều mà học sinh đề cao hay chú ý Biểu trên cho thấy học sinh không phân biệt giữa khối A (tự nhiên) hay khối D (khối văn và ngôn ngữ) có sự khác biệt theo chuyên môn như trước, học sinh có chú ý phủ đều các môn như Toán, Ngoại ngữ và Vật Lý, ngoài ra có hai môn khác được học sinh quan tâm là Ngữ Văn và Hóa học Trên thực tế, bài thi trắc nghiệm cho các môn thi như Toán học hay Vật Lý và Tiếng Anh đều có thể gây điều khó dễ cho học sinh vì tính phân

Dành nhiều thời gian

Dành nhiều thời gian

Trang 33

loại cao, để đạt được điểm cao, học sinh phải có sự quan tâm sát sao ngay từ đầu vì vậy việc dành nhiều thời gian cho các môn này là điều có thể lý giải Trong khi đó hai môn như Ngữ Văn là môn học gần với khối xã hội nhân văn và hóa học liên

quan đến tính toán giải phương trình phản ứng hóa học “Ngữ văn có bài ấy anh, học

hiểu bài văn không khó”, “Hóa học bọn em biết cách làm đề, nhớ công thức thì giải được hết nhưng Toán và Lý nhiều dạng đề, nhiều công thức khác nhau không ôn thì khó thi”

Môn Vật Lý là môn học vừa mang tính thực tế lại mang tính trừu tượng, cơ sở khoa học lý thuyết nhiều mà bài tập lại rất đa dạng các công thức chu kỳ, tần số của các đồ vật như con lắc lò xo, hoạt động của máy biến áp hay hiện tượng tán sắc,…

Đề thi Toán theo các năm có sự mới mẻ, chứ không rập khuôn trong các cách tính toán, theo đề lặp lại như tính lãi suất phần trăm ngân hàng hay chế tạo sản phẩm theo các mét khối, không thể theo các phương pháp học làm nhiều và học thuộc công thức để giải toán Đề thi Toán năm 2018 có mức độ câu hỏi rộng, mức độ hỏi sâu, tính phân loại cao Thí sinh phải cân nhắc các đáp án nhiễu hay câu hỏi “bẫy” định hướng đáp án của thí sinh Như vậy việc học tập của học sinh cho các môn học

ra sao còn tùy thuộc vào dạng, hướng đề thi theo các năm thi Đại học trước của Bộ Các đề thi Toán trong các năm gần đây theo dạng thực tế ứng dụng, cần tìm tòi hướng giải quyết nhanh gọn, không thể học “tủ” tập trung theo dạng đề Học

sinh cho biết “học thì thấy ổn, điểm số khá cao nhưng đi thi thử, làm đề thi chấm ra

kết quả vẫn ở mức trung bình”, có thể lý giải theo chiều hướng các đề thi học sinh

giỏi vẫn có dạng đề truyền thống mà ở đó nhiều bạn khác vẫn học theo hướng học

“tủ” tập trung các đề cơ bản

Có thể thấy học sinh có quan điểm cá nhân về việc phải học lực giỏi thì mới

đỗ được các kì thi là điều có cơ sở, bởi các đánh giá (của thầy cô hay góc nhìn của báo chí) về học vấn với kết quả thi cử luôn có xu hướng tác động đến cách nhìn của học sinh đối với học lực của bản thân thay vì đề cao, ưu tiên sự tự nhìn nhận, tự đánh giá của chính mình đối với học lực của bản thân Đây cũng là điểm khác giữa cách tự đánh giá của bậc THPT đối với học sinh và bậc Đại học của sinh viên

Trang 34

Bên cạnh đó, các môn học bổ trợ và năng khiếu được nhiều học sinh nhắc tới,

cụ thể đó là môn Tin học và môn Năng khiếu (vẽ, nhạc,…), thể hiện theo biểu dưới đây

Biểu 2.2 Dành thời gian cho các môn năng khiếu

Biểu đồ trên cho thấy có 25,9% học sinh cho biết họ dành thời gian cho việc học năng khiếu (vẽ, hát, nhảy…) và 10,9% học sinh quan tâm đến môn Tin học Hơn nữa, theo khảo sát cho thấy có một số học sinh cho biết họ hoàn toàn có đi học thêm các môn năng khiếu để dự thi, chủ yếu là môn Vẽ, là tiền đề cho ngành học Nghệ thuật, thẩm mỹ, hội họa Môn Tin học mặc dù tỷ lệ dành thời gian ôn tập cho môn thấp hơn so với các môn học khác nhưng tỷ lệ bố mẹ gợi ý cho con cái và tỷ lệ bạn bè gợi ý cho các học sinh với ngành Khoa học máy tính và Công nghệ thông tin lại chiếm tỷ lệ cao (xem biểu 2.10, 2.11)

Tin học hiện nay có vai trò quan trọng trong cuộc sống và công việc Thông tin về công nghệ và khoa học 4.0 phổ biến trên các kênh thông tin thậm chí là qua lời nói hằng ngày, từ khóa Internet và Cách Mạng 4.0 xuất hiện trên khắp các mạng

xã hội, phủ sóng trong các cuộc hội thảo và trên các trang báo chí điện tử Bản thân

kỹ năng tin học văn phòng cũng đặc biệt cần thiết đối với các sinh viên lựa chọn thêm khi chuẩn bị ra trường hoặc đã ra trường để tới tuyển dụng trong các công ty,

Dành nhiều thời gian

Dành nhiều thời gian

Trang 35

doanh nghiệp So với chương trình Tin học hiện hành, vị trí và vai trò của môn Tin

có sự thay đổi, phân hóa từ lớp 3 đến lớp 9 Với cấp học THPT, Tin học là môn học được chọn lựa theo mong muốn và định hướng nghề nghiệp của học sinh, theo 2 định hướng là Tin học ứng dụng và Khoa học máy tính Chương trình Tin học hiện nay đang khai thác các đặc tính của giáo dục STEM

Giai đoạn tiểu học, các em học sinh được làm quen khái niệm Tin học, các ngôn ngữ lập trình bậc thấp Giai đoạn Trung học cơ sở, Tin học nằm trong danh sách các môn học tự chọn bên cạnh Ngoại ngữ Giai đoạn Trung học phổ thông, Tin học đứng ở vị trí là một môn học độc lập chính thức Hơn nữa, việc có tiền đề cơ bản về kỹ năng tin học văn phòng là lợi thế cho các công việc đặc thù trong tương lai như kiểm toán-kế toán, giấy tờ văn bản, điều khiển máy móc, xử lý số liệu như nghiên cứu thị trường hay quản lý khách hàng… Đối với người đi xin việc, kỹ năng này được coi như một tiêu chí cần thiết, hoặc kỹ năng trội, tạo điểm nhấn riêng trong hồ sơ cá nhân

Một số học sinh cho biết học sinh có sự quan tâm đến các môn học Năng khiếu Từ năm 2015, Học viện Báo chí Tuyên truyền tổ chức thi Năng khiếu báo chí trong đề án tuyển sinh của trường Thí sinh thi vào ngành Báo chí của trường Học viện Báo chí tuyên truyền đều ôn tập để thể hiện kỹ năng qua môn năng khiếu báo chí Hiện nay năng khiếu được coi như là một kỹ năng trong tuyển dụng nghề nghiệp

Kì thi THPT Quốc gia năm 2018, gồm 5 bài thi độc lập, trong đó có 3 môn bắt buộc là Toán, Văn, Anh và 2 môn thi tổ hợp là Khoa học tự nhiên (tổ hợp Vật lý, Hóa học, Sinh học) và Khoa học xã hội (tổ hợp Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công dân) Tương tự như năm 2017, thí sinh đã tốt nghiệp THPT dự thi để lấy kết quả xét tuyển vào ĐH-CĐ có thể chọn thi bài thi độc lập (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ) và/hoặc bài thi KHTN hoặc KHXH phù hợp với tổ hợp xét tuyển vào ngành, nhóm ngành theo quy định của các trường ĐH-CĐ [22] Theo các trang báo đưa tin, năm

2019 dự kiến không còn hình thức thi hai trong một như năm 2018, các trường Đại học sẽ tham gia nhiều khâu[5] Có thể thấy việc thay đổi các quy chế tuyển sinh mới

Trang 36

và các dạng đề thi thay đổi theo các năm là tiền đề cơ sở bên cạnh những sở thích, đam mê cho học sinh dành sự quan tâm của bản thân đối với các môn học

Như vậy, theo số liệu khảo sát tính đến thời điểm khảo sát cho thấy ngoài các môn học được học sinh chú ý là Toán học, Vật Lý, và Ngoại ngữ, học sinh quan tâm các môn học Ngữ Văn, Hóa học và các môn khác được chú trọng là Tin học và Năng khiếu

Bảng 2.2 Dành thời gian cho môn học phân theo giới tính học sinh

nữ dành thời gian tự học cho môn học Với môn Hóa học, có 42,1% học sinh nam dành thời gian cho môn Hóa, trong khi đó chỉ có 15,5% học sinh nữ quan tâm học môn này Với môn Ngữ Văn, có 31,6% học sinh nam quan tâm, thì có tới 59,2% học sinh nữ dành thời gian của bản thân cho môn học Có thể thấy học sinh nam dành thời gian bản thân cho các môn khối tự nhiên như Vật Lý và Hóa Học, thay vào đó học sinh nữ dành thời gian của mình cho các môn khối xã hội và nhân văn như Ngữ Văn Điều này có thể lý giải ở góc độ từ chính thế mạnh của lối tư duy từ

Trang 37

bao đời nay và quan niệm cho rằng nam giới khá các môn tự nhiên và thiên hướng các môn tính toán, phân tích tư duy, trong khi đó nữ giới thì khá các môn xã hội và thiên hướng các môn tưởng tượng, giàu cảm xúc, sáng tạo

Giao tiếp với bạn bè hằng ngày là kênh thông tin giao tiếp quan trọng giữa các học sinh, mà ở đó các câu chuyện của học sinh vừa là thông tin mới, vừa là sự trao đổi hằng ngày, cũng là sự gắn kết giữa cá nhân với tập thể

Bảng 2.3 Mức độ thảo luận trên lớp

là điều hoàn toàn xảy ra

Ở trên lớp, việc học sinh liên tục thảo luận về vấn đề học tập và hướng nghiệp với nhau là sự giao tiếp, trao đổi thông tin mỗi ngày ở trên lớp giữa các cá nhân trong nhóm xã hội, cộng đồng xã hội, cũng là một cách giúp học sinh đưa ra quan điểm và cách nhìn của học sinh đối với vấn đề hướng nghiệp như thi tốt nghiệp, cân nhắc trường thi và quy định thi Đại học, Cao đẳng… Từ đó hình thành nên các cân nhắc, tính toán thực tế của học sinh và các gia đình đối với vấn đề hướng nghiệp mà

họ quan tâm

Trang 38

Biểu 2.3: Nội dung liên quan vấn đề học tập, hướng nghiệp mà các học sinh

thảo luận, trò chuyện

Biểu đồ trên cho thấy có 4 nội dung liên quan vấn đề học tập, hướng nghiệp

mà các học sinh thảo luận, trò chuyện trên lớp bao gồm việc học hành, bài tập trên lớp, dạng đề thi tốt nghiệp, cân nhắc phân vân trường/ngành học dự định thi, việc kết bạn mới, hòa nhập với môi trường mới và quy định thi Đại học, cao đẳng Trong

đó phần lớn học sinh thường trao đổi về việc học hành và bài tập trên lớp chiếm 76,2%, dạng đề thi tốt nghiệp là 38,8% Với vấn đề hướng nghiệp, 60,5% câu chuyện giữa các học sinh liên quan đến cân nhắc, phân vân trường học/ngành học

dự định thi, 51,7% học sinh quan tâm đến quy định thi Đại học, cao đẳng Trên thực

tế, một số học sinh cho biết các bạn có xu hướng thảo luận chủ yếu về bài vở trên

lớp hơn là trao đổi về thi cử “ngày nào về em cũng nghe bố mẹ kêu thi trường này

trường kia, đến lớp cũng nghe, em chả buồn đáp lại,…, em thích hỏi kết quả bài tập

về nhà rồi cùng sửa hơn” (Nam, khối 12, lớp A, Quận Thanh Xuân) Một số học

sinh khác thì có xu hướng kết hợp cả hai vấn đề, lồng gh p đan xen các câu chuyện

“ra chơi cũng có khi v a nói về tiết sau cô có dặn kiểm tra gì không rồi lại sang

chuyện trường A, trường B phù hợp với mình không” (nữ, khối 12, lớp A) Từ biểu,

có thể thấy học sinh rất quan tâm đến việc học hành trên lớp, các vấn đề hướng nghiệp như là cân nhắc phân vân trường/ngành học và quy định thi Đại học, cao

Dạng đề thi tốt nghiệp Cân nhắc,

phân vân trường, ngành học

dự đinh thi

Quy định thi Đại học, Cao đẳng

Trang 39

đẳng dự định thi hơn là việc nói về dạng đề thi Tốt nghiệp và việc hòa nhập môi trường mới, kết bạn mới Điều này có thể lý giải được ở góc độ ưu tiên, học sinh cảm thấy nhu cầu của mình là gì và họ lựa chọn ưu tiên cho điều gì hơn Các bạn hoàn toàn có thể lựa chọn ưu tiên chủ đề quy định thi đại học, cao đẳng, cân nhắc thi trường nào ngành nào hơn nhằm trao đổi thu thập thông tin, những điều mới và chưa biết cho nhau nghe Hơn nữa, các câu chuyện có thể lặp đi lặp lại hàng ngày xoay quanh giữa gia đình, nhà trường, bạn bè, bản thân tìm hiểu trên các phương tiện truyền thông đại chúng đặc biệt là báo chí đưa thông tin cập nhật mới theo từng ngày, từng tuần Chính sự mới mẻ liên tục đó tạo thành cơ sở cho học sinh mỗi ngày đều có thêm một thông tin mới cùng thảo luận Trong khi đó, với việc kết bạn mới, môi trường học mới, một số học sinh thì cho rằng vào được trường đại học mới tính đến các sự kiện khác, với các bạn học sinh lựa chọn theo lời khuyên của bố mẹ thì hoàn toàn ưu tiên việc thi cử hơn là tò mò về môi trường mới

Trao đổi với bạn bè cũng là hình thức tự học, ở đó học sinh dần thiết lập và thực hiện các kế hoạch học tập, định hướng phát triển thế mạnh, ưu tiên cho các thế mạnh, tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm

Trên thực tế sự tự khẳng định, nhìn nhận, kiểm tra, đánh giá trong học tập là quá trình cân nhắc khả năng, và thu thập thông tin đối với tình hình lĩnh hội các kiến thức trên lớp, chuyển hóa thành kiến thức chung và kỹ năng cho bản thân đối tượng (cụ thể là học sinh THPT), từ đó hình thành nên các thói quen, kỹ năng, tư tưởng đạo dức của học sinh Tự kiểm tra đánh giá giúp học sinh có cơ sở thực tế giữa cảm quan của bản thân học sinh với cách đánh giá của các bên liên quan như thầy cô, gia đình, bạn bè Từ đó cho ra các kết quả thông tin để xác định vị trí của bản thân trong không gian khuôn khổ đánh giá mức thang điểm giỏi, khá, trung bình, yếu, k m đối với từng môn học; giúp khắc phục các sai lầm, thiếu sót Trước hết là tự đánh giá của bản thân học sinh về khả năng tiếp thu kiến thức trên lớp

Bảng 2.4: Tự đánh giá chung về khả năng tiếp thu Mức đánh giá Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Trang 40

sự chuẩn bị hoặc cảm thấy chưa thực sự hứng thú hay tìm ra điều các học sinh mong muốn đối với môn học mà họ lựa chọn hướng tới Cũng có cách giải thích

theo hướng cần thông tin rõ ràng mới tiến hành học chắc chắn “mỗi năm lại có quy

định về cách tổ chức thi mới, giờ cũng sắp Tết, em thấy cứ nghỉ đã, ra Tết thì ôn tập

kĩ hơn các môn phân ban cũng được ạ” (Nam, khối 12, lớp A) Chỉ có 8,8% học

sinh cho biết các bạn tự đánh giá mình tiếp thu bài tốt, hiểu sâu phần lớn các môn học, trường hợp này thuộc các nhóm học sinh khá, giỏi của lớp

Trên thực tế, các học sinh ngoài việc học ở trường học, bản thân các bạn hoàn toàn có thể lựa chọn đi học thêm Một mặt mặc dù có sự giảm tải trong chương trình nhưng học sinh vẫn lựa chọn học thêm bởi những dạng đề mới mẻ chưa chắc đã có trong chương trình học chính của phổ thông Mặt khác, học thêm cũng là cách để làm vững chắc, kiến thiết lại tư duy, hệ thống các phương pháp cách làm bài Sự thay đổi liên tục về cải tiến phương pháp thi tổ hợp, tích hợp cùng các đề thi theo hướng trắc nghiệm cũng là điều mới và đòi hỏi học sinh cần có sự tập trung, ôn thêm cho các môn học

Khảo sát cho thấy 90,5% học sinh cho biết hoàn toàn có tham gia lớp học thêm Việc học thêm diễn ra xuất phát một phần do chính bản thân người học (cụ thể là học sinh) không chịu được áp lực thi cử trước ngưỡng cửa đại học Một phần khác phụ huynh cho rằng việc thay đổi các quy chế mới khiến bản thân phụ huynh

cũng không biết nên làm gì giúp đỡ con “Chị P.T.H.Y (Cầu Giấy, Hà Nội) tâm sự:

"Tôi thấy càng ngày quy chế thi đại học càng thay đổi nhiều so với các năm trước

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w