1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất hướng bố trí đất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện điện biên, tỉnh điện biên

104 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Trần Thị Cẩm Bình NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG BỐ TRÍ ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THIẾU ĐẤT SẢ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Trần Thị Cẩm Bình

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT

HƯỚNG BỐ TRÍ ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHO

ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Trần Thị Cẩm Bình

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG BỐ TRÍ ĐẤT NÔNG NGHIỆP CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 8850103.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Phạm Quang Tuấn TS Ninh Minh Phương

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn đã đƣợc cám ơn; các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Trần Thị Cẩm Bình

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thực hiện

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Cấu trúc Luận văn 4

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Khái quát tình hình vùng đồng bào dân tộc thiếu số thiếu đất sản xuất 5

1.2 Cơ sở khoa học và pháp lý vấn đề đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất 6

1.3 Đặc điểm và thực trạng phát triển sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số 15

1.3.1 Quy mô dân số và thành phần dân tộc 15

1.3.2 Đặc điểm phân bố và tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số 16

1.3.3 Thực trạng phát triển sản xuất 17

1.3.4 Đánh giá chung 20

1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 21

CHƯƠNG 2 23

THỰC TRẠNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN 23

2.1 Tình hình sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số 23

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 23

2.1.2 Khái quát chung về hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp [19] 31

2.1.3 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số 31

2.2 Kết quả thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước 33

Trang 6

2.3 Thực trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số 38

2.3.1 Thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất phân theo đơn vị hành chính 38

2.3.2 Thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất phân theo thành phần dân tộc 41

2.3.3 Thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất phân theo mục đích sử dụng đất 43

2.4 Nguyên nhân đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất 44

CHƯƠNG 3 46

ĐỀ XUẤT HƯỚNG BỐ TRÍ ĐẤT SẢN XUẤT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN 46

3.1 Xác định nhu cầu sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất 46

3.1.1 Nhu cầu sử dụng đất sản xuất của đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất theo đơn vị hành chính 47

3.1.2 Nhu cầu sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất theo thành phần dân tộc 48

3.1.3 Nhu cầu sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất theo mục đích sử dụng 50

3.2 Xác định vị trí bố trí đất cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất 51

3.2.1 Mức sử dụng đất có thể bố trí cho đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất 51

3.2.2 Các khu vực có khả năng bố trí đất sản xuất cho đồng bào DTTS 55

3.3 Quy hoạch quỹ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất 61 3.3.1 Cân đối nhu cầu và quỹ đất đất sản xuất có khả năng bố trí 61

3.3.2 Phương án quy hoạch quỹ đất để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số 62

3.4 Các giải pháp thực hiện bố trí quy hoạch quỹ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất 64

3.5 Giải quyết bằng các hình thức khác 70

Trang 7

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

4 TN&MT Tài nguyên và môi trường

5 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Quy mô dân số và thành phần dân tộc huyện Điện Biên 15

Bảng 2: Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng và tỷ trọng các nguồn thu chia theo dân tộc của hộ đồng bào 17

Bảng 3: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Điện Biên 18

Bảng 4: Nhiệt độ, số giờ nắng, lƣợng mƣa, độ ẩm huyện Điện Biên 24

Bảng 5: Thực trạng sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số 32

trên địa bàn huyện Điện Biên 32

Bảng 6: Thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất phân theo đơn vị hành chính 39

Bảng 7: Thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất phân theo thành phần dân tộc huyện Điện Biên 42

Bảng 8: Thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất phân theo mục đích sử dụng huyện Điện Biên 43

Bảng 9: Nhu cầu sử dụng đất sản xuất của đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất theo đơn vị hành chính và theo mục đích sử dụng 47

Bảng 10: Nhu cầu sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất theo thành phần dân tộc và theo đơn vị hành chính 49

Bảng 11: Nhu cầu sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất theo thành phần dân tộc và theo mục đích sử dụng 50

Bảng 12: Kết quả rà soát mức sử dụng đất trồng lúa huyện Điện Biên 52

Bảng 13: Kết quả rà soát mức sử dụng đất trồng cây hàng năm khác 53

Bảng 14: Kết quả rà soát mức sử dụng đất rừng sản xuất 54

Bảng 15: Các khu vực có khả năng bố trí đất trồng lúa huyện Điện Biên 56

Bảng 16: Các khu vực có khả năng bố trí đất trồng cây hàng năm khác huyện Điện Biên 59

Bảng 17: Các khu vực có khả năng bố trí đất trồng rừng và khoanh nuôi bảo vệ huyện Điện Biên 60

Trang 10

Bảng 18: Cân đối nhu cầu và quỹ đất có khả năng bố trí đất sản xuất 61

trên địa bàn huyện Điện Biên 61

Bảng 19: Phương án quy hoạch đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số 62

trên địa bàn huyện Điện Biên 62

Trang 11

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 1: Khu vực có khả năng bố trí đất trồng lúa, bản Noong Sọt, xã Hẹ Muông 56

Hình 2: Khu vực có khả năng bố trí đất trồng lúa, bản Sá Sang, xã Hua Thanh 57

Hình 3: Khu vực có khả năng bố trí đất trồng lúa, bản Na Pen, xã Nà Nhạn 57

Hình 4: Khu vực có khả năng bố trí đất trồng lúa, bản Tin Tốc, xã Mường Lói 58

Hình 5: Khu vực có khả năng bố trí đất trồng lúa, bản Huổi Moi, xã Pa Thơm 58

Hình 6: Khu vực có khả năng bố trí đất trồng lúa, bản Na Tông, xã Nà Tông 59

Hình 7: Khu vực có khả năng bố trí đất trồng rừng và khoanh nuôi bảo vệ, bản Na Hì, xã Pom Lót 60

Biểu 1: Nhu cầu sử dụng đất sản xuất của đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất 46

Biểu 2: Phương án quy hoạch quỹ đất sản xuất cho đồng bào DTTS huyện Điện Biên 64

Trang 12

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Lịch sử phát triển của đất nước cho thấy, việc đảm bảo ổn định cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc ổn định

xã hội, phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc phòng của quốc gia cũng như bảo vệ môi trường sinh thái Cộng đồng các dân tộc thiểu số luôn là hậu phương vững chắc cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm vấn đề nông nghiệp, nông thôn miền núi và vấn đề dân tộc là những lĩnh vực

ưu tiên đặc biệt trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội Nhiều chủ trương chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, nhiều chương trình xoá đói giảm nghèo đã được ban hành, trong đó quan trọng nhất là các chính sách giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Các kết quả đạt được trong thời gian qua có ý nghĩa quan trọng góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng miền núi, cải thiện được một bước đời sống của người dân, xoá đói giảm nghèo, tạo ra sự đồng thuận trong vùng đồng bào các DTTS, củng cố thêm lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước

Điện Biên là huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Tây - Nam tỉnh Điện Biên,

có đường biên giới Việt - Lào dài 154 km, có cửa khẩu Quốc tế Tây Trang và cửa khẩu Quốc gia Huổi Puốc Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 163.972,84 ha; trong đó đất sản xuất nông nghiệp 74.191,13 ha, đất lâm nghiệp 70.597,44 ha, đất khác nông nghiệp khác 19,89 ha Dân số của huyện có 115.605 người, tương đương 25.979 hộ; gồm 8 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn Dân tộc Thái 62.972 người, chiếm 54,47%; dân tộc Kinh 27.966 người, chiếm 24,19%; dân tộc H’Mông 12.767người, chiếm 11,04%; dân tộc Khơ Mú 7.384 người, chiếm 6,39%; dân tộc Lào 3.010 người, chiếm 2,60%; còn 1,30% là các dân tộc khác

Huyện Điện Biên có 25 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 465 thôn, bản (12 xã vùng lòng chảo, 13 xã thuộc vùng sâu, vùng xa); có 20/25 xã được hưởng Chương trình 135 của Chính phủ

Đặc điểm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Điện Biên là thường cư trú ở những nơi hẻo lánh xa xôi, hầu hết là các xã nghèo Địa hình chủ yếu

có độ dốc cao, bị chia cắt, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, sạt lở đất, đất sản xuất chủ yếu là đất dốc, quy mô nhỏ lẻ, phân tán nên là nguyên nhân cơ bản là tình trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào DTTS vẫn chưa được giải quyết

Bên cạnh thiếu đất, chất lượng đất sản xuất lại không đảm bảo điều kiện sản xuất: đất thường xấu và điều kiện canh tác khó khăn, chủ yếu là nương núi đá, nương núi đất có độ dốc cao,… Đối với đất lâm nghiệp, mặc dù cộng đồng DTTS sống ở vùng rừng núi nhưng diện tích đất rừng được giao cho hộ, cộng đồng quản lý còn rất

ít Thực tế cho thấy, việc giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc là một trong

Trang 13

2

những vấn đề phức tạp từ khâu xác định đối tượng, xác định quỹ đất, phương án đền

bù, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Vì vậy, phải tính đến quy hoạch quỹ đất sản xuất, quy hoạch dân cư với sự phân loại cụ thể như: hộ thực sự có nhu cầu

về đất để sản xuất; hộ có nhu cầu về giao rừng, khoán rừng; hộ có nhu cầu phát triển chăn nuôi, dịch vụ, ngành nghề; hộ có nhu cầu làm công nhân trong các doanh nghiệp nông nghiệp

Xuất phát từ thực trạng thiếu đất và các bất cập về chính sách giải quyết đất sản

xuất cho đồng bào dân tộc thiếu số thiếu đất sản xuất Việc thực hiện đề tài“Nghiên

cứu thực trạng và đề xuất hướng bố trí đất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu

số thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” là rất cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

- Đề xuất hướng bố trí đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện bao gồm:

- Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, tài liệu, số liệu liên quan đến: Đặc điểm phân bố, tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiếu số Thực trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Điện Biên Tổng hợp kết quả thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Đánh giá, phân tích thực trạng, đưa ra nguyên nhân đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện Điện Biên

- Nghiên cứu đề xuất hướng bố trí đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng: là hộ đồng bào DTTS, sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp

chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất theo định mức quy định tại các địa phương, chưa được hưởng các chính sách về hỗ trợ đất sản xuất

Theo Khoản 1, 2 Điều 4 Quyết định 755/QĐ-TTg thì đất sản xuất gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất rừng sản xuất

và đất nông nghiệp khác

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất, điều kiện thực tế của địa phương

để quy định mức bình quân diện tích đất sản xuất cho mỗi hộ gia đình trên địa bàn tỉnh nhưng không được vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho mỗi hộ gia đình, cá

Trang 14

* Phạm vi thực hiện: Nghiên cứu thực trên địa bàn huyện Điện Biên tiến hành

điều tra, khảo sát hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp điều tra khảo sát

- Điều tra, thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ về điều kiện tự nhiên, kính tế - xã hội, tiềm năng đất đai, các số liệu kiểm kê, thống kê về diện tích các loại đất, quy mô dân số, thành phần dân tộc, hiện trạng sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất toàn huyện; kết quả thực hiện các chương trình, dự án dành cho đồng bào dân tộc thiểu

số cũng như thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Điện Biên

Các tài liệu được thu thập tại: Văn phòng HĐND và UBND huyện Điện Biên, phòng TN&MT huyện Điện Biên, phòng Dân tộc huyện Điện Biên, phòng NN&PTNT huyện Điện Biên

- Điều tra, thu thập thông tin, tài liệu, số liệu về thực trạng kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các tài liệu liên quan đã được công bố từ Ủy ban dân tộc; các chương trình, dự án, công trình nghiên cứu về đồng bào DTTS và các vấn đề liên quan đã thực hiện tại Tổng cục Quản lý đất đai

- Điều tra tại khu vực nghiên cứu để đưa ra các khu vực có khả năng bố trí đất cho đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất trên địa bàn

5.2 Phương pháp kế thừa có chọn lọc

Sử dụng phương pháp kế thừa các tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan đến vấn

đề sử dụng đất, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các vấn đề liên quan đến tình hình

sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số để làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào DTTS, quy hoạch quỹ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

5.3 Phương pháp thống kê, so sánh

Được dùng sau khi đã thu thập được toàn bộ tài liệu, số liệu và các thông tin cần thiết từ các phương pháp được thực hiện trước đó Sau đó được xử lý tính toán và đánh giá thông qua bảng thống kê, biểu đồ, đồ thị hoặc hình ảnh minh họa để đánh giá,

so sánh và rút ra các luận cứ khoa học về thực trạng sử dụng đất của đồng bào DTTS

Trang 15

4

và các chỉ tiêu đề xuất phương án quy hoạch quỹ đất giao cho đồng bào dân tộc thiểu

số thiếu đất sử dụng

5.4 Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp

Sử dụng phần mềm Microsoft office như: Microsoft Word, Microsoft excel ; phần mềm Microstation…để tổng hợp và xử lý số liệu, phân tích kết quả điều tra về kinh tế, xã hội, hiện trạng sử dụng đất của huyện và về thực trạng sử dụng đất của đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Phân tích đưa ra đánh giá về tình hình đồng bào dân tộc thiểu số chưa đủ hoặc thiếu đất sản xuất cũng như nguyên nhân dẫn đến tình trạng này từ đó đề xuất hướng bố trí đất sản xuất cho đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

5.5 Phương pháp chuyên gia

Tham vấn ý kiến từ các chuyên gia trong hệ thống quản lý nhà nước, các cán bộ

có kinh nghiệm thực tiễn trong thực hiện chính sách đất đai đối với đồng bào DTTS để đưa ra đề xuất hướng bố trí đất sản xuất cho đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

6 Cấu trúc Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được bố cục thành 3 chương, gồm:

Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Thực trạng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Chương 3 Đề xuất hướng bố trí đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Trang 16

5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát tình hình vùng đồng bào dân tộc thiếu số thiếu đất sản xuất

Trên địa bàn cả nước có 54 dân tộc sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với dân số khoảng 13,6 triệu người, chiếm 14,70% dân số cả nước Các dân tộc thiểu

số cư trú xen kẽ và phân bố chủ yếu ở địa bàn nông thôn thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Khu vực đồng bào DTTS cư trú là vùng đặc thù có

vị trí chiến lược, quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và môi trường

Thời gian qua đã có nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, dự án để giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số từ năm 2002 đến nay như: Quyết định 134, Quyết định 33, Quyết định 1592,… Bên cạnh những kết quả đạt được, các tỉnh trên địa bàn cả nước cũng đang gặp phải những khó khăn, thách thức trong giải quyết các chính sách cho đồng bào, đặc biệt là chính sách về giải quyết đất sản xuất cho đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất, do đặc điểm địa hình của các vùng chủ yếu có

độ dốc lớn, bị chia cắt, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, sạt lở đất, điều kiện tưới tiêu không thuận lợi đất sản xuất chủ yếu là đất dốc, quy mô nhỏ lẻ, phân tán gây trở ngại lớn đến sản xuất nông - lâm nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống của đồng bào DTTS

Thực trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào thiểu số còn khá phổ biến ở nhiều địa phương trong cả nước, đặc biệt là tại các tỉnh vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Cũng do thiếu đất sản xuất nên dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp, bấp bênh, đặc biệt là việc lấn chiếm, tranh chấp đất đai giữa người dân với các tổ chức đang quản lý đất như các nông - lâm trường Việc giải quyết nhu cầu đất sản xuất cho các hộ đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất là cần thiết và cấp bách; nếu giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần ổn định đời sống kinh tế, chính trị của đồng bào DTTS trên địa bàn cả nước [7]

Huyện Điện Biên là địa bàn lựa chọn để nghiên cứu đề tài có 25 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 465 thôn, bản (8 bản ĐBKK, có 12 xã vùng lòng chảo, 13 xã vùng ngoài là vùng sâu, vùng xa); có 20/25 xã được hưởng Chương trình 135 của Chính phủ

- Xã thuộc khu vực I: 09 xã (Thanh Luông, Thanh Hưng, Thanh Chăn, Thanh Yên, Noong Luống, Pom Lót, Noọng Hẹt, Thanh An, Thanh Xương)

- Xã thuộc khu vực II: 02 xã (Thanh Nưa, Sam Mứn)

- Xã thuộc khu vực III: 14 xã (Mường Pồn, Hua Thanh, Pa Thơm, Na Ư, Nà Nhạn, Nà Tấu, Mường Phăng, Pá Khoang, Núa Ngam, Hẹ Muông, Na Tông, Mường Nhà, Phu Luông, Mường Lói)

Trang 17

6

- Có 12 xã biên giới: Mường Pồn, Hua Thanh, Thanh Nưa, Thanh Luông, Thanh Hưng, Thanh Chăn, Pa Thơm, Na Ư, Na Tông, Mường Nhà, Phu Luông, Mường Lói

Huyện có tổng số hộ dân tộc thiểu số 18.697 hộ với 87.639 nhân khẩu Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều chiếm 12,68%, cận nghèo 10,66%

Kinh tế vùng đồng bào DTTS trên địa bàn huyện phát triển chậm, thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhưng kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, cây trồng chủ yếu là cây lúa và một số cây rau màu khác Nhưng công tác cải tạo giống, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật còn chậm và nhiều hạn chế nên năng suất thấp, hiệu quả kinh tế thu được chưa cao Trình độ dân trí một số vùng còn hạn chế so với mặt bằng chung của toàn huyện, giao thông đi lại khó khăn, có vùng còn thiếu điều kiện sinh hoạt và canh tác như thiếu điện, thiếu nước sinh hoạt, thiếu nguồn nước thủy lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp

Nhìn chung về kinh tế - văn hóa - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

và đời sống các đồng bào DTTS cơ bản ổn định, chính sách dân tộc được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Tuy nhiên, do nhận thức còn thấp, đa

số đồng bào DTTS sinh đẻ không có kế hoạch, cùng nhiều nguyên nhân khác nên vấn

đề thiếu đất sản xuất là tình hình chung đối với vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Điện Biên

1.2 Cơ sở khoa học và pháp lý vấn đề đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất

1.2.1 Khái niệm và vai trò sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số

Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng các cây lâu năm…

Trước đây, Luật Đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều 42

như sau: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông

nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất Luật Đất đai năm 2003 đã chia đất đai thành ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Như vậy, khái niệm đất nông nghiệp đã mở rộng với tên gọi “nhóm đất nông nghiệp” thay cho “đất nông

Trang 18

7

nghiệp” trước đây Theo quy định Luật Đất đai năm 2003 có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp

Theo Luật Đất đai 2013 nhóm đất nông nghiệp bao gồm: [8]

“Điều 10 Phân loại đất

Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau:

1 Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:

a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm;

Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc

Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân đã

được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó

Theo Điều 27 Luật Đất đai 2013: “Trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số

1 Có chính sách về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu

số phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng

Trang 19

8

2 Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp.”

Dân tộc thiểu số được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định

05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc như sau: [4]

“Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

“Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống

ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Theo khoản 1 Điều 1 Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn [1]

“Hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, định cư thường trú tại địa phương; là hộ

nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở

và có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt” Địa bàn cư trú của đồng bảo dân tộc thiểu

số phân bố tập trung nhiều ở vùng sâu, vùng xa; nơi có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái, có địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên

Theo báo cáo số 252/BC-UBTVQH ngày 16/10/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cả nước có 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc đa số (dân tộc Kinh) chiếm 85,73%, các dân tộc thiểu số chiếm 14,27% (12.250.436 người) Cả nước có 7 tỉnh có

tỷ lệ dân tộc thiểu số trên 80%: Cao Bằng (94,25%), Hà Giang (86,75%), Bắc Kạn (86,63%), Lạng Sơn (83,01%), Sơn La (82,39%), Lai Châu (82,02%) và Điện Biên (81,58%) [11]

Trong 53 dân tộc thiểu số, quy mô dân số phân bố không đều nhau: 05 dân tộc

có số dân trên 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khmer, Mông); 16 dân tộc có số dân dưới 10.000 người (đặc biệt có 05 dân tộc với số dân dưới 1.000 người là: Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu).Về cơ cấu dân số của đồng bào dân tộc thiểu số là cơ cấu dân số trẻ Số người có độ tuổi dưới 16 chiếm 34%, từ 16 đến 35 tuổi chiếm 35%, từ

36 đến 50 tuổi chiếm 20%, trên 50 tuổi chiếm 11% Đặc biệt, số người trong độ tuổi lao động chiếm 55%, chất lượng dân số không cao, trình độ dân trí còn thấp

Các dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ trên địa bàn rộng lớn Khu vực đồng bào dân tộc thiểu số cư trú là vùng có nhiều đặc thù: địa hình chủ yếu có độ dốc cao, bị chia cắt, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu Đất đai chủ yếu là đất lâm nghiệp, diện tích đất sản xuất nông nghiệp và đất ở rất hạn chế Nền kinh tế ở các khu vực này có điểm xuất phát thấp, cơ sở hạ tầng thiết yếu còn nhiều thiếu thốn: nhiều thôn, bản chưa có đường ô tô đến trung tâm xã, phần lớn chỉ đi lại được trong

Trang 20

9

mùa khô, mùa mưa đường xá bị sạt lở rất khó đi lại, thậm chí bị cô lập với khu vực xung quanh

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau giữa các dân tộc hiện nay

do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của một số dân tộc thiểu số Nhiều dân tộc đã đạt được đến trình độ cao về phát triển kinh tế - xã hội, nhưng một số dân tộc vẫn còn ở trình độ phát triển rất thấp

Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, tập quán sinh hoạt và sản xuất lạc hậu, mang nặng tính tự cung tự cấp, phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên

Nước ta là nước nông nghiệp, khoảng 90% lao động người dân tộc thiểu số sinh sống bằng nghề nông Vì thế, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của đồng bào ở nông thôn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số Đất đai có ý nghĩa rất quan trọng đối với đồng bào dân tộc thiểu số do việc làm phi nông nghiệp tại chỗ và đi làm ăn xa còn hạn chế Trong bối cảnh dân số tăng, những rủi ro về đất đai (xâm canh, tranh chấp đất đai; mất đất và tái định cư do xây dựng thủy điện, khai khoáng, phát triển cơ sở hạ tầng, ), sự mâu thuẫn giữa các quy định pháp luật và tập quán sở hữu, sử dụng đất truyền thống, đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng quan tâm đến việc giữ và mở rộng đất sản xuất

Gần đây, do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, việc quản lý, sử dụng đất của các hộ dân tộc thiểu số có những biến động Xuất hiện ngày càng nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất, nhất là đồng bào ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm tăng

số hộ đói nghèo, gây tình trạng mất ổn định trong vùng dân tộc thiểu số

Hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất: là hộ đồng bào không có đất

sản xuất hoặc có diện tích đất sản xuất bình quân thấp hơn 0,25 ha đối với đất ruộng lúa nước 1 vụ; 0,15 ha đối với đất ruộng lúa nước 2 vụ; 0,5-1 ha đối với đất nương rẫy; 0,5 ha đối với đất nuôi trồng thủy sản (căn cứ mức bình quân chung của từng địa phương và tùy thuộc vào khả năng quỹ đất hiện có tại địa phương (Tờ trình số 04/TTr-UBDT ngày 22 tháng 03 năm 2013 của Ủy ban Dân tộc quy định về hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất) [13]

Theo Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về

chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn đề ra mục tiêu: “Phấn đấu đến hết năm 2015 giải quyết được 70% số hộ thiếu đất ở, đất sản xuất; cơ bản giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn” [5]

Trang 21

10

Đối tượng: Là hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo tiêu chí hộ nghèo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ- TTg, ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015, sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có hoặc chưa đủ đất ở, đất sản xuất theo định mức quy định tại địa phương, có khó khăn về nước sinh hoạt; chưa được hưởng các chính sách về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt

Với Phạm vi áp dụng cho tất cả hộ đồng bào DTTS nghèo trên phạm vi cả nước

và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản, buôn, làng, ấp đặc biệt khó khăn (sau đây gọi chung

là thôn) Riêng hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long thực hiện chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm theo Quyết định khác của Thủ tướng Chính phủ”

Tại tỉnh Điện Biên hầu hết khu vực đồng bào dân tộc thiểu số cư trú là miền núi Diện tích tự nhiên của tỉnh tuy lớn nhưng diện tích đất nông nghiệp ít, ngoài khu vực cánh đồng Mường Thanh nằm trên địa bàn huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ thì đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu là đất có độ dốc lớn, địa hình phức tạp, nhiều núi đá, thiên tai, lũ quét, sạt lở đất thường xuyên xảy ra, diện tích canh tác bị thu hẹp, đất sản xuất ngày càng bạc màu, diện tích hoang hóa, đất rừng nghèo kiệt, đất không có nguồn nước

Chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn là một trong những chính sách nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo thông qua việc Nhà nước trực tiếp hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn để ổn định cuộc sống, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc, tăng cường đại đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng Việc thực hiện các chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất được tiến hành đồng thời với đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, thu hút lao động, xuất khẩu lao động không chỉ giải quyết các khó khăn, bức xúc trước mắt của đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đó cũng chính là những chính sách có tính chất căn bản, có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số

Ngoài ra theo Khoản 4 Điều 26 Luật Đất đai 2013: Bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất: “Có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế được đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm”

Trang 22

Một phần quá trình thực hiện quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng các dự án

hạ tầng, thủy lợi, thủy điện, xây dựng khu công nghiệp, khai thác khoáng sản, xây dựng các công trình quốc phòng an ninh, thành lập nông, lâm trường,… cũng đã gây ảnh hưởng, xáo trộn lớn về sinh hoạt, giảm nhiều diện tích đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

Một khó khăn khác do làm ăn không hiệu quả, khó khăn, bệnh tật, không có thu nhập khác, nhiều hộ dân tộc thiểu số nghèo phải sang nhượng, cầm cố, thế chấp đất sản xuất (thậm chí cả đất ở, nhà ở); khi không có khả năng chuộc lại, trở thành không

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Căn cứ các mức sử dụng đất để giao cho đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất đã được ban hành kèm theo các Chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành như:

+ Quyết định 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về

một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn Quyết định này quy định cụ thể mức giao đất sản xuất như sau:

“Mức giao đất sản xuất tối thiểu một hộ là 0,5 ha đất nương, rẫy hoặc 0,25 ha đất ruộng lúa nước một vụ hoặc 0,15 ha đất ruộng lúa nước hai vụ Căn cứ quỹ đất cụ thể của từng địa phương, khả năng lao động và số nhân khẩu của từng hộ và khả năng của ngân sách địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể xem xét, quyết định giao đất sản xuất cho hộ đồng bào với mức cao hơn

Điều 3 Quỹ đất để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở, bao gồm:

Trang 23

3 Khai hoang đất trống đồi núi trọc, đất chưa sử dụng;

4 Đất thu hồi từ các doanh nghiệp sản xuất không hiệu quả, sử dụng sai mục đích hoặc giải thể; đất thu hồi từ các cá nhân chiếm dụng hoặc cấp đất trái phép;

5 Đất do nông trường, lâm trường đang quản lý và sử dụng mà trước đây đất này do đồng bào dân tộc tại chỗ sử dụng thì nay phải điều chỉnh giao khoán lại (kể cả diện tích đất có vườn cây công nghiệp, rừng trồng) cho hộ đồng bào chưa được giao đất sản xuất hoặc chưa đủ đất sản xuất để tiếp tục quản lý, sử dụng theo quy định chung Mức giao khoán cụ thể do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định;

6 Đất điều chỉnh từ các hộ gia đình tặng, cho hoặc tự nguyện chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

7 Trường hợp không có đất sản xuất nông nghiệp thì giao đất sản xuất lâm nghiệp, hạn mức giao thực hiện theo Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các quy định của Luật Đất đai.” [1]

+ Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc

tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn

Quyết định này quy định như sau:

“Định mức đất sản xuất cho mỗi hộ căn cứ theo mức bình quân chung và tùy thuộc vào khả năng quỹ đất hiện còn của địa phương, nhưng tối thiểu là 0,25 ha đất ruộng lúa nước 1 vụ hoặc 0,15 ha đất ruộng lúa nước 2 vụ hoặc 0,5 ha đất nương, rẫy hoặc 0,5 ha đất nuôi, trồng thủy sản;

Những hộ chưa đủ đất sản xuất theo định mức quy định nêu trên thì đất hỗ trợ phần đất sản xuất còn thiếu, chính quyền địa phương căn cứ vào nhu cầu, khả năng lao động, sản xuất của từng hộ để giao đất cho từng hộ;

Quỹ đất sản xuất để giao cho đồng bào DTTS nghèo, bao gồm: đất công do Nhà nước thu hồi theo quy hoạch, đất thu hồi từ các doanh nghiệp, các ban quản lý rừng đang quản lý nhưng sử dụng nhưng kém hiệu quả, thu hồi do được giao không đúng

Trang 24

13

đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền, đất Nhà nước cho thuê hoặc cho mượn, đất chưa sử dụng, đất thu hồi từ các doanh nghiệp sử dụng sai mục đích hoặc đã giải thể, đất khai hoang phục hóa, đất được hiến, mua, chuyển nhượng tự nguyện, người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất, cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế ; việc thu hồi phải thực hiện theo đúng Luật Đất đai và các quy định hiện hành

Giao khoán bảo vệ và trồng rừng: Hộ gia đình không có hoặc thiếu đất sản xuất

so với định mức quy định như trên, có nhu cầu nhận khoán bảo vệ hoặc trồng rừng thì được chính quyền địa phương giao khoán bảo vệ rừng hoặc đất để trồng rừng tương ứng với phần đất sản xuất thiếu so định mức quy định; định mức diện tích giao khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình tối đa không quá 30 ha/hộ hoặc diện tích đất giao trồng rừng tối đa không quá 5 ha/hộ [3]

+ Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính

sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn Quyết định này quy định như sau: [5]

* Định mức đất sản xuất cho mỗi hộ: Căn cứ theo mức bình quân chung của từng địa phương;

* Những nơi còn quỹ đất thì được hỗ trợ trực tiếp bằng tiền và được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để tạo quỹ đất Mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương và vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội cho mỗi hộ để tạo quỹ đất sản xuất bình quân

30 triệu đồng/hộ Trong đó, ngân sách Trung ương hỗ trợ 15 triệu đồng/hộ và được vay tín dụng tối đa không quá 15 triệu đồng/hộ, thời gian vay 5 năm với mức lãi suất bằng 0,1%/tháng tương đương với 1,2%/năm;

* Quỹ đất sản xuất để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo bao gồm: Đất Nhà nước quy hoạch để hỗ trợ cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

và hộ nghèo theo quy định tại Quyết định này; đất thu hồi từ các nông, lâm trường và các doanh nghiệp, tổ chức sau khi sắp xếp lại theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh; đất khai hoang phục hóa, đất được hiến, mua, chuyển nhượng tự nguyện; đất thu hồi từ các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai và các nguồn khác

Căn cứ Quyết định số 13/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 về việc Quy định

mức bình quân diện tích đất sản xuất cho hộ gia đình thụ hưởng chính sách theo Quyết định số 755/QĐ-TTG ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ, trên địa bàn tỉnh Điện Biên:

“Điều 1 Quy định mức bình quân diện tích đất sản xuất cho hộ gia đình thụ hưởng chính sách theo Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng

Trang 25

Đối tượng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo (kể cả vợ hoặc chồng là người dân tộc thiểu số) và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo tiêu chí hộ nghèo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 -2015,

có trong danh sách hộ nghèo đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt tại thời điểm Quyết định số 755/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành, sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất theo quy định mức bình quân diện tích đất sản xuất cho mỗi hộ gia đình tại Quyết định này; chưa được hưởng các chính sách của nhà nước hỗ trợ về đất sản xuất

2 Định mức bình quân diện tích đất sản xuất cho mỗi hộ gia đình trên địa bàn tỉnh quy định tại Quyết định này là căn cứ để xác định hộ thiếu đất sản xuất và làm cơ

sở để tính toán mức hỗ trợ cho các hộ khi thực hiện chính sách hỗ trợ sản xuất theo Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn

Căn cứ vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 huyện Điện

Biên (Văn bản số 1571/KH-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên ngày 11/7/2016) Một số chỉ tiêu quan trọng như:

- Khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nhân dân Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm vững chắc quốc phòng- an ninh, trật tự an toàn xã hội và chủ quyền biên giới quốc gia

- Cơ cấu kinh tế: Nông - lâm nghiệp và thủy sản 30,82%, công nghiệp- xây dựng 34,26%, thương mai - dịch vụ 34,92%

- Tổng sản lượng lương thực đạt 95.000 nghìn tấn, đạt bình quân 780kg/người/năm Giữ vững sản lượng lương thực vùng lòng chảo, tăng sản lượng lương thực vùng ngoài

Trang 26

15

- Tạo thêm việc làm từ 800-1000 lao động/năm; Đào tạo nghề cho 4.000 lao động nông thôn; Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên 3%/năm; Xây dựng và duy trì 25 xã đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em [21]

1.3 Đặc điểm và thực trạng phát triển sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.1 Quy mô dân số và thành phần dân tộc

Tính đến cuối năm 2016, trên địa bàn huyện Điện Biên hiện có 08 dân tộc sinh sống với 115.605 người Trong đó dân tộc Thái có 62.972 người chiếm tỷ lệ cao nhất 54,47%, tiếp đến là dân tộc Kinh có 27.966 người chiếm 24,19%, dân tộc H'Mông có 12.767 người chiếm 11,04%, dân tộc Khơ Mú có 7.384 người chiếm 6,39%, các dân

tộc còn lại như Tày, Hoa, Cống, Lào (Chi tiết phụ biểu 02) Cộng đồng các dân tộc

trong huyện có những truyền thống và bản sắc riêng đã hình thành nên một nền văn hóa rất đa dạng và phong phú, có nhiều nét độc đáo, sâu sắc nhân văn và những truyền thống tập quán trong lao động sản xuất có nhiều bản sắc dân tộc, nét văn hoá đặc trưng của đồng bào khu vực Tây Bắc, huyện Điện Biên có nhiều dân tộc thiểu số và mỗi dân tộc mang đậm một bản sắc văn hoá riêng, là điều kiện để kết hợp phát triển du lịch sinh thái

Bảng 1: Quy mô dân số và thành phần dân tộc huyện Điện Biên

Dân số toàn huyện

Trang 27

16

1.3.2 Đặc điểm phân bố và tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số

Về phân bố dân cư: Sự phân bố dân cư ở huyện Điện Biên mang đậm nét đặc

thù của một huyện miền núi với nhiều dân tộc sinh sống Dân cư tập trung sinh sống ở một số khu vực lòng chảo như xã Thanh Xương, xã Thanh Hưng, xã Thanh Luông Điều đó cho thấy mức độ đô thị hoá, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở huyện Điện Biên trong những năm qua còn rất thấp

Sự phân bố dân cư giữa các xã và các vùng trong huyện không đều, không có lãnh thổ tộc người rõ rệt, họ sống xen kẽ với nhau Tuy vậy, mỗi dân tộc đều có những vùng quần tụ đông đảo của mình Tại các vùng này dân số dân tộc đó chiếm tỷ lệ cao hơn so với dân tộc thiểu số còn lại cùng cư trú Tiêu biểu người dân tộc Cống cư trú tập trung tại xã Pa Thơm, người H’Mông cư trú tập trung tại xã Na Tông và xã Mường Nhà, người Tày tập trung ở xã Thanh Yên Mật độ dân số trung bình của huyện Điện Biên là 61 người/km2

Phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Điện Biên rất đa dạng và phong phú, như hoạt động sản xuất; ăn, ở và trang phục; quan hệ xã hội, cưới xin; phương tiện đi lại,… Mỗi dân tộc, mỗi tiểu vùng đều có hệ canh tác đặc trưng, biểu thị sự thích ứng và thích nghi của mỗi dân tộc với điều kiện sống của họ để tồn tại và phát triển

Về tập quán canh tác: Huyện Điện Biên là nơi hội tụ sinh sống của 08 dân tộc

anh em Mỗi dân tộc có những nét riêng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa, tập quán canh tác riêng biệt…

- Dân tộc Thái: Người Thái được biết đến với những kinh nghiệm trong kỹ thuật tưới nước, đắp phai, đào mương… Lúa nước là nguồn lương thực chính Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, ngô, hoa màu và nhiều thứ cây khác Nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải rất phát triển, sản phẩm nổi tiếng là vải thổ cẩm, chăn, đệm…

- Dân tộc H’Mông: Nguồn sống chính của người Mông là làm nương rẫy, trồng ngô, trồng lúa, một số nơi có ruộng bậc thang Lương thực chính là ngô và lúa nương, ngoài ra còn trồng lanh lấy sợi và trồng cây dược liệu, cây hoa màu Người Mông thường cư trú ở các vùng núi cao, được biết đến là những người thợ thủ công tài hoa trong nghề rèn đúc

- Dân tộc Khơ mú: Người Khơ Mú sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy và một phần lúa nước, thường dùng dao, rìu, gậy chọc lỗ tra hạt Người Khơ Mú còn có nghề thủ công từ rất lâu đời và tương đối phát triển

- Dân tộc Lào: Nghề chủ yếu là làm ruộng nước, các nghề phụ như dệt, rèn, gốm, làm đồ bạc cũng khá phát triển

Trang 28

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và cùng với xu thế phát triển chung của

cả nước, đến nay khu vực kinh tế của đồng bào dân tộc huyện Điện Biên đã có những chuyển biến tích cực, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, đã xuất hiện những nhân tố mới tạo đà để tiếp tục đổi mới và phát triển

- Về kinh tế - xã hội

Theo kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc năm 2015 của Ủy Ban dân tộc Tính đến thời điểm 01/07/2015 tỉnh Điện Biên có 461.359 người đồng bào các DTTS sinh sống trên địa bàn tỉnh Trong đó số hộ sống ở vùng dân tộc là 449.202 người, chiếm 97,36% số người đồng bào DTTS toàn tỉnh; đời sống của đồng bào DTTS còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập bình quân hàng tháng còn thấp, cụ thể ở bảng sau: [17]

Bảng 2: Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng và tỷ trọng các nguồn thu chia

theo dân tộc của hộ đồng bào

STT Dân tộc

Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng (1000 đồng)

Tỷ trọng các nguồn thu (%)

Tiền lương tiền công

Nông, lâm nghiệp, thủy sản

Phi nông, lâm nghiệp, thủy sản

Trang 29

18

Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới cơ chế thị trường có sự quản

lý Nhà nước, kinh tế tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Điện Biên nói riêng đã có bước phát triển rõ rệt Kinh tế huyện Điện Biên có bước tăng trưởng khá, cơ cấu kinh

tế năm 2017 chuyển dịch theo hướng xác định như sau: Cơ cấu ngành nông – lâm nghiệp và thủy sản chiếm 33,93%; ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 32,64%; ngành thương mại – dịch vụ chiếm 33,43% Một số chỉ tiêu kinh tế năm 2017 thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Điện Biên

(Nguồn: Chi cục thống kê tỉnh Điện Biên )

Dân số huyện Điện Biên tính cuối năm 2016 là 115.605 người, mật độ dân số 61,22 người/km2 Dân cư của huyện tập trung trong 25 xã, phân bố không đồng đều

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 11,20‰ Huyện Điện Biên có mật độ dân số ở mức cao

so với mức trung bình chung các huyện của tỉnh Điện Biên

Số người trong độ tuổi lao động của huyện là 68.593 người, chiếm 59,20% dân

số, trong đó lao động nông nghiệp là 39.685 người, chiếm 57,85% tổng số lao động của huyện Thực hiện tốt công tác giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo của huyện là 12,68% Đời sống của nhân dân có bước tiến bộ, thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 22,79 triệu đồng/người/năm

Trang 30

19

Hiện có trên 80% hệ thống các trường, lớp học được kiên cố; 100% xã có trạm

y tế; 100% xã có điện lưới quốc gia Với việc tăng cường cơ sở hạ tầng đã thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ngày một nâng cao

Số thôn bản được sử dụng điện lưới đến nay là 459 thôn bản, còn 06 thôn bản chưa có điện lưới quốc gia

Số cơ sở cung cấp dịch vụ y tế tuyến huyện xã là 25 trạm: 01 trung tâm y tế huyện, 03 phòng khám đa khoa khu vực, có 21 trạm y tế xã Số trạm y tế trong vùng đồng bào DTTS toàn huyện là 12 trạm; trong đó số trạm kiên cố là 08 trạm Tỷ lệ đạt 4,1 bác sỹ/1 vạn dân, tỷ lên bản có nhân viên y tế thôn bản lên 96,1%

Số xã có nhà văn hóa trong vùng đồng bào DTTS toàn huyện là 10 xã, số thôn

có nhà sinh hoạt cộng là 339 thôn, có loa truyền thanh là 422 thôn

Số điểm trường học trong vùng đồng bào DTTS toàn huyện là 52 điểm; trong đó; mẫu giáo mầm non có 52 điểm trường

- Thực trạng cơ sở hạ tầng

* Giao thông

Được sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và của tỉnh Điện Biên, những năm gần đây, mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện đã được nâng cấp và xây dựng mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đi lại và giao thương kinh tế của nhân dân trong huyện Các tuyến giao thông chủ yếu của huyện bao gồm:

- Tuyến Quốc lộ 279: Đoạn đi qua huyện (thuộc xã Nà Tấu, Nà Nhạn, Thanh Xương, Thanh An, Noong Hẹt, Pom Lót, Sam Mứn, Na Ư), tổng chiều dài tuyến là 54

km đường cấp VI miền núi, nền rộng 6-10m, mặt rộng 5,5 - 7,5, mặt đường rải nhựa Đây là tuyến nối sang Lào tại cửa khẩu quốc tế Tây Trang, nối thông với các tuyến đường tỉnh 139, 141

- Tuyến Quốc lộ 12: Đoạn đi qua huyện (thuộc xã Hua Thanh, Thanh Nưa và xã Mường Pồn), chiều dài 29 km, đường cấp VI miền núi, nền rộng 6 - 10m, mặt rộng 5,5

- 7,5, mặt đường láng nhựa Tuyến đường mới được đầu tư nâng cấp, chất lượng tốt

- Đường tỉnh lộ 139 và 141: Có chiều dài đi qua huyện 24 km, đường cấp IV miền núi, bề rộng nền 6 m, mặt 3,5 m, kết cấu đá dăm nhựa Tuyến đường hiện nay cũng đang được đầu tư nâng cấp

- Tuyến đường vành đai biên giới phía Nam đoạn Pom Lót - Núa Ngam - Mường Nhà - Mường Lói dài 68 km đang xây dựng đạt cấp V miền núi và đoạn Mường Lói - Cửa khẩu Huổi Puốc dài 17,5 km đang được xây dựng đạt cấp IV vùng miền núi

Trang 31

- Hệ thống đường dân sinh trên địa bàn huyện có chiều dài 449,20 km

Thực tế, do ảnh hưởng của các đợt mưa lũ, sạt lở, thiếu kinh phí đầu tư nâng cấp, sửa chữa, bảo dưỡng, hệ thống giao thông nông thôn của huyện Điện Biên hiện đang xuống cấp, vào mùa mưa đường lầy lội, việc đi lại gặp nhiều khó khăn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất của nhân dân

Hệ thống giao thông trên địa bàn vùng dân tộc còn nhiều khó nhăn do vị trí địa

lý là vùng đồi núi Hiện tại hệ thống giao thông đến xã đạt kết quả như sau: 128 thôn, bản có đường nhựa; 251 thôn, bản có đường bê tông; 62 thôn, bản có đường rải sỏi; 24 thôn, bản có đường đất dân sinh; toàn huyện có 92,0% số xã có đường ô tô đến trung tâm các xã

* Thủy lợi

Huyện Điện Biên có hệ thống đại thuỷ nông tự chảy rất thuận lợi cho việc tưới tiêu bao gồm: Hai kênh chính với chiều dài 25,24 km đã được kiên cố hoá bao quanh lòng chảo Cùng với hệ thống thuỷ nông Nậm Rốm, xung quanh vùng lòng chảo còn

có hồ chứa nước lớn như: hồ Pe Luông, Hồng Khếnh, Hồng Sạt Các công trình thuỷ lợi này có thể chủ động cung cấp nước sản xuất cho 4.500 ha

Hệ thống kênh cấp II, III tương đối hoàn chỉnh và đang từng bước được kiên cố hoá Đây là hệ thống mương nội đồng quan trọng, giúp chủ động tưới tiêu cho các vùng sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức sản xuất lúa thâm canh cao sản và trồng cây vụ đông trên đất 2 lúa cho năng suất cao

1.3.4 Đánh giá chung

Huyện Điện Biên là địa phương có đông đồng bào DTTS sinh sống (75,81% dân số toàn huyện) với trình độ dân trí không đồng đều Thu nhập của đồng bào dân tộc chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, mua bán nhỏ nên nhìn chung đời sống đồng bào còn gặp nhiều khó khăn

Vùng lòng chảo có 12 xã nằm trên cánh đồng Mường Thanh, là vùng có địa hình tương đối bằng phẳng, ít bị chia cắt, độ dốc nhỏ dưới 15 độ, độ cao hơn 400 mét

so với mặt biển thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp (nhất là sản xuất lúa nước), phát

Trang 32

21

triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch, là nơi tập trung dân cư, trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội của huyện Điện Biên và tỉnh Điện Biên

Vùng ngoài có 13 xã phân bố xung quanh vùng lòng chảo; với địa hình chủ yếu

là đồi, núi cao và đất dốc Thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nương rẫy, lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc…

Kết cấu hạ tầng được đầu tư nhưng chưa đồng bộ, nhiều tuyến giao thông nông thôn chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại và thông thương hàng hóa giữa các vùng; một

số công trình thủy lợi, cấp nước sinh hoạt chất lượng xây dựng chưa bảo đảm và chưa phát huy hiệu quả sử dụng; còn nhiều trường học chưa được kiên cố hóa; đội ngũ y, bác sỹ và trang thiết bị ở bệnh viện đa khoa tuyến huyện và trạm y tế xã còn thiếu nhiều Chất lượng nguồn nhân lực cải thiện chưa đáng kể, trình độ dân trí của người dân còn thấp, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, thiếu lực lượng lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề, chất lượng nên khó khăn trong giải quyết việc làm cho lao động khu vực miền núi

Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân trong vùng Tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt, du canh du cư vẫn còn tồn tại ở một số nơi Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc ở một số địa phương còn hạn chế; Còn có khoảng cách tương đối lớn về phát triển giữa vùng miền núi dân tộc so với vùng đồng bằng của huyện

Tình hình thiếu đất sản xuất dẫn đến đói nghèo trong đồng bào DTTS luôn là vấn đề cấp bách đối với cấp ủy, chính quyền huyện Điện Biên Giai đoạn 2010-2015, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách nhằm khắc phục tình trạng thiếu đất đối với đồng bào dân tộc như: chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo theo Quyết định 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Dự án làng thanh niên lập nghiệp tại xã Mường Nhà, giao đất, giao rừng theo Kế hoạch 388/KH-UBND… bên cạnh đó còn triển khai nhiều dự án hướng dẫn nhân dân nâng cao hệ số sử dụng đất, đầu tư nhiều công trình thủy lợi để khai hoang phục hóa đưa diện tích đất trống chưa sử dụng vào sử dụng theo quy hoạch

1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Từ năm 2000 đến nay đã có các công trình nghiên cứu có liên quan đến đồng bào DTTS nhằm từng bước tháo gỡ khó khăn, nâng cao đời sống, phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là góp phần hoàn thiện chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu

số khu vực miền núi, biên giới

1.4.1 Các đề tài nghiên cứu khoa học

Trang 33

22

- Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Truyền thống sở hữu và sử dụng đất đai của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” - TS Vương Xuân Tình và TS Bùi Minh Đạo - Viện Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội năm 2000;

- Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn

để góp phần hoàn thiện chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số” - ThS Phùng Vĩ Thu - Trung tâm Điều tra Quy hoạch đất đai Đơn vị chủ trì: Tổng cục Địa chính, Hà Nội năm 2002;

- Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất hướng giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vùng Tây Nguyên”, CN Đỗ Thị Thanh Vân - Viện Nghiên cứu Địa chính Đơn vị chủ trì: Tổng cục Địa chính, Hà Nội năm 2005;

- Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề du canh, du cư và đề xuất phương án bố trí sử dụng đất phục vụ công tác định canh, định cư trên địa bàn cấp huyện vùng Miền núi phía Bắc” KS Nguyễn Văn Thực - Trung tâm Điều tra Quy hoạch đất đai Đơn vị chủ trì: Tổng cục Địa chính, Hà Nội năm 2005

1.4.2 Các Chương trình, đề án có liên quan

- Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi - Chương trình 135 giai đoạn 1 (1998 -2005) và giai đoạn 2 (2006

- 2010);

- Đề án “Sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh thuộc Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn” theo Quyết định số 142/2006/QĐ-TTg ngày 16/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ;

- Đề án “Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số” theo Quyết định số 02/QĐ-TTg ngày 05/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 34

23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT

HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN 2.1 Tình hình sử dụng đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Điện Biên nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Điện Biên, có tọa độ địa lý từ

20 17 đến 21 40 Vĩ độ Bắc, 102 19 đến 103 19 ’ Kinh độ Đông Ranh giới của huyện tiếp giáp như sau:

- Phía Đông giáp huyện Điện Biên Đông, thành phố Điện Biên Phủ;

- Phía Đông Bắc giáp huyện Mường Ảng;

- Phía Đông Nam giáp tỉnh Sơn La;

- Phía Bắc giáp huyện Mường Chà;

- Phía Tây và Tây Nam tiếp giáp với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Huyện Điện Biên có 154 km đường biên giới chung với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Đây là một lợi thế rất lớn, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển, giao lưu kinh tế - văn hóa của huyện Điện Biên với các huyện trong, ngoài tỉnh và quốc tế

2.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình của huyện Điện Biên chia thành 02 vùng rõ rệt:

- Vùng lòng chảo: Bao gồm 12 xã (Thanh Nưa, Hua Thanh, Thanh Luông, Thanh Chăn, Thanh Hưng, Thanh Yên, Noong Luống, Sam Mứn, Pom Lót, Noong Hẹt, Thanh An và xã Thanh Xương) nằm trên cánh đồng Mường Thanh Khu vực này

có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 450 – 550 m so với mực nước biển, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam và thấp dần từ 2 bên chân núi xuống sông Nậm Rốm, có độ dốc từ 3 - 5 Đây là vùng thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp (chủ yếu là canh tác lúa nước), các ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch, là trung tâm phát triển kinh tế - văn hoá của huyện Điện Biên

- Vùng ngoài: Bao gồm 13 xã (Mường Phăng, Pá Khoang, Nà Tấu, Nà Nhạn, Mường Pồn, Núa Ngam, Hẹ Muông, Pa Thơm, Na Ư, Mường Nhà, Na Tông, xã Mường Lói và xã Phu Luông) phân bố xung quanh vùng lòng chảo, có địa hình chủ yếu là núi cao, chia cắt mạnh Xen giữa các dãy núi cao là vùng đất bằng nhỏ hẹp hình thành nên các khu dân cư và vùng sản xuất của nhân dân, đồng bào thích hợp cho phát triển lâm nghiệp

Trang 35

24

2.1.1.3 Khí hậu

Mang đặc điểm chung khí hậu vùng núi Tây Bắc, huyện Điện Biên nằm trong khu vực khí hậu gió mùa, hàng năm chịu ảnh hưởng của hai khối không khí lớn: Khối không khí phía Bắc lạnh, khô và khối không khí phía Nam nóng, ẩm, chia khí hậu huyện Điện Biên thành hai mùa rõ rệt:

- Mùa lạnh và khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau: Nhiệt độ thấp, bình quân 18,90C - 19,10C, ít mưa, lượng mưa chiếm 20% lượng mưa cả năm, lượng bốc hơi lớn,

độ ẩm thấp;

- Mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10: Nhiệt độ cao, bình quân tháng nóng nhất là 26,60C (tháng 6, 7), mưa nhiều, lượng nước bốc hơi lớn, độ ẩm không khí cao Lượng mưa bình quân từ 1400 - 1600 mm/năm, mưa nhiều tập trung vào tháng 6, 7, 8, chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm

Bảng 4: Nhiệt độ, số giờ nắng, lượng mưa, độ ẩm huyện Điện Biên

Trang 36

Một hiện tượng khá phổ biến ở vùng núi Tây Bắc là sương mù Số ngày có sương mù tại huyện Điện Biên lên tới 100 ngày/năm Sương mù xuất hiện nhiều vào các tháng 1, 2 (khoảng 10-20 ngày/tháng) và ít hơn vào các tháng mùa nóng như tháng

6, 7 (khoảng 2-5 ngày/tháng) Sương mù thường thấy chủ yếu ở những vùng thung lũng khuất gió, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, giảm tầm nhìn khiến việc đi lại gặp nhiều khó khăn…

Nhìn chung, khí hậu huyện Điện Biên có nhiều thuận lợi Nền nhiệt độ và độ

ẩm này đã tạo nên một vùng khí hậu tương đối mát mẻ cho khu vực, thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện phát triển một nền sản xuất nông nghiệp

có tiềm năng lớn đã được khai thác xây dựng các công trình thuỷ điện có hiệu quả

- Sông Nậm Núa: có hai nhánh chính là Nậm Núa chảy từ Mường Nhà ra và Nậm Ngam chảy từ Pu Nhi xuống hợp lưu tại bản Pá Ngam và chảy ra Pá Nậm hợp lưu với sông Nậm Rốm, song Nậm Núa vè mùa mưa thường có lũ đột ngột, nước

Trang 37

* Nhóm đất phù sa

Nhóm đất này tập trung chủ yếu ở các xã vùng lòng chảo, nơi có sông Nậm Rốm chảy qua, một phần diện tích nhỏ phân bố dọc theo sông Nậm Núa Đất hình thành do quá trình bồi tụ của các sông, suối lớn, bao gồm các loại đất chính sau:

- Nhóm đất phù sa được bồi đắp hàng năm (Pb) có diện tích 275,13 ha, chiếm 0,17% diện tích tự nhiên, phân bố trên địa bàn các xã Thanh Chăn, Thanh Hưng và Noong Luống;

- Nhóm đất phù sa không được bồi đắp hàng năm (P) có diện tích 116,37 ha, chiếm 0,07% diện tích đất tự nhiên, phân bố trên địa bàn xã Sam Mứn và Noong Luống;

- Nhóm đất phù sa gley (Pg) có diện tích 1.016,34 ha, chiếm 0,62% diện tích tự nhiên, phân bố trên địa bàn các xã Thanh Hưng, Thanh Chăn và Thanh Yên;

- Nhóm đất phù sa có tầng đất loang lổ (Pf) có diện tích 4.212,90 ha, chiếm 2,57% diện tích đất tự nhiên, phân bố trên địa bàn các xã Thanh Hưng, Thanh Chăn, Thanh Yên và Thanh Nưa;

- Nhóm đất phù sa sông, suối (Py) có diện tích 3.508,12 ha, chiếm 2,14% diện tích đất tự nhiên, tập trung chủ yếu ở các xã Mường Phăng, Sam Mứn, Thanh Nưa và Núa Ngam

Nhìn chung, nhóm đất này thuộc loại đất tốt, có độ phì tự nhiên khá, cần được

sử dụng triệt để vào sản xuất nông nghiệp nhằm phát triển các loại cây lương thực, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày

* Nhóm đất đỏ vàng

Nhóm đất đỏ vàng bao gồm các loại đất sau:

- Đất nâu đỏ trên đá Macma bazơ và trung tính (Fk) tập trung chủ yếu ở xã Thanh Nưa và xã Pa Thơm với diện tích 491,78 ha, chiếm 0,3% diện tích đất tự nhiên;

Trang 38

- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq) có diện tích 2.688,39 ha, chiếm 1,64% diện tích đất tự nhiên, phân bố ở các xã Thanh Chăn, Pa Thơm và xã Núa Ngam;

- Đất nâu vàng trên đá phù sa cổ (Fp) tập trung ở xã Thanh Xương, Thanh An

và xã Thanh Nưa vùng lòng chảo, diện tích 391,84 ha, chiếm 0,24% diện tích đất tự nhiên của huyện

Đất nâu đỏ trên đá Macma trung tính (Fk), đất đỏ nâu và nâu vàng trên đá vôi (Fv, Fn), đất đỏ vàng trên đá sét (Fs) là những loại đất có độ phì tự nhiên trung bình khá Vì vậy chọn những vùng đất có độ dốc dưới 200, tầng đất mịn dày trên 100 cm để

ưu tiên trồng cây công nghiệp dài ngày

Đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa), đất vàng nhạt trên đá cát (Fq), đất nâu vàng trên đá phù sa cổ (Fp) có độ phì tự nhiên thấp Những vùng đất có độ dốc thấp dưới 150 hầu hết đã được sử dụng trong nông nghiệp, còn lại đa phần là diện tích đất tầng mỏng Vì vậy, cần phải phủ xanh đất trống, đồi núi trọc để hạn chế rửa trôi, xói mòn, bảo vệ phục hồi dần độ phì của đất, bảo vệ môi trường sinh thái

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl) phân bố trên địa hình chân đồi có

độ dốc dưới 100, thuộc địa bàn xã Mường Nhà với diện tích 639,31 ha, chiếm 0,39% diện tích đất tự nhiên Đất được cải tạo để trồng lúa nước, do quá trình ngập nước nên tính chất các lớp mặt bị biến đổi, chặt bí, có nơi xuất hiện glây Do đó, cần hoàn chỉnh

hệ thống thuỷ lợi, đảm bảo tưới tiêu nước hợp lý để thâm canh tăng vụ

* Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi

Nhóm đất này bao gồm các loại đất sau:

- Đất mùn đỏ vàng trên đá biến chất (Hj) phân bố trên địa bàn xã Nà Tấu và Mường Pồn với diện tích 7.819,27 ha, chiếm 4,77% diện tích đất tự nhiên;

- Đất mùn đỏ vàng trên đá sét (Hs) phân bố rộng khắp trên địa bàn huyện, diện tích 42.522,41 ha, chiếm 25,93% diện tích đất tự nhiên;

Trang 39

28

- Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma axit (Ha) có diện tích 29.916,50 ha, chiếm 18,24% diện tích đất tự nhiên, tập trung trên địa bàn các xã Nà Nhạn, Nà Tấu, Mường Phăng và xã Mường Pồn;

- Đất mùn vàng nhạt trên đá cát (Hq) phân bố tập trung ở các xã Noong Hẹt, Núa Ngam, Mường Nhà, Mường Lói và Thanh Chăn với diện tích 9.884,74 ha, chiếm 6,03% diện tích đất tự nhiên

Nhìn chung, đất mùn vàng đỏ trên núi là loại đất tốt, có độ phì tự nhiên khá, nhưng đất ở trên cao, địa hình hiểm trở, đi lại rất khó khăn Do đó, hướng sử dụng chính trên loại đất này là khoanh nuôi bảo vệ rừng

* Nhóm đất mùn trên núi cao (A)

Phân bố trên địa bàn xã Mường Pồn với diện tích 606,53 ha, chiếm 0,37% diện tích tự nhiên của huyện Nhóm đất này tập trung ở vùng núi có độ cao >1800 m Đất

có thành phần cơ giới nhẹ đến trung tính, hàm lượng chất hữu cơ rất cao Đạm tổng số khá, lân và kali tổng số trung bình Do ở trên núi quá cao nên đất này không có ý nghĩa thực tế trong sản xuất nông nghiệp

* Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D)

Nhóm đất này phân bố trên địa bàn các xã Pa Thơm, Noong Luống, Thanh Yên, Thanh Nưa, Thanh Chăn và Nà Tấu Đây là loại đất có đặc điểm rất đa dạng, phụ thuộc vào từng vùng và sản phẩm của mẫu chất đá mẹ tạo nên nó Nhìn chung, so với các loại đất đồi núi khác, đất này thường có màu sẫm và xỉn hơn, chua hơn, mùn và đạm tổng số cao hơn Đất thường phân bố ở địa hình thoải, ít dốc nên thuận tiện cho sản xuất lương thực thực phẩm Nơi có nguồn nước thuận lợi, có thể bố trí thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, phần còn lại phát triển cây trồng ngắn ngày

Nhìn chung, nguồn tài nguyên đất của huyện Điện Biên khá đa dạng, phần lớn các loại đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, do đó, cần có kế hoạch khai thác, sử dụng đất hợp lý và hiệu quả, bố trí các loại giống cây trồng phù hợp, thâm canh, tăng

vụ, hoàn thiện hệ thống thủy lợi, kết hợp với các biện pháp cải tạo đất, tránh xói mòn, suy thoái; đồng thời, chú ý khoanh nuôi, bảo vệ rừng đầu nguồn, những nơi thuận lợi

có thể bố trí cây trồng theo mô hình nông lâm kết hợp, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo

vệ môi trường sinh thái

b Tài nguyên nước

* Nguồn nước mặt

Huyện Điện Biên thuộc lưu vực sông Mê Kông và sông Đà với 2 hệ thống sông chính là hệ thống sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa Ngoài ra trên địa bàn có nhiều hồ chứa, công trình thuỷ lợi như: Hồ Pa Khoang, hồ Hồng Khếnh, hồ Pe Luông, hồ Hồng Sạt, hồ Bó Hóng, hệ thống đại thuỷ nông Nậm Rốm…

Trang 40

29

- Hồ Pa Khoang là hồ chứa nước lớn nhất của huyện Điện Biên với diện tích 6 km2, dung tích khoảng 37,2 triệu m2, góp phần điều tiết nước sông Nậm Rốm, cung cấp nước tưới cho cánh đồng Mường Thanh, bổ sung nước cho thuỷ điện Thác Bay và đảm bảo cung cấp nước cho toàn huyện;

- Hồ Hồng Sạt thuộc xã Sam Mứn có chiều dài 2 km, rộng trung bình 200m, diện tích lưu vực khoảng 9 km2, cung cấp nước tưới cho 360 ha ruộng lúa và hoa màu của xã Sam Mứn;

- Hồ Pe Luông, Hồng Khếnh, Bó Hóng… chất lượng nước tương đối tốt và ít ô nhiễm;

- Hệ thống đại thuỷ nông Nậm Rốm cung cấp nước tưới cho vùng lòng chảo huyện Điện Biên

Nhìn chung, nguồn nước mặt của huyện khá dồi dào, đây là một điều kiện thuận lợi đối với sản xuất nông nghiệp, giúp cho việc tưới tiêu nước được chủ động, tăng khả năng mở rộng diện tích canh tác, nâng cao hiệu quả sản xuất Tuy nhiên, do khả năng tập trung nước biến động theo mùa, vào mùa mưa, lượng mưa lớn kéo theo dòng chảy mạnh dễ gây lũ quét cục bộ, xói mòn mạnh; ngược lại vào mùa khô, mưa ít, độ ẩm thấp, tình trạng khô hạn, thiếu nước thường xảy ra gây ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt và sản xuất của người dân Do đó, trong quá trình sản xuất, cần chú ý hoàn thiện

hệ thống mương thủy lợi, xây kè, đập… đảm bảo sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên nước

- Đất rừng phòng hộ 47.372,74 ha, chiếm 28,89% diện tích đất lâm nghiệp Diện tích rừng phòng hộ phân bố chủ yếu ở các xã vùng ngoài như Mường Nhà, Mường Lói, Mường Pồn, Na Ư…

- Đất rừng đặc dụng có diện tích 3.228,57 ha, chiếm 1,97% diện tích đất lâm nghiệp Rừng đặc dụng chỉ có ở xã Mường Phăng

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w