4: Sơ đồ bố trí các điện cực trong khảo sát bằng phương pháp Thăm dò điện đa cực và vị trí các điểm ghi số liệu trong giả mặt cắt điện trở suất .... Sử dụng phương pháp Thăm dò điện đa c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN QUỐC TOẢN
TÌM HIỂU VÀ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ ĐIỆN
ĐA CỰC ĐỂ ĐÁNH GIÁ ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA ĐÊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN QUỐC TOẢN
TÌM HIỂU VÀ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ ĐIỆN
ĐA CỰC ĐỂ ĐÁNH GIÁ ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA ĐÊ
Chuyên ngành: Vật lý Địa cầu
Mã số: 8440130.06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Vũ Đức Minh
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn iii
Danh mục các bảng biểu iv
Danh mục các hình vẽ v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của luận văn 2
3 Nhiệm vụ của luận văn 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
7 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ ĐIỆN ĐA CỰC 4
1.1 Tổng quan về phương pháp 4
1.2 Cơ sở của phương pháp 11
1.3 Thiết bị 14
1.3.1 Máy đo 14
1.3.2 Hệ cực đo 15
1.4 File điều khiển và quy trình đo đạc 17
1.4.1 File điều khiển: 17
1.4.2 Quy trình đo đạc 21
1.5 Phần mềm xử lý số liệu 24
1.5.1 Hướng dẫn sử dụng phần mềm 24
1.5.2 Cài đặt thông số xử lý 25
1.5.3 Hiệu chỉnh địa hình 27
CHƯƠNG 2: LỰA CHỌN HỆ CỰC ĐO HỢP LÝ 28
CHO ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU BẰNG MÔ HÌNH 28
2.1 Đặc điểm vật lý mô hình nghiên cứu 28
Trang 42.1.1 Đặc điểm điện trở suất của đất đá trong thân đê vùng nghiên cứu 28
2.1.2 Các đối tượng cơ bản trong thân đê vùng nghiên cứu 28
2.2 Tính toán, lựa chọn hệ cực đo hợp lý cho đối tượng nghiên cứu bằng mô hình………29
2.2.1 Tính toán với mô hình vết nứt 29
2.2.1.1 Hệ điện cực Dipole – Dipole 30
2.2.1.2 Hệ điện cực Wenner 31
2.2.1.3 Hệ điện cực Schlumberger 32
2.2.1.4 Nhận định kết quả 32
2.2.2 Tính toán với mô hình thấm, rò rỉ 32
2.2.2.1 Hệ điện cực Dipole-Dipole 33
2.2.2.2 Hệ điện cực Wenner và Schlumberger 34
2.2.2.3 Nhận định kết quả 35
2.2.3 Tính toán với mô hình bất đồng nhất cục bộ 35
2.2.3.1 Kết quả tính toán 35
2.2.3.2 Nhận định kết quả 37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ÁP DỤNG THỰC TẾ 38
3.1 Khu vực và đối tượng nghiên cứu 38
3.2 Phương pháp và nội dung nghiên cứu 43
3.3 Sơ đồ các tuyến khảo sát 43
3.4 Kết quả 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Bộ môn Vật lý Địa cầu – Khoa Vật lý, trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Vũ Đức Minh
Học viên xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Vũ Đức Minh, các Thầy, các Cô, các cơ quan, đơn vị đã tạo điều kiện và giúp đỡ học viên hoàn thành luận văn này
Xin được gửi lời cảm ơn tới Ths Đỗ Anh Chung (Viện Sinh thái và Bảo vệ
công trình) đã giúp đỡ học viên trong suốt quá trình đi thực địa
Trong quá trình hoàn thành luận văn, học viên đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Khoa Vật lý, phòng Sau Đại học, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình - Viện Khoa học thuỷ lợi Việt Nam Học viên cũng đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn học Học viên xin được chân thành cảm ơn
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1: Các kết quả điện trở suất của mẫu đo trong phòng thí nghiệm 28Bảng 3 1: Diện phân bố, bề dày lớp và kết quả thí nghiệm 47
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1 1: Cấu hình 4 điện cực 12
Hình 1 2: Thiết bị đo SUPERSTING R1/IP + 56 14
Hình 1 3: Một số hệ cực thường được sử dụng trong phương pháp Thăm dò điện đa cực 15 Hình 1 4: Sơ đồ bố trí các điện cực trong khảo sát bằng phương pháp Thăm dò điện đa cực và vị trí các điểm ghi số liệu trong giả mặt cắt điện trở suất 17
Hình 2 1: Mô hình vết nứt 29
Hình 2 2: Tính lý thuyết vết nứt đứng bằng hệ cực Dipole-Dipole 30
Hình 2 3: Tính lý thuyết vết nứt đứng bằng hệ cưc Wenner 31
Hình 2 4: Tính lý thuyết của vết nứt đứng bằng hệ cực Schlumberger 32
Hình 2 5: Mô hình thấm, rò rỉ 33
Hình 2 6: Tính lý thuyết vùng thấm bằng hệ cực Dipole-Dipole 33
Hình 2 7: Tính lý thuyết vùng thấm bằng hệ cực Wenner 34
Hình 2 8: Tính lý thuyết vùng thấm bằng hệ cực Schlumberger 35
Hình 2 9: Tính lý thuyết bất đồng nhất dạng khối bằng hệ cực Dipole – Dipole 36
Hình 2 10: Tính lý thuyết bất đồng nhất dạng khối bằng hệ cực Wenner 36
Hình 2 11: Tính lý thuyết bất đồng nhất dạng khối bằng hệ cực Schlumberger 37
Hình 3 1: Sơ đồ tuyến khảo sát đoạn K30+00-K30+400 đê Hữu Cầu 43
Hình 3 2: Kết quả khảo sát tuyến rìa phía sông đoạn K 29+950-K30+450 đê Hữu Cầu 44 Hình 3 3: Kết quả khảo sát tuyến rìa phía đồng đoạn K 29+950-K30+450 đê Hữu Cầu 44 Hình 3 4: Kết quả khảo sát tuyến cơ đê phía đồng đoạn K 29+950-K30+450 đê Hữu Cầu 45
Hình 3 5: Kết quả khảo sát tuyến rìa phía sông đoạn K30+00-K30+400 đê Hữu Cầu 46
Hình 3 6: Kết quả khảo sát tuyến rìa phía đồng đoạn K30+00-K30+400 đê Hữu Cầu 46
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam ta c hệ thống các sông ngòi dày đặc Các khu dân cư, thành phố lớn, nhỏ và các vùng nông nghiệp thường phát triển dọc theo ven sông do ở đ thuận lợi cho điều kiện sống và phát triển kinh tế Cùng với những điều kiện thuận lợi đ là những kh khăn mà các khu vực này thường phải gánh chịu do ảnh hưởng
từ các yếu tố lũ và nguy cơ ngập lụt Từ đ , các hệ thống đê dọc theo các nhánh sông chính là giải pháp phòng chống lũ đã được ông cha ta sử dụng và duy tu cho đến ngày nay, để bảo vệ các vùng dân cư ven sông và toàn bộ vùng châu thổ Hầu hết các hệ thống đê điều phòng chống lụt bão tồn tại hiện nay ở nước ta được thiết
kế, xây dựng dựa theo kinh nghiệm tích góp từ nhiều thế hệ và áp dụng theo các tiêu chuẩn an toàn phù hợp với tình hình thực tế Trong điều kiện các hình thái thời tiết và thiên tai ngày càng gia tăng do hiệu ứng n ng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu, các quy luật khí tượng thủy văn lưu vực c những diễn biến bất thường so với thời điểm thiết kế nên đã gây ra những tác hại gây mất an toàn cho đê
Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân gây ra sự mất an toàn cho đê như: tổ mối, hang rỗng, rò rỉ, thẩm lậu, các vết nứt hay các vùng xung yếu của thân và nền
đê Để đảm bảo an toàn cho hệ thống đê trong mùa nước lũ, các cấp chính quyền đã đặc biệt quan tâm và có những chỉ đạo sát xao đến các cơ quan chuyên môn, viện khoa học nhằm đánh giá tình hình thực tế trên các tuyến đê Hiện nay, nền khoa học công nghệ đã phát triển mạnh, việc đặt ra một nội dung nghiên cứu ứng dụng những công nghệ hiện đại mang tính thực tiễn nhằm điều tra, khảo sát để đánh giá độ ổn định của đê là hết sức cần thiết và cấp bách
Các phương pháp Địa Vật lý có thể giải quyết các vấn đề nêu trên, trong đ phương pháp Thăm dò điện trở là phương pháp phổ biến, dễ sử dụng, hiệu quả và
có mức chi phí thấp Hiện nay, với sự phát triền của nền khoa học kỹ thuật, phương pháp Thăm dò điện đa cực được biết đến, ưa chuộng hơn do tính ưu việt của nó so với phương pháp Thăm dò điện truyền thống Những ưu điểm của điện đa cực như:
Trang 9Khi tiến hành đo đạc ngoài thực địa chúng ta không phải dịch chuyển cực phát và thu trên tuyến nhiều lần, quá trình đo liên tục và thu được số liệu đo trên cả tuyến đo thay vì thu được số liệu trên từng điểm của phương pháp Thăm dò điện truyền thống, có sẵn nhiều phần mềm để xử lý phân tích số liệu và kết quả biểu diễn cho ngay được mặt cắt điện trở suất Vì vậy, tôi đã tiến hành nghiên cứu hiện trạng của đê bằng phương pháp Thăm dò điện đa cực nhằm đánh giá độ ổn định, an toàn của đê
2 Mục tiêu của luận văn
Mục tiêu của luận văn là tìm hiểu, áp dụng phương pháp Thăm dò điện đa cực để khảo sát hiện trạng của đê, từ đ đưa ra những đánh giá về độ ổn định, an toàn của đê
3 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên luận văn cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu phương pháp Thăm dò điện đa cực trong khảo sát đê
- Lựa chọn hệ cực đo hợp lý của phương pháp Thăm dò điện đa cực thông qua kết quả nghiên cứu mô hình lý thuyết
- Áp dụng phương pháp Thăm dò điện đa cực để khảo sát trên 1 đoạn đê nhằm góp phần đánh giá độ ổn định của đê
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một đoạn đê Hữu Cầu thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô hình
Tính toán thử nghiệm trên các đối tượng đặc trưng với các hệ cực đo khác nhau (Wenner, Dipole – Dipole, Schlumberger) theo chương trình EarthImager 2D,
từ đ lựa chọn được các hệ cực đo hợp lý cho từng loại đối tượng nghiên cứu
Sử dụng phương pháp Thăm dò điện đa cực áp dụng vào thực tế
Từ kết quả thu được trong phần nghiên cứu mô hình, sử dụng phương pháp Thăm dò điện đa cực với các hệ cực đo hợp lý để khảo sát trên một đoạn đê bằng
Trang 10thiết bị SuperSting R1/IP và xử lý số liệu bằng phần mềm EarthImage 2D để nghiên cứu và đánh giá độ ổn định của đê
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Đã lựa chọn được các hệ cực đo hợp lý thông qua nghiên cứu mô hình, áp dụng cho từng loại đối tượng cụ thể Đồng thời cũng đưa ra khả năng áp dụng của phương pháp trong việc khảo sát, đánh giá độ ổn định của đê
- Khẳng định được tính hiệu quả của phương pháp Thăm dò điện đa cực trong việc giải quyết nhiệm vụ khảo sát, đánh giá độ ổn định của đê
- Kết quả áp dụng thực tế đã cho thấy đoạn đê được khảo sát là ổn định
7 Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm các phần sau:
Mở đầu
Chương 1: Giới thiệu phương pháp Thăm dò điện đa cực
Chương 2: Lựa chọn hệ cực đo hợp lý cho đối tượng nghiên cứu bằng mô hình Chương 3: Kết quả, áp dụng thực tế
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ ĐIỆN ĐA CỰC
1.1 Tổng quan về phương pháp
Phương pháp Thăm dò điện trở đã được nhà Vật lý người Pháp Conrad Schlumberger đưa ra từ năm 1912 để nghiên cứu địa chất khoáng sản Ngày nay phương pháp này càng hoàn thiện hơn, chiếm vị trí hàng đầu trong các phương pháp Thăm dò về tính phổ biến, mức chi phí thấp, đa dạng về kiểu đo và còn đang phát triển các kiểu đo mới sử dụng rộng rãi trên thế giới
Vào những năm 80 của thế kỷ trước cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều hãng sản xuất thiết bị trên thế giới đã cải tiến từ phương pháp Thăm dò điện 4 cực thành phương pháp Thăm dò điện đa cực Ngày nay, các máy đo đa cực
đã được các nước phương Tây ngày càng hoàn thiện, đã chế tạo ra những máy móc với độ chính xác cao và có nhiều tính năng khác nhau như SuperSting R8/IP của hãng Agiusa (Mỹ), Earth Resistivity Meter 16Gl của hãng PASI Về nguyên lý hoạt động của máy điện đa cực không c gì thay đổi so với máy đo điện 4 cực Tuy nhiên phương pháp này c thể giúp đo ghi được nhiều điểm trong cùng một thời điểm do đ làm tăng tốc độ đo ghi và cho phép đo chi tiết các vùng nghiên cứu trong thời gian ngắn, nhờ đ nâng cao hiệu quả của phương pháp điện
Trên thế giới, phương pháp Thăm dò điện đa cực đã được áp dụng trong các lĩnh vực khảo sát, thăm dò khoáng sản, tìm kiếm các nguồn nước dưới lòng đất và cũng được ứng dụng sang rất nhiều lĩnh vực khác Năm 1990, tác giả Hiromasa Shima đã công bố bài báo: “Kỹ thuật nghịch đảo điện trở suất tự động 2 chiều sử dụng các trung tâm alpha” [11] Bài báo đề xuất một phương pháp sử dụng các trung tâm alpha để phân tích tự động hai chiều dữ liệu Thăm dò điện Bằng cách sử dụng mạng lưới của nhiều trung tâm alpha tại một vị trí cố định, có thể thể hiện được cấu trúc điện trở suất cao và cấu trúc phức tạp với sự thay đổi nhanh về điện trở suất Kết hợp những cải tiến này cùng với một phương pháp hiệu chỉnh địa hình
và phương pháp bình phương tối thiểu, chúng ta có thể hoàn toàn phân tích tự động
dữ liệu Thăm dò điện 2 chiều Khảo sát thực địa cho thấy quy trình này có tiềm
Trang 12năng lớn để tiến hành thăm dò ở các khu vực đồi núi dốc Các ví dụ thực tế được
mô tả trong bài báo, khoảng cách điện cực được bố trí tối đa là 110 m Tuy nhiên, tác giả đã thu được kết quả tốt bằng cách áp dụng thăm dò ở độ sâu 500-1000m Kỹ thuật Thăm dò điện trực tiếp được áp dụng cho các cuộc khảo sát ở độ sâu vượt quá
1000 m trong hầu hết các môi trường Phương pháp phân tích tự động 2-D này sẽ làm cho việc khảo sát điện trở đạt hiệu quả hơn và mở rộng phạm vi ứng dụng
Năm 1993, tác giả Griffiths, D.H và Barker, R.D đã công bố bài báo: “Hình ảnh và mô hình điện trở hai chiều trong các lĩnh vực địa chất phức tạp” [9] Một hệ thống Thăm dò điện đa cực được mô tả cho phép đo tự động các mặt cắt điện trở suất Hệ thống này bao gồm một dãy tuyến tính của 32 điện cực kết nối thông qua một cáp đa lõi với một máy tính điều khiển chuyển mạch và một đồng hồ điện trở Việc xử lý các mặt cắt đo được sẽ tạo ra hình ảnh điện trở suất hai chiều thực tế của mặt dưới lòng đất
Tác giả đã chỉ ra rằng với dãy điện cực có sẵn từ 25 điện cực trở lên được bố trí ở khoảng cách tối đa là 50 m và với phần mềm máy tính, có thể xác định điện trở mặt đất xuống sâu khoảng 200 m Khi độ sâu của đối tượng khảo sát nhỏ hơn, các điện cực có thể bố trí với khoảng cách gần hơn từ đ độ phân giải dọc và ngang được cải thiện rõ rệt Hạn chế của phương pháp là khả năng phát hiện và độ phân giải đều giảm theo độ sâu, thiết lập các giới hạn về mức độ phức tạp địa chất có thể được mô hình hoá [9] Ứng dụng của kỹ thuật này đặc biệt hiệu quả ở những nơi mà
có sự thay đổi bên trong hoặc cấu trúc địa chất làm cho tín hiệu điện thẳng đứng không thể áp dụng được và điều kiện quan trọng đặt ra là phải có mặt cắt liên tục
Những cải tiến trong kỹ thuật của tác giả Griffiths, D.H và Barker đã làm gia tăng đáng kể tốc độ thu thập và đảo ngược dữ liệu tự động rất nhanh chóng cung cấp hình ảnh thỏa đáng từ dữ liệu hiện trường Những cải tiến trên được ứng dụng trong lĩnh vực thủy văn ở các khu vực tầng hầm và lập bản đồ địa chất ở các khu vực bị đứt gãy mạnh Nó có thể được sử dụng để lập bản đồ về chất lượng đá cho các mục đích khai thác đá và nơi đường hầm
Trang 13Năm 1996, tác giả Torleif Dahlin đã công bố báo cáo khoa học: “Khảo sát điện trở suất 2D cho các ứng dụng môi trường và kỹ thuật” [7] Báo cáo mô tả quy trình khảo sát bằng phương pháp đa cực điện trở, bao gồm thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu, diễn giải thông tin và áp dụng nó cho một số khu vực khảo sát ở Thụy Điển
Kết quả cho thấy việc khảo sát bằng phương pháp Thăm dò đa cực điện trở suất 2D có thể trở thành một công cụ lập bản đồ địa chất mạnh mẽ, để sử dụng trong các ứng dụng địa kỹ thuật và môi trường, bao gồm cả lập bản đồ địa chất thủy văn
Tác giả chỉ ra ưu điểm chính của phương pháp điện trở là độ nhạy tương đối nhỏ của n đối với nhiễu Bằng cách so sánh, các phương pháp điện từ thông thường không hiệu quả trong vùng lân cận giữa các thiết bị khác nhau Việc xử lý
và giải đoán dữ liệu được thực hiện theo một số bước, có thể thay đổi tùy theo đặc tính của khu vực được khảo sát và mục đích của cuộc khảo sát Tác giả nhận định rằng sử dụng phương pháp khảo sát điện trở 2D có thể sẽ còn được áp dụng trong nhiều ứng dụng vì các lý do hậu cần và chi phí Một số cấu hình 2D có thể được sử dụng để mô phỏng các mô hình nửa 3D Trong tương lai, sự đảo ngược 3D của một
số bộ dữ liệu 2D kết hợp có thể được mô hình hóa
Năm 2012, các tác giả Torleif Dahlin và Virginie Leroux đã công bố bài báo:
“Cải thiện chất lượng dữ liệu phân cực do thời gian tạo ra với hệ thống đa điện cực bằng việc tách dòng điện và cáp” [8] Bài báo nêu việc đo phân cực tiếp xúc với tổ hợp hệ thống nhiều kênh đa cực được cho là hợp lý vì quy trình đo đạc đơn giản và tính hiệu quả của n trong lĩnh vực này Tuy nhiên việc sử dụng kỹ thuật này đôi khi không được khuyến khích bởi chất lượng kém của phép đo trong trường hợp điện trở tiếp xúc điện cực cao có thể làm cho việc giải thích dữ liệu không khả thi hoặc độ tin cậy không cao Khớp nối điện dung trong điện cực đa lõi cáp c vai trò quan trọng trong việc tạo ra vấn đề này Việc tách các mạch hiện tại và điện thế bằng cách sử dụng sự lan truyền cáp đa dây dẫn riêng biệt có thể mang lại sự cải thiện đáng kể về chất lượng dữ liệu
Kết quả cho thấy các dữ liệu đã thu được đáng tin cậy và rõ ràng với các quy trình được mô tả Có thể thu được dữ liệu IP chất lượng tốt khi sử dụng thiết bị điện
Trang 14trở IP đa điện cực và bố trí cáp điện cực đơn tại các vị trí tiếp xúc điện cực thuận lợi, mức tín hiệu đủ và mức độ nhiễu thấp Các nơi c điện trở tiếp xúc cao thường dẫn đến các mức tín hiệu thấp và các vấn đề về nhiễu, rất có thể do việc ghép điện dung, làm cho tín hiệu IP bị lẫn trong nhiễu Trong những trường hợp như vậy, có thể c được dữ liệu IP miền thời gian hữu ích và có thể giải thích được bằng thiết bị điện trở IP đa cực thông thường bằng cách sử dụng các dải cáp riêng biệt để truyền tải điện thế hiện tại và đo Quy trình được mô tả để đo với các dải cáp riêng biệt tương đối đơn giản và có thể áp dụng cho các phép đo hiện tại Các mô hình kết quả tương đồng với các tài liệu chung tại các trang web So sánh với tài liệu thực địa có liên quan và các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm được là cần thiết để minh giải kết quả Đánh giá chất lượng dữ liệu luôn cần thiết trước khi diễn giải Nó có thể được thực hiện bằng các phương tiện đơn giản, tức là, xác minh rằng các giả mặt cắt
và các đường phân rã IP là tương đồng và không có các ngoại lệ Sử dụng nguyên tắc lặp đi lặp lại có lẽ sẽ hữu ích khi đánh giá các hiệu ứng tinh tế hơn trên dữ liệu
IP, ví dụ như khớp nối điện dung và cảm ứng nhưng sẽ tốn hơn gấp đôi thời gian và
c xu hướng đánh giá quá cao nhiễu cho các mảng điện cực lồng nhau Sẽ rất hữu ích khi xác định chính xác hơn các đường cong như vậy từ đ c thể c được kết quả mong đợi
Năm 2015, Sofia Åkesson đã thực hiện luận văn thạc sĩ: “Ứng dụng điện trở suất và IP - đo lường khảo sát tại một số nơi bị ô nhiễm” tại trường Đại học Lund, Thụy Điển [12] Ở Thụy Điển, nền công nghiệp phát triển mạnh nên các ngành công nghiệp thường sử dụng dung môi clo hóa, trichloroethene chính (TCE) và 1,1,1 -trichloroethane (TCA), cũng như xianua và kim loại Trong quá trình vận chuyển chất thải công nghiệp, một số loại nước thải đã bị dò gỉ và gây ra ô nhiễm môi trường nặng tại các khu vực lân cận đặc biệt là khu vực cảng Tác giả sử dụng phương pháp Thăm dò điện đa cực kết hợp, nhằm mục đích điều tra và lập bản đồ ô nhiễm phân phối trong mô hình 3D dựa trên 2D tại khu vực bị ô nhiễm bằng cách
sử dụng điện trở suất trực tiếp và phép chụp cắt lớp cảm ứng theo thời gian Mặt khác của nghiên cứu là đo chính xác cùng một đối tượng tại các thời điểm khác
Trang 15nhau, để có thể thấy những thay đổi trong nước ngầm bởi các điều kiện gây ô nhiễm Kết quả cho thấy khu vực khảo sát đã được xác định là bị ô nhiễm nặng nề, cần phải có những biện pháp khắc phục kịp thời
Năm 2017, tác giả Hani Al-Amoush - Khoa Khoa học Môi trường và Ứng dụng, Viện Khoa học Trái đất và Môi trường, Đại học Al al-Bayt, Mafraq, Jordan
và các cộng sự đã công bố bài báo: “ Mô hình ảnh chụp cắt lớp địa điện của tiếp xúc thạch địa theo chiều đứng sử dụng cấu hình điện cực khác nhau” [10] Trong bài báo này, tác giả đã sử dụng phương pháp điện đa cực nghiên cứu ba cấu hình điện trở điện trở suất khác nhau (Dipole-Dipole, Wenner-Schlumberger và cấu hình Wenner) đã được áp dụng cho nơi khảo sát c địa chất lộ thiên, thể hiện một biến đổi thạch học tiếp xúc phía dưới theo chiều dọc Mục tiêu chính là kiểm tra các đặc tính bên trong của các cấu hình điện trở suất và do đ xác định được cấu hình tối ưu được lựa chọn trong loại môi trường địa chất như vậy Kết quả cho thấy ba cấu hình điện trở suất (ERC) bao gồm Wenner- Sclumberger (WS), Dipole-Dipole (DD), và Wenner (W) đã mang lại một số lượng dữ liệu khác nhau và được phân loại là thấp, trung gian và cao, tương ứng Độ phân giải của cấu hình DD dường như hiệu quả hơn ở độ sâu lớn hơn so với cấu hình WS và W và thể hiện một mô hình nhạy cảm hơn với lớp dẫn điện nhỏ và cục bộ ở độ sâu vừa phải
Ở Việt Nam, gần đây phương pháp Thăm dò điện đa cực cũng được áp dụng phổ biến, một vài bài báo cáo khoa học tiêu biểu trong lĩnh vực nghiên cứu này như:
Năm 2010, ThS Đỗ Anh Chung, ThS Nguyễn Văn Lợi, ThS Đào Văn Hưng - Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình và PGS TS Vũ Đức Minh - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội đã công bố bài báo:
“Nghiên cứu xác định khe nứt trong đê bằng thiết bị điện đa cực” [1] Bài báo trình bày các kết quả áp dụng thiết bị SuperSting R1/IP và phần mềm xử lý số liệu EarthImage 2D để nghiên cứu các khe nứt trong thân đê bằng cách tính toán các mô hình lý thuyết, các mô hình tạo ra trong thực tế với các loại hệ cực khác nhau áp dụng thử nghiệm trên khe nứt tại vị trí K30+400 đê Hữu Hồng thuộc địa phận xã Sen Chiểu - Sơn Tây - Hà Nội Từ đ rút ra các kết luận về hiệu quả áp dụng của
Trang 16các hệ cực đối với việc tìm kiếm các khe nứt, đồng thời tìm ra phương pháp tiến hành công tác ngoài thực địa phù hợp với các đối tượng cần tìm kiếm
Năm 2011, ThS Đỗ Anh Chung - Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình và PGS TS Vũ Đức Minh - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia
Hà Nội tiếp tục công bố bài báo: “Khảo sát vùng thấm trên đê bằng phương pháp Thăm dò điện đa cực” [2] Bài báo trình bày một số kết quả khảo sát xác định vùng thấm trong đê đất tại đoạn K38+800- K39+200 đê hữu sông Chu - Thanh Hóa bằng phương pháp Thăm dò điện đa cực với thiết bị SuperSting R1/IP và phần mềm xử lý EarthImage 2D Kết quả đạt được đã xác định được cấu trúc và đối tượng gây thấm đoạn đê K38,637-K39,162 ở Thiệu Hóa - Thanh Hóa Phát hiện ra 2 dị thường tại khu vực khảo sát, từ đ đưa ra các biện pháp xử lý
Cũng trong năm 2011, ThS Đỗ Anh Chung, Phạm Văn Động - Viện Sinh thái và Bảo vệ công trinh và PGS TS Vũ Đức Minh - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã công bố bài báo: “Một số kết quả nghiên cứu ban đầu xác định vùng thấm trong thân đập” [3] Bài báo trình bày một số kết quả nghiên cứu xác định vùng thấm trong đập Hồ Phoi và Đầm Bài thuộc tỉnh Hòa bình bằng phương pháp Thăm dò điện đa cực với thiết bị SuperSting R1/IP và phần mềm
xử lý EarthImage 2D Kết quả cho thấy đã xác định được vị trí ban đầu của nguồn thấm và tầng thấm tại các đập được khảo sát, việc này giúp định vị chính xác, tránh sai lầm trong việc xác định tuyến khoan phụt chống thấm dựa trên kinh nghiệm như
từ trước đến nay, dẫn đến khối lượng khoan phụt xử lý thấm sẽ giảm đi đáng kể Qua nghiên cứu thử nghiệm áp dụng phương pháp Thăm dò điện đa cực để xác định vùng thấm trong thân đập đất cho thấy rằng chúng ta hoàn toàn c thể tìm ra được chính xác vị trí vùng thấm và cả chiều sâu tầng thấm trong đập đất, chính vì vậy đây là một hướng hoàn toàn cần thiết, đúng đắn, khả thi, c hiệu quả và mang ý nghĩa kinh tế, xã hội cao
Năm 2014, tác giả Nguyễn Như Trung viện Địa chất và Địa Vật lý Biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã công bố bài báo: “Ứng dụng phương pháp mặt cắt điện trở đất trong khảo sát nền m ng đập, lòng hồ và thân đập
Trang 17đất” [5] Bài báo nghiên cứu về việc khảo sát cấu trúc nền m ng đập, rò rỉ lòng hồ
và thân đập là yếu tố rất quan trọng quyết định đến chất lượng và độ an toàn của hồ chứa Phương pháp mặt cắt điện trở đất (MCĐTĐ) là phương pháp Thăm dò điện không làm thay đổi tính nguyên trạng của công trình xây dựng được sử dụng phổ biến trong khảo sát địa chất công trình Bài báo trình bày các kết quả ứng dụng phương pháp MCĐTĐ trong khảo sát nền m ng đập, lòng hồ và thân đập ở một số vùng khác nhau trên cả nước Ba ví dụ cụ thể về việc sử dụng phương pháp MCĐTĐ để đánh giá cấu trúc địa chất nền móng của đập Tân Giang II - Ninh Thuận; tình trạng nứt nẻ, hang hốc có khả năng gây rò rỉ của lòng hồ Chiềng Cọ - Sơn La; hiện trạng rò rỉ thân đập và giám sát chất lượng xử lý rò rỉ của thân đập Khuân Cát - Lạng Sơn Kết quả nghiên cứu đã khẳng định được tính hiệu quả của phương pháp trong giải quyết các nhiệm vụ khảo sát địa chất công trình tại các hồ chứa và giám sát thân đập ở Việt Nam
Năm 2015, các tác giả Lương Văn Thọ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học
Đà Nẵng và các cộng sự đã công bố bài báo: “ Ứng dụng phương pháp ảnh điện 2D
trong khảo sát môi trường đất tại khu công nghiệp Thọ Quang – TP Đà Nẵng” [4]
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu thành phần địa chất tại hai tuyến đo giữa khu công nghiệp Thọ Quang và khu dân cư, thành phố Đà nẵng Tuyến thứ nhất bao gồm 205 điểm dữ liệu trên tuyến đo c độ dài 165m, đây là khu vực ranh giới giữa khu công nghiệp Thọ Quang và Âu Thuyền Tuyến thứ hai bao gồm 174 điểm dữ liệu được thu thập trên tuyến đo dài 145m theo hướng Bắc - Nam tại khu vực nghiên cứu là khu vực ranh giới giữa âu thuyền và khu vực dân cư Sau khi xử lý các yếu tố gây nhiễu, các số liệu này được định dạng và xử lý bằng phần mềm Res2dinv với 5 vòng lặp (tuyến 1) và 11 vòng lặp (tuyến 2) trên thuật toán sai phân hữu hạn và phương pháp bình phương tối thiểu Kết quả phân tích cho thấy ở hai tuyến đo đều phân thành ba tầng địa chất với các đặc điểm ô nhiễm khác nhau tuỳ theo độ sâu nghiên cứu
Năm 2012, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố: TCVN 9433 : 2012 - Điều tra, đánh giá và thăm dò khoáng sản - Phương pháp ảnh điện [6] - do Tổng Cục Địa
Trang 18chất và khoáng sản biên soạn, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị, Tổng Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định Phạm vi áp dụng của bộ tiêu chuẩn này bao gồm nội dung “Xác định và dự báo tính bền vững của các tầng đất đá trong nghiên cứu địa chất công trình, các bất đồng nhất trong thân đê, đập thủy lợi, thủy điện; nền móng các công trình giao thông, xây dựng v.v…” Trong bộ tiêu chuẩn này đã hướng dẫn đầy đủ các quy trình, thao tác thực hiện khảo sát thăm dò bằng phương pháp điện trở bao gồm những nội dung chính: Giải thích các thuật ngữ, định nghĩa địa điện, yêu cầu về thiết bị sử dụng, tổ chức công tác thực địa, thống kê và
xử lý số liệu thu được, giải đoán và báo cáo kết quả
Các vấn đề cấp thiết đặt ra là nghiên cứu chi tiết cấu trúc địa chất để khắc phục hậu quả không mong muốn như các hiện tượng thấm, sụt lở, tìm kiếm tổ mối trên thân đê, phát hiện các vết nứt gãy, dạng cấu trúc bất đồng nhất tồn tại trong thân đê
1.2 Cơ sở của phương pháp
Phương pháp Thăm dò điện là phương pháp Địa Vật lý nghiên cứu cấu trúc
vỏ trái đất thông qua trường điện sẵn có trong tự nhiên hoặc do nhân tạo Tùy vào loại trường điện mà ta c các phương pháp điện trường tương ứng Dựa vào các tham số điện được sử dụng ta lại c các phương pháp điện khác nhau như: đo điện trở suất ta c phương pháp Thăm dò điện trở (Resistivity-S), đo hiệu điện thế trong
tự nhiên ta c phương pháp Thăm dò điện trường tự nhiên (Self Potential-SP), đo độ phân cực ta c phương pháp Phân cực kích thích (Induce Polarization-IP)
Cơ sở lý thuyết của phương pháp Thăm dò điện trở dựa trên bài toán vật lý
về mối quan hệ giữa sự phân bố mật độ dòng điện trong môi trường từ một nguồn điện phát vào môi trường đ với độ dẫn điện của môi trường N được mô tả bằng phương trình toán học như sau:
Trong đ :
(x,y,z)gradU(x,y,z) I (x x s) (y y s) (z z s)
Trang 19div, grad là các ký hiệu toán học (toán tử); - là hàm số mô tả sự phân bố độ dẫn điện (trong thực tế thường dùng tham số điện trở suất là giá trị ngược của độ dẫn = 1/ đo bằng đơn vị ôm.mét -Ohmm) trong môi trường theo toạ độ x, y, z;
U - là hàm điện thế mô tả sự phân bố điện thế trong môi trường theo toạ độ x,
y, z;
I -là cường độ dòng điện phát vào môi trường;
- là hàm Đirac mô tả tính chất phân bố nguồn điện trong môi trường ở toạ
độ x s , y s , z s;
Trong phương trình trên dòng điện I là nguồn phát chủ động luôn c cường
độ xác định; giá trị điện thế U trong môi trường cũng xác định được bằng thiết bị đo trên thực địa Còn hàm phân bố độ dẫn điện của môi trường là điều ta cần biết có
thể xác định được bằng cách giải phương trình trên khi đã biết các tham số I, U
nửa không gian đồng nhất vô
hạn và đo hiệu điện thế U giữa
hai cực (P1, P2) nên điện trở
suất thu được sẽ là: Hình 1.1: Cấu hình 4 điện cực
{(
) (
)} (1.1) với K= (
) (1.2) Với , , và là khoảng cách giữa các điện cực n 1.1)
Hệ số K (m) phụ thuộc vào cách bố trí các điện cực nên được gọi là hệ số hình học hay hệ số hệ cực đo Từ các phép đo U và I trên mặt đất và biết được hệ số K chúng
Trang 20ta xác định được điện trở suất của môi trường nửa không gian đồng nhất theo công thức trên
Đối với môi trường bất đồng nhất, điện trở suất của môi trường tính theo công thức trêngọi là điện trở suất biểu kiến, ký hiệu là (r) Khi ấy đại lượng (r) thay đổi theo khoảng cách r, có thứ nguyên điện trở suất được tính từ hiệu điện thế
U và cường độ dòng phát I, phản ánh chung thông tin về cấu trúc và tính chất điện của môi trường, đồng thời phụ thuộc vào cách bố trí thiết bị đo
Từ trước những năm 1980, các phương pháp đo sâu (nghiên cứu sự thay đổi điện trở suất theo phương thẳng đứng) và mặt cắt điện (nghiên cứu sự thay đổi điện trở suất theo phương nằm ngang) với 4 cực thường được sử dụng rộng rãi để giải quyết các bài toán địa chất 1D Nhưng sau đ , với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các hệ thống đa cực ngày càng hoàn thiện cả về phần cứng lẫn phần mềm đã làm cho phương pháp Thăm dò điện đa cực trở thành một phương pháp rất được ưa chuộng và được sử dụng rộng rãi Về bản chất, phương pháp Thăm dò điện đa cực
là phương pháp kết hợp cả phương pháp đo sâu và phương pháp mặt cắt điện truyền thống và do đ n nghiên cứu được sự thay đổi điện trở suất của môi trường theo cả hai hướng thẳng đứng và nằm ngang, cho phép giải quyết các bài toán địa chất 2D
và 3D phức tạp
Thiết bị của phương pháp Thăm dò điện đa cực thường là các máy đo c nhiều điện cực được bố trí cách đều nhau trên tuyến Chúng được nối với cuộn cáp nhiều lõi và khối chuyển mạch Khối chuyển mạch được sử dụng để lựa chọn ra 4 cực nào đ cho từng phép đo theo file điều khiển do người sử dụng lựa chọn và nạp vào bộ nhớ khối điều khiển Khối điều khiển dùng để điều khiển các thông số khảo sát, lưu trữ số liệu và giao tiếp với máy tính để nạp file điều khiển và lấy số liệu đo đạc được để xử lý
Trang 211.3 Thiết bị
1.3.1 Máy đo
Các máy đo dùng trong phương pháp Thăm dò điện đa cực là các máy thu và nguồn phát gồm: Ắc quy, máy phát điện dòng một chiều, xoay chiều được chỉnh lưu thành một chiều hoặc xoay chiều tần số thấp; các trạm Thăm dò điện có máy thu và máy phát điện dòng một chiều hoặc xoay chiều tần số thấp và các thiết bị, dụng cụ kèm theo như: điện cực các loại, các đồng hồ đo lường, dây điện, bàn tời, máy bộ đàm, điện thoại, máy tính, nguồn nuôi máy v.v…
Hiện nay thiết bị Thăm dò điện đa cực được sản xuất ở nhiều hãng trên thế giới như ABEM (Thụy Điển), CAMPUS (Anh), GEOFYZIKA, GF (Séc), GEOLOG (Đức), IRIS (Pháp), PASI, MAE (Ý), OYO (Nhật), AGI, GEOMETRICS (Mỹ), …
Thiết bị được sử dụng trong luận văn là thiết bị SUPERSTING R1/IP của
hãng AGI (H nh 1 2) Thiết bị gồm một khối điều khiển, một khối chuyển mạch,
56 điện cực và 8 cuộn cáp đa cực với khoảng cách lớn nhất là 20m Đây là thiết bị đơn kênh (mỗi lần phát dòng chỉ thu được một thế), có bộ nhớ trong để lưu cất số liệu với số lần lặp do người sử dụng chọn Có công suất phát lớn, độ chính xác cao
và chống nhiễu tốt Có kết cấu chắc chắn, dễ sử dụng phù hợp cho điều kiện thực địa Kích cỡ: 18.4 x 40.6 x 27.3 cm, cường độ dòng phát: 1mA - 2A liên tục, công suất phát: 200W
Hình 1.2: Thiết bị đo SUPERSTING R1/IP + 56
Trang 221.3.2 Hệ cực đo
Nguyên tắc chung của phương pháp Thăm dò điện đ là sử dụng bốn điện cực: phát dòng qua hai điện cực dòng C1 và C2 (dương và âm) và đo hiệu điện thế qua hai cực thu P1 và P2 Có rất nhiều cách bố trí 4 điện cực để tạo ra các hệ cực khác nhau và người ta đã thống kê c đến 92 loại hệ cực như vậy Tuy nhiên với thiết bị đa cực, các điện cực được bố trí đều nhau trên tuyến nên người ta thường sử dụng 5 loại hệ cực phổ biến đ là: Pole - Pole (PP), Pole - Dipole (PD), Dipole - Dipole (DD), Wenner (WN) và Schlumberger (SC)
Hình 1 3 biểu diễn 5 loại hệ cực thường được sử dụng trong phương pháp Thăm dò điện đa cực cùng hệ số hệ cực đo của chúng Gọi a là khoảng cách điện cực đơn vị (hai điện cực liên tiếp), n là hệ số mở rộng cự ly Dipole-Dipole, m là hệ
số mở rộng độ dài Dipole-Dipole Ký hiệu “c” là điện cực dòng, “p” là điện cực thế,
“.” là khoảng cách giữa hai điện cực liên tiếp a; “:” là độ dài Dipole-Dipole m.a; “-”
là cự ly Dipole-Dipole n.a Với thiết bị đa cực do các điện cực thường được bố trí đều nhau trên tuyến nên các thông số hệ cực là số nguyên
Hình 1.3: Một số hệ cực thường được sử dụng trong phương pháp Thăm dò điện đa
cực
Trang 23Hình 1 4 là ví dụ sơ đồ bố trí các điện cực trong khảo sát ảnh điện 2D và vị
trí các điểm ghi số liệu trong giả mặt cắt điện trở suất với hệ cực Wenner có hệ
thống 28 điện cực Khoảng cách giữa hai điện cực liền kề nhau là “a” Kết quả đo
đạc được biểu diễn dưới dạng giả mặt cắt điện trở suất 2D: trục nằm ngang là khoảng cách các điện cực trên tuyến; trục thẳng đứng là độ sâu khảo sát tương ứng
với khoảng cách “a” và loại hệ cực được sử dụng
Đầu tiên hệ thống sử dụng điện cực số 1 làm điện cực C1: phép đo thứ 1 sử
dụng khoảng cách hệ cực là “9a” (n 9) và C1, P1, P2 và C2 tương ứng là các cực 1,
10, 19 và 28; phép đo thứ 2 sử dụng khoảng cách hệ cực là “8a” (n 8) và C1, P1,
P2 và C2 tương ứng là các cực 1, 9, 17 và 25, …; cuối cùng là phép đo thứ 9 sử dụng
khoảng cách hệ cực là “1a” (n 1) và C1, P1, P2 và C2 tương ứng là các cực 1, 2, 3
và 4 Vì nmax 9 nên chúng ta c 9 phép đo
Sau đ hệ thống sử dụng điện cực số 2 làm điện cực C1: phép đo thứ 10 sử
dụng khoảng cách hệ cực là “8a” (n 8) và C1, P1, P2 và C2 tương ứng là các cực 2,
10, 18 và 26; phép đo thứ 2 sử dụng khoảng cách hệ cực là “7a” (n 7) và C1, P1,
P2 và C2 tương ứng là các cực 2, 9, 16 và 23, …; cuối cùng là phép đo thứ 17 sử
dụng khoảng cách hệ cực là “1a” (n 1) và C1, P1, P2 và C2 tương ứng là các cực 2,
3, 4 và 5 Vì nmax 8 nên chúng ta c 8 phép đo Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi điện cực số 25 làm điện cực C1 và phép đo cuối cùng là phép đo thứ 117
Số liệu sau khi đã thu thập (giả mặt cắt điện trở suất) cùng với thông tin về
bề mặt địa hình sẽ được đưa vào phần mềm nghịch đảo 2D chuyên dụng để tính toán ra sự phân bố điện trở suất thực của môi trường cần nghiên cứu
Trang 24Hình 1.4: Sơ đồ bố trí các điện cực trong khảo sát bằng phương pháp Thăm
dò điện đa cực và vị trí các điểm ghi số liệu trong giả mặt cắt điện trở suất Các hệ cực đo được áp dụng trong luận văn là: Dipole- Dipole, Wenner và Schlumberger
1.4 File điều khiển và quy tr nh đo đạc
1.4.1 File điều khiển:
Dưới đây là ví dụ một dạng file điều khiển được đưa vào trên máy đo SUPERSTING R1/IP, với hệ cực đo Wenner gồm 56 điện cực
Trang 27:commands
;A,B,P1,P2,P3,P4,P5,P6,P7,P8,P9,channels 2,1,0,10,3,4,5,6,7,8,9,345678
Trang 28 Tạo file điều khiển
Trước khi tạo file điều khiển đo chúng ta phải lựa chọn hệ cực, số cực và các thông số đo hợp lý cho hệ cực đ
Để tạo flie điều khiển đo chúng ta sử dụng phần mềm Administrator for SuperSting và bao gồm các bước sau:
Kích hoat phần mềm Administrator for SuperSting
Lựa chọn thiết bị đo là SuperSting R1/IP
Nhập số cực sử dụng
Lựa chọn hệ cực đo
Trang 29 Nhập các thông số của hệ cực như chiều sâu tối đa
Nhập tên file điều khiển và nhớ file
Truyền flie điều khiển vào máy đo SuperSting
Nối máy đo với máy tính bằng cổng serial (cổng serial com1 trên máy SuperSting R1/IP)
Bật máy đo
Kích hoạt phần mềm Administrator for SuperSting và bấm phấm connect
Chọn Send new command trong phần mềm Administrator for SuperSting
và chọn file điều khiển đo rồi truyền sang bộ nhớ máy đo
Lắp máy và kiểm tra trước khi đo
Sau khi cắm cực và nối vào máy chúng ta phải kiểm tra trước khi đo (Lưu
ý số cực cắm và số cực trong file điều khiển phải giống nhau, nếu số cực khác nhau máy sẽ không làm việc)
Với máy SuperSting R1/IP c 3 chế độ kiểm tra: Kiểm tra điện trở tiếp xúc, relay và switch
Kiểm tra điện trở tiếp xúc: Kiểm tra này là bắt buộc đối với mỗi tuyến đo Máy kiểm tra điện trở giữa 2 cực liên tiếp trong hệ cực và các giá trị này được hiển thị trên máy Nếu c giá trị nào cao đột biến ta phải kiểm tra lại điện cực nếu giá trị tại cực đ vẫn cao thì ta c thể đổ nước muối vào điện cực đ Kiểm tra trở tiếp xúc bao gồm các bước sau:
1 Từ menu chính nhấn phím 3 chọn TEST MODE
2 Nhấn phím 1 chọn Contact resistance test
3 Ấn 1 chọn cực đầu tiên cần kiểm tra
4 Ấn 2 chọn cực cuối cùng cần kiểm tra
5 Ấn F1 để bắt đầu kiểm tra
Kiểm tra relay và switch: 2 kiểm tra này để kiểm tra phần cứng của thiết bị nên chúng ta chỉ cần kiểm tra 1 lần trong đợt công tác và được tiến hành ngay sau khi lắp đặt xong máy Bao gồm các bước giống như kiểm tra điện trở tiếp xúc