Chính vì vậy tác giả muốn đi sâu nghiên cứu đề tài “ Hoạt động Công tác xã hội trong việc hỗ trợ người chấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức” với mong muốn từ việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
- -
DƯƠNG THỊ THÙY
HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ NGƯỜI CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG LIỆT TỦY TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
- -
DƯƠNG THỊ THÙY
HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ NGƯỜI CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG LIỆT TỦY TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
Chuyên ngành : Công tác xã hội
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Giảng viên hướng dẫn: TS.BS NGUYỄN ĐÌNH HÒA
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn “Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ người chấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức”, trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới BS.TS Nguyễn
Đình Hòa – giảng viên hướng dẫn đã tận tụy và vất vả suốt thời gian qua để
hỗ trợ cho tôi những kiến thức và truyền đạt những kinh nghiệm để tôi có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu Đồng thời đã hướng dẫn và chỉ dạy cho tôi trong suốt quá trình thực hành tại địa bàn nghiên cứu
Trong qua trình nghiên cứu đề tài tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi cũng nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các cán bộ nhân viên y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, cơ
sở nơi tôi thực hành đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hành tại Bệnh viện Đặc biệt là những thân chủ đã cộng tác và cung cấp những thông tin cần thiết giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập để hoàn thành
đề tài nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo Khoa Công tác xã hội – Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và tiếp thu kiến thức tại trường Những kiến thức và kĩ năng được cung cấp đã giúp tôi tự tin hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu tại địa bàn tôi đã rất nỗ lực cố gắng, tìm tòi học hỏi để hoàn thiện đề tài nghiên cứu một cách tốt nhất, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu xót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những góp ý từ các thầy cô giáo để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
2.1 Tổng quan trên thế giới 3
2.2 Tổng quan tại Việt Nam 6
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11
3.1 Ý nghĩa lý luận 11
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 11
4 Đối tượng và khách thể, phạm vi nghiên cứu 12
4.1 Đối tượng nghiên cứu 12
4.2 Khách thể nghiên cứu 12
4.3 Phạm vi nghiên cứu 12
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
5.1 Mục đích nghiên cứu 12
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
6 Câu hỏi nghiên cứu 13
7 Giải thuyết nghiên cứu 13
8 Phương pháp nghiên cứu 14
8.1 Về phương pháp thu thập thông tin: 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 17
1.1 Thao tác hóa các khái niệm 17
1.1.1 Khái niệm Công tác xã hội 17
1.1.2 Khái niệm CTXH trong Bệnh viện 18
1.1.3.Khái niệm hỗ trợ trong CTXH……… 18
1.1.4 Khái niệm Chấn thương cột sống liệt tủy 19
1.2 Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 19
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 19
1.2.2 Lý thuyết thân chủ trọng tâm 22
1.2.3 Lý thuyết hệ thống sinh thái 18
Trang 51.3 Tổng quan về cơ sở thực tập 27
1.3.1 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 27
1.3.2 Phòng Công tác xã hội – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 28
1.4 Các văn bản pháp lý về công tác xã hội trong Bệnh viện: 30
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CTXH TRONG HỖ TRỢ NGƯỜI CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG LIỆT TỦY TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 33
2.1 Thực trạng người CTCSLT tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.Error! Bookmark not defined 2.1.1.Một số triệu chứng của CTCSLT 33
2.1.2 Nguyên nhân dẫn tới chấn thương cột sống liệt tủy 33
2.1.3 Những yếu tố tác động tới người chấn thương cột sống liệt tủy 34
2.2 Các hoạt động CTXH trong hỗ trợ người CTCSLT tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 49
Tiểu kết chương 2 61
Chương 3: ĐỀ XUẤT HOẠT ĐỘNG CTXH CHUYÊN NGHIỆP VỚI VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 62
3.1 Hoạt động chỉ dẫn, hỗ trợ thông tin cho người bệnh 64
3.2 Hoạt động hỗ trợ tâm lý xã hội 66
3.3 Vận động tài trợ, hỗ trợ tài chính 71
3.4 Hoạt động truyền thông và quan hệ công chúng 73
3.5 Hoạt động tổ chức bồi dưỡng và tập huấn kiến thức 76
3.5.1 Đối với nhân viên CTXH 76
3.5.2 Đối với người bệnh CTCSLT 77
3.6 Phát triển mạng lưới CTXH và cộng tác viên CTXH tại các đơn vị trong toàn Bệnh viện 78
3.7 Các kĩ năng được vận dụng của nhân viên CTXH trong hoạt động trợ giúp người CTCSLT 79
3.7.1 Kĩ năng quan sát 79
3.7.2 Kĩ năng giao tiếp 79
3.7.3 Kĩ năng lắng nghe tích cực 80
Trang 6Tiểu kết chương 3 82
PHẦN KẾT LUẬN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
6 CTCSLT Chấn thương cột sống liệt tủy
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Mô hình lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 20 Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống sinh thái trong CTXH……….26Bảng 2.1 Bảng đánh giá các hoạt động và mức độ mà bệnh nhân CTCSLT nhận được từ hoạt động CTXH của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 51 Biểu đồ 2.1 Đánh giá các vấn đề gặp phải về tâm lý – xã hội của người CTCSLT 37 Biểu đồ 2.2 Đánh giá mức độ thủ hưởng hoạt động hỗ trợ của CTXH với người CTCSLT 50 Biểu đồ 2.3 Số cuộc gọi qua tổng đài chăm sóc khách hàng năm 2018 53 Biểu đồ 2.4 Số lượng các chương trình truyền thông 55 Biểu đồ 2.5 Đánh giá nhu cầu của người bệnh CTCSLT trong việc sử dụng dịch
vụ CTXH tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức 57 Biểu đồ 2.6 Đánh giá mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ CTXH tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức 59 Biểu đồ 3.1 So sánh số lượng bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ
trong năm 2017 và 2018……… 71
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua ngày 16/2/2011 Bước vào năm 2010, năm bản lề chuẩn bị cho sự chuyển đổi triển khai Chiến lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011-2020 Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam là lĩnh vực rộng lớn, đòi hỏi sự phối hợp toàn diện của nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, do vậy cần lựa chọn những mục tiêu ưu tiên, trước mắt tập trung vào một số nhóm dân cư bị thiệt thòi (yếu thế).[25] Một trong số những nhóm ưu tiên là những người bị Chấn thương cột sống liệt tủy
Ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32 về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020 Theo đó,
Bộ Y tế cũng xây dựng “Đề án phát triển nghề công tác xã hội trong lĩnh vực
y tế giai đoạn 2011-2020” [24] Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc
hình thành và phát triển nghề CTXH trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung cũng như trong lĩnh vực Y tế nói riêng
Trong bối cảnh phát triển CTXH ở Việt Nam hiện nay, việc đề xuất mô hình CTXH trong bệnh viện cũng như việc thiết lập vai trò của nhân viên CTXH trong hệ thống bệnh viện là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhằm phát triển hệ thống các dịch vụ CTXH trong bệnh viện Làm được điều này đồng nghĩa với việc giải quyết những vấn đề xã hội trong bệnh viện như sự quá tải bệnh viện và sự căng thẳng trong quan hệ Bác sỹ và bệnh nhân,
hỗ trợ chăm sóc giảm nhẹ bệnh tật cho người bệnh, điều phối và cung cấp dịch vụ cũng như tư vấn tâm lý, hỗ trợ phát triển cho bệnh nhân và người nhà
Trang 10bệnh nhân trong quá trình điều trị Những khó khăn trong lĩnh vực CSSK tại các hệ thống bệnh viện ở Việt Nam sẽ đươc cải thiện nếu có sự xuất hiện của NVCTXH chuyên nghiệp
Với đối tượng cụ thể đề tài hướng đến là người CTCSLT Hàng năm có khoảng 40 ca Chấn thương cột sống mới trong một triệu dân hoặc tổng số có khoảng 12000 ca CTCS tại Mỹ Bệnh nhân nam giới chiếm đa số với tỷ lệ khoảng 77%, tuổi trung bình của bệnh nhân trong ba thập kỷ gần đây khoảng
từ 28,7 đến 39,5 tuổi với nguyên nhân chính là tai nạn giao thông và ngã cao Tổn thương đụng dập tủy chiếm 70% Tại Mỹ, chi phí cho bệnh nhân CTCS hàng năm lên đến 10 tỷ đô la Mỹ, chưa bao gồm chi phí điều trị loét tỳ đè, một biến chứng hay gặp nhất của CTCS liệt tủy hoàn toàn, có thể thêm hàng
tỷ đô la Mỹ mỗi năm [8],[18]
Tại Việt Nam, CTCSLT gặp chủ yếu do tai nạn lao động và tai nạn giao thông với độ tuổi trung bình khoảng 35-40 có thể chiếm đến 80%, đây là lực lượng lao động chính của xã hội [18]
Bệnh nhân CTCSLT, sau khi điều trị theo đúng phác đồ có thể phục hồi, trở về cuộc sống thường ngày, lao động sản xuất ra vật chất cho bản thân, gia đình và xã hội Tuy nhiên, khi bị liệt tủy hoàn toàn, ngoài vấn đề mất sức lao động sau chấn thương, phụ thuộc vào người chăm sóc, bệnh nhân còn phải được điều trị các biến chứng như loét tỳ đè, nhiễm trùng tiết niệu, viêm tắc tĩnh mạch chi… Đây không chỉ nâng giá thành điều trị lên rất nhiều lần mà còn là một sang chấn tinh thần nặng nề cho bệnh nhân và gia đình, nhiều trường hợp không thể tiếp tục điều trị do bản thân bệnh nhân từ chối [18]
Những khó khăn này cản trở người chấn thương cột sống liệt tủy tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng Nhìn chung hiện nay những chính sách quan tâm của Đảng và nhà nước đã giảm bớt đi phần nào những
Trang 11khó khăn mà người CTCSLT đang gặp phải, tuy nhiên chưa thực sự làm giảm những ảnh hưởng nặng nề trong cuộc sống, đặc biệt là về vấn đề tâm lý của người CTCSLT
Từ những phân tích trên có thể nhận định được vai trò quan trọng của các hoạt động CTXH trong trợ giúp đối tượng yếu thế tại bệnh viện, trong đó
có người CTCSLT Chính vì vậy tác giả muốn đi sâu nghiên cứu đề tài “ Hoạt động Công tác xã hội trong việc hỗ trợ người chấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức” với mong muốn từ việc đánh giá
các hoạt động CTXH đối với đối tượng người CTCSLT tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức hiện nay để đưa ra các đề xuất hoạt động CTXH chuyên nghiệp hơn với vai trò quan trọng của Nhân viên CTXH, nâng cao vai trò của NVCTXH trong hoạt động CTXH chuyên nghiệp đối với việc trợ giúp các đối tượng yếu thế, trong đó có người CTCSLT Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ
sở để làm rõ hơn các vấn đề của bệnh nhân cũng như những bằng chứng khoa học để chứng tỏ sự hiệu quả của hoạt động CTXH trong lĩnh vực hỗ trợ điều trị bệnh tại Bệnh viện
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Tổng quan trên thế giới
Trên thế giới việc nghiên cứu, tổ chức mô hình CTXH trong bệnh viện
đã có từ lâu đời, và các công trình nghiên cứu về hoạt động CTXH trong bệnh viện cũng đã có và nó giúp cho việc thực hành nghề CTXH trong bệnh viện ngày càng phát triển
Bùi Thị Thanh Tuyền, Trần Thị Trân Châu, (2016), “Kỷ yếu hội thảo khoa học: công tác xã hội trong bệnh viện - những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành” Nói về lịch sử hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong
bệnh viện trên thế giới, tác giả Bùi Thị Thanh Tuyền và Trần Thị Trân Châu
đã cho biết công tác xã hội trong bệnh viện lần đầu tiên xuất hiện ở Anh vào
Trang 12cuối thế kỷ 19, năm 1895 và sau đó xuất hiện ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20, năm
1905 Lúc đầu nhân viên xã hội trong bệnh viện chỉ có vai trò là "nhân viên phát chẩn", sau đó là phòng dịch vụ xã hội với nhiệm vụ cung cấp các dịch
vụ trợ giúp cho người bệnh (vào năm 1905-1913) Dần dần, nhân viên xã hội trong bệnh viện đã được chuyên nghiệp hóa và được gọi là nhân viên xã hội y
tế Nhân viên xã hội y tế có 6 hoạt động chủ yếu: Quản lý trường hợp về mảng y - xã hội, ghi chép dữ liệu, giảng dạy về sức khỏe, theo dõi bệnh nhân, điều chỉnh mức phí và mở rộng dịch vụ y tế bằng cách chuyển người bệnh đến các nhà dưỡng bệnh, cơ quan phúc lợi xã hội hay các cơ sở y tế khác Tác giả Bùi Thị Thanh Tuyền cho rằng xem lại lịch sử phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện cho thấy có sự tương đồng với quá trình hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện ở Việt Nam về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của nhân viên xã hội trong bệnh viện [7]
Trương Nguyễn Xuân Quỳnh, Phạm Thị Thu, (2016), “Kỷ yếu hội thảo khoa học: công tác xã hội trong bệnh viện - những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành” Đề cập đến mô hình công tác xã hội trong bệnh viện tại Mỹ, tác
giả Trương Nguyễn Xuân Quỳnh và Phạm Thị Thu cho biết, các bệnh viện ở
Mỹ thường có hai mô hình công tác xã hội Mô hình CTXH theo chiều dọc thì
có một phòng CTXH chuyên nghiệp điều phối hoạt động CTXH chung và có đội ngũ nhân viên xã hội có thể thực hiện được nhiều vai trò và có thể luân chuyển vị trí cho nhau Mô hình CTXH trong bệnh viện thứ hai là được tổ chức theo chiều ngang, trong đó, ở mỗi khoa chức năng sẽ có một nhân viên y
xã hội riêng và thực hiện các công việc chuyên môn đặc thù mà từng chuyên khoa và với những kiến thức sâu hơn về bệnh lý của bệnh nhân Mỗi một mô hình CTXH như thế này đều có những ưu điểm và nhược điểm, do đó đòi hỏi nhà quản lý bệnh viện cân nhắc khi áp dụng ở Việt Nam [21]
Nghiên cứu tại Mỹ mở ra nhiều hướng mới cho mô hình CTXH trong bệnh viện; Theo tác giả MARKDEST, (2009), Đại học Utah, Salt Lake City,
Trang 13Utah, Hoa Kỳ đã đề cập đến vai trò giám sát của CTXH trong bệnh viện và tác giả cho rằng mô hình CTXH trong bệnh viện cần có thêm hoạt động giám sát để mang lại hiệu suất cao hơn trong các cơ sở y tế [7] Cũng tại Mỹ, tác giả Jennifer Zimmerman, MSW, MAHolly I Dabelko, MSW, PhD lại đưa ra
mô hình hợp tác chăm sóc bệnh nhân, tác giả chỉ ra rằng những mô hình y tế truyền thống hoặc mô hình phân cấp tạo ra thứ bậc mà ở đó các bác sỹ được coi trọng hơn không còn giá trị nữa mà thay vào đó là việc kết hợp chăm sóc bệnh nhân giữa nhân viên y tế với gia đình sẽ tạo sự thân thiện hơn cởi mở hơn và xóa bỏ ranh giới phân cấp giữa bác sĩ với bệnh nhân với mục đích tạo tâm lý thoải mái cho người bệnh Từ nghiên cứu về CTXH trong Bệnh viện tại Mỹ đã triển khai khoa dịch vụ xã hội, đây là nơi triển khai các hoạt động CTXH, khoa có đội ngũ nhân viên CTXH được đào tạo bài bản về CTXH chuyên ngành y tế với trình độ cử nhân, thạc sĩ và hiện có khoảng 500.000 NVCTXH, trong đó 54,4% ở độ tuổi từ 45 trở lên và nữ chiếm 90,2% Theo Hội CTXH Mỹ, NVCTXH ở Mỹ được trang bị kiến thức tốt
để làm việc trong khu vực BV, bởi họ hiểu được những yếu tố về thể chất, tinh thần và yếu tố môi trường quyết định sự khoẻ mạnh của cá nhân và cộng đồng [16]
Với đối tượng cụ thể đề tài hướng đến là người CTCSLT, có nhiều nghiên cứu đánh giá nhằm khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động CTXH trong việc hỗ trợ họ, đặc biệt về tâm lý trong suốt quá trình phục hồi tại bệnh viện Theo dự án chấn thương tủy sống nông thôn (RSCIP), một chương trình chăm sóc sức khỏe thí điểm cho những người bị thương tủy sống (SCI) được thực hiện tại New South Wales liên quan đến sự hợp tác của Bệnh viện Prince Henry & Prince of Wales, Bệnh viện Hoàng gia North Shore, Trung tâm Phục hồi Chức năng Hoàng gia Sydney, Thương tích Tủy sống Úc và Hiệp hội Paraplegic & Quadriplegic NSW, (2002), cho rằng: “Tổn
Trang 14thương tủy sống (SCI) là một chấn thương nghiêm trọng với các tác động tàn phá tiềm ẩn bao gồm cả thể chất sâu rộng, hậu quả xã hội và tâm lý Nghiên cứu về tác động tâm lý sau sự khởi đầu đột ngột của SCI đã chỉ ra rằng nhiều người sẽ phát triển những cảm xúc tiêu cực nghiêm trọng để đối phó với thương tích có thể đe dọa cả hội nhập tâm lý và xã hội Trong 10 năm qua, sự chú ý đáng kể đã tập trung vào các động lực tham gia vào quá trình điều chỉnh
tâm lý theo SCI”.[14]
AnnalisaDezarnaulds, Nhà tâm lý học lâm sàng, NSW Điều phối viên
chiến lược tâm lý xã hội của SSCIS Rehabilitation Center De Hoogstraat và
Rudolf Magnus Institute for Neuroscience, Trung tâm Y khoa Đại học Utrecht, Centre for Human Movement Sciences, Trung tâm Y tế Đại học Groningen, Đại học Groningen, Trung tâm Rehabilitation Amsterdam, Hà
Lan Nghiên cứu đã điều tra các động lực tâm lý và xã hội liên quan đến SCI
điều chỉnh, để bây giờ có một nguồn thông tin phong phú phát sinh từ nghiên cứu chi tiết các di chứng tâm lý và xã hội ngắn hạn và dài hạn và điều chỉnh cho SCI Phản ứng tiêu cực nghiêm trọng về cảm xúc sau SCI là phổ biến có thể đe dọa cả hội nhập và an ninh tâm lý xã hội, đòi hỏi phải chú ý đến việc điều chỉnh tâm lý lâu dài của các cá nhân theo SCI Phục hồi thành công liên quan đến việc tái hòa nhập vào cộng đồng và điều chỉnh theo lối sống rất khác biệt với việc thiết lập lại các mối quan hệ, vai trò và cơ hội thỏa mãn để thể hiện bản sắc riêng của một người.[2]
2.2 Tổng quan tại Việt Nam
Ở Việt Nam, ngành CTXH được phát triển từ cuối thập kỷ 40 với sự ra đời của trường đào tạo chuyên ngành về công tác xã hội đầu tiên tại miền Bắc Một số tác giả đã biên soạn các giáo trình về CTXH và CTXH trong bệnh viện nhằm phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của nhiều tổ chức cá
Trang 15nhân trong lĩnh vực CTXH trong y tế
Đỗ Hạnh Nga, (2016), “Hệ thống khung pháp lý - cơ sở cho sự phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y tế”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Công
tác xã hội trong bệnh viện - những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành Bài viết trình bày một hệ thống khung pháp lý với bảy văn bản được các cấp quản
lý ban hành để tạo tiền đề cho sự phát triển nghề công tác xã hội trong ngành
y tế Trong đó có ba văn bản quan trọng nhất, đó là Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam, giai đoạn 2010-2020 (gọi là Đề án 32) định hướng xây dựng nguồn nhân lực công tác xã hội ở Việt Nam Trên cơ sở của
Đề án 32, Đề án Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020 đã ra đời với những mục tiêu và hoạt động phát triển nghề công tác xã hội trong ngành y tế Thông tư số 43 của Bộ Y tế quy định nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện Trên
cơ sở của các văn bản pháp lý này, nghề công tác xã hội đã và đang được triển khai nhanh chóng ở các bệnh viện.[13]
Huỳnh Văn Chẩn, Nguyễn Thị Hồng, (2016), "Công tác xã hội trong bệnh viện - Nhu cầu của các bệnh viên tại tỉnh Bến Tre" Một nghiên cứu
khác được thực hiện tại các bệnh viện ở tỉnh Bến Tre với mục đích tìm hiểu nhu cầu phát triển nghề công tác xã hội trong bệnh viện Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bài viết đã cho thấy các bệnh viện đều có nhu cầu rất cao trong việc tuyển dụng nhân viên xã hội vào làm việc.[26]
Cao Liên Hương, Nguyễn Thị Thanh Tùng, Phạm Thị Tâm, Tạ Thị Thanh Thủy, Phan Thành Phúc Phạm Thị Oanh, Đỗ Thị Thu Phương, (2016),
“Kỷ yếu hội thảo khoa học: công tác xã hội trong bệnh viện - những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành” Những bài báo được viết dành cho các nhóm
bệnh nhân khác nhau trong bệnh viện (bệnh nhân nghiện chất, bệnh nhân là người cao tuổi bị Alzheimer, bệnh nhân nhiễm HIV) nhằm chỉ ra những đặc
Trang 16điểm tâm lý xã hội của các nhóm bệnh nhân và những yêu cầu về kiến thức,
kỹ năng mà nhân viên xã hội cần phải có khi làm việc với những nhóm bệnh nhân khác nhau.[10]
Nguyễn Ly Lai, Nguyễn Thị Phương Linh, (2016), "Công tác xã hội trong bệnh viện - Chương trình đào tạo dưới góc nhìn tuyển dụng".Nhóm các
bài viết trình bày về chương trình đào tạo cử nhân CTXH và việc kết nối với các bệnh viện để đưa sinh viên đi thực tập đã bằng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua việc phân tích 11 bảng thông tin tuyển dụng nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện từ các nước Hoa Kỳ, Anh Quốc và Canada
Từ đó, nhóm tác giả đưa ra những luận bàn và khuyến nghị khi xây dựng đề cương học phần công tác xã hội trong bệnh viện tại Việt Nam.[20]
Nguyễn Thị Kim Ngọc, Phạm Ngọc Thanh, (2016), "Dự án cuộc sống sau khi xuất viện - Một nghiên cứu về công tác xã hội bệnh viện" Đây là một
dự án về ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về công tác xã hội trong bệnh viện và ứng dụng kết quả tại Bệnh viện Nghiên cứu được thực hiện với
sự hỗ trợ của trường Đại học Oxford ở bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP Hồ Chí Minh với mục đích hỗ trợ bệnh nhân, thân nhân nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương và nhân viên y tế qua việc điều phối, tư vấn và sự kết nối với các dịch vụ y tế, các nhà nghiên cứu để cải thiện các nghiên cứu y sinh và kết quả chăm sóc sức khỏe Kết quả dự án “Cuộc sống sau khi xuất viện” cung cấp các nhà nghiên cứu, nhân viên công tác xã hội cái nhìn thực tế về những khó khăn của bệnh nhân sau khi xuất viện và trở về nhà Khó khăn đó có thể đến với bệnh nhân, người thân, từ chăm sóc bệnh nhân lúc nhập viện, điều trị bệnh, sau khi xuất viện hay việc tiếp cận các thông tin, dịch vụ cần thiết của bệnh nhân Từ những khó khăn mà trên thực tế bệnh nhân phải đối diện, nhân viên công tác xã hội bệnh viện biết được rõ mình sẽ lên kế hoạch hỗ trợ bệnh nhân, người nhà bệnh nhân như thế nào, để việc chăm sóc sức khỏe được cải
Trang 17thiện tốt hơn và mang tính toàn diện Dự án này cũng cung cấp thông tin hoạt động cho đơn vị đào tạo có định hướng đào tạo công tác xã hội bệnh viện có thể bồi dưỡng, hướng dẫn, đào tạo chuyên sâu cho các cử nhân công tác xã hội định hình công việc trong tương lai.[19]
Lê Minh Hiển, Nguyễn Thị Thùy Dương, (2016), "Kết quả các hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện Chợ Rẫy" Các bài viết trình bày thực trạng
các hoạt động công tác xã hội đang diễn ra ở các bệnh viện Tác giả đã cho thấy Tổ Y xã hội được thành lập ở bệnh viện Chợ Rẫy cách đây trên 10 năm (năm 2004) và có nhiều đóng góp cho việc hỗ trợ bệnh nhân nghèo và hoạt động của Tổ Y xã hội chủ yếu mang tính chất từ thiện Đơn vị Y xã hội chỉ mới được kiện toàn lại tổ chức và thành lập phòng Công tác xã hội từ 8/2015.[15]
Đoàn Thị Thùy Loan, (2016), "Thực trạng triển khai họat động công tác xã hội tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa" và tác giả Huỳnh Thị Kim Tuyến và Nguyễn Thị Kim Long với bài viết: "Thực trạng và giải pháp phát triển nghề công tác xã hội bệnh viện lao và bệnh phổi tỉnh Bến Tre" đã cho
thấy thực trạng hoạt động CTXH trong các bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa và bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Bến Tre.[12]
Theo thạc sĩ Tạ Thị Thanh Thủy, Thạc sĩ Phạm Thị Tâm đã có nghiên
nghiên về “Trải nghiệm ý nghĩa thực tiễn của Môn Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế” được trình bày tại kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc tế năm 2015 với chủ đề: “ CTXH Việt Nam thách thức tính chuyên nghiệp trước nhu cầu hội nhập và phát triển” Bài viết đã cho thấy các hoạt động của sinh viên khoa
CTXH – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tại Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh cũng như khó khăn mà nhóm sinh viên gặp phải Từ đó tác gỉa bài viết
Trang 18đã đưa ra một số kiến nghị nhằm đưa nghề CTXH trong lĩnh vực y tế phát triển một cách có hệ thống, toàn diện hơn.[22]
Tác giả Lê Thị Hoàng Liễu, (2016), "Chương trình đào tạo cử nhân công tác xã hội và định hướng chuyên ngành công tác xã hội trong bệnh viện – Thách thức và cơ hội" cho biết những bất cập trong chương trình đào tạo
cần được giải quyết để kịp thời có kế hoạch đào tạo cử nhân CTXH trong lĩnh vực y tế một cách chuyên nghiệp hơn.[16]
Tiếp theo là nhóm các bài viết của các tác giả là những giảng viên đại học, những người đã có nhiều năm kinh nghiệm trong việc đưa sinh viên thực
tập tại bệnh viện Tác giả Chu Dũng, (2016), "Mô hình công tác xã hội bệnh viện do nhóm Happier thực hiện" và bài viết của nhóm tác giả Đinh Văn Mãi, Nguyễn Đức Tài, (2016), "Chân dung nhân viên công tác xã hội lâm sàng trong môi trường bệnh viện" đã cho chúng ta biết những thuận lợi và khó
khăn khi đưa sinh viên đi thực tập ở bệnh viện và những giải pháp được các tác giả đề xuất để cải tiến công tác thực tập trong bệnh viện của sinh viên được tốt hơn.[9]
Như vậy ở Việt Nam cũng đã rất quan tâm đến vấn đề nghiên cứu và phát triển hoạt động CTXH tại bệnh viện Các nghiên cứu này đã phần nào làm sáng tỏ tính cần thiết và tính định hướng trong việc hoàn thiện mô hình hoạt động CTXH trong Bệnh viện tại Việt Nam với một số mô hình tổ chức của hoạt động CTXH trong bệnh viện và tại cộng đồng cũng đã được hình thành trong thực tiễn như: phòng CTXH, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội… thuộc bệnh viện hay nhóm CTXH tham gia hỗ trợ người có HIV/AIDS, bệnh nhân tâm thần, giúp phục hồi chức năng tại xã/phường…
Từ những nghiên cứu trên có thể thấy được vai trò quan trọng của hoạt động CTXH trong giải quyết các vấn đề nảy sinh, trợ giúp các đối tượng yếu thế, tăng cường và phục hồi các chức năng xã hội Đối với người Chấn
Trang 19thương cột sống liệt tủy, đề tài “Hoạt động Công tác xã hội trong việc hỗ trợ người chấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức” sẽ
đưa ra một hướng đi cụ thể từ việc phân tích, đánh giá các hoạt động CTXH tại địa bàn thực tập với mục đích nhìn nhận rõ thực trạng từ đó đề xuất được các hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp với vai trò của NVCTXH tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức Cùng với đó nhấn mạnh vai trò của các hoạt động Công tác xã hội trong việc trợ giúp người CTCSLT thay đổi cách nhìn nhận và thái
độ tích cực, sống, lao động và cống hiến cho xã hội một cách bình đẳng
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa những quan điểm, lý luận về vai trò của các hoạt động CTXH và làm sáng tỏ vai trò của NVCTXH trong việc giúp đỡ người chấn thương cột sống liệt tủy vượt lên hoàn cảnh, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng Dưới góc độ tiếp cận của lý thuyết xã hội học, lý thuyết công tác
xã hội, cùng với việc sử dụng các kỹ năng và các phương pháp thu thập và phân tích thông tin, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp thêm nguồn lý luận phong phú cho việc ứng dụng các lý thuyết và các phương pháp này trong thực tiễn
Nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho cơ quan, tổ chức vận dụng, chỉ đạo thực hiện công tác trợ giúp cho đối tượng là người CTCSLT Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng giúp ích cho các tổ chức hoạt động vì cộng đồng trong việc
Trang 20định hướng can thiệp giảm thiểu khó khăn cho nhóm yếu thế trong xã hội
4 Đối tƣợng và khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động Công tác xã hội với người Chấn thương cột sống liệt tủy
4.2 Khách thể nghiên cứu
Các bệnh nhân đang điều trị CTCSLT tại bệnh viện
Bác sĩ điều trị
Nhân viên y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Phòng CTXH Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Phòng CTXH Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108
Lãnh đạo Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Bệnh viện hữu nghị Việt Đức
- Thời gian nghiên cứu: 11/07/2018 – 07/07/2019
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích đánh giá các hoạt động CTXH đối với đối tượng người CTCSLT tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức hiện nay cũng như hoạt động và vai trò của NVCTXH trong việc hỗ trợ người CTCSLT Cùng với đó đưa ra đề xuất hoạt động CTXH chuyên nghiệp hơn với vai trò quan trọng của Nhân viên CTXH nhằm giúp người CTCSLT vượt qua những khó khăn, mặc cảm Phát huy được các nguồn lực từ đó để giúp thân chủ vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu tổng thể thực trạng về cuộc sống của người CTCSLT trên địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu và đánh giá các hoạt động CTXH đã được thực hiện với đối tượng người CTCSLT tại địa bàn nghiên cứu
Trang 21- Đưa ra đề xuất hoạt động CTXH chuyên nghiệp với vai trò quan trọng của Nhân viên CTXH tại địa bàn nghiên cứu
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Người chấn thương cột sống liệt tủy họ gặp những khó khăn gì trong
7 Giải thuyết nghiên cứu
Giả thuyết thứ nhất: Hiện nay người chấn thương cột sống liệt tủy
đang là một đối tượng cần được sự quan tâm, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức Với mỗi trường hợp là một hoàn cảnh cụ thể gặp rất nhiều những khó khăn khác nhau do sự suy giảm chất lượng cuộc sống, khủng hoảng về tinh thần và tâm lý, khó khăn về kinh tế Các tổ chức, cơ quan chức năng có thẩm quyền cần có nhiều chính sách quan tâm nhằm ổn định, mang lại cho họ cuộc sống tốt hơn
Giả thuyết thứ hai: Nhân viên CTXH đã có những hoạt động hỗ trợ
với các đối tượng yếu thế, trong đó có người CTCSLT như hoạt động cung cấp thông tin cần thiết, hỗ trợ tâm lý, đóng vai trò kết nối vận động nguồn lực
hỗ trợ người CTCSLT đóng góp vào việc giải quyết vấn đề hỗ trợ giải quyết khó khăn đối với người chấn thương cột sống liệt tủy Tuy nhiên các hoạt động chưa được chuyên sâu, cần hỗ trợ một cách chuyên nghiệp, vận dụng được tối đa nguồn lực để trợ giúp đối tượng là người CTCSLT vượt qua khó khăn, hòa nhập cuộc sống
Giả thuyết thứ ba: Cuộc sống của người chấn thương cột sống liệt tủy
gặp khó khăn về nhiều mặt trong đó có học tập, việc làm, hôn nhân, sự mặc cảm Vai trò của NVCTXH trong việc vận dụng các kiến thức, kĩ năng, xây
Trang 22dựng các hoạt động CTXH chuyên nghiệp, hữu ích, thiết thực để trợ giúp cho người CTCSLT, nhất là hỗ trợ những khó khăn về tâm lý ngày càng trở nên cần thiết và được xã hội công nhận
8 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này tác giả đã sử dụng một số phương pháp như sau :
8.1 Về phương pháp thu thập thông tin:
Phương pháp quan sát
Quan sát có thể được hiểu là quá trình tri giác của con người để nhìn nhận và đánh giá sự vật hiện tượng Tuy nhiên nghiên cứu cũng cần có kỹ năng nhất là trong nghiên cứu nhằm thu thập thông tin mang tính khách quan, toàn diện và chính xác hơn Để làm được như vậy trong quá trình quan sát phải có tính hệ thống, tính kế hoạch và tính mục đích, biết nhìn nhận, đánh giá để phát hiện bản chất vấn đề, không nên áp đặt sẵn định kiến của cá nhân Trong đề tài sẽ sử dụng phương pháp quan sát như một công cụ thu thập thông tin, bao gồm việc quan sát môi trường (tự nhiên và xã hội) xung quanh thân chủ đồng thời quan sát hành vi, hành động và ngôn từ của thân chủ để hiểu hơn về thân chủ và môi trường sống của họ Việc quan sát này không chỉ dùng mắt mà đòi hỏi NVXH phải dùng cả con tim và khối óc của mình để nhìn nhận và đánh giá vấn đề
Phương pháp quan sát được sử dụng nhằm mục đích thu thập những thông tin thực nghiệm cho nghiên cứu Thông qua quan sát, NVCTXH có thể thấy được những khó khăn trong cuộc sống của thân chủ để có những định hướng chính xác hơn trong việc xây dựng các hoạt động hỗ trợ họ
Phương pháp điều tra bảng hỏi
Phương pháp điều tra bảng hỏi với tổng số mẫu là 100 bao gồm: 70 trường hợp bệnh nhân đang điều trị; 30 người nhà bệnh nhân tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức nhằm thu thập thông tin, số liệu về thực trạng hoàn cảnh
Trang 23gia đình, tình trạng bệnh của bệnh nhân Thông qua người nhà bệnh nhân và bác sĩ, cán bộ y tế Qua phân tích và nhận diện những vấn đề khó khăn mà đối tượng đang gặp phải, làm cơ sở cho tác giả đề xuất các giải pháp ở phần sau
Số liệu được xử lý sau khi điều tra và được phân tích cụ thể tại chương 2 của luận văn
Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 20 mẫu, trong đó có một lãnh đạo Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108, 2 nhân viên CTXH đang công tác tại phòng CTXH, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, 2 nhân viên y tế đang công tác tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, 10 người bệnh CTCSLT và 5 người nhà người bệnh CTCSLT nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về vấn đề, nhu cầu của thân chủ, thăm dò, phát hiện tìm hiểu những chính sách và biện pháp đã triển khai trong hỗ trợ người chấn thương cột sống liệt tủy
Mục đích của phỏng vấn sâu nhằm thu thập những thông tin về những thực trạng, nguyên nhân về những vấn đề thân chủ đang gặp phải, nhận thức của họ về cách thức vươn lên trong cuộc sống, những nguyện vọng và mong muốn của họ Những thông tin này sẽ là căn cứ để đánh giá phân tích và bổ sung cho những kết quả từ nghiên cứu
Ngoài ra tác giả còn phỏng vấn sâu các cá nhân, đơn vị hoạt động CTXH nơi tác giả công tác để có những thông tin tổng quan, đa chiều, từ đó phân tích được vấn đề một cách hiệu quả nhất Hướng đến đề xuất các hoạt động CTXH hiệu quả, chất lượng trợ giúp các đối tượng yếu thế là người chấn thương cột sống liệt tủy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu là phương pháp thu thập thông tin thứ cấp thông qua tài liệu sẵn có Phương pháp này gồm có phương pháp phân tích định tính và phương pháp phân tích định lượng
Trang 24Phân tích định tính nghĩa là tìm ra những nội dung tư tưởng cơ bản của tài liệu, tìm ra những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu và tìm xem những vấn đề gì đã được giải quyết và những vấn đề gì chưa được giải quyết
Phân tích định lượng là cách thức phân nhóm các dấu hiệu và tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa các nhóm chỉ báo Phương pháp này thường dược
sử dụng trong những trường hợp phải xử lượng thông tin lớn
Trong nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp phân tích định tính là chủ yếu, phương pháp này nhằm giúp tác giả phân tích các tài liệu sẵn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó có được những thông tin chính xác và hiệu quả nhất phục vụ cho quá trình nghiên cứu Các tài liệu hiện có tại cơ sở nghiên cứu, chính sách, đề án phát triển nghề CTXH trong ngành Y tế, các tài liệu có liên quan đến CTXH trong bệnh viện Phân tích các báo cáo, tạp chí, các thông tin đã thu thập từ các nguồn khác nhau, từ đó tổng hợp và đưa ra các nhận xét, đánh giá Sử dụng phương pháp này giúp tác giả xây dựng cơ sở
lý luận cho đề tài nghiên cứu, qua đó tác giả xác định được một số khái niệm chính của đề tài như: Công tác xã hội, Công tác xã hội trong bệnh viện Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng phương pháp này để tìm hiểu số liệu về quy
mô, cơ cấu, và thực trạng hoạt động CTXH tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
Trang 25Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Thao tác hóa các khái niệm
1.1.1 Khái niệm Công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): “Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ.” (Zastrow,
1996:5) CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống [46]
Theo Cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004), Định nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn
đề của mình
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị
Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: “CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu” Vận dụng các lý thuyết về hành
vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ
Tóm lại có thể định nghĩa: CTXH là một ngành nghề góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng
hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.[24]
Trang 261.1.2 Khái niệm CTXH trong Bệnh viện
“Công tác xã hội trong bệnh viện là các hoạt động hỗ trợ người bệnh, người nhà người bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình khám chữa bệnh” (Bộ Y tế, ngày 26/11/2015, Thông tư số 43/2015/TT-BYT ban hành quy định nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện)
Mục đích của công tác xã hội là hỗ trợ các nhóm đối tượng khắc phục những khó khăn về xã hội để đạt được hiệu quả chăm sóc sức khỏe tốt nhất Nhân viên CTXH trong bệnh viện là cầu nối để giải quyết các mâu thuẫn giữa bệnh nhân và nhân viên y tế, giữa bệnh nhân và bệnh nhân, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân [6]
1.1.3 Khái niệm hỗ trợ trong CTXH
Công tác xã hội là một lĩnh vực thực hành phát triển cao dựa trên những nguyên tắc và phương pháp đặc biệt với mục đích hỗ trợ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong việc xử lý các vấn đề xã hội – từ đó, công tác xã hội
có nhiệm vụ hoạt động vì hạnh phúc của con người và nâng cao phúc lợi xã hội
Công tác xã hội là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội (người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già ) Hỗ trợ trong CTXH được hiểu như một sự trợ giúp, là một tiến trình nhân viên xã hội sử dụng những kiến thức, kỹ năng và phương pháp trợ giúp thân chủ xác định vấn đề mà họ đang gặp phải và những nguồn lực cần thiết để giải quyết vấn
đề giúp họ phát triển
1.1.4 Khái niệm Chấn thương cột sống liệt tủy
Trang 27Chấn thương cột sống (CTCS): là những thương tổn của xương, dây chằng, đĩa đệm cột sống gây nên tình trạng tổn thương thần kinh tạm thời hoặc vĩnh viễn cho bệnh nhân Các tổn thương thần kinh bao gồm liệt vận động, cảm giác, rối loạn cơ tròn (liệt tứ chi, liệt hai chân, đái ỉa không tự chủ, liệt cơ hô hấp…) là những hậu quả rất phổ biến và nặng nề thường thấy trên
lâm sàng.[18]
Chấn thương cột sống liệt tủy là là những thương tổn của xương, dây chằng, đĩa đệm cột sống, chấn thương thường xảy ra khi tổn thương nằm trên nón tủy, trên lâm sàng được biểu hiện mất hoàn toàn vận động và cảm giác dưới mức tủy tổn thương bao gồm cả cảm giác quanh hậu môn.[18]
1.2 Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Trong Công tác xã hội cá nhân, Thuyết nhu cầu của Maslow được vận dụng để tìm hiểu nhu cầu của thân chủ, xem nhu cầu nào thiếu hụt và cần phải đáp ứng
Maslow cho rằng con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản
để tồn tại và phát triển đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự thang bậc từ nhu cầu cơ bản nhất, có vị trí nền tảng nhất đến nhu cầu cao hơn Vì vậy, lý thuyết nhu cầu còn được gọi là bậc thang nhu cầu Trong cách tiếp cận của ông con người thường có xu hướng thỏa mãn trước tiên những nhu cầu quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiên rồi sau đó mới hướng tới thỏa mãn những nhu cầu cao hơn.[36]
Mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow như sau:
Trang 28
Hình 1.1 Mô hình lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Nhu cầu sinh lý ( nhu cầu vật chất):
Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu
ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Từ nghiên cứu có thể thấy
rõ thân chủ là những người bệnh gặp CTCSLT đã thiếu hụt ngay những nhu cầu cơ bản, nhu cầu cấp thiết của con người Đặc biệt chấn thương ảnh hưởng trực tiếp đến như cầu sinh lý, một trong những nhu cầu đặc biệt cần thiết và quan trọng trong cuộc sống Cũng chính bởi vậy đã tác động tiêu cực, gây mặc cảm về tinh thần đối với người CTCSLT
Nhu cầu an toàn
An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người
Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi
n
Nhu cầu tôn trọng
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu vật chất Nhu cầu hoàn thiện
Trang 29trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm
lý, an toàn nhân sự,…
Đối với người CTCSLT, sự an toàn nằm trong chính mỗi cá nhân thân chủ khi gặp phải CTCSLT Đó có thể là một tai nạn, một chấn thương mạnh tác động trực tiếp, hay một sự cố trong cuộc đời…Yếu tố thay đổi đột ngột cuộc sống khiến người CTCSLT luôn cảm thấy bất an, lo lắng và thiếu sự an toàn trong chính cuộc sống của họ
Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận):
Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận, người CTCSLT càng có nhu cầu này cao hơn nhiều lần so với người bình thường Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của người CTCSLT đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau
Nhu cầu được tôn trọng:
Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện
Đối với thân chủ là người CTCSLT, tôn trọng được hiểu từ những điều
cơ bản, như tôn trọng chính sự khiếm khuyết, khác biệt, coi họ như những người bình thường Đặc biệt khi được tôn trọng sẽ giúp thân chủ giảm bớt được mặc cảm, sự tự ti về bản thân Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người
Nhu cầu phát huy bản ngã (nhu cầu hoàn thiện):
Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nội dung nhu cầu
Trang 30bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu…), nhu cầu thẩm
mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân
Tiếp cận theo nhu cầu trong làm việc trực tiếp với thân chủ, NVCTXH cần nắm được nhu cầu của con người về mặt lí thuyết Tuy nhiên đối với mỗi con người trong những hoàn cảnh khác nhau lại nảy sinh những nhu cầu khác biệt Giống như thân chủ trọng tâm, tiếp cận theo nhu cầu đòi hỏi NVXH cần thực hiện tốt kỹ năng lắng nghe tích cực để khám phá những nhu cầu của cá nhân mà họ chưa được thỏa mãn, ẩn sau những hành động mà xã hội cho là không hợp lý Ngoài ra những câu hỏi của NVCTXH cần hướng vào khai thác những mong muốn của thân chủ
Đối với đề tài này NVCTXH sử dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow nhằm tìm hiểu những mong muốn, nhu cầu của thân chủ, qua đó xác định xem những nhu cầu đó đã được đáp ứng đến đâu, ở mức độ nào Từ việc xác định nhu cầu của thân chủ sẽ giúp NVCTXH có cơ sở để xác định vấn đề hay khó khăn mà thân chủ đang gặp phải đó chính là những nhu cầu chưa được đáp ứng hoặc còn thiếu Sau đó sẽ xác định nhu cầu nào là quan trọng nhất, cần thiết nhất với thân chủ từ đó làm tiền đề cho việc phân tích và xây dựng các hoạt động CTXH trong việc hỗ trợ thân chủ một cách hiệu quả nhất
1.2.2 Lý thuyết thân chủ trọng tâm
Lý thuyết thân chủ trọng tâm lúc đầu được gọi là liệu pháp thân chủ trọng tâm (Carl Rogers, 1951) và sau đó được gọi là phương pháp tham vấn tập trung vào cá nhân (Person – Centered counseling), hướng tiếp cận của Carl Rogers không chỉ được coi là có ý nghĩa lớn lao trong công việc trợ giúp thân chủ mà còn được xem là cách sống của con người Rogers tin rằng bản chất con người là thiện với những khuynh hướng tiến đến phát triển tiềm năng
Trang 31và xã hội hoá mà nếu đặt trong môi trường thuận lợi sẽ phát triển nhận thức
và hiện thực hoá tiềm năng đầy đủ [33]
Rogers giả thiết rằng mỗi người đều sở hữu những tiềm năng cho sự lớn lên, tiềm năng cho những hành vi có hiệu quả và có khuynh hướng tự hiện thực hoá những tiềm năng của mình Sở dĩ một cá nhân nào đó phát triển những hành vi kém thích nghi là do sự tập nhiễm những mẫu ứng xử sai lệch Bởi vì mỗi cá nhân đều có nhu cầu mạnh mẽ được người khác chấp nhận, coi trọng nên anh ta hoặc cô ta có thể hành động một cách không tự nhiên, không thực tế và phát triển những cảm giác sai lệch về bản thân, về những điều mình mong muốn
Theo Rogers, cá nhân có khuynh hướng một mặt làm cho phần lớn trường hợp những trải nghiệm mà mình sẽ sống trong thế giới bên ngoài phù hợp với khái niệm về cái mình, cái mình thực tế Mặt khác nó nhằm làm cho khái niệm về cái mình sát với những tình cảm sâu xa tạo nên cho cái mình lý tưởng, tương ứng với những gì tiềm tàng Như vậy cái mình hiện thực có nguy
cơ không ăn khớp hoặc khi con người dưới áp lực của hoàn cảnh bắt buộc phải
từ chối một số trải nghiệm hoặc con người tự thấy mình phải áp đặt những tình cảm và những giá trị hoặc những thái độ khiến cho cái mình hiện thực xa với cái mình lý tưởng
Sự lo âu và những không thích nghi về tâm lý ít nhiều để lại hậu quả của sự mất ăn khớp giữa cái mình hiện thực và những trải nghiệm cuộc sống một bên và bên kia giữ cái mình hiện thực và hình ảnh lý tưởng mà bản thân con người đó có Mục đích của phương pháp tham vấn tập trung vào cá nhân không phải là chữa trị cho TC hoặc tìm kiếm những nguyên nhân từ quá khứ
mà cái chính là khuyến khích TC sự tự hiện thực hoá những tiềm năng của bản thân, tạo điều kiện dễ dàng cho sự phát triển tâm lý lành mạnh ở thân chủ
Trang 32TC được xem như là một chủ thể có hiểu biết, họ phải được hiểu, được chấp nhận để nhân viên CTXH có thể cung cấp những loại hình giúp được tốt hơn
Rogers đã phát biểu quan điểm của mình về mối tương giao giữa NVCTXH và thân chủ như sau: “Mối tương giao tôi thấy hữu ích là mối tương giao được đính tính bằng một sự trong suốt về phần tôi trong đó cảm quan thực sự của tôi biểu hiện rõ ràng, bằng sự chấp nhận người khác như một con người riêng biệt có quyền có giá trị riêng, và bằng một sự cảm thông sâu xa khiến tôi có thể nhìn thế giới riêng tư của người ấy qua con mắt của người ấy Khi các điều kiện trên được thực hiện thì tôi trở thành một người bạn đồng hành của TC tôi, theo chân họ trong sự tìm kiếm chính mình mà bây giờ họ cảm thấy được tự do đảm nhiệm” [33]
Như vậy, theo C Rogers trong tham vấn nếu NVCTXH tạo được một mối tương giao định tính bằng: Một sự chân thực trong suốt, trong đó NVCTXH sống với các cảm quan thực của mình; một sự nhiệt tình tôn trọng
và chấp nhận TC như một cá nhân riêng biệt; một khả năng nhạy cảm để nhìn thế giới của TC y như TC nhìn họ Nhiệm vụ của NVCTXH theo phương pháp tiếp cận này là tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép TC học cách hành động để đạt đến sự tự khuyến khích và tự hiện thực hoá Nhiệm vụ chính của NVCTXH là giúp TC là những người CTCSLT rỡ bỏ những “rào cản tâm lý” đang hạn chế sự bày tỏ khuynh hướng tích cực vốn có và giúp TC làm sáng
tỏ, hiểu rõ bản thân và chấp nhận tình cảm riêng của mình
Nhân viên CTXH khi làm việc với người CTCSLT phải luôn đặt niềm tin rằng TC có thể tìm ra giải pháp của riêng mình trong một môi trường ở đó
có mối quan hệ tham vấn nồng ấm và thấu cảm, nên xem chính mối quan hệ tham vấn như là một vật xúc tác cho sự thay đổi và tin rằng việc NVCTXH tìm cách đưa ra lời giải thích thay cho TC là không thích hợp Do đó NVCTXH hoàn toàn không chi phối quyết định của thân chủ mà sử dụng kỹ
Trang 33thuật lắng nghe tích cực và tiến hành phản hồi lại cho thân chủ điều gì mà thân chủ đã nói
1.2.3 Thuyết hệ thống sinh thái
Mỗi một hệ thống có một ranh giới nhất định Một hệ thống luôn nằm trong hệ thống khác lớn hơn và hệ thống lớn ảnh hưởng tới hệ thống nhỏ nằm trong đó
Thuyết hệ thống cung cấp cho NVCTXH một phương tiện để tổ chức
tư duy vấn đề, đặc biệt là khi vấn đề cho có sự tương quan phức tạp giữa các thông tin và khối lượng thông tin lớn Trong CTXH cá nhân luôn xem xét bản thân mối con người là một hệ thống, hệ thống này nằm trong hệ thống lớn hơn
là hệ thống gia đình, và hệ thống gia đình lại là nằm trong một hệ thống cộng đồng nhất định
Lý thuyết Hệ thống – Sinh thái trong công tác xã hội cho rằng các hệ thống với tư cách là tập hợp các bộ phận tương tác với nhau và hành xử như một toàn thể thống nhất Với cách tiếp cận đó, khi nghiên cứu các đối tượng ta quan tâm chủ yếu đến các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố hay thành phần của đối tượng để phát hiện và tìm hiểu những thuộc tính mới có tính toàn thể, mà từng thành phần không thể có được, thường được gọi là tính trội của hệ thống Cùng với tính trội, lý thuyết hệ thống cũng nghiên cứu những thuộc tính quan trọng khác như tính mở, tính có mục tiêu, tính đa chiều, tính tự tổ chức của các hệ thống, đặc biệt là của những hệ thống phức tạp Môi trường sinh thái
là một phần của ngoại cảnh, nó bao gồm tất cả các yếu tố xung quanh cá thể Môi trường có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển và những hoạt động của các thể Môi trường bao gồm môi trường tự nhiên (hồ , ao, sông suối
…) và môi trường xã hội (gia đình, trường học…) Tập hợp khái niệm hệ thống sinh thái trong CTXH được hiểu là sự tương tác qua lại cá nhân và môi trường xung quanh Khi tiến hành nghiên cứu đặt đối tượng nghiên cứu trong môi
Trang 34trường của họ và xem xét sự chi phối của môi trường với đối tượng Môi trường xung quanh đối tượng được chia thành nhiều tầng khác nhau: vi mô – trung mô – vĩ mô.[38]
Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống sinh thái trong CTXH
Trong đề tài tác giả áp dụng lý thuyết này để nhìn nhận thân chủ như là một hệ thống gồm nhiều yếu tố, tiểu hệ thống cấu tạo nên, đó là hệ thống gia đình, hệ thống cộng đồng Mỗi một hệ thống nó sẽ tác động đến hệ thống các hành vi của thân chủ, chính vì vậy muốn hiểu được hành vi của thân chủ cần phải có cái nhìn tổng thể về những hệ thống đó tức là đặt thân chủ trong một
hệ thống sinh thái nhất định như hệ thống gia đình, hệ thống xã hội…Tìm hiểu mối quan hệ giữa thân chủ và môi trường để phát hiện ra vấn đề của thân chủ cũng như tìm kiếm những tiềm năng, nguồn lực giúp thân chủ giải quyết vấn đề của mình Một trong những vấn đề quan trọng từ việc phân tích lý thuyết hệ thống sinh thái để tìm hiểu các tác động của các hệ thống trong việc
hỗ trợ thân chủ đã thực sự có hiệu quả hay chưa, từ đó vận dụng các vai trò của NVCTXH trong hoạt động kết nối thân chủ với các hệ thống một cách có hiệu quả, giúp thân chủ nhận được sự phối hợp tốt để giải quyết các nan đề
xã hội, hệ thống chính sách, dịch
vụ gia đình , bạn bè, trường học
cá nhân
Trang 351.3 Tổng quan về cơ sở thực tập
1.3.1 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Bệnh viện Việt Đức là một bệnh viện ngoại khoa, là một trong những trung tâm phẫu thuật lớn nhất Việt Nam, gắn với tên tuổi nhà phẫu thuật nổi tiếng Tôn Thất Tùng Bệnh viện có trụ sở tại số 40 phố Tràng Thi, Hà Nội, Việt Nam Bệnh viện có lịch sử hơn 100 năm, thực hiện được nhiều kỹ thuật khó trên thế giới và là nơi đi đầu về kỹ thuật nội soi cắt gan, thực quản, thần kinh Những kỹ thuật khó như mổ tim cho trẻ dưới 10 kg; ghép thận, gan đã trở thành thường quy Mỗi năm bệnh viện thực hiện hơn 42.000 ca mổ lớn, phức tạp
Ngày 8 tháng 1 năm 1902, Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer
ký sắc lệnh thành lập trường Đại học Y Hà Nội Năm 1904 Bệnh viện thực hành của trường được xây dựng với tên gọi là Nhà thương bản xứ Theo thời gian, bệnh viện mang các tên gọi khác nhau qua từng giai đoạn phát triển:
Nhà thương bản xứ (1904-1906)
Nhà thương bảo hộ (1906-1943)
Bệnh viện Yersin (1943-1954)
Bệnh viện Phủ Doãn (1954-1958)
Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - CHDC Đức (1958-1991)
Bệnh viện Việt Đức (1991 đến nay)
Bệnh viện Việt Đức là tuyến cao nhất của ngành Ngoại khoa miền Bắc, Việt Nam Với hơn 150 giáo sư, bác sỹ của bệnh viện và của trường Đại học
Y Hà Nội, mỗi năm bệnh viện tiến hành khoảng 28.000 ca phẫu thuật thuộc nhiều chuyên khoa sâu khác nhau Bệnh viện có 08 phòng chức năng, 18 khoa lâm sàng, 09 khoa cận lâm sàng và 01 đơn vị trực thuộc cùng với 05 bộ môn của trường đại học Y Hà Nội đặt tại bệnh viện thực hiện nhiều chức năng khác nhau
Trang 361.3.2 Phòng Công tác xã hội – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Địa chỉ: Tầng 2 - toà nhà C3 – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Điện thoại: (024)32.668.625 (số máy lẻ 585)
- Tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền quảng bá hình ảnh và các hoạt động của bệnh viện với xã hội và cộng đồng
- Tổ chức các hoạt động vận động sự tham gia, ủng hộ cả vật chất và tinh thần từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân để giúp đỡ người bệnh
Trang 37- Làm đầu mối trong quan hệ với người bệnh, cá nhân, tổ chức và các
cơ quan truyền thông
1.3.2.3 Tổ chức nhân sự phòng
- Lãnh đạo đương nhiệm:
+ Trưởng phòng: Ths Nguyễn Trọng Sơn
+ Phó Trưởng phòng: TS Nguyễn Đình Hoà
của người bệnh và người nhà người bệnh
- Tổ truyền thông của phòng Công tác xã hội với chức năng là cầu nối thông tin các dịch vụ chăm sóc; các thông tin y học, các thông tin hoạt động của Bệnh viện với người sử dụng dịch vụ đã thành công xây dựng các quy trình truyền thông (Quy trình tiếp đón báo chí, quy trình cung cấp và xử lý thông tin, quy trình tổ chức hội nghị, hội thảo sự kiện, Quy trình xử lý sự cố truyền thông); thiết lập được mối quan hệ gắn bó, thân tình với báo chí, các
cơ quan truyền thông trong việc triển khai các hoạt động truyền thông GDSK; Quản trị các kênh truyền thông (Website, Fanpage) giúp quảng bá hình ảnh của Bệnh viện và cập nhật thông tin của bệnh viện liên tục tới người dân
Chuyên nghiệp hóa hoạt động truyền thông của Bệnh viện
Trang 38- Nhóm Từ thiện đã phối hợp với các khoa, phòng kịp thời nắm bắt các trường hợp bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn để kết nối với các cá nhân,
tổ chức hảo tâm và liên hệ báo chí kêu gọi sự hỗ trợ
- Bộ phận Nhà truyền thống đã được duy trì và tiếp tục thu thập tài liệu, hiện vật lịch sử để lưu trữ và trưng bày
1.4 Các văn bản pháp lý về công tác xã hội trong Bệnh viện:
Ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số TTg phê duyệt "Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam, giai đoạn 2010-2020" Đây là dấu mốc quan trọng và được đánh giá là mốc thời gian khởi điểm cho sự phát triển nghề công tác xã hội ở nước ta Kể từ thời gian này, hàng loạt những văn bản pháp lý đã được xây dựng và ban hành bởi nhiều Bộ khác nhau nhằm đưa nghề công tác xã hội thực sự đi vào đời sống
32/2010/QĐ-xã hội Dưới đây là thống kê những văn bản pháp lý là nền tảng cho sự hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế:
Thông tư số 08/2010/TT-BNV ngày 25/8/2010 của Bộ Nội vụ ban hành chức danh, mã số các ngạch viên chức công tác xã hội;
Thông tư số 08/2010/TT-BNV ra đời đã chính thức công nhận vị trí vai trò của những người hoạt động CTXH trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ trước đến nay, theo đó công tác xã hội viên chính có mã số 24.291, Công tác
xã hội viên mã số 24.292, Nhân viên công tác xã hội (CTXH) mã số 24.293 Đây sẽ là căn cứ để Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức chuyên ngành CTXH
Theo thống kê của Cục Bảo trợ xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội), cả nước có khoảng 7,5 triệu người cao tuổi, 5,3 triệu người tàn tật, 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và 1,3 triệu đối tượng cần sự trợ cấp, trợ giúp từ Nhà nước hàng tháng Bên cạnh đó là các vấn đề xã hội nảy sinh,
Trang 39gia đình tại các đô thị, làng quê chịu ảnh hưởng trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa… cần có sự trợ giúp từ những người làm CTXH Chính bởi vậy, đã đến lúc CTXH trở thành một nghề được thừa nhận về tầm quan trọng
và ảnh hưởng đối với sự phát triển của xã hội hiện đại ngày nay
Thông tư số 34/2010/TT-BLĐTBXH ngày 08/11/2010 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức công tác xã hội;
Thông tư liên tịch số 11/2011/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 26/01/2011 của liên Bộ Tài chính –Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020
Cũng như Thông tư số 08/2010/TT-BNV, Thông tư số
34/2010/TT-BL và Thông tư liên tịch số 11/2011/TTLT/BTC-34/2010/TT-BLĐTBXH ngày 26/01/2011 của liên Bộ Tài chính –Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội một lần nữa khẳng định rằng đầu tư và phát triển cho hoạt động công tác
xã hội chính là đầu tư lâu dài cho tương lai sự bền vững cho đất nước Một đất nước thực sự phát triển và phát triển đồng bộ là khi chúng ta biết cách tái đầu tư và biết hạn chế những tệ nạn xã hội, bảo đảm đời sống an sinh
xã hội cho người dân
Đặc biệt “Quyết định số 2514 /QĐ-BYT ngày 15 tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về Phát triển nghề Công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020” là mốc son đánh dấu cho bước tiến quan trọng cho việc phát triển nghề CTXH trong lĩnh vực y tế, với mục tiêu chung là hình thành
và phát triển nghề CTXH trong ngành Y tế, góp phần tăng cường chất lượng, hiệu quả của sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Quyết định này đã chứng minh tính đúng đắn của Chính phủ, Đảng và Nhà nước ta trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong những
Trang 40xã hội đang phát triển vấn đề nghèo đói và bệnh tật luôn được xem xét và ưu tiên hàng đầu để giải quyết tình trạng này, và để hạn chế được chúng vấn đề tiên quyết là phải bảo đảm sức khỏe cho nhân dân, mà theo như Tổ chức y tế thế giới WHO thì “sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật”
Quyết định số 2514 /QĐ-BYT ra đời khẳng định tính cấp thiết trong việc đưa hoạt động CTXH vào Bệnh viện và nhằm giảm bớt những mặt còn tồn tại trong ngành Y tế hiện nay
Tóm lại, trên đây là những văn bản pháp lý quan trọng làm nền tảng cho sự hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của đất nước chúng ta Đặc biệt trong ngành Y tế, nơi luôn có nhu cầu rất cao về nhân sự chuyên ngành công tác xã hội
Các văn bản pháp lý quan trọng ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng cho sự phát triển của ngành CTXH nước ta, trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước chúng ta đều cần đến vai trò của các ngành khoa học xã hội nói chung
và khoa học về CTXH nói riêng, tuy nhiên trong xã hội hiện đại ngày nay CTXH càng được Đảng, Nhà nước quan tâm và chú trọng hơn bao giờ hết bởi vì xã hội phát triển nhanh, mạnh nhưng cùng với nó là những hệ lụy kéo theo, đó là tệ nạn
xã hội như ma túy, mại dâm, trẻ em lang thang làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của người dân và họ đã phải gánh chịu những hậu quả khó lường trước như cháu giết bà, con giết cha mẹ thậm chí là tệ nạn buôn người xuyên biên giới Đề án số 32 ra đời tạo nên một tiếng vang lớn và tiếp sức cho những người đang hoạt động trong lĩnh vực CTXH có thêm sức mạnh để cống hiến cho xã hội , nhằm phần nào giúp bình ổn xã hội và tạo sự phát triển bền vững cho đất nước