1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính áp dụng cho dự án pin năng lượng mặt trời tại việt nam

85 93 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN LÊ NAM THÀNH NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG GIẢM NHẸ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH ÁP DỤNG CHO DỰ ÁN PIN NĂNG LƯỢNG

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LÊ NAM THÀNH

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG GIẢM NHẸ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH ÁP DỤNG CHO DỰ ÁN PIN NĂNG LƯỢNG

MẶT TRỜI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LÊ NAM THÀNH

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG GIẢM NHẸ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH ÁP DỤNG CHO DỰ ÁN PIN NĂNG LƯỢNG

MẶT TRỜI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN :PGS.TS Lưu Đức Hải

Hà Nội – 2018

Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Trang 3

Xin cảm ơn Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn Xin chân thành cám ơn chủ nhiệm đề tài và học viên đề tài khoa học công nghệ cấp bộ “ Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất và áp dụng chỉ số đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại Việt Nam” (Mã số: TNMT.05.26)

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên lớp Cao học môi trường khóa của trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp

đỡ, động viên và chia sẻ khó khăn cùng tôi trong quá trình học tập tại trường

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày… tháng ….năm 201

Học viên

Lê Nam Thành

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1.TỔNG QUAN VỀ GIẢM NHẸ KHÍ NHÀ KÍNH (KNK) 3

1.1.1.Nội hàm liên quan đến hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK 3

1.1.2.Hành động giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA) 7

1.2.TỔNG QUAN VỀ BỘ CHỈ SỐ GIẢM NHẸ KHÍ NHÀ KÍNH 14

1.2.1 Xây dựng chỉ số 14

1.2.2 Đề xuất bộ khung chỉ số đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK cho Việt Nam 18

1.3.TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI 21

1.3.1 Tiềm năng của năng lượng tái tạo tại Việt Nam 21

1.3.2 Tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam 24

1.3.3 Mối liên hệ giữa các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và năng lượng mặt trời 27

1.3.4 Thực trạng sử dụng năng lượng mặt trời tại khu vực Miền Trung 29

1.3.5 Tình hình triển khai các dự án năng lượng mặt trời tại Việt Nam 30

1.4 T ỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 34

1.4.1 Vị trí địa lý và kinh tế xã hội tỉnh Phú Yên 34

1.4.2 Dự án điện mặt trời Europlast Phú Yên 35

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1.MỤC TIÊU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 37

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 37

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 37

2.2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.2.1 Phương pháp kế thừa 37

2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát 37

2.2.3 Phương phát kiến tạo bộ chỉ số 39

2.2.4.Phương pháp chuyên gia 41

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 42

3.1.THỰC TRẠNG BỘ CHỈ SỐ GIẢM NHẸ KHÍ NHÀ KÍNH Ở VIỆT NAM 42

3.1.1 Thực trạng hoạt động giảm nhẹ khí nhà kính ở Việt Nam 42

Trang 5

3.1.2 Thực trạng bộ chỉ số giảm nhẹ khí nhà kính 44

3.2.BỘ CHỈ SỐ GIẢM NHẸ KHÍ NHÀ KÍNH CHO DỰ ÁN NĂNG LƢỢNG MẶT TRỜI TẠI VIỆT NAM 45

3.2.1 Rà soát chính sách liên quan tới các dự án năng lượng mặt trời 45

3.2.2 Đề xuất các tiêu chí chỉ thị cho bộ chỉ số đánh giá hoạt động giảm nhẹ khí nhà kính cho các dự án năng lượng mặt trời 49

3.2.3 Xây dựng bộ chỉ số đánh giá hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thuộc lĩnh vực năng lượng mặt trời 50

3.3.THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG 61

3.3.1.Lựa chọn dự án năng lượng mặt trời để thử nghiệm áp dụng 61

3.3.2.Kết quả tính toán thử nghiệm 63

3.4.ĐỀ XUẤT LỘ TRÌNH, THỜI ĐIỂM ÁP DỤNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG GIẢM NHẸ PHÁT THẢI KNK CHO DỰ ÁN PIN NĂNG LƢỢNG MẶT TRỜI 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 75

Trang 6

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

BĐKH Biến đổi khí hậu

BAU Kịch bản phát triển thông thường

BVMT Bảo vệ môi trường

CAN Mạng lưới hành động khí hậu

CCAP Trung tâm chính sách khí hậu sạch

CCPI Chỉ số hoạt động khí hậu

CDM Cơ chế phát triển sạch

CER Chứng chỉ giảm nhẹ phát thải các bon

COP Hội nghị các bên tham gia công ước khung của Liên hiệp quốc về

biến đổi khí hậu CTNH Chất thải nguy hại

CTR Chất thải rắn

DIA Công cụ đánh giá tác động phát triển

EPI Chỉ số hoạt động môi trường

KNK Khí nhà kính

KSH Khí sinh học

IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

MACC Đường cong chi phí cận biên

MRV Đo đạc, báo cáo, thẩm tra

NAMA Hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện

quốc gia NAI Cải tiến phù hợp với điều kiện quốc gia

NLTT Năng lượng tái tạo

GSO Tổng cục thống kê

PTBV Phát triển bền vững

UNEP Chương trình môi trường liên hiệp quốc

UNDP Chương trình phát triển liên hiệp quốc

EU Liên minh Châu âu

TNMT Tài nguyên và môi trường

TKNL Tiết kiệm năng lượng

TOE tấn dầu tương đương (quy đổi đơn vị tiêu thụ năng lượng)

OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Tiến trình phát triển của NAMA 7

Bảng 2 Khung đánh giá NAMA SD 12

Bảng 3 Các tiêu chí để đánh giá, lựa chọn chỉ thị 15

Bảng 4: Đề xuất các nhóm tiêu chí và tiêu chí cụ thể đánh giá các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính 18

Bảng 5: Khung chỉ thị đề xuất đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính 19

Bảng 6: Tiềm năng lý thuyết của điện mặt trời tại Việt Nam 24

Bảng 7 : Trung bình giờ nắng khu vực miền Trung 30

Bảng 8: Diện tích các khu vực, hạng mục trong hàng rào nhà máy 36

Bảng 9 :Các tiêu chí, chi thị được đề xuất về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cho các dự án năng lượng mặt trời 49

Bảng 10 : Khung bộ chỉ số đề xuất cho dự án năng lượng mặt trời 51

Bảng 11: Kết quả tính toán thử nghiệm 63

Bảng 12:Kết quả tính điểm các chỉ số thành phần 67

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1 Khung đánh giá SD trong chu trình NAMA 10

Hình 2: Chỉ số NAI 14

Hình 3: Bản đồ bức xạ quốc gia (globalsolaratlas.info) 26

Hình 4: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về BĐKH tại Việt Nam 42

Hình 5: Đồ thị phân tích các chỉ số thành phần 67

Trang 8

2oC, tổng lượng phát thải phải được giới hạn ở mức dưới 1000 GtC Đứng trước

thực trạng đó, sau hơn 20 năm đàm phán kể từ khi Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu được thông qua vào năm 1992, ngày 12 tháng 12 năm

2015, lần đầu tiên tại Paris, 200 quốc gia đã đồng thuận thông qua Thỏa thuận Paris Đây là Thỏa thuận mang tính lịch sử, vĩnh cửu ràng buộc về pháp lý cho tất cả các nước về biến đổi khí hậu Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính là trách nhiệm chung của toàn cầu

Trong giai đoạn 2008-2020, các nước phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi đã thực hiện các cam kết về giảm nhẹ phát thải KNK theo Nghị định thư Kyoto Trong khi đó, các nước đang phát triển thực hiện giảm nhẹ phát thải theo hình thức tự nguyện và thời gian gần đây thực hiện dưới hình thức các hành động giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp vời điều kiện quốc gia (NAMA) Sau năm

2020, theo quy định tại Thỏa thuận Paris, tất cả các Bên tham gia công ước khung của liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu đều phải thực hiện các mục tiêu giảm nhẹ phát thải theo đóng góp do quốc gia tự quyết (NDC) Trong bối cảnh BĐKH hiện nay , nhiều quốc gia trên thế giới đã lựa chọn giải pháp lồng ghép các nội dung liên quan đến giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH vào các chính sách phát triển Theo đó,

kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH được xây dựng trên quan điểm phát triển bền vững cũng đồng thời đem lại các lợi ích về ứng phó với BĐKH

Cùng với nhiều ngành kinh tế khác bị ảnh hưởng thì vấn đề an ninh năng lượng trong giai đoạn tới được coi là vấn đề cấp thiết với nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, những hiện tượng biến đổi khí hậu diễn ra sẽ tác động mạnh đến cung cầu năng lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành than, sản xuất điện, dầu khí và

Trang 9

2

đe dọa mất an ninh năng lượng của đất nước Tiềm năng sản xuất điện mặt trời nối lưới có thể làm giảm phát thải CO2, mỗi GW điện mặt trời phát triển mỗi năm làm giảm 1,39 triệu tấn CO2 góp phần làm giảm cường độ phát thải KNK (Bộ Công Thương và GIZ,2018) Hiện nay, Việt Nam đang và sắp triển khai hàng trăm dự án điện mặt trời, do đó cần thiết có một công cụ để đánh giá tổng quan nhất cho các cơ quan quản lý để kịp thời đưa ra các khuyến nghị, điều chỉnh phù hợp

Trang 10

3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về giảm nhẹ khí nhà kính (KNK)

1.1.1.Nội hàm liên quan đến hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK

- Hoạt động “giảm nhẹ” : Theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) là hoạt động của con người để giảm các nguồn phát thải KNK hoặc tăng cường các bể hấp thụ KNK

- Khí nhà kính: Là các chất khí trong khí quyển hấp thụ và phát xạ trở lại bức

xạ hồng ngoại phát ra từ mặt đất Các chất khí này vừa do các quá trình tự nhiên lẫn con người sinh ra Khí nhà kính chủ yếu là hơi nước, điôxit cacbon, ôxit nitơ, mêtan, ôzôn đối lưu và các CFC

- Bộ chỉ tiêu: Hiện nay có rất nhiều tài liệu định nghĩa về chỉ số và chỉ tiêu,

theo nghiên cứu về Bộ tiêu chí và cơ sở dữ liệu giám sát phát triển bền vững ở Việt Nam (2006) của Bộ Kê hoạch và Đầu tư, bộ chỉ tiêu là những chỉ tiêu được nhóm thành một tập hợp liên quan tới nhau theo nhiều chiều

Năng lượng mặt trời: Năng lượng mặt trời là năng lượng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từ mặt trời, cộng với một phần nhỏ năng lượng của các hạt nguyên

tử khác phóng ra từ các ngôi sao Dòng năng lượng này sẽ tiếp tục phát ra cho đến khi phản ứng hạt nhân trên mặt trời hết nhiên liệu, vào khoảng 5 tỉ năm nữa Con người đã biết sử dụng nguồn năng lượng này từ rất sớm, nhưng ứng dụng năng lượng mặt trời vào các công nghệ sản xuất và trên quy mô rộng thì mới chỉ thực sự vào thế kỷ 18 và cũng chủ yếu ở những nước nhiều năng lượng mặt trời, nhưng vùng sa mạc Từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1968 và 1973, năng lượng mặt trời càng được đặc biệt quan tâm Các nước công nghiệp phát triển

đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu ứng dụng năng lượng mặt trời Các ứng dụng năng lượng mặt trời phổ biến hiện nay là điện mặt trời và nhiệt mặt trời

Điện mặt trời: Điện mặt trời là lĩnh vực biến đổi năng lượng mặt trời thành năng lượng điện Hiện nay có hai phương thức sản xuất điện từ năng lượng mặt trời

Trang 11

4

Chuyển đổi trực tiếp ánh sang mặt trời thành điện năng bằng cách sử dụng các tấm pin mặt trời (Photovoltaic (PV)) Phương pháp này được sử dụng nhiều trong việc sản xuất điện quy mô lớn nhỏ khác nhau, cung cấp năng lượng cho tàu vũ trụ hoặc chiếu sáng công cộng …vv Chuyển đổi gián tiếp bằng cách tạo nhiệt độ cao bằng một hệ thống gương phản chiếu và hội tụ ánh sáng để gia nhiệt cho môi chất truyền động cho máy phát điện Phương pháp này ứng dụng để sản xuất quy mô lớn

Tấm pin năng lượng mặt trời ( PV ) : Còn có tên gọi khác là tấm thu điện năng lượng mặt trời Đây là công cụ để nhận ánh sáng mặt trời và chuyển hóa thành điện năng Tấm pin năng lượng mặt trời là những tấm mỏng với diện tích bề mặt lớn Tấm này được cấu tạo từ các tế bào quang điện Mỗi tấm bao gồm một số lượng lớn pin năng lượng mặt trời

- Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

- Năng lượng mặt trời

- Các nguồn phát thải khí nhà kính (sources of greenhouse gages):

Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 5 về BĐKH của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2014), nguyên nhân chính gây BĐKH là do sự gia tăng phát thải KNK từ các hoạt động kinh tế và tình trạng khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác…từ các hoạt động của con người

Căn cứ theo nguồn gốc phát sinh, mức độ phát thải tuyệt đối và xu hướng phát thải cũng như mức độ ảnh hưởng đến tổng tiềm năng phát thải KNK của các quốc gia, các nguồn phát thải được chia thành 4 nhóm chính:

Năng lượng: Là một trong những nguồn phát thải KNK lớn nhất hiện nay

Phát thải trong lĩnh vực năng lượng chia thành 3 nhóm: (1) Phát thải do đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (trong các ngành công nghiệp năng lượng, hoạt động giao thông vận tải ); (2) Phát thải tức thời (tức là lượng khí, hơi thải ra từ các thiết bị nén do rò rỉ, không mong muốn hoặc không thường xuyên từ quá trình khai thác, chế biến, vận chuyển nhiên liệu ) và (3) hoạt động thu hồi và lưu trữ các-bon

Trang 12

5

Trong đó, phát thải từ đốt nhiên liệu hóa thạch đóng góp đến 70% tổng lượng phát thải, tiêu biểu là từ các nhà máy sản xuất điện từ nguồn nhiên liệu hóa thạch và nhà máy lọc dầu

Quy trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (Industrial process and product use - IPPU): Phát thải từ lĩnh vực IPPU phát sinh trong các quy trình xử lý công nghiệp; việc sử dụng KNK trong các sản phẩm và sử dụng các-bon trong các nhiên liệu hóa thạch không nhằm mục đích sản xuất năng lượng Trong đó, nguồn phát thải chính là các quy trình công nghiệp xử lý nguyên liệu về mặt hóa học hoặc vật

lý Trong suốt các quy trình này, nhiều loại KNK được tạo ra bao gồm: CO2, CH4,

N2O, HFCs và PFCs

Nông nghiệp: CH4 và N2O là các KNK chính phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp như chăn nuôi, trồng lúa nước, canh tác đất nông nghiệp, hoạt động đốt (các phụ phẩm) trong sản xuất nông nghiệp

Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF): Quá trình sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất cũng là một trong những nguồn gốc phát sinh khí

CO2 Bên cạnh đó, sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp cũng là nơi hấp thụ CO2

Chất thải: Các loại KNK có thể phát sinh trong lĩnh vực chất thải bao gồm:

CO2, CH4 và N2O Các nguồn phát sinh KNK chính trong lĩnh vực chất thải được ghi nhận là: chôn lấp chất thải rắn; xử lý sinh học chất thải rắn; thiêu hủy và đốt mở chất thải; xử lý và xả nước thải Thông thường, CH4 phát thải từ các bãi chôn lấp chất thải rắn (Solid Waste Dumping Site - SWDS) chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng lượng KNK của lĩnh vực này CH4 trong xả và xử lý nước thải cũng đóng một vai trò tương đối quan trọng Bên cạnh đó, xả thải, xử lý chất thải rắn và nước thải cũng đồng thời tạo ra các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi không metan (NMVOCs), NOx, CO

và NH3 NOx chủ yếu sinh ra khi đốt chất thải, còn NH3 sinh ra trong quá trình compost NOx và NH3 có thể gián tiếp tạo ra N2O Tuy nhiên, lượng N2O này chiếm một tỷ lệ nhỏ, không đáng kể

Trang 13

6

- Bể hấp thụ khí nhà kính (sinks of greenhouse gages): Bao gồm các hệ thống

tự nhiên hoặc nhân tạo hấp thụ và lưu trữ khí nhà kính từ khí quyển Sử dụng đất và lâm nghiệp là các nguồn hấp thụ và lưu trữ các bon chính

Tại Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang triển khai xây dựng Nghị định quy định lộ trình và phương thức giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, trong đó có

đề cập đến “Dự án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp cơ sở” là các dự án hoạt

động kinh tế - xã hội có phát thải khí nhà kính thuộc các lĩnh vực phải xây dựng đề

án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký nhằm mục đích tham gia giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo quy định

Dự thảo Nghị định cũng đã đưa ra một số nguyên tắc về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại Việt Nam:

- Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đối với các hoạt động kinh tế - xã hội có phát thải khí nhà kính thuộc các lĩnh vực năng lượng, quá trình công nghiệp, nông nghiệp, quản lý chất thải, LULUCF và các lĩnh vực liên quan khác để tăng sức cạnh tranh của quốc gia theo hướng phát triển nền kinh tế các-bon thấp và tăng trưởng xanh gắn liền với phát triển bền vững

- Hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được thực hiện thông qua đề án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp quốc gia, các đề án, chương trình, dự án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và được cập nhật, điều chỉnh định kỳ theo quy định của pháp luật, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Như vậy, để cắt giảm được lượng phát thải khí nhà kính và tăng cường khả năng hấp thụ khí nhà kính, con người cần có sự can thiệp đối với các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội thuộc các lĩnh vực phát thải lớn như: Năng lượng (sản xuất và tiêu thụ năng lượng); công nghiệp (quy trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm); nông, lâm nghiệp và sử dụng đất (chăn nuôi, trồng trọt,…) và chất thải (quản lý và xử lý chất thải) Sự can thiệp đó chính là các hoạt động giảm nhẹ phát

Trang 14

Bảng 1: Tiến trình phát triển của NAMA

Năm/COP Tiến trình phát triển

2007 - COP 13 Ý tưởng đầu tiên về NAMA được đưa ra

2009 - COP 15 - Ý tưởng NAMA được giữ, bổ sung thêm yêu cầu NAMA cần

thực hiện MRV quốc tế

- Hình thành Quỹ tài trợ nhanh 30 tỷ USD

2010 - COP16 - Phát triển NAMA đặt trong bối cảnh phát triển bền vững

- Khuyến khích các nước đang phát triển xây dựng kế hoạch/chiến lược phát triển nền kinh tế theo hướng các bon thấp 2011- COP 17 - Thành lập Quỹ Khí hậu xanh

- Xây dựng Ban đăng ký NAMA của UNFCCC

Trang 15

8

2012 – COP18 Xây dựng Chương trình làm việc NAMA cho giai đoạn

2013-2014

2013 – COP 19 - Thúc đẩy việc xây dựng, thực hiện NAMAs bao gồm (MRV)

tại các nước đang phát triển

- Yêu cầu đưa thông tin về NAMAs vàoThông báo quốc gia và Báo cáo cập nhật hai năm một lần

2017 – COP 23 - Thuật ngữ “các hành động giảm nhẹ” được đề cập nhiều lần

trong Thỏa thuận Paris và Quyết định trước đó

- Công nhận “… giá trị xã hội, kinh tế và môi trường của các

hành động giảm nhẹ tự nguyện và các đồng lợi ích của chúng đối với sự thích ứng, sức khỏe và phát triển bền vững”

Như vậy, theo thời gian, NAMAs từ khi chỉ là khái niệm được đưa ra để bàn luận (tại COP 13), đã trở thành những hành động để giảm nhẹ phát thải KNK so với kịch bản phát triển thường (BAU) vào năm 2020 ở các nước đang phát triển

NAMAs đã và đang được chuẩn bị dưới hình thức các hoạt động giảm nhẹ theo

sang kiến của Chính phủ, đồng nhất với mục tiêu phát triển quốc gia và được hỗ trợ

về tài chính, kỹ thuật và tăng cường năng lực

Chính phủ các nước, các tổ chức đa phương, các đối tác phát triển và các bên liên quan khác đã và đang tham gia thực hiện NAMAs để đảm bảo các nước đang phát triển sẽ góp phần giảm lượng phát thải KNK toàn cầu cũng như đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là các mục tiêu về phát triển bền vững (SDGs) theo Chương trình Nghị sự 2030 ở cấp quốc gia và cấp địa phương

Chính vì vậy, NAMAs ngày càng trở nên quan trọng để hỗ trợ cho việc thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH với đồng lợi ích đáng kể cho Chương trình phát triển bền vững năm 2030, thống nhất với chiến lược phát triển quốc gia

Trang 16

9

1.1.3 Công cụ đánh giá tác động của các NAMA tới phát triển bền vững

Dự án nghiên cứu “Đo lường phát triển bền vững trong các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA)” được khởi xướng bởi Nhóm đối tác NAMA – phát triển bền vững Mục đích của dự án nghiên cứu là cải thiện những giá trị đo lường định lượng và định tính trong các kết quả thực hiện NAMA Quá đó tăng cường sự hiểu biết về cách thức NAMA có thể đóng góp để đáp ứng các mục tiêu phát triển quốc gia Được sự hỗ trợ của Ban thư ký thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH và Chương trình phát triển liên hợp quốc, UNEP DTU phối hợp với Viện quốc tế về Phát triển bền vững cùng thực hiện nghiên cứu này

Đây là một cách tiếp cận mới trong đánh giá hoạt động giảm phát thải khí nhà kính dựa trên các lợi ích phát triển đi kèm Theo đó, các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính sẽ được đánh giá thông qua những đóng góp của

nó trong suốt vòng đời hoạt động trên cơ sở các chỉ thị phát triển bền vững

Trang 17

10

Hình 1 Khung đánh giá SD trong chu trình NAMA

Khung đánh giá giúp đánh giá tổng hợp phát triển bền vững trong suốt quá trình thực hiện, trong đó đánh giá tiền dự án và đánh giá sau dự án độc lập với nhau Những yếu tố độc lập cho việc đánh giá lợi ích phát triển bền vững bao gồm những chỉ thị về lợi ích phát triển bền vững, quá trình thay đổi, định lượng, lượng giá, đo đạc, báo cáo, thẩm tra và chứng nhận Với các công

cụ đánh giá phát triển bền vững sẵn có, không chỉ tập trung về việc lựa chọn tiêu chí phát triển bền vững và còn thiết lập mục tiêu phát triển bền vững, hoặc đánh giá sau dự án, nhấn mạnh các quan điểm MRV Một số công cụ có cách tiếp cận tổng hợp kết hợp giữa đánh giá tiền dự án và sau dự án với các đặc điểm khác nhau của chu trình NAMA

Khung đánh giá là cơ sở lý luận để đánh giá lợi ích phát triển bền vững liên quan tới NAMAs Bước tiếp theo sau khi xây dựng khung đánh giá là

Trang 18

11

phát triển công cụ đánh giá lợi ích phát triển bền vững kết hợp với việc kiểm

kê và báo cáo KNK

Mục tiêu của Khung đánh giá là:

- Hỗ trợ đánh giá lợi ích phát triển bền vững của NAMA không quy tắc, minh bạch, thống nhất, đáng tin, dễ áp dụng;

- Hướng dẫn người sử dụng phát triển công cụ NAMA SD phù hợp điều kiện quốc gia và các bên liên quan cũng như các yêu cầu cụ thể của ngành;

- Giúp các nhà hoạch định chính sách quản lý các hoạt động giảm nhẹ

để hỗ trợ ra quyết định ưu tiên phát triển theo hướng bền vững;

- Phát động cơ chế minh bạch và thống nhất toàn cầu cho đánh giá phát triển bền vững trong quá trình thực hiện NAMA

Trên quan điểm tiếp cận về khung đánh giá này, South Pole và Millennium Development Goals (MDG) đã xây dựng công cụ đánh giá phát triển bền vững NAMA – NAMA SD tool Công cụ đã cung cấp những liên kết chặt chẽ giữa NAMAs với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) được Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua năm 2015 Các mục tiêu phát triển bền vững được chia thành các nhóm tương ứng với các nhóm chỉ thị Giai đoạn đầu công cụ được xây dựng với 4 nhóm chỉ thị về: (1) môi trường, (2) xã hội, (3) tăng trưởng và phát triển và (4) kinh tế Hiện nay, công cụ được phát triển hoàn thiện hơn với việc bổ sung thêm nhóm chỉ thị (5) về thể chế

Để đảm bảo đa dạng yêu cầu và kì vọng của các bên liên quan, công cụ NAMA SD được thiết kế dựa trên các nguyên tắc sau:

Trang 19

12

- Không áp đặt: tập trung vào những mục tiêu cần thực hiện, không cần quá chi tiết cách thức thực hiện ví dụ chỉ cần định nghĩa bền vững và không bền vững

- Minh bạch: tất cả các phương pháp đánh giá định lượng, định tính hoặc lượng giá, nên được công khai qua từng bước

- Nhất quán: tổng hợp thông tin đối chiếu dựa vào chỉ thị lợi ích phát triển bền vững và tác động tiêu cực của NAMA

- Đáng tin cậy: rà soát độc lập để đảm bảo các phương pháp và kết quả chính xác

- Sự tham gia của các bên liên quan: hỗ trợ quản trị khí hậu

- Dễ sử dụng: khung đánh giá không yêu cầu quá nhiều nỗ lực tổng hợp

dữ liệu so với kết quả Theo dõi và đánh giá (M&E) trừ khi có yêu cầu đặc biệt cho việc đánh giá phát triển bền vững

Dưới đây là khung đánh giá NAMA SD Mỗi hạng mục đều có thể thêm giá trị , kết hợp với những mong muốn của các bên liên quan, phụ thuộc vào bối cảnh quốc gia, đặc điểm của NAMA, yêu cầu hỗ trợ tài chính và các nhu cầu khác

Bảng 2 Khung đánh giá NAMA SD

2) Thay đổi đột biến Chỉ thị quá trình thay đổi điển hình thành

phát triển cacbon thấp và phát triển bền vững

3) Định lượng và lượng giá Định lượng các tác động SD dựa trên các

mục tiêu SDG đã được xác định và phương

Trang 20

5) Sự tham gia của các bên

Kết hợp với Hàng rào ngăn ngừa thiệt hại

để tránh và giảm thiểu tác động tiêu cực

7) Theo dõi và báo cáo Phát triển kế hoạch theo dõi; Cách thức

theo dõi chỉ thị, ai thực hiện, tần suất thực hiện? Mô tả quá trình đảm bảo chất lượng Báo cáo dữ liệu theo dõi liên quan tới các bên liên quan

8) Thẩm tra Rà soát độc lập về phương pháp và dữ liệu

cung cấp để đảm bảo tác động SD là đáng tin cậy và minh bạch

9) Chứng nhận Các bên tư vấn độc lập và cộng đồng xã hội

xác định tiêu chuẩn chứng nhận đơn vị giảm phát thải KNK cùng với lợi ích SD Công cụ SD tool NANA được thực hiện trên định dạng bảng tính exel, trong

đó đã thiết lập cấu trúc và cách xác định đối với các chỉ số về lợi ích phát triển bền vững đi kèm với từng can thiệp của NAMA trong một giai đoạn giám sát cụ thể Những lợi ích phát triển bền vững của NAMAs được định lượng thông qua việc sử dụng những cải tiến phù hợp với điều kiện quốc gia và được thể hiện bằng chỉ số NAIs (NAIs - Nationally Appropriate Improvements) Mỗi cải tiến cùng với sự ảnh hưởng tích cực có thể nhận được một giá trị của NAI với giá trị được phân loại từ 0 đến 5 Giá trị nhỏ tương ứng với với những cải tiến thấp, trong khi những giá trị lớn hơn thể hiện những tiến bộ cao Những cải tiến cùng với sự ảnh hưởng tiêu cực có thể nhận giá trị âm của NAI từ 0 đến -5 Chỉ số NAI được tính theo công thức:

Trang 21

Hiện nay, công cụ NAMA SD đã được áp dụng tại một số nước Ví dụ, Campuchia đã thử nghiệm đánh giá các NAMA về sử dụng năng lượng hiệu quả trong ngành dệt may, thiết bị chiếu sáng tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng sinh khối trong các hệ thống lò hơi; Philippin đã thử nghiệm đánh giá NAMA trong lĩnh vực nông nghiệp về canh tác lúa cải tiến; Gambia và Namibia ứng dụng công

cụ trong đánh giá các NAMA về phát triển năng lượng tái tạo trong ngành nông nghiệp nông thôn,…

1.2 Tổng quan về Bộ chỉ số giảm nhẹ khí nhà kính

1.2.1 Xây dựng chỉ số

Xây dựng khung logic

Áp dụng hướng dẫn xây dựng các chỉ số tổng hợp của OECD, bộ khung chỉ số được kiến tạo và phát triển theo các chủ đề Từ các chủ đề là các tiêu chí cụ thể, các chỉ thị được rà soát và liệt kê nhằm phản ánh hết các khía cạnh của tiêu chí

Cụ thể trong nghiên cứu này, bộ khung chỉ số được kiến tạo theo 04 chủ đề: (1) thân thiện với khí hậu; (2) thân thiện với môi trường tự nhiên; (3)

Trang 22

Các chỉ thị được lựa chọn dựa trên phương pháp phân tích đa tiêu chí Các tiêu chí lựa chọn một chỉ thị được đưa ra như ở Bảng 3 sau đây:

Bảng 3 Các tiêu chí để đánh giá, lựa chọn chỉ thị

Xây dựng công thức tính chỉ số và tính điểm chỉ thị

 Xây dựng công thức chung tính chỉ số Dựa trên khung chỉ số đã được xây dựng, chỉ số đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính là kết quả tổng hợp của 04 chỉ số thành phần, trong mỗi chỉ số thành phần là tập hợp các chỉ thị

NAI = a NAIkh + b NAImt + c NAItt + d NAIxh

Trong đó:

- NAI: Chỉ số đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

Trang 23

16

- NAIkh: Chỉ số thành phần – Thân thiện với khí hậu

- NAImt: Chỉ số thành phần – Thân thiện với môi trường tự nhiên

- NAItt: Chỉ số thành phần – Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển theo hướng các-bon thấp

- NAIxh: Chỉ số thành phần – Cải thiện an sinh xã hội

a, b, c, d: Trọng số của các chỉ số thành phần và chỉ thị trong mỗi chỉ số thành phần: a+ b+c + d =1

Điểm của các chỉ số thành phần được tính theo công thức sau:

NAItp = ∑

Trong đó:

- NAItp là điểm của chỉ số thành phần NAIkh , NAImt , NAItt , NAIxh

- Ii là điểm số của các chỉ thị của chỉ số thành phần

- wi là các trọng số của từng chỉ thị, được xác định dựa trên mức độ ưu tiên, quan trọng của vấn đề trong chỉ số thành phần Các trọng số này cũng cần được xác định theo phương pháp chuyên gia

- n là số chỉ thị của chỉ số thành phần

 Xác định trọng số Việc xác định trọng số cho các chỉ số thành phần và các chỉ thị được thực hiện theo phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia

Gán trọng số là công việc mang tính chủ quan, phụ thuộc cả vào yêu cầu chính trị và yêu cầu khoa học Việc đánh trọng số cần phải rõ ràng, hợp

lý, dựa trên kết luận nghiên cứu của chuyên gia để đảm bảo đưa ra những đo lường chính xác và phát huy tối đa hiệu quả trong thực tế đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK

Việc gán trọng số được xác định qua một quá trình lặp đi lặp lại Ban đầu có thể gán trọng số giống nhau cho các chỉ thị Sau đó, chúng được điều chỉnh để phản ánh tầm quan trọng tương đối của một vấn đề cụ thể và ảnh hưởng của chỉ thị đó đối với việc đánh giá hoạt động trong lĩnh vực cụ thể

Trang 24

17

Bên cạnh việc tham vấn ý kiến của chuyên gia chuyên ngành, cần xem xét phạm vi của chỉ thị, thể loại, điểm số mục tiêu hay số lượng biến tồn tại trong

dữ liệu khi cân nhắc gán trọng số

Trên thực tế, rất khó có thể loại bỏ hoàn toàn yếu tố chủ quan và những bất đồng trong quá trình gán trọng số

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, trên cơ sở tiếp cận theo công

cụ NAMA SD tool, mỗi hoạt động NAMA được xây dựng đều hướng tới mục tiêu xác định gắn liền với các mục tiêu phát triển bền vững Chính vì vậy, quá trình xin ý kiến tham vấn chuyên gia đã thống nhất chọn phương án để các chỉ

số thành phần của chỉ số đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

có trọng số bằng nhau

Trọng số của từng chỉ thị trong các chỉ số thành phần được xác định tương đương nhau, từng chỉ số thành phần được tính bằng trung bình điểm của các chỉ thị trong nhóm

 Phương pháp tính điểm cho chỉ thị Các chỉ thị được cho điểm theo phương pháp tính điểm theo mục tiêu Điểm số của chỉ thị được tính theo phần trăm hoàn thành mục tiêu đề ra của dự án, ngành/lĩnh vực hoặc quốc gia tùy theo phạm vi của hoạt động đánh giá (lấy theo các quy hoạch, kế hoạch hay định hướng phát triển của dự án, ngành/lĩnh vực hay quốc gia)

Điểm số của các chỉ thị được chuẩn hóa về thang điểm 0-5 Mỗi chỉ thị cùng với sự ảnh hưởng tích cực có thể nhận được một giá trị của Ii với giá trị được phân loại từ 0 đến 5 Giá trị nhỏ tương ứng với với những cải tiến thấp, trong khi những giá trị lớn hơn thể hiện những tiến bộ cao Những cải tiến cùng với sự ảnh hưởng tiêu cực có thể nhận giá trị âm của Ii từ -5 đến 0 Điểm của chỉ thị Ii được tính theo công thức:

Ii = |((IV - BV)/(TV - BV)*5)|

Trong đó: IV là giá trị can thiệp, BV là giá trị tiêu chuẩn, TV là giá trị mục tiêu

Mỗi chỉ thị sẽ có một điểm số Ii tương ứng trong từng giai đoạn giám sát đánh giá Kết quả đánh giá cho phép so sánh những cải tiến của các lợi ích phát

Trang 25

18

triển bền vững với đường cơ sở hoặc so sánh với các năm khác nhau

1.2.2 Đề xuất bộ khung chỉ số đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK cho Việt Nam

Kết quả nghiên cứu được tổng hợp từ các nội dung nghiên cứu nhánh

về: cơ sở khoa học về xây dựng chỉ số, kinh nghiệm quốc tế về đánh giá,

giám sát hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK, rà soát hệ thống chỉ tiêu/chỉ thị liên quan đến hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK trong hệ thống văn bản chính sách, pháp luật, trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, hệ thống chỉ tiêu thống kê các bộ, ngành và địa phương

Nghiên cứu đã đề xuất được bộ khung chỉ số đánh giá hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK cho Việt Nam Bộ khung chỉ số gồm 04 nhóm tiêu chí, 17 tiêu chí cụ thể (bảng 4) và 29 chỉ thị đánh giá (chi tiết như Bảng 5)

Chỉ số đánh giá các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính thuộc các lĩnh vực khác nhau (năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp, LULUCF, chất thải) sẽ có cấu trúc khung giống nhau về nhóm tiêu chí

và các tiêu chí cụ thể Các chỉ thị đánh giá sẽ được lựa chọn khác nhau

từ Bảng tổng hợp các chỉ thị (Bảng 5) hoặc có thể bổ sung thêm cho phù hợp với đặc trưng của từng lĩnh vực

Bảng 4: Đề xuất các nhóm tiêu chí và tiêu chí cụ thể đánh giá các hoạt động

3 Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng

4 Đảm bảo an ninh năng lượng

5 Phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sạch

6 Cải tiến, chuyển giao công nghệ

7 Sản xuất trường và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với mô

i

Trang 26

9 Giảm phát sinh chất thải và các chất gây ô nhiễm

10 Giảm các nguy cơ gây sự cố môi trường

11 Giảm tác động có hại tới hệ sinh thái và đa dạng sinh học

12 Tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường

1 Mức giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (đã

quy đổi ra CO2 tương đương) (%)

2 Mức giảm nhẹ phát thải CO2 trên một đơn vị

sản phẩm (%) Tăng cường các bể hấp

thụ các bon

3 Tốc độ thay đổi diện tích rừng (trồng mới, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh, giao khoán bảo vệ) (%)

6 Tỷ lệ điện năng sản xuất từ năng lượng tái tạo trong tổng điện năng sản xuất (%)

7 Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng tiêu thụ sơ cấp (%)

Cải tiến, chuyển giao công nghệ

8 Tỷ lệ kinh phí chi cho đổi mới, nghiên cứu công nghệ/tổng thu nhập doanh nghiệp (%)

Trang 27

20

thấp

Sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường

9 Tỷ lệ sản phẩm được dán nhãn sinh thái/nhãn tiết kiệm năng lượng (%)

10 Tỷ lệ sản phẩm được chứng nhận áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng, ATTP (GMP, HACCP, ISO 22000, VietGAP) (%) Đóng góp kinh tế 11 Tăng trưởng GDP/năm (%)

12 Tỷ lệ bãi chôn lấp chất thải đảm bảo quy định về môi trường(%)

13 Tỷ lệ nước thải có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (%)

14 Tỷ lệ khí thải gây ô nhiễm (NO2, SO2, TSP) được xử lý đạt yêu cầu về môi trương (%)

15 Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom, xử lý đạt yêu cầu (%)

16 Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom,

xử lý đúng quy định(%)

17 Tỷ lệ diện tích canh tác lúa nước được tưới tiêu hợp lý (%)

18 Tỷ lệ phế phụ phẩm nông nghiệp được thu gom xử lý đạt yêu cầu về môi trường (%)

19 Tỷ lệ chất thải chăn nuôi được thu gom

xử lý đạt yêu cầu về môi trường (%)

20 Tỷ lệ sử dụng phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp (%)

21 Tỷ lệ diện tích đất bị thoái hóa được cải tạo (%)

Giảm các nguy cơ gây

sự cố môi trường 22 Phát sinh các sự cố môi trường Giảm tác động có hại

tới hệ sinh thái và đa dạng sinh học

23 Tỷ lệ các loài động vật bị đe dọa (%)

Tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường

24 Tỷ lệ số lần vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường/tổng số lần kiểm tra trong năm (%)

Phát triển và ổn định sinh kế 25 Số lao động được tạo việc làm

Trang 28

đồng

28 Tỷ lệ chi cho các hoạt động công cộng (%)

Bình đẳng giới 29 Tỷ lệ lao động nữ tham gia quản lý (%)

1.3 Tổng quan về năng lượng mặt trời

1.3.1 Tiềm năng của năng lượng tái tạo tại Việt Nam

Việt Nam có tiềm năng phát triển các nguồn Năng lượng tái tạo sẵn có rất lớn Những nguồn Năng lượng tái tạo hiện nay có thể được biết đến như là: thủy điện nhỏ, năng lượng gió, năng lượng sinh khối, năng lượng khí sinh học (KSh), nhiên liệu sinh học, năng lượng từ nguồn rác thải sinh hoạt, năng lượng mặt trời và năng lượng địa nhiệt

Thủy điện nhỏ: được đánh giá là dạng Năng lượng tái tạo khả thi nhất về mặt

kinh tế - tài chính Căn cứ vào các báo cáo đánh giá gần đây nhất thì hiện nay có trên 1.000 địa điểm đã được xác định có tiềm năng phát triển thủy điện nhỏ, qui mô

từ 100kW tới 30MW với tổng công suất đặt trên 7.000MW, các vị trí này tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

Năng lượng gió:được đánh giá là quốc gia có tiềm năng phát triển năng

lượng gió nhưng hiện tại số liệu về tiềm năng khai thác năng lượng gió của Việt Nam chưa được lượng hóa đầy đủ bởi còn thiếu điều tra và đo đạc Số liệu đánh giá

về tiềm năng năng lượng gió có sự dao động khá lớn, từ 1.800MW đến trên 9.000MW, thậm chí trên 100.000MW Theo các báo cáo thì tiềm năng năng lượng gió của Việt Nam tập trung nhiều nhất tại vùng duyên hải miền Trung, miền Nam, Tây Nguyên và các đảo

Năng lượng sinh khối: Là một nước nông nghiệp, Việt Nam có tiềm năng rất

lớn về nguồn năng lượng sinh khối Các loại sinh khối chính là: gỗ năng lượng, phế

Trang 29

22

thải - phụ phẩm từ cây trồng, chất thải chăn nuôi, rác thải ở đô thị và các chất thải hữu cơ khác Khả năng khai thác bền vững nguồn sinh khối cho sản xuất năng lượng ở Việt Nam đạt khoảng 150 triệu tấn mỗi năm Một số dạng sinh khối có thể khai thác được ngay về mặt kỹ thuật cho sản xuất điện hoặc áp dụng công nghệ đồng phát năng lượng (sản xuất cả điện và nhiệt) đó là: Trấu ở Đồng bằng Sông Cửu long, Bã mía dư thừa ở các nhà máy đường, rác thải sinh hoạt ở các đô thị lớn, chất thải chăn nuôi từ các trang trại gia súc, hộ gia đình và chất thải hữu cơ khác từ chế biến nông-lâm-hải sản

Năng lượng mặt trời: Việt Nam có tiềm năng về nguồn năng lượng mặt trời,

có thể khai thác cho các sử dụng như: (i) Đun nước nóng, (ii) Phát điện và (iii) Các ứng dụng khác như sấy, nấu ăn Với tổng số giờ nắng cao lên đến trên 2.500 giờ/năm, tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm vào khoảng 230-250 kcal/cm2theo hướng tăng dần về phía Nam là cơ sở tốt cho phát triển các công nghệ năng lượng mặt trời

Năng lượng địa nhiệt: Mặc dù nguồn địa nhiệt chưa được điều tra và tính

toán kỹ Tuy nhiên, với số liệu điều tra và đánh giá gần đây nhất cho thấy tiềm năng điện địa nhiệt ở Việt Nam có thể khai thác đến trên 300MW Khu vực có khả năng khai thác hiệu quả là miền Trung.Hiện tại, sử dụng năng lương tái tạo ở Việt Nam mới chủ yếu là năng lượng sinh khối ở dạng thô cho đun nấu hộ gia đình Năm

2010, mức tiêu thụ đạt khoảng gần 13 triệu tấn quy dầu.Ngoài việc sử dụng năng lượng sinh khối cho nhu cầu nhiệt, thì còn có một lượng Năng lượng tái tạo khác đang được khai thác cho sản xuất điện năng Theo số liệu mới nhất đến năm 2010, tổng điện năng sản xuất từ các dạng Năng lượng tái tạo đã cung cấp lên lưới điện quốc gia đạt gần 2.000 triệu kWh, chiếm khoảng 2% tổng sản lượng điện phát lên lưới toàn hệ thống

So với nhiều nước trên thế giới, những kết quả nêu trên còn quá nhỏ bé và chưa phát huy hết tiềm năng hiện có Để đáp ứng nhu cầu trong khi việc cung ứng năng lượng đang và sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề & thách thức, đặc biệt là sự

Trang 30

23

cạn kiệt dần nguồn nhiên liệu hóa thạch nội địa, giá dầu biến động theo xu thế tăng

và Việt Nam sẽ sự phụ thuộc nhiều hơn vào giá năng lượng thế giới , Chính vì vậy, việc xem xét khai thác nguồn Năng lượng tái tạo trong giai đoạn tới sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường Vấn đề này đã được Chính phủ quan tâm, chỉ đạo và bước đầu đã được đề cập trong một số các văn bản pháp lý

 Thực trạng chính sách của Việt nam trong lĩnh vực năng lượng tái tạo Căn cứ vào Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và phê duyệt "Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050" theo Quyết định số 1855/2007/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 Trong quyết định này thì năng lượng tái tạo được định hướng theo từng phân ngành: điện, than, dầu khí, năng lượng mới

và tái tạo

Cuối năm 2016, ngay sau khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua việc dừng triển khai dự án điện hạt nhân, phương án điều chỉnh Quy hoạch điện VII đã được phê duyệt với sự phát triển trở lại các dự án nhiệt điện than do tính đơn giản và kinh nghiệm triển khai các dự án này ở Việt Nam Tuy vậy, với những tác động lớn đối với môi trường đã được chứng minh, việc lựa chọn thúc đẩy mạnh phát triển điện than đi ngược hoàn toàn với xu hướng phát triển bền vững, cũng như xu hướng năng lượng của thế giới Chính vì vậy, việc tiếp tục điều chỉnh Quy hoạch điện VII điều chỉnh là vô cùng cần thiết, với cách tiếp cận bền vững, phù hợp hơn cho “giai đoạn trung chuyển” trước khi tăng cường phát triển các nguồn năng lượng tái tạo cho tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu

Sự gia tăng nhanh của lượng cầu về điện năng Lĩnh vực năng lượng Việt Nam chứng kiến sự gia tăng tiêu dùng điện năng rất lớn, đặc biệt là từ khi nền kinh

tế chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang thị trường Những năm gần đây, tăng trưởng tiêu dùng điện rơi vào 13%/năm cho giai đoạn 2006- 2010 và 10%/năm cho giai đoạn 2010-2015 Theo dữ liệu của Quy hoạch điện VII điều chỉnh, để đáp ứng

Trang 31

24

đủ lượng cầu về điện trong nước, đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7,0%/năm trong giai đoạn 2016 - 2030

thì sản lượng điện thương phẩm năm 2020 phải đạt khoảng 235 - 245 tỷ kWh; năm

2025 khoảng 352 - 379 tỷ kWh; năm 2030 khoảng 506 - 559 tỷ kWh Tương ứng

với đó là điện sản xuất và nhập khẩu năm 2020 khoảng 265 - 278 tỷ kWh; năm

2025 khoảng 400 - 431 tỷ kWh và năm 2030 khoảng 572 - 632 tỷ kWh Từ những

dữ liệu đó Bộ Công thương đã đưa ra dự báo trong kịch bản tăng trưởng chậm với

mức tăng 10% tiêu dùng điện năng cho tới năm 2020, 8% giai đoạn 2020-2025 và

6% ở giai đoạn 2025-2030

1.3.2 Tiềm năng năng lượng mặt trời tại Việt Nam

Tiềm năng năng lượng mặt trời có thể khai thác được căn cứ vào bức xạ mặt

trời Việt Nam là khu vực có bức xạ mặt trời hàng năm tương đối lớn và ổn định,

đặc biệt là các khu vực Cao nguyên Miền Trung, duyên hải miền Trung và Miền

Nam, Đồng bằng sông Cửu Long Tính trung bình toàn quốc thì năng lượng bức xạ

mặt trời là 4-5kWh/m2 mỗi ngày Theo đánh giá, những vùng có số giờ nắng từ

1800 giờ/năm trở lên thì được coi là có tiềm năng để khai thác sử dụng Đối với

Việt Nam, tiêu chí này phù hợp với nhiều vùng, nhất là các tỉnh phía Nam Tiềm

năng lý thuyết điện mặt trời tại Việt Nam được dự tính như bảng sau:

Bảng 6: Tiềm năng lý thuyết của điện mặt trời tại Việt Nam

Nguồn: Trung tâm số liệu khí tượng thủy văn, 2014

Trang 32

25

Hiện trạng phát triển điện mặt trời nối lưới ở Việt Nam, theo số liệu cập nhật mới nhất đến 08/2017 cho biết, tổng công suất lắp đặt điện mặt trời chỉ khoảng 28MW, chủ yếu là quy mô nhỏ cấp điện tại chỗ (vùng ngoài lưới cho các hộ gia đình và một số dự án trình diễn nối lưới điện hạ áp – lặp đặt trên các tòa nhà, công sở) Tuy nhiên, trong vòng 2 năm trở lại đây nhiều chủ đầu tư trong và ngoài nước đang xúc tiến và tìm kiếm cơ hội đầu tư vào dự án điện mặt trời nối lưới quy mô lớn trong phạm vi cả nước Một dự án điện mặt trời quy mô công nghiệp với công suất 19,2 MW đấu nối lưới điện quốc gia đầu tiên của Việt Nam đã được động thổ xây dựng ngày 15 tháng 8 năm 2015 tại thôn Đạm Thủy, xã Đức Minh huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi Dự án điện mặt trời 2 kết hợp với phát điện diezel tại xã đảo An Bình, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi với công suất 97kwp Hiện nay, có khoảng

115 dự án quy mô công suất lớn, nối lưới đã và đang được xúc tiến đầu tư tại một số tỉnh có tiềm năng điện mặt trời lớn như tại các tỉnh miền Trung (từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận) và đồng bằng sông Cửu Long ở các mức độ khác nhau như: xin chủ trương khảo sát địa điểm, xin cấp phép đầu tư, lập dự án đầu tư xây dựng Tính tới hết tháng 4/2018, Bộ Công Thương đã phê duyệt hơn 70 dự án với tổng công suất trên 3.000 MW, các dự án dự kiến đưa vào vận hành trước tháng 6/2019 Ước tính tới cho tới cuối 2017, các nhà máy sản xuất tấm pin PV tại Việt Nam có tổng công suất thiết kế khoảng hơn 6.000 MW với sản lượng thực tế hàng năm khoảng gần 300-400 MW, phục vụ xuất khẩu.Có bốn dạng quy mô công nghệ năng lượng mặt trời PV hiện đang có mặt trên thị trường Việt nam: Hộ gia đình; Quy mô thương mại; Cụm pin MT nhỏ; NM phát điện nối lưới

Trang 33

26

Hình 3: Bản đồ bức xạ quốc gia (globalsolaratlas.info)

Giá trị bức xạ của Việt Nam theo phương ngang dao động từ 897 kWh/m2 /năm đến 2108 kWh/m2 /năm Tương ứng đối với ngày, giá trị nhỏ nhất đạt 2,46 kWh/m2 /ngày và lớn nhất là 5,77 kWh/m2 /ngày (Nguyễn Anh Tuấn, 2018)

Tiềm năng kinh tế cho điện mặt trời nối lưới: Tổng tiềm năng kinh tế của các

dự án điện mặt trời trên mặt đất tại Việt Nam đạt ít nhất 7 GW vào năm 2020 Tiềm năng này vượt xa mục tiêu quốc gia là 0,8 GW vào năm 2020 Tuy nhiên, trong xu thế chi phí đầu tư và tài chính cho các dự án điện mặt trời đang ngày càng giảm, tiềm năng kinh tế có thể đạt mức vài trăm GW trong giai đoạn 2021 - 2030 khi thị trường bắt đầu phát triển, và vượt xa mục tiêu đã đề ra là 12 GW vào năm 2030

Trang 34

27

1.3.3 Mối liên hệ giữa các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và năng lượng mặt trời

Năng lượng: Là một trong những nguồn phát thải KNK lớn nhất hiện nay

Phát thải trong lĩnh vực năng lượng chia thành 3 nhóm: (1) Phát thải do đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (trong các ngành công nghiệp năng lượng, hoạt động giao thông vận tải ); (2) Phát thải tức thời (tức là lượng khí, hơi thải ra từ các thiết bị nén do rò rỉ, không mong muốn hoặc không thường xuyên từ quá trình khai thác, chế biến, vận chuyển nhiên liệu ) và (3) hoạt động thu hồi và lưu trữ các-bon Trong đó, phát thải từ đốt nhiên liệu hóa thạch đóng góp đến 70% tổng lượng phát thải, tiêu biểu là từ các nhà máy sản xuất điện từ nguồn nhiên liệu hóa thạch và nhà máy lọc dầu

Các nghiên cứu mới công bố của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho biết, cứ mỗi năm trì hoãn các nỗ lực toàn cầu chống biến đổi khí hậu, thế giới mất thêm 500 tỉ USD đầu tư cho năng lượng sạch vào năm 2030 Để giảm 50% lượng khí thải CO2 vào năm 2050, IEA cho rằng, thế giới cần đầu tư tới 316.000 tỉ USD, cao hơn 17% so với tổng đầu tư thông thường hiện nay Tổng lượng khí thải CO2 do đốt nhiên liệu hóa thạch năm 2005 là 27,1 tỉ tấn, nhưng nếu chính sách hiện hành không được thay đổi mạnh mẽ, lượng khí thải này sẽ tăng tới 42 tỉ tấn vào năm

2030 Dự báo, lượng năng lượng được ngành vận tải sử dụng cũng như lượng khí thải CO2 có liên quan sẽ tăng 50% vào năm 2030 và 80% vào năm 2050 (hiện ngành vận tải chiếm 25% tổng năng lượng được sử dụng và lượng khí thải liên quan) Tiếp đến là khí thải do sản xuất điện chiếm 40% tổng lượng khí thải toàn cầu

và sẽ tăng lên 58% vào năm 2030 Công nghiệp chiếm hơn 30% tổng năng lượng được sử dụng và 40% tổng lượng khí thải CO2 trên toàn cầu

Cùng với nhiều ngành kinh tế khác bị ảnh hưởng thì vấn đề an ninh năng lượng trong giai đoạn tới được coi là vấn đề cấp thiết với nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, những hiện tượng biến đổi khí hậu diễn ra sẽ tác động mạnh đến cung

Trang 35

28

cầu năng lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành than, sản xuất điện, dầu khí và

đe dọa mất an ninh năng lượng của đất nước

Các hoạt động giảm nhẹ phát thải được hiểu là hoạt động của con người để giảm các nguồn phát thải KNK hoặc tăng cường hấp thụ KNK (IPCC) Vì vậy, sử dụng năng lượng tái tạo nói chung hay năng lượng mặt trời nói riêng là các hoạt động của con người đưa ra để sử dụng thay thế cho các nguồn năng lượng từ hóa thạch đang cạn kiệt dần

Trong “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2050" theo Quyết định số 1855/2007/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 đưa ra mục tiêu đóng góp chung vào thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí

hậu Trong điều 1, mục 2 về mục tiêu phát triển có đề cập tới “đẩy mạnh phát triển

nguồn năng lượng mới và tái tạo, năng lượng sinh học, điện hạt nhân để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững ngành năng lượng đi đôi với bảo vệ môi trường”

Trong chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định 2068/QĐ-ttg ban hành ngày 25/11/2015) đưa

ra các mục tiêu phát triển liên quan đến giảm nhẹ Trong mục II , Điều 1 đưa ra

mục tiêu “Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng so với

phương án phát triển bình thường: Khoảng 5% vào năm 2020; khoảng 25% vào năm 2030 và khoảng 45% vào năm 2050”

Chiến lược quốc gia về BĐKH được phê duyệt tại Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 5/12/2011 Chiến lược đã đưa ra 10 nhiệm vụ chiến lược Một trong các nội dung liên quan đến các hoạt động giảm nhẹ khí nhà kính được đề cập trong các nhiệm vụ như sau:

2139/QĐ-Nhiệm vụ giảm nhẹ phát thải khí nhà kính góp phần bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất:

Trang 36

29

Lĩnh vực năng lượng:

a) Phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới

- Đẩy mạnh triển khai công nghệ sản xuất năng lượng từ các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng mới

- Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia theo hướng tăng tỷ lệ các nguồn năng lượng mới và tái tạo

Dự thảo Nghị định quy định về lộ trình và phương thức giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đang được trình lên thủ tướng Dự thảo nêu rõ, giai đoạn 2030 - 2050, Việt Nam giảm từ 1,5 - 2% lượng phát thải KNK hằng năm và đạt mức giảm tối thiểu 45%; hướng tới là nâng tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng

sơ cấp đạt 44%, tăng tỷ lệ che phủ rừng hơn 50% và hoàn thành các mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK các cấp đề ra trong “Chiến lược phát thải thấp dài hạn quốc gia tầm nhìn đến 2050” Lĩnh vực năng lượng sẽ là một phần trong quy định mức phân

bổ giảm nhẹ của Bộ công thương dự kiến từ 2,3% đến 2,7%

1.3.4 Thực trạng sử dụng năng lượng mặt trời tại khu vực Miền Trung

Thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời ở miền Trung Việt Nam hiện nay chủ yếu là hệ thống cung cấp điện dùng pin mặt trời, hệ thống bếp có gương phản xạ và đặc biệt là hệ thống cung cấp nước nóng dùng NLMT Nhưng nhìn chung các thiết

bị này giá thành còn cao, hiệu suất thấp nên chưa được người dân sử dụng rộng rãi Ngoài chiếu sáng, năng lượng mặt trời còn có thể ứng dụng trong lĩnh vực nhiệt, đun nấu

Theo Tạ Văn Đa (2016), khả năng thác năng lượng mặt trời phục vụ các hoạt động đời sống ở miền Trung Việt Nam được tính toán như sau

- Khu vực Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh): bình quân trong năm có chừng trên 1700 giờ nắng Tổng bức xạ nămkhoảng trên 1400KWh/m2

- Khu vực Trung Trung Bộ (từ Đồng Hới đến Quảng Ngãi): có số giờ nắng gần 2100 giờ (bảng 1) và tổng bức xạ năm khoảng trên 1600 KWh/m2)

Trang 37

là một nguồn tài nguyên to lớn để khai thác sử dụng

Bảng 7 : Trung bình giờ nắng khu vực miền Trung

Đơn vị: giờ

Thanh Hóa 1620,0 Phan Thiết 2981,2 Quy Nhơn 2525,3

Nguồn: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Tập 32 (tr83-89)

1.3.5 Tình hình triển khai các dự án năng lượng mặt trời tại Việt Nam

Sau khi giá bán điện mặt trời tăng lên từ tháng 6/2017, số lượng dự án năng lượng

mặt trời đăng ký cũng nhanh chóng tăng theo

Theo báo cáo về "Năng lượng tái tạo tại Việt Nam năm 2018" của StoxPlus, sau khi giá bán điện mặt trời được Chính phủ điều chỉnh tăng lên mức 9,35 cent một kWh, trung bình có 9 dự án phát và phân phối điện tái tạo được đăng ký mỗi tháng, bởi nhà đầu tư nước ngoài, trong nửa cuối năm 2017

Dữ liệu tập hợp được của StoxPlus cho biết, hiện cả nước có 245 dự án năng lượng tái tạo, bao gồm điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối đang được triển khai ở nhiều giai đoạn khác nhau

Nếu tất cả các dự án này vận hành thực tế thì tổng công suất của nguồn năng lượng tái tạo này phải đến 23,2 GW, tức lớn hơn nhiều mục tiêu tổng công suất của điện tái tạo là 2,15 GW vào năm 2020, theo Quy hoạch điện VII

Trang 38

31

Tuy nhiên, thực tế trên tổng công suất đã đăng ký, chỉ mới có 19% đã đi đến giai đoạn xây dựng và 8% là đã vận hành Trong khi đó, hầu hết dự án vẫn trong giai đoạn chuẩn bị

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, tính đến hết tháng 9/2018, EVN đã ký được 35 hợp đồng mua bán điện (PPA) với các nhà đầu tư điện mặt trời bên ngoài EVN, với tổng công suất là 2271 MW

Trong đó, dự án điện mặt trời Phong Điền (tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế) có công suất 35 MW là dự án điện mặt trời đầu tiên hòa lưới sẽ chính thức vào vận hành ngay đầu tháng 10/2018 Liên quan đến đầu tư các dự án điện mặt trời, EVN cũng cho biết, tại trụ sở các điện lực (trực thuộc EVN) đã lắp đặt và đưa vào sử dụng 54 công trình điện mặt trời áp mái, với tổng công suất hơn 3.244 kWp (tính đến tháng 7/2018)

Trong đó, Tổng công ty Điện lực Hà Nội lắp đặt 52 kWp; Tổng công ty Điện lực miền Trung 352 kWp; Tổng công ty Điện lực miền Nam 1.985 kWp và Tổng công ty Điện lực TP.HCM 855 kWp Theo báo cáo của các đơn vị, do hầu hết các công trình đều mới được hoàn thành và đưa vào sử dụng trong thời gian từ tháng 4/2018 đến nay, nên tổng điện năng thu được tính đến cuối tháng 7/2018 đạt khoảng 1,1 triệu kWh, với giá trị làm lợi khoảng 3,1 tỷ đồng

Được biết, tổng tiềm năng điện mặt trời áp mái trên trụ sở và công trình tại các đơn vị trực thuộc EVN là 56,4 MWp Hiện nay, EVN đang chỉ đạo các đơn vị tiếp tục triển khai lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái, vừa góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện lưới; vừa là hình mẫu để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp trên cả nước sử dụng điện mặt trời

Trang 39

Dự án nhà máy điện năng lượng mặt trời Europlast do Công ty cổ phần nhựa châu Âu làm chủ đầu tư được xây dựng trên diện tích 58 ha tại Thôn Bình Thắng,

xã Sơn Thành Đông (huyện Tây Hòa) Dự án có tổng công suất lắp đặt 50 MWp, sản lượng điện phát lên lưới 76,687 triệu kWh/năm với tổng vốn đầu tư hơn 1.212

tỷ đồng

Nhà máy điện mặt trời Phú Khê do Công ty cổ phần Năng lượng và Thương mại VIFA làm chủ đầu tư được xây dựng trên diện tích đất 55 ha tại Khu công nghiệp Đa Ngành 2, xã Hòa Xuân Đông (huyện Đông Hòa) Dự án có tổng công suất lắp đặt 49,104 MWp, sản lượng điện phát lên lưới 76,321 triệu kWh/năm với tổng vốn đầu tư hơn 1.242 tỷ đồng

 Gia Lai

Gia Lai có 33 dự án điện mặt trời đang được nghiên cứu đầu tư

Theo thông tin từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Gia Lai, đến nay, UBND tỉnh

đã cho phép 23 nhà đầu tư khảo sát, nghiên cứu đầu tư 33 dự án điện mặt trời, với tổng công suất 3.951,5 MWp

Trong đó, 2 dự án đã được phê duyệt bổ sung quy hoạch với tổng công suất

là 98 MWp, tổng vốn đầu tư 2.672 tỷ đồng đang triển khai các thủ tục đầu tư và thi công; 11 dự án đã được UBND tỉnh trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt bổ sung quy hoạch, tổng quy mô công suất là 675 MWp; 20 dự án đang khảo sát, nghiên cứu lập hồ sơ bổ sung quy hoạch với quy mô công suất dự kiến là 3.195

Trang 40

MW, điện mặt trời nổi trên nước khoảng trên 2.500 MW

Trên địa bàn tỉnh Gia Lai, tới thời điểm này, dự án liên quan tới nguồn năng lượng mặt trời chỉ có hệ thống ghép pin mặt trời với thủy điện nhỏ xã Trang do Tổ chức Năng lượng mới và Phát triển Công nghệ công nghiệp Nhật Bản tài trợ, được xây dựng và bàn giao cho Công ty Điện lực Gia Lai vận hành năm 1999 Đây là công trình hợp tác nghiên cứu khoa học giữa Viện Năng lượng Việt Nam (IE) và Tổ chức NEDO với tổng giá trị đầu tư 2 triệu USD, công suất 100 kW ghép với 1 máy phát thủy điện nhỏ PV-MH 25 kW, cấp điện cho hơn 400 hộ ở xã Trang, huyện Đak Đoa

Ninh Thuận

Ninh Thuận đã có nhiều dự án điện mặt trời được khởi công Thông tin từ Sở

Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Thuận cho biết, tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã có nhiều dự án điện mặt trời được khởi công xây dựng

Ninh Thuận là tỉnh có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời, với tổng số giờ nắng trung bình 2.843 giờ/năm, cao nhất cả nước, lượng bức xạ thực tế hàng năm là 161,6 kcal/cm2, trung bình ngày tương đương với 5,221 kWh/m2, chênh lệch về lượng bức xạ mặt trời giữa các mùa không cao Ninh Thuận đang phấn đấu sớm trở thành trung tâm năng lượng tái tạo trong cả nước

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm